Địa danh là một phạm trù lịch sử. Địa danh phản ánh nhiều khía cạnh địa lý, lịch sử, văn hoá...
Trang 1Bước đầu khảo sát tình hình viết địa danh nước ngoài trên một số văn bản tiếng Việt hiện nay
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Địa danh là một phạm trù lịch sử Địa danh phản ánh nhiều khía cạnh địa
lý, lịch sử, văn hoá Địa danh được xem là những tấm bia lịch sử, văn hoábằng ngôn ngữ Chính vì vậy, để hiểu rõ một vùng đất nào, ta không thể khôngquan tâm đến địa danh
Địa danh, hơn thế nữa còn là sản phẩm của một chế độ chính trị nhất định
là nơi tàng trữ dấu ấn của việc tiếp xúc ngôn ngữ và văn hoá của các dân tộc.Địa danh ra đời trong một hoàn cảnh văn hoá nhất định và còn lưu giữ đến trăm,ngàn năm sau Do đó, địa danh trở thành “vật hoá thạch”, một di chỉ khảo cổ họcghi những cái mốc trong dòng thời gian Cho nên, qua việc nghiên cứu địa danh,
ta sẽ biết phần nào lịch sử, chính trị của một vùng, một nước, lịch sử văn hoácủa các dân tộc sống trên vùng đất ấy Hơn nữa, địa danh còn thể hiện tâm lýcủa những người đã tạo ra địa danh, cũng như lịch sử ngôn ngữ ở các thời đại xaxưa
Ở nước ta, trong những năm gần đây đã có nhiều sách nhgiên cứu địadanh, từ điển địa danh (trong và ngoài nước)đã được công bố Điều đó cho thấynhu cầu rất lớn của xã hội về đề tài này Tuy nhiên, do sự hiều biết còn rất khácnhau về địa danh học, lịch sử, ngôn ngữ dẫn đến sự không thống nhất trong cáchviết địa danh (viết hoa, viết thường, viết rời, có gạch nối, không có gạch nối),cách phiên chuyển địa danh từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt (phiên âm, dịchnghĩa, giữ nguyên ngữ hoặc phiên chuyển từ nguyên ngữ, qua ngữ trung gian)
“Sự không thống nhất này dẫn đến những khó khăn và trở ngại lớn tronggiao lưu, học tập và thực tế không mấy ai có thể hiều đọc thế nào, viết thế nào
về địa danh cho đúng, cho chuẩn” [4, 40]
Như vậy, vấn đề địa danh, đặc biệt là địa danh nước ngoài trên các văn
Trang 2bản tiếng Việt (báo chí, sách giáo khoa, bản đồ ) xử lý thế nào cho thống nhất,dân tộc, khoa học và đại chúng là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Chúng tôi - những sinh viên năm cuối chuyên nghành ngôn ngữ học nhậnthức được rất rõ điều này Có thể nói đây là một đề tài còn rất nhiều khó khăn vàtrở ngại trước mắt nhưng cũng chứa chất nhiều điều thú vị và hấp dẫn mà chúngtôi muốn khám phá
2 Ý nghĩa của đề tài
Địa danh nói chung và địa danh nước ngoài nói riêng là một vấn đề quantrọng đối với nhiều nghành khoa học: Lịch sử, Địa lý, Ngôn ngữ là yếu tốquan trọng trong quá trình phát triển, giao lưu và hợp tác quốc tế Địa danh cònmang trong nó ý nghĩa khẳng định về chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi của quốcgia Địa danh lại là nội dung của bản đồ - phương tiện tra cứu hữu hiệu
Qua việc phân tích, đánh giá cách viết địa danh nước ngoài trên một sốsách, báo và bản đồ hiện nay để thấy được thực trạng không thống nhất và nhằmtới một mục đích là đóng góp một phần nhỏ bé cho công trình “ Xây dựng hệthống thông tin địa danh Việt Nam và quốc tế phục vụ công tác lập bản đồ” (dự
án cấp quốc gia của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường), tiến tới cách viết địa danhthống nhất trên các văn bản, sách báo, các phương tiện thông tin đại chúng
a1 Báo Nhân Dân
a2 Báo An ninh Thế giới
a3 Báo Tin Tức
b Sách giáo khoa
Bao gồm sách giáo khoa địa lý và lịch sử ( kể cả sách bài tập) từ lớp 7 đến
Trang 3Tìm hiều về các cách viết địa danh nước ngoài phổ biến từ trước tới nay,
từ đó lấy cơ sở để thống kê các cách viết địa danh trong từng văn bản cụ thể
Bước 3
So sánh, đối chiếu cách xử lý địa danh trên các văn bản.Từ đó đánh giá sựkhông thống nhất trong cách viết địa danh Trong đề tài này, chúng tôi chọncách ghi địa danh trên Atlas là tài lệu gốc, là cơ sở để tiến hành so sánh
Chương 1 Lý luận chung
Chuơng 2 Tình hình viết địa danh trên một số văn bản tiếng Việt hiện nay
Chương 3 Đánh giá tình hình địa danh nước ngoài trên các văn bản, giải pháp và kiến nghị.
Trang 4CHƯƠNG I
LÍ LUẬN CHUNG
1 Các khái niệm
1.1 Địa danh và Địa danh học
1.1.1 Khái niệm địa danh
Có rất nhiều cách khác nhau để định nghĩa địa danh
- Theo Trần Văn Dũng : “Địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý, tồntại trong vốn từ vựng của ngôn ngữ Cách hiều này dựa trên cơ sở thuật ngữ
“tôpônima” hoặc “tôpônoma” của tiếng Hy Lạp nghĩa là tên gọi một địa điểmnào đó” [7]
- Theo Lê Trung Hoa: “ Địa danh là những từ hoặc ngữ cố định, đượcdùng làm tên riêng của các địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các vùnglãnh thổ ( không có ranh giới rõ ràng) và các công trình xây dựng thiên về khônggian hai chiều Các công trình xây dựng thiên về không gian ba chiều như têncác chùa, đình, miếu, nhà thờ, trường học, xí nghiệp không phải là địa danh mà
là hiệu danh” [12, 2]
- Theo Ngô Hồng Giang : “ Địa danh là tên các yếu tố địa lý, các điểmdân cư và các đơn vị hành chính nằm trong một khu vực lãnh thổ nhất định, đãđược cộng đồng người nói thừa nhận và được chuẩn hoá Mỗi địa danh xuất hiệntrong một thời điểm lịch sử nhất định Đó là các ký hiệu ngôn ngữ đặc biệt vàmang tính qui ước cao” [9 ]
Như vậy, có nhiều cách khác nhau để định nghĩa địa danh Tựu trung lại
có thể hiểu: Địa danh là tên gọi các điểm quần cư, các điểm kinh tế, các đốitượng địa lý cụ thể Chúng có thể là tên các châu lục, các quốc gia, các đơn vịhành chính, lãnh thổ( tỉnh, huyện, xã ) tên các khu công nghiệp, nông, lâmtrường, nhà máy, hầm mỏ tên các đại dương, vịnh hay tên các sông, hồ, núi,đèo
1.1.2 Địa danh nước ngoài
Xung quanh địa danh nước ngoài cũng có nhiều ý kiến khác nhau: Nên
Trang 5gọi là địa danh ngoài nước, địa danh quốc tế, địa danh thế giới hay địa danhnước ngoài Trong đề tài này, chúng tôi thống nhất tên gọi “Địa danh nướcngoài” để chỉ các địa danh không thuộc lãnh thổ Việt Nam.
1.1.3 Địa danh học
Ngôn ngữ có ba nghành chính: Ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháphọc Trong nghành từ vựng có một nghành nhỏ được gọi là Danh xưng học( omomatics) chuyên nghiên cứu tên riêng Danh xưng học gồm hai nghành nhỏhơn là nhân danh học và địa danh học
Nhân danh học (Authroponymy) là nghành chuyên nghiên cứu tên riêngcủa người gồm (họ, tên, chữ lót, tự hiệu, bút danh, bí danh )
Địa danh học (toponymy) chuyên nghiên cứu các ý nghĩa, nguồn gốc vànhững biến đổi của địa danh, cấu tạo và phương thức đặt tên địa danh
Khoa học nghiên cứu địa danh (Điạ danh học) ra đời từ thế kỷ XIX Ở cácnước châu Âu ngày nay, bộ môn này rất phát triển Từ đầu thế kỷ đến nay cóhàng trăm chuyên khảo về địa danh, từ điển địa danh đã ra đời ở Liên Xô (cũ),
Mỹ, Anh, Pháp, Đức
Ở nước ta, Địa danh học đã có mầm mống từ lâu đời nhưng lại phát triểnrất châm chạp Các tài liệu có bàn về địa danh học phải kể đến “ Dư địa chí” củaNguyễn Trãi thế kỷ XV năm 1435, Đến thế kỷ XIX có “ Lịch triều hiến chươngloại chí” của Phan Huy Chú (1821), và tới đầu thế kỷ XX, một số tác phẩm bắtđầu đi sâu và có tính chất chuyên nghành hơn Ví dụ “ Vũ trung tuỳ bút” củaPhạm Đình Hổ, “ Phương Đình- Dư địa chí” của Nguyễn Siêu (1900), “ Sử học
bị khảo , địa lý thượng hạ” của Đặng Xuân Bảng
Đến cuối thế kỷ XX, địa danh học nước ta đã phát triển hơn lên trên cơ sởtiếng Việt hiện đại Trong giai đoạn này, có rất nhiều chuyên khảo đi sâu vàoviệc nghiên cứu địa danh như: “ Việc tìm sử liệu trong ngôn ngữ dân tộc”, “Nước Văn Lang qua các tài liệu ngôn ngữ”(1969), “ Mối liên hệ về ngôn ngữ cổđại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông” của GS Hoàng Thị Châu, “ Phươngpháp vận dụng địa danh học trong việc nghiên cứu địa danh học, lịch sử cổ đạiViệt Nam” của Đinh Văn Nhật, “ Thử bàn về địa danh Việt Nam” của Trần
Trang 6Thanh Tâm, “ Địa danh Việt Nam” của Nguyễn Văn Âu, “ Địa danh thành phố
Hồ Chí Minh” của Lê Trung Hoa các tác giả với những chuyên khảo củamình về địa danh đã tạo một cơ sở lý luận nhất định cho việc nghiên cứu địadanh Việt Nam
Bên cạnh địa danh Việt Nam, địa danh nước ngoài cũng được giới khoahọc rất quan tâm, xem xét nó trong tổng thể là tên riêng nước ngoài, có rấtnhiều cuốn sách, từ điển, bài viết bàn về tên riêng, địa danh nước ngoài, cáchviết chúng như thế nào? Trong đó phải kể đến : Tạp chí ngôn ngữ số đặc biệt3+4 năm 1979 “Về chuẩn mực hoá chính tả và thuật ngữ khoa học” với hàngloạt tham luận của các nhà ngôn ngữ về vấn đề này “sổ tay địa danh nướcngoài” của Nguyễn Dược, NXBGD, năm 1998, “ Từ điển nhân danh và địadanh” của Bùi Phụng, NXBVHTT, năm 2000, “Từ điển địa danh nước ngoài”của GS-TS Nguyễn Văn Khang, “ Mấy suy nghĩ về cách phiên chuyển từ ngữnước ngoài sang tiếng Việt” của GS-TS Nguyễn Thiên Giáp, Tạp chí ngôn ngữ
số 2, năm 2000, “Cần có cách nhìn thoả đáng đối với vấn đề phiên chuyển từngữ nước ngoài sang tiếng Việt” của PGS-TS Nguyễn Bá Hùng, Tạp chí ngônngữ số 4, năm 2000, “Góp thêm một vài nhận thức về cách viết và cách đọc tênriêng nước ngoài ở nước ta” của GS- TS Đinh văn Đức, Tạp chí ngôn ngữ số 5,năm 2000, “Việt hoá tiếng nước ngoài hay quốc tế hoá tiếng Việt” của NguyễnNgọc Lam, Tạp chí ngôn ngữ số 7, năm 2000, “Những vấn đề đặt ra đối với việc
xử lý từ ngữ nước ngoài trong tiếng Việt” của GS- TS Nguyễn Văn Khang, “Cónên phiên âm tiếng nước ngoài ” của GS- TS Nguyễn Đức Dân Tuy nhiên vấn
đề tên riêng, địa danh nước ngoài vẫn còn nhiều điều đáng bàn, chúng tôi sẽtrình bày cụ thể ở phần sau
1.2 Địa danh học và địa danh học bản đồ
“Xét về mặt mô hình hoá, bản đồ là một dạng mô hình đồ hoạ tốt nhấtthay thế cho lãnh thổ, giúp nghiên cứu nó như nghiên cứu trên chính thực địa”.Dẫn theo [29, 132]
Chính vì bản chất thay thế như vậy mà bản đồ được coi là một loại vănbản đặc biệt Một công cụ pháp lý, công cụ tuyên ngôn Trong ý nghĩa to lớn
Trang 7như thế của bản đồ thì địa danh là yếu tố nội dung của bất kỳ bản đồ nào.
Địa danh học bản đồ là một bộ phận của địa danh học, nghiên cứu, ứngdụng địa danh vào công tác bản đồ với nhiệm vụ chính là nghiên cứu việc chọn
và ghi các địa danh trên bản đồ môt cách khoa học và đúng đắn nhất Còn cácbản đồ sau đó lại trở thành nguồn tài liệu gốc đáng tin cậy cho các hoạt độngnghiên cứu và khai thác địa danh theo những mục đích riêng của người sử dụng
về lịch sử, ngôn ngữ, địa lý, tổ chức hành chính, lãnh thổ
1.3 Mối quan hệ giữa địa danh và ngôn ngữ
Địa danh là đối tượng nghiên cứu của địa danh học, một bộ phận của khoangôn ngữ học
Địa danh là một bộ phận của từ vựng, có số lượng khá lớn, có nguồn gốc
và ý nghĩa riêng Địa danh được cấu tạo bởi những đơn vị ngữ âm nên địa danh
là tư liệu nghiên cứu của ngữ âm học Địa danh là những danh từ, danh ngữ tuân theo những phương thức cấu tạo từ, ngữ của một ngôn ngữ nên địa danhcũng là tài liệu khảo cứu của ngữ pháp học Địa danh còn là sản phẩm do ngườibản địa tạo ra, gắn chặt với phương ngữ ở một địa phương nhất định nên địadanh nằm trong tư liệu nghiên cứu của phương ngữ học Địa danh ra đời trongmột thời đại nhất định nên nó cũng là tài liệu của nghành ngôn ngữ học lịch sử
1.4 Các c¸ch phân loại địa danh
a Theo Nguyễn Văn Âu, địa danh có thể được chia làm 8 loại [1]
- Địa danh sông ngòi
- Địa danh hồ đầm
- Địa danh đồi núi
- Địa danh hải đảo
- Địa danh làng, xã
- Địa danh huyện, quận
- Địa danh tỉnh, thành phố
- Địa danh quốc gia
b Lê Trung Hoa chia địa danh thành 4 loại [13]
- Địa danh chỉ địa hình thiên nhiên
Trang 8- Địa danh hành chính
- Địa danh vùng
- Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều( cầu đường, công viên, sân vận động)
c.Theo chúng tôi, có thể chia địa danh thành hai loại như sau:
- Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên, gồm:
* Tên các châu lục : Châu Âu, Châu Á
* Tên các địa hình núi: N Alpes (Anphơ)
* Tên các địa hình sông, hồ: S Danube (Đanuyp), S Seine (Xen), H.Great bear lake ( Hồ Gấu Lớn)
* Tên các địa hình biển, đảo: Black sea (B Đen), QĐ NIcobar
- Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo
* Địa danh vùng
* Địa danh hành chính
* Địa danh chỉ các công trình xây dựng
2 Các nguồn tư liệu
Như đã nói ở phần mở đầu Ở đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tưliệu: Báo, sách giáo khoa, bản đồ và Atlas Trong đó, chúng tôi lÊy Atlas là cơ
sở để đối chiếu, so sánh các cách viết địa danh với nhau
2.1 Báo chí
a Báo Nhân Dân
Khảo sát và thống kê địa danh trên 415 số từ tháng 1 năm 1999 đến tháng
1 năm 2000 và 20 số tháng 11, tháng 12 năm 2004
Tổng số địa danh: 797 địa danh
b Báo An ninh Thế giới
Khảo sát và thống kê địa danh trên 102 số, bao gồm: 7 số từ tháng 5 đếntháng 7, năm 2000 20 số từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2001 30 số từ tháng 2đến tháng 10, năm 2002 40 số tháng 2 đến tháng 12 năm 2004 5 số tháng 6,năm 2005
Tổng số địa danh: 441
Trang 9Nxb GD, Hà Nội, 2003, 223 địa danh
Tổng số địa danh mà chỳng tụi thống kờ được ở đõy sẽ khụng trựng vớitổng số địa danh của sỏch giỏo khoa ở cột phụ lục Bởi vỡ, ở phụ lục chỳng tụikhụng cú điều kiện để thể hiện được tỡnh hỡnh địa danh cụ thể ở từng loại sỏchgiỏo khoa, vỡ vậy, những địa danh cú cỏch viết như nhau, vớ dụ: Mỹ , Anh chỉđược viết một lần Cỏc cỏch viết cụ thể của từng loại sỏch được chỳng tụi sắpxếp trỡnh bày ở chương 2
“Atlas by England”, 1998 (tái bản), 376 địa danh
3 Vài nột về cỏc cỏch viết địa danh nước ngoài
3.1 Cỏc cỏch viết địa danh nước ngoài từ trước tới nay
Trang 10a Như trên đã nói, tên riêng nước ngoài nói chung và địa danh nướcngoài nói riêng là một vấn đề được nhiều nghành khoa học quan tâm trong đó cónghành Ngôn ngữ học Tạp chí ngôn ngữ, năm 1979 đã giành cả hai số 3 và 4 về
“Chuẩn mực hoá chính tả và thuật ngữ khoa học” Trong đó, có bàn rất nhiềuđến vấn đề tên riêng và địa danh nước ngoài
Đã có rất nhiều ý kiến tranh luận gay go giữa các chủ trương
- Chủ trương viết nguyên dạng
Các tác giả: Cao Xuân Hạo, Lê văn Thới
- Chủ Trương phiên âm
Như Mai, Ngô Quốc Quýnh, Nguyễn Kim Thản Đại biểu Hoàng XuânNhị, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn
- Chủ trương dùng hai hệ thống song song: nguyên dạng và phiên, thậmchí bốn kiểu khác nhau, tuỳ theo loại văn bản: phiên- phiên có chú nguyên dạng-nguyên dạng có chú cách đọc- nguyên dạng
Đại biểu: Hoàng Quy, Vũ Bá Hùng
- Chủ trương từ phiên âm tiến dần đến viết nguyên dạng, mỗi giai đoạntương ứng với một kiểu theo trình tự đã nêu trên
Đại biểu: Hồ Hải Thuỵ
Hiện nay, vấn đề này viết địa danh nước ngoài vẫn chưa có sự thống nhất,các ý kiến vẫn xoay xung quanh: Nguyên dạng, chuyển tự, phiên âm, dịch nghĩa
3.2 Cụ thể về các cách viết địa danh
Như chúng ta đã biết, cách viết địa danh nước ngoài trên các văn bản củanước ta từ trước đến nay đều không đồng nhất, tồn tại nhiều cách viết khácnhau, phổ biến là các cách viết: Nguyên dạng, phiên âm, chuyển tự, dịch nghĩa
Để có cơ sở khảo sát và đánh giá tình hình địa danh trên các văn bản tiếng Việthiện nay và tiến tới lựa chọn một giải pháp khoa học nhất cho việc viết địa danhnước ngoài, chúng tôi xin trình bày cụ thể về các cách viết địa danh phổ biếntrên, đồng thời phân tích ưu, nhược điểm của từng cách viết
3.2.1 Phiên âm (transcription)
Theo nghĩa nguyên của tiếng Latin “trancripto” có nghĩa là sao chép lại
Trang 11Cắt nghĩa ra thì phiên nghĩa là chuyển, âm là âm thanh “phiên âm là nhằm chỉ
ra cách phát âm của một từ hoặc một âm nào đó bằng chữ hoặc những ký hiệuriêng Mục đích của phiên âm là phản ánh mặt âm thanh của ngôn ngữ”
Hay nói cách khác: “phiên âm là cách ghi lại cách phát âm của ngoại ngữbằng hệ thống chữ cái của bản ngữ”
3.2.1.1 Phiên âm trực tiếp (phiên âm từ ngôn ngữ gốc)
Đây là phương pháp dựa vào cách đọc trong nguyên ngữ, dùng chữ viếtcủa ngôn ngữ nước mình để phản ánh lại âm trong nguyên ngữ (phiên âm theongôn ngữ gốc là phiên ngôn ngữ nước nào thì dựa vào cách đọc của ngôn ngữnước đó) [10, 73]
- Cách phiên này có thể áp dụng với nhiều ngôn ngữ trên thế giới Nếunhư trước đây chúng ta mới biết chủ yếu các thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga thì bâygiờ tình hình lại rất thuận lợi: hiện nay nước ta dặt quan hệ ngoại giao với nhiềunước trên thế giới Do đó, việc tìm hiểu ngôn ngữ của những nước này, tuy cókhó khăn nhưng không phải là điều không làm được
- “Phương pháp phiên âm theo ngôn ngữ gốc dựa vào cách đọc để phiên
có thể áp dụng cho tất cả các ngôn ngữ khác loại hình: Hán, Tạng, Pali, Aráp
kể cả các dân tộc chỉ có tiếng nói mà chưa có chữ viết Phương pháp phiên âmnày dựa vào hệ thống âm vị và các qui luật kết hợp âm vị của ngôn ngữ phiên(tiếng Việt) nên người Việt có thể đọc được, viết được và nhớ được một cách dễdàng” [17, 71]
-“Phiên âm dễ dàng và đơn giản cho quảng đại quần chúng có thể viết vàđọc được Do đó, việc giao tiếp ngôn ngữ tốt hơn, sự cảm nhận thông tin đượcnâng cao, giữ gìn được bản sắc tiếng Việt, các qui tắc tiếng Việt, đúng chính tả
Trang 12tiếng Việt, các âm vị , âm tiết rạch ròi khi đọc, dễ in ấn và xử lý thông tin” [17]
- “Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất khi sử dụng ngôn ngữ là phảithuận tiện cho người bản ngữ Mà người bản ngữ thì không bao giờ phát âmđúng với nguyên gốc được Vậy để nguyên dạng làm gì đằng nào chẳng phảiphiên âm theo bản ngữ” [6]
Bên cạnh đó, phiên âm trực tiếp cũng có nhiều nhược điểm
- “Sự thiếu chính xác trên mặt chữ đối với nguyên ngữ, và ở một sốtrường hợp là xa rời với nguyên dạng (tất nhiên không phải là tất cả ) ví dụ: Acơn sô > A can xô >Arkansas việc biết và đọc được các nguyên ngữ , sựphát âm không nhất quán do trình độ và còn do sự giới hạn của hệ thống chữ cáitiếng Việt dẫn tới có nhiều cách đọc” [2, 71]
- “ Một phiên âm dễ dẫn tới nhiều cách đọc khác nhau, rốt cuộc cách viếttên riêng nước ta không thống nhất được với thế giới mà cũng không thống nhấtđược với ngay trong nước mình Trên chữ viết thì khác hẳn chính tả nhưng phát
âm thì muốn giống người ta nhưng thực chất cũng chẳng giống với ai” [30]
- Cách phiên âm này, theo chúng tôi là rất khó khăn vì trên thế giới cóhàng ngàn thứ tiếng, có những ngôn ngữ mà ta chưa hề biết tới nên không thểphiên âm được chính xác Tham vọng về sự hiều biết thông suốt các ngôn ngữxem ra là quá xa vời nếu không muốn nói là không thể thực hiện được
Phiên âm trực tiếp (phiên âm từ ngôn ngữ gốc) có hai cách
* Phiên âm âm vị học
Phiên âm âm vị học đòi hỏi các biến thể của âm vị phải được chuyểnthành một ký hiệu duy nhất Do đó, người viết cần phải biết rõ hệ thộng âm vịcủa nguyên ngữ để phân tích và qui âm vị cho chính xác
* Phiên âm ngữ âm học
Phiên âm ngữ âm học thì phát âm thế nào ghi lại như thế
Phiên âm theo nguyên tắc âm vị học có lợi là đơn giản vì số lượng ký hiệuđược sử dụng ít nhưng lại có một khó khăn lớn vì nó đòi hỏi người phiên phảinắm được các thành phần âm vị của ngôn ngữ gốc và qui âm vị cho chính xác
Vì những khó khăn như thế khi phiên âm âm vị hoc Nên trong hai cách
Trang 13phiên âm này người ta thường dùng phiên âm ngữ âm học Khó khăn củanguyên tắc này là ở chỗ mọi biến thể âm vị phải được chuyển thành một ký hiệuriêng Do đó, ký hiệu phiên âm phải nhiều hơn
3.2.1.2 Phiên âm gián tiếp (phiên âm qua ngôn ngữ trung gian)
Cách phiên này áp dụng phổ biến trên sách báo trong suốt một thời giandài Chủ yếu là phiên qua tiếng Hán (đọc theo âm Hán Việt) kết quả là sự ra đờicủa hàng loạt các địa danh trở nên quen thuộc với người Việt: Pháp, Anh, Đức,
Ý, Nhật, La Mã
Những địa danh này so với cách phiên trực tiếp thì ngắn gọn, dễ đọc và dễnhớ Mặt khác, chúng gần gũi với các tên riêng tiếng Việt nên dễ trở thành quenthuộc với nhân dân Đây là điều lý giải tại sao nhân dân ta hay dùng cách phiên
âm này
Phiên âm qua Hán Việt có nhiều nhược điểm Nhược điểm chủ yếu củacách phiên này là tên phiên khác xa với tên gốc cả về cách đọc lẫn cách viết, nólàm cho người đọc khó nhận ra tên gốc Cách phiên này từ trước tới nay được ápdụng nhiều là vì trước kia do ảnh hưởng của tiếng Hán đến nước ta rất nặng nề,hơn nữa do chỗ người ta không biết ngôn ngữ gốc nên phải phiên âm qua ngônngữ trung gian
Ngày nay, rất nhiều ngôn ngữ đã được đổi lại theo cách phiên âm trực tiếp
“Đối với những tên đã thông dụng, không nên thay đổi lại vì hai lý do:hoặc để tránh khỏi bắt dân mình phải mất thì giờ học lại những tên mới xa lạ,hoặc để tránh luôn cho người nước ngoài phải học lại một lần nữa cách dânmình phiên âm tên những từ thuộc nước họ” [19, 102]
Cùng với quan điểm trên Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Rõ ràng ta thấy
Trang 14khụng cú gỡ bất tiện khi dựng cỏc tờn nước ngoài như nước Anh, nước Phỏp,nước Nga thế thỡ tại sao lại cố đưa từ nước I- ta- li- a thay cho nước í đó quenthuộc với mọi người” [11, 95]
Suy cho cựng, dựa vào ngụn ngữ trung gian để phiờn õm địa danh là mộtviệc làm khụng khoa học, vỡ như vậy là đi phiờn một ngụn ngữ mới Núi trunggian là trung gian với những tờn mỡnh định phiờn, cũn khi đi vào cụ thể thỡngười ta lại đi tiến hành cụng việc phiờn õm qua ngụn ngữ gốc Nghĩa là ngườiphiờn õm phải cú hiều biết về hệ thống õm vị, cỏch phỏt õm, những qui luật củangụn ngữ ấy
Như vậy, dự phiờn õm trực tiếp hay giỏn tiếp thỡ cũng cú những khú khănkhụng thể dung hoà được
Theo GS Hoàng Thị Châu trong khi trao đổi với chúng tôi: “Phiên âmtrực tiếp” và “phiên âm gián tiếp” về bản chất, chính là “Việt hóa”(quốc ngữhóa những địa danh đã đợc Latin hóa: tách các âm tiết, thêm gạch nối, thay đổicon chữ, thêm dấu thanh) và “Hán Việt hóa”(để nguyên và viết tắt) Trong khóaluận này, chúng tôi thống nhất cách gọi : “phiên âm gián tiếp”, “phiên âm trựctiếp” để chỉ các địa danh đã đợc Việt hóa hay Hán Việt hóa theo những cách ởtrên
3.2.2 Chuyển tự (transliteration)
Chuyển tự (chuyển chữ) là chuyển cỏch viết từ một hệ thống chữ cỏi lốinày sang một hệ thống chữ cỏi lối khỏc dựa vào sự đối chiếu tương đương giữanhững chữ cỏi của hệ thống này với những chữ cỏi của hệ thống khỏc Hay núicỏch khỏc, là sự đối chiếu tương đương giữa những ký hiệu khỏc nhau củanhững hệ thống õm vị khỏc nhau, chẳng hạn từ một hệ thống chữ Xlavơ sang hệthống chữ cỏi Latin, như chuyển từ chữ Nga sang chữ Việt:
MOSKBA > MOSKVA
“Chuyển chữ khỏc với phiờn õm, chuyển chữ chỉ chỳ ý đến dạng chữ,khụng chỳ ý đến cỏch đọc, cũn phiờn õm chủ yếu là phản ỏnh trung thành õmthanh của ngụn ngữ Trong thực tế, khi chuyển chữ cú thể cú trường hợp giữahai ngụn ngữ khụng cú những chữ cỏi tương đương, người ta phải tỡm những õmgần gũi nhau để tỡm cỏch đối chiếu cho phự hợp Cho nờn, giữa chuyển chữ và
Trang 15phiên âm vẫn có liên hệ với nhau, tuy rằng chúng khác hẳn nhau” [17, 77]
Chuyển tự có ưu điểm là: có khả năng loại trừ những quan hệ phức tạpgiữa các cách viết và cách đọc của hai ngôn ngữ, có thể gảm bớt khả năng mộttên có nhiều cách phiên
Chuyển tự có những thuận lợi nhất định nhưng cũng có nhiều khó khăn:
- Giữa hai ngôn ngữ không phải bao giờ cũng có tương ứng về hệ thốngchũ cái, trong những trường hợp đó người ta phải căn cứ vào âm để tìm nhữngcon chữ thích hợp, có âm gần gũi
- Phương pháp chuyển tự áp dụng khó khăn đối với các ngôn ngữ khácloại hình Mặt khác, chuyển tự căn cứ vào chữ viết nhưng không phải tất cả cácngôn ngữ trên thế giới đều có chữ viết bằng chũ cái
- Đối với những ngôn ngữ được cấu tạo theo nguyên tắc ghi ý, tượnghình, ví dụ : Trung Quốc Phương pháp này không áp dụng được (hơn nữangười Trung Quốc cũng phải chuyển chữ của họ ra Latin hoá)
- Tiếng Việt của chúng ta tuy cùng một bộ chữ cái Latin như một số nướckhác nhưng chữ viết của ta có nhiều dấu phụ (các dấu thanh và các dấu mũ )
Mặt khác, từ trong tiếng Việt tuy có những từ đa tiết nhưng không giốngvới các từ trong các ngôn ngữ khác có những từ rất dài
Tâm lý nhân dân ta ưa ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ Tên riêng nước ngoàiphải ngắn gọn thì mới đáp ứng được yêu cầu đó
Qua những phân tích trên, chúng ta thấy rằng chuyển tự có những ưuđiểm nhất định, nhưng nếu áp dụng cho cách viết địa danh nước ngoài là chưathoả đáng “Chuyển tự chỉ có thể dùng trong các chuyên san hẹp, trong các thưmục nghiên cứu, các thư viện để có thể tiện cho việc tra cứu còn để phục vụcho nhu cầu của đông đảo quần chúng thì phương pháp này không thể coi là phổthông được” [10]
3.2.3 Dịch nghĩa
Dịch nghĩa là cách dùng các yếu tố bản ngữ để dịch các từ ngữ nướcngoài Đối với các tên riêng, địa danh nước ngoài, cách này được áp khi nhữngtên riêng, địa danh nước ngoài có nghĩa hoặc có một bộ phận có nghĩa Ví dụ:
Trang 16B Đen, B Đỏ, Nam Phi, Trung Phi, Đông Timo
Tuy nhiên, trên thực tế các địa danh nước ngoài có nghĩa chiếm một sốlượng rất ít ỏi Vì vậy, cách viết này không thể đáp ứng được cho đông đảo cáctrường hợp
- Nguyên dạng là thể hiện sự sẵn sàng tiếp thu những yếu tố cần thiếttrong các ngôn ngữ khác một cách chủ động và có bản lĩnh của tiếng Việt
- “Viết nguyên dạng có những điều lợi ích không thể phủ nhận đối vơitiếng Việt: sự chính xác và khoa học, không sai lạc thông tin, tiện lợi trong giaolưu quốc tế”.[2, 71 ]
- Viết đúng nguyên dạng tiện cho việc tra cứu và nhận biết chính xác tênriêng, địa danh nước ngoài
- Viết đúng tên địa danh còn biểu lộ sự tôn trọng
- Viết nguyên dạng không những thống nhất với quốc tế mà còn thốngnhất với trong nước, phiêm âm thì khó tránh khỏi mỗi người phiên âm một cáchkhác nhau
Tuy nhiên, cũng có một số người băn khoăn sợ theo nguyên dạng thì quầnchúng sẽ không đọc được do chưa biết ngoại ngữ, mà không đọc được thì cũngrất khó nhớ
Sở dĩ có các khó khăn “khó đọc, khó nhớ” là do bản thân tên riêng nước
Trang 17ngoài nó như vậy Nhưng người ta vẫn tôn trọng cái dạng trong ngôn ngữ củanhững tên riêng, địa danh ấy, không tuỳ tiện sửa đổi, bởi vì người ta đã có kinhnghiệm rằng: đây là khó khăn không thể tránh được, lẩn tránh nó bằng nhữngcách viết khác thì sẽ đẻ ra những khó khăn lớn hơn nhiều.
Lại có ý kiến cho rằng: chấp nhận giải pháp nguyên dạng đối với tênriêng, địa danh nước ngoài sẽ tạo lên một bức tranh lổn nhổn tiếng nước ngoài.Nhưng nếu không chấp nhận nguyên dạng mà theo phiên âm thì tình hình còn có
vẻ hỗn loạn hơn khi cùng một tên mà mà có tới quá nhiều cách viết khác nhau.Thậm chí, khi chúng ta bắt gặp các cách viết ấy thì thấy rất băn khoăn vì khôngbiết đó là một hay nhiều địa danh
Tóm lại, theo chúng tôi cách viết địa danh nước ngoài theo nguyên dạng
là giải pháp khoa học nhất và cần được thực hiện theo từng trình tự nhất định tuỳtheo từng đối tượng cụ thể Vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày ở chương 3 giảipháp và kiến nghị
4 Cơ sở ngôn ngữ của việc viết tên riêng và địa danh nước ngoài
- Ngôn ngữ có hai hình thức: nói và viết Nói bao giờ cũng là chủ
yếu , song từ khi có chữ viết, dần dà chữ viết không chỉ làm chức năng đạidiện cho vỏ âm thanh mà còn tiến xa hơn: làm ký hiệu trực tiếp Ban đầu, chữviết phải qua kênh mắt nhìn, miệng đọc, tai nghe rồi mới đến óc tiếp nhận Trình
độ văn hoá của con người ngày càng nâng cao, ký hiệu sử dụng ngày càng nhiềuthì con đường đi từ ký hiệu vào óc càng ngắn đi Ngày nay, thường là: ký hiệu -mắt nhìn - óc nhận Đơn vị ngôn ngữ nói chung là các ký hiệu đặc biệt
- Địa danh nước ngoài tồn tại với tư cách là một bộ phận của tên riêngnước ngoài “Tên riêng, tuy là những đơn vị ngôn ngữ nhưng do chúng là những
ký hiệu đơn giản 1- 1 nên chúng lại có những tính chất của những ký hiệuthường không khác gì những dấu +, - , x, : hoặc là những hình vẽ, phù hiệukhác Vì vậy, tên riêng là một bộ phận đặc biệt của từ vựng ngôn ngữ.” [28, 56]
- Vấn đề đặt ra là: cái được tôn trọng ở tên riêng là chữ hay âm? Đúng làngôn ngữ, trước hết là ngôn ngữ nói và chữ viết là để ghi lại ngôn ngữ nói Đốivới những ngôn ngữ có chữ viết ghi âm, thì quan hệ giữa âm và chữ là ngữ âm
Trang 18quyết định chính tả.
Nói chung là như vậy, nhưng nói chung không có nghĩa là bao giờ cũngphải như vậy Quan hệ giữa âm và chữ là một quan hệ biện chứng, và có nhữngtrường hợp ngôn ngữ ở dạng viết lại quan trọng hơn ngôn ngữ ở dạng nói, vàchính tả quyết định trở lại ngữ âm
“ Chữ viết ra đời là để khắc phục những hạn chế của ngôn ngữ nói Ngônngữ viết đáp ứng nhu cầu giao tiếp rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động vănhoá, kinh tế, xã hội, chính trị của con người, cả khi con người ở cách xa nhau,hoặc không sống cùng một thời đại với nhau Chức năng đó đòi hỏi ngông ngữviết, khác với ngôn ngữ nói phải có tính thống nhất và tính ổn định rất cao Phát
âm có thể thay đổi và nhiều khi thay đổi khá nhiều, giữa địa phương này với địaphương khác, giữa thế hệ này với thế hệ khác, nhưng chính tả thì phải thốngnhất
Chúng ta phát âm khác nhau: “chần quốc tuấn”, “trầng quốc tuứng”,
“trần quức tứng” nhưng khi viết thì mọi người đều chỉ có thể viết “ TrầnQuốc Tuấn” Đó là chuẩn chính tả, chuẩn chính tả này tác động trở lại ngữ âmtạo ra một cách phát âm không tồn tại một cách tự nhiên trong tiếng Việt: “trầnquốc tuấn”, cách phát âm này được công nhận là chuẩn
Chuẩn chính tả là cơ sở để xác định chuẩn phát âm, thí dụ trên đây chothấy rằng đối với tên riêng trong nội bộ ngôn ngữ như “trần quốc tuấn”, chính tảvẫn quan trọng hơn phát âm, nó là nhân tố chính đảm bảo tính đồng nhất của tênriêng Đối với tên riêng, địa danh nước ngoài lại càng như vậy Người Mĩ viếtLOS ANGELES và nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới cũng viết LOSANGELES thống nhất với người Mĩ Nhưng tên cái thành phố Mỹ này ngaytrong bản thân người Mĩ đã có tới ít nhất bốn cách phát âm khác nhau (các từđiển Mĩ thường chú ba hoặc bốn cách phát âm, mà không ghi chú cách phát âmnào là chuẩn, tạm phiên là “loxanjơlax”, “loxanjơlet”, “lôxangơlơx”,
“loxanggơliz” và không ai tính được thực tế trên thế giới còn bao nhiêu cáchphát âm khác nữa (một số từ điển Anh, Pháp chú âm: “loxanjiliz”,
“loxanghiliz” phát âm có thể khác nhau, thậm chí khác nhau khá nhiều nhưng
Trang 19chính tả chỉ là một”.[22, 13- 14]
Như thế, có nghĩa là khi chúng ta làm việc với địa danh nước ngoài cầnchú ý đến chữ viết sau đó mới đến phát âm
CHƯƠNG II TÌNH HÌNH VIẾT ĐỊA DANH NƯỚC NGOÀI TRÊN MỘT SỐ VĂN BẢN
Trang 20TIẾNG VIỆT HIỆN NAY
1 Báo chí
Báo chí là một hình thái ý thức xã hội , lấy hiện thực khách quan làm đốitượng phản ánh Thông tin trong báo chí luôn mang tính thời sự Vì vậy, trongtừng thời điểm cụ thể ta có thể bắt gặp sự xuất hiện liên tục và đều đặn của một
số địa danh trên tất cả các báo Đây cũng chính là điểm đặc biệt để chúng ta dễdàng nhận ra tình trạng xử lý địa danh không nhất quán trên các báo
Báo chí là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhândân Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của nhà nước, của các tổ chức chính trị
xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Báo chí thôngtin, tham gia phát hiện và giải thích những vấn đề nóng hổi của xã hội, làm nhưvậy là báo chí thực hiện chức năng tuyên truyền cổ động và tổ chức tập thể củamình
Chúng ta nhận thức được vai trò như thế của báo chí trong đời sống, đồngthời cũng nhằm xác định nhiệm vụ của báo chí trong công cuộc định hướng xãhội, chuẩn hoá ngôn ngữ trong đó có chuẩn hoá địa danh nước ngoài
Đây chính là nhiệm vụ to lớn đặt ra cho báo chí nước ta vì tình hình địadanh nước ngoài trên các báo hiện nay là rất không thống nhất
1.1 Báo Nhân Dân
Báo Nhân Dân sử dụng các cách viết địa dnah:
1.1.1 Phiên âm trực tiếp
- Phiên âm và viết rời có gạch nối
“cảnh sát I- rắc cho biết, ngày 5 1 tại A- mi- ri- y- a gần sân bay Bát –
đa, một xe bom nổ nhằm đoàn xe quân sự Mỹ ”
(ND, ngày 04 01 2005, tr8)
“ở Tan A- pha, phía bắc thành phố Mô- xun, quê hương của tổng
thống lâm thời G D y a na bị tiến công rốc- két ”
(ND, ngày 06 01 2005, tr8)
“lượt đi trận bán kết thứ hai giữa đội chủ nhà Mi- an- ma và đội
Trang 21Xin-ga- po được tổ chức ở sân bay Chi- rát (Ma- lai- xi- a) ”
( ND, ngày 30 12 2004, tr8)
“Thủ tướng I- xra- en tiếp tục thúc đẩy thực hiện kế hoạch rút quân khỏi dải Ga- da ”
(ND, ngày 29 12 2004, tr8)Việc sử dụng dấu nối (-) để viết tên riêng, địa danh rất phổ biến vàonhững thập kỷ trước không chỉ đối với từ ngữ nước ngoài mà còn cả đối vớinhân danh và địa danh Việt Nam Hiện nay, số lượng văn bản sử dụng cách viếtnày không còn nhiều
“Dấu nối là ký hiệu chính tả, thường dùng để nối các thành tố trong từ đatiết hoặc trong tổ hợp từ” [32, 60]
Việc sử dụng dấu nối để ghi địa danh có ưu điểm là giúp người đọc nhậndiện các từ đa tiết dễ dàng hơn, do đó, sẽ đọc đúng, hiểu mau, tránh được sự ngộnhận Dấu nối giúp người đọc đỡ phải vận dụng trí óc quá căng thẳng, tiết kiệmđược tư duy
Bên cạnh đó, sử dụng dấu nối cũng dẫn đến nhiều phiền phức: không tiếtkiêm trong khi viết và in ấn, thiếu nhất quán và thiếu nhất trí Ví dụ:
Dim- ba- bu- ê
Sở dĩ có cách viết này là vì địa danh nước ngoài khi phiên đều có sốlượng âm tiết rất lớn 3- 4 âm tiết Số lượng âm tiết hơi lớn so với thông thườngnhư thế làm cho người Việt cảm thấy khó khăn khi ban đầu tiếp xúc với địadanh nước ngoài, để dễ dàng hơn họ lựa chọ giải pháp viết rời có gạch nối
- Viết hoa các chữ cái đầu âm tiết
Ví dụ: A- déc- bai- gian
Ai- đa- hô Ban- khát Bai- rơn
Việc xây dựng qui tắc viết hoa đã được nhiều người lưu tâm, bàn luận từlâu
Trang 22Theo Nguyễn Văn Thạc: “Chữ hoa biều thị sự bắt đầu của một câu, có tácdụng phân đoạn về mặt cú pháp Về mặt này nó thường được kết hợp với cácdấu biểu thị sự kết thúc của câu như dấu chấm, dấu hỏi chấm, dấu than, dấuchấm lửng.[25, 45]
Khi chữ hoa được dùng để viết những đơn vị không phải tên riêng, danh
từ riêng thì nó có tác dụng biểu thị sự tôn kính, trân trọng như Chủ tịch nướcCHXHCNVN, Tổng bí thư BCHTWĐ
Chữ hoa còn chủ yếu được dùng vào việc phân đoạn các đơn vị từ vựng,các tiếng hoặc các từ, các cụm từ được gọi là tên riêng Các đơn vị tên riêng ấycũng rất đa dạng, phức tạp về danh giới, nguồn gốc, cấu tạo, hoạt động chứcnăng, tạo nên bức tranh nhiều màu, nhiều vẻ về mặt từ vựng học của vấn đề
Cũng có thể nói đến mặt tác dụng thẩm mỹ của chữ hoa như một hìnhthức mỹ thuật của văn tự, thường được dùng vào việc trang trí, trình bày Nhưng
đó là mặt tác dụng không thuộc về ngôn ngữ học”… [25, 45- 46]
“Tên địa lý, (địa danh) do mỗi yếu tố cấu tạo của nó không có ý nghĩađịnh danh biệt lập Cho nên cách viết hoa địa danh cũng phải dựa trên qui tắcviết hoa tên người, viết hoa ký hiệu định danh, nghĩa là viết hoa chữ cái đầukhông có gạch nối” [25]
*Đối với địa danh hai thành phần thì viết hoa chữ cái đầu của mỗi thànhphần
“thiệt hại to lớn về người và tài sản gây ra bởi trận động đất và sóng
thần ngày 26 12 vừa qua tại nhiều nước Châu Á đặc biệt là ở Xri Lan- ca,
In-đô- nê- xi- a ”
(ND, ngày 28 12 2004, tr8)
“Hai vụ đánh bom nhằm vào doanh trại của lực lượng đặc nhiệm và bộ
nội vụ Arập Xêut tại thủ đô Ri- át ”
(ND, ngày 31 12 2004, tr8) “ngày 14 2 hàng trăm người I- xra- en đã biểu tình tại Giê- ru- xa- lem,
Ga- li- lê, Ten A- víp và khu định cư Gu- sơ Ca- típ ”
(ND, ngày 16 02 2005,tr8)
Trang 23“Sáng sớm 14 3, một trận động đất 6,4 độ rích- te xảy ra ở miền trung
Niu Di- lân ”
So sánh với cách viết địa danh Việt Nam ta sẽ thấy có sự đối lập: Địadanh Việt Nam nếu có bao nhiêu âm tiết thì cũng viết hoa tất cả các chữ đầu âmtiết, còn tên các địa danh nước ngoài được phiên âm dù có bao nhiêu âm tiết thìcũng chỉ viết hoa mỗi chữ đầu của mỗi thành phần
Địa danh Việt Nam Cửa Tùng, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột
Địa danh nước ngoài Niu Đêli, Ban- đa Xê- ri- bê- ga- oan
- Các âm tiết có phụ âm tắc p, t, k ở cuối (còn gọi là âm tiết khép) theo tậpquán trong tiếng Việt vốn có dấu sắc nên trong phiên âm ở đây cũng có dấu sắc
“ cuộc đàm phán cấp bí thư đối ngoại giữa Ấn Độ và Pa- ki- xtan dự kiến diễn ra tại thủ đô I- xla- ma- bát ”
(ND, ngày 28 11 2004, tr8)
“I- rắc xem xét khả năng hoãn bầu cử do tình hình bất ổn ”
(ND, ngày 26 12 2004, tr8) “hội nghị và triển lãm nhân “tuần lễ xanh” 2005 diễn ra từ ngày 31 5
con đường quốc hội là Hung – ga- ri , Lít- va và Xlô- vê- ni- a ”
(ND, ngày 22 02 2005, tr8)
“Vê- nê- xu- ê- la và Cô- lôm –bi- a thông báo sẽ nối lại tất cả các dự ánhợp tác kinh tế và thương mại song phương bị gián đoạn từ cuộc khủng hoảngngoại giao hồi tháng 1 do Cô- lôm – bi- a bắt giữ một thủ lĩnh quân nổi dậy
nước này tại thủ đô Ca- ra- cát”
(ND, ngày 22 02 2005, tr8)
Trang 24“Tại thủ đô Ma- pu- tô (Mô- dăm- bích), tổng thống đắc cử nước này
tuyên thệ nhậm chức ”
(ND, ngày 04 02 2005, tr8)
1.1.2 Phiên âm gián tiếp
Chủ yếu phiên theo tiếng Hán và cách đọc Hán Việt
“Ngày 17 2 tại Hà Nội, ngài Ha- tô- ri, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam và
GS Nguyễn Trọng Nhân, chủ tịch hội Nhãn Khoa Việt Nam cùng ký kết “Dự ánnâng cao kỹ thuật điều trị nhãn khoa của Việt Nam ”
“Đại sứ quán Anh ở Y- ê- men vẫn tiếp tục đóng cửa vì lo ngại an ninh
không đảm bảo và không rõ khi nào sẽ mở cửa trở lại.”
(ND, ngày 09 01 2005, tr8)
“Trung Quốc chào đón công dân thứ 1,3 tỷ tại Bắc Kinh Dự kiến số dân
nước này sẽ là 1,46 tỉ người vào năm 2030”
(ND, ngày 30 01 2005, tr8) “trường Cô- xít thuộc Bruy- giơ, một địa danh nổi tiếng tại Pla- măng
của vương quốc Bỉ, đã tổ chức đêm ẩm thực Việt Nam ”
Trang 25Áp dụng cho những ngôn ngữ mà chữ viết không theo dạng Latin, xuấtphát từ các bộ chữ Hán (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên ), Krilich (Nga,Bungari ), Pali Sanscrit (Ấ Độ, Mianma, Thái Lan )
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng Atlas của Anh làm cơ sở để đối chiếu.Như vậy, để có thể nhận dạng được địa danh chuyển tự là rất khó vì bản thânAtlas đã thực hiện một bước chuyển tự cho các ngôn ngữ không phải chữ viếtLatin sang cách viết của Anh, một trong những ngôn ngữ sử dụng hệ thống chữviết Latin
Vì vậy, để có thể xem xét các cụ thể các trường hợp chuyển tự, chúng tôi
sẽ căn cứ vào vị trí của các địa danh tương ứng với các hệ ngôn ngữ nhất định.Vấn đề chuyển tự xin phép được trình bày cặn kẽ hơn vào một dịp khác
Như vậy, địa danh nước ngoài trên báo Nhân Dân chủ yếu được xử lýtheo cách phiên âm trực tiếp và viết rời có gạch nối Bên cạnh đó còn có cáccách: Dịch nghĩa, phiên âm gián tiếp qua Hán Việt
Tû lệ(%)
1 Phiên âm trực tiếp và
viết rời có gạch nối 742 797 93,2
1.2 Báo An ninh thế giới
1.2.1 Sử dụng cách viết nguyên dạng địa danh
“ANDERSON HOUSE hay ngôi nhà mèo, cách Meniapolis về phía đông nam 75 dặm, bên bờ sông Mississippi được xây dựng vào năm 1856”
(Antg, số 264, ngày 24 01 2002, tr32)
“Cứ mỗi học kỳ, 56 sinh viên đang theo học khoa quản trị kinh doanh của
viện đại học Malibu ở bang California lại được giáo sư James Martinoff đưa
Trang 26đến nhà tù Nellis gần thành phố Las Vegas để thực tập ”
(Antg, số 264, ngày 24 01 2002 tr32)
“Cách đây hai năm, Mc Drisler, 18 tuổi, sống tại Los Angeles, do ngủ gật
khi đang lái xe đã đâm vào gốc cây ven đường và bị chấn thương sọ não, hôn mêkéo dài ”
“Một nhóm các nhà khoa học Autralia đã phát triển một loại máy kiểm
tra huyết áp kỹ thuật tự động ”
(Antg, số 420, ngày 12 01 2005, tr32)
“các nhân viên của họ không ngờ bị mắc mưu chú bé 15 tuổi ở New
York bởi chú là người sưu tập chữ ký chuyên nghiệp”
(Antg, số 228, ngày 16 05 2001, tr32) “chuyện lạ ấy đã xảy đến với một kỹ sư chuyên trách về vấn đề nông
trại ở bang Missouri (Mỹ)”
(Antg, số 256, ngày 28 11 2001, tr32)
“Để ngăn ngừa tệ săn bắt động vật hoang dã phát triển tại miền đông
Canada chính quyền bang Ontario đã triển khai việc đặt các hình thú giả tại
nhiều khu rừng”
(Antg, số 294, ngày 29 08 2002, tr32)
“cô Mojadad người ở thành phố Mascara, Angerie, có biểu hiện chảy
máu ra từ đôi mắt mỗi lần cô khóc ”
Trang 27“Khi mùa đông đến, nước sông chảy qua thành phố Québec, Canada
đóng thành những tảng băng đồ sộ ”
(Antg, số 232, ngày 13 06 2001 tr32)
1.2.2 Giữ nguyên cách viết những địa danh quen thuộc (phiên âm qua Hán Việt)
“Trung tuần tháng 8 vừa qua, cảnh sát Menton của Pháp đã phát hiện xác
chết của một người đàn ông khoảng 60 tuổi ”
(Antg, số 400, ngày 23 09 2004, tr32)
“Came là một chú chó đực giống chăn cừu được hai vợ chồng Adrian và
Leonie Boehme ở bang New South Wales của Úc nuôi dưỡng từ 10 năm nay ”
(Antg, số 259, ngày 20 12 2001, tr32)
“Các bác sĩ ở viện y học Luân Đôn trong ba năm đã tiến hành một ca
phẫu thuật chưa từng có trong lịch sử y học thế giới ”
(Antg, số 261, ngày 03 01 2002, tr32)
“Trong hồ sơ cảnh sát Mỹ vào các thập niên 40 và 50 còn ghi lại một
khuôn mặt tội phạm giả danh “bậc thầy”
(Antg, số 269, ngày 07 03 2002, tr32)
“Chiếc xe hơi loại Jaqua XK 120 là tác phẩm của Eric Bowyer, một nhà
môi trường học người Anh được bọc toàn bằng cỏ”
(Antg, số 303, ngày 31 10 2002, tr32) “tại hội chợ triển lãm xe hơi quốc tế vừa tổ chức ở Pháp hồi đầu tháng
10- 2004, một hãng chế tạo xe hơi của Thuỵ Sỹ đã giới thiệu kiểu xe có tên gọi
Presto ”
(Antg, số 249, ngày 10 10 2001, tr32) “ngân hàng nằm cạnh nhà hát kịch lừng danh Lascala ở Milan (thành
phố miền bắc nước Ý ”
(Antg, số 262, ngày 10 01 2002, tr32)
1.2.3 Dịch nghĩa
“tại thị trấn Pietermaritzbut của Nam Phi, một người làm dịch vụ lễ
tang đã nảy ra sáng kiến làm một chiếc quan tài ngồi”
Trang 28Bên cạnh cách viết nguyên dạng còn có viết theo phiên âm và dịch nghĩa
và một vài trường hợp phiên âm có dấu thanh điệu, có gạch nối Những kiểu viếtnày chỉ xảy ra một hoặc hai lần trong số tư liệu đã khảo sát Cho nên theo chúngtôi, đây không phải là cách viết đặc trưng của tờ báo này mà là do sơ suất củabiên tập viên hoặc do lỗi in ấn
1.3 Báo Tin tức
1.3.1 Viết theo nguyên dạng
“Một làn sóng biểu tình sẽ nổ ra ở khu vực lãnh thổ Palestin các cuộc biểu tình sẽ đưa ra đề nghị được an táng ông Arapat ở Jerusalem ”
(TT, số 1614, ngày 15 07 2004, tr12)
“họ sẽ đưa ra đề nghị cả gói cho Iran nhằm thuyết phục nước này
ngừng mọi hoạt động làm giàu Urani ”
(TT, số 1614, ngày 15 07 2004, tr12) “Ấn Độ đã phóng thành công tên lửa đối không tầm ngắn tại một địa
điểm tại bang Orissa”
(TT, số 1729, ngày 27.11 2004, tr12)