1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ 0-6 TUỔI

32 5K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 0-6 tuổi
Tác giả Nguyễn Thị Lê
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học
Thể loại niên luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 248,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Còn với con người thì sao? Cái gì đã tách con người ra khỏi loài vật. Đó là các tín hiệu ngôn ngữ - chỉ có ở người

Trang 1

KHOA TÂM LÝ HỌC

-NIÊN LUẬN

SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ 0-6 TUỔI

Sinh viên : Nguyễn Thị Lê

Lớp : K49-Tâm lý học

Hà Nội, 01-2007

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Ở động vật, có nững tín hiệu do các sự vật, hiện tượng kháchquan và các thuộc tính của chúng, kể cả các hình ảnh do các tín hiệu đótác động vào não gây ra Các tín hiệu này là cơ sở của hoạt động cảmtính, trực quan, tư duy cụ thể và cảm xúc cơ thể

Còn với con người thì sao? Cái gì đã tách con người ra khỏi loàivật Đó là các tín hiệu ngôn ngữ - chỉ có ở người Các tín hiệu ngôn ngữ

là cơ sở sinh lý của tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm, và các chứcnăng cấp cao của con người Ngôn ngữ là công cụ để con người truyềnđạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụng của người khác vàohoạt động của mình Từ đó, nó làm cho mình có những khả năng to lớn,nhận thức và nắm vững được bản chất của tự nhiên, xã hội và bản thân

Do sống và làm việc cùng nhau nên con người có nhu cầu giaotiếp với nhau và nhận thức được hiện thực Trong quá trình lao độngcùng nhau, hai quá trình giao tiếp và nhận thức đó không rời nhau:trong lao động, con người phải thông báo cho nhau về sự vạt, hiệntượng nào đó Nhưng, để thông báo, lại phải khái quát sự vật hiện tượng

đó vào trong một lớp, một nhóm các sự vật, hiện tượng nhất định, cùngloại Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn được nhu cầu thống nhất các hoạtđộng đó

Một đứa trẻ, ngay từ rất sớm, nó đã biết sử dụng ngôn ngữ Việc

sử dụng ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở việc lặp lại điều mà nó đã nghe

Mà, trẻ còn sáng tạo ra những câu nói mới, nói về những chủ đề mới vàngày càng thành thạo hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ

Các dân tộc khác nhau, các nền văn hoá khác nhau, ở trẻ cónhững ngôn ngữ khác nhau, nhưng chúng đều phải trải qua các giaiđoạn phát triển về ngôn ngữ Không phải ngẫu nhiên đứa trẻ mới sinh ra

Trang 3

đã có thể nói được thành thạo một câu trọn vẹn, đó là cả một quá trình.Trong bài viết này, tôi chỉ xin dừng lại đi sâu phân tích sự phát triểnngôn ngữ của trẻ từ 0 - 6 tuổi Đây là giai đoạn, mà tôi cho rằng sự pháttriển ngôn ngữ đóng vai trò rất quan trọng trong việc đặt nền tảng cho

sự phát triển một cách toàn diện của trẻ ở các giai đoạn tiếp theo

Trang 4

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ

1.1 Các học thuyết về phát triển ngôn ngữ.

1.1.1 Quan điểm học hỏi:

Những người theo quyết định học hỏi nhân cách hai quá trình bắtchước và củng cố trong học thuyết hấp thụ ngôn ngữ Đại diện là B.F.Skiner Trong cuốn “ứng xử ngôn ngữ” (1957), ông cho rằng trẻ em họcđược cách nói đúng vì chúng được củng cố khi nói đúng ngữ pháp.Người lớn bắt đầu định hình câu nói của trẻ bằng việc củng cố một cách

có lựa chọn những âm tiết bập bẹ gần giống những từ có nghĩa và vìvậy làm tăng xác suất âm tiết lặp lại Dần dần qua sự củng cố, trẻ địnhhình được âm tiết thành lời, người lớn ngừng củng cố (chú ý hay tánthành) cho đến khi trẻ kết hợp các trẻ lại với nhau, trước tiền là nhữngcâu đơn giản Sau là những câu phức hợp

Một số người khác cho rằng trẻ thu nhận phần lớn ý thức ngônngữ của chúng bằng cách nghe cẩn thận và bắt chước ngôn ngữ củangười lớn

Theo quan điểm này, chúng ta thấy rõ ràng là bắt chước và củng

cố có vai trò quan trọng trong sự phát triển ngôn ngữ ban đầu Nhưnghọc thuyết này không thể giải thích sự phát triển cú pháp

1.1.2 Quan điểm tự nhiên

Sơ đồ I.1 Mô hình tiếp thu ngôn ngữ của thuyết tự nhiên

kỹ năng

xử lý ngôn ngữ kiến thức ngôn ngữ

Lý thuyết

về ngôn ngữ Âm

vị, ngữ nghĩa, cú pháp

Hiểu biết

về ngữ pháp của trẻ em Nghe hiểu lời nói của người

Xác định

Trang 5

Theo các nhà tự nhiên, con người được chương trình hoá về vănhoá để hấp thụ ngôn ngữ.

Chomsky khẳng định rằng con người (chỉ có con người) bẩm sinhđược trang bị bộ máy tiếp nhận ngôn ngữ (LAD) LAD là bộ máy xử lýbẩm sinh được kích hoạt nhờ đầu vào ngôn ngữ Theo ông, LAD chứađựng ngữ pháp phổ biến, tức là kiến thức về những qui tắc ngữ phápchung cho mọi ngôn ngữ Vì vậy, dù cho trẻ nghe ngôn ngữ nào, LAD

sẽ cho phép những trẻ có đủ từ vựng kết hợp thành những câu nói đúngngữ pháp và hiểu được hầu hết những gì chúng nghe được

Dan slonbin cho rằng trẻ có “khả năng tạo ngôn ngữ” bẩm sinh(LMP) LMC cũng giống như LAD

Khi ngôn ngữ được đưa vào, trẻ có khả năng đoán sai về cơ sở dữliệu ngôn ngữ của chúng vô cùng hạn chế Nhưng nếu chúng tiếp tục xử

lý đầu vào, thì lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ của chúng ngày càng phứctạp cho đến khi chúng thật sự đạt được mức độ sử dụg ngôn ngữ củangười lớn Vì vậy, những người theo quan điểm tự nhiên cho rằng tiếpthu ngôn ngữ là rất tự nhiên và gần như là tự động nếu trẻ có dữ liệungôn ngữ để xử lý

1.1.3 Quan điểm tương tác

Theo quan điểm tương tác, sự phát triển ngôn ngữ là một sảnphẩm của sự chuyển hoá phức tạp giữa bản chất tự nhiên và nuôidưỡng Trẻ được sinh ra với bộ não của loài người Bộ não phát triểnchậm chạp nhưng nó cho phép trẻ thu nhận kiến thức mới và là động cơ

để trẻ chia sẻ kiến thức với người khác

Mặt khác, ngôn ngữ của trẻ cũng được phát triển trong khungcảnh tương tác xã hội khi trẻ và những người xung quanh nó cố gắnggửi thông điệp từ người này đến người khác Việc trẻ thường xuyên

Trang 6

tham gia vào giao tiếp ngôn ngữ xã hội có vẻ như là quan trọng nhấttrong việc làm chủ ngôn ngữ.

1.1.4 Quan điểm về sự phát triển ngôn ngữ trẻ em của Vưgôtxki.Vưgôtxki đề cập đến mối quan hệ tư duy và ngôn ngữ Theo ông,

tư duy ban đầu của trẻ là tiền ngôn ngữ và ngôn ngữ ban đầu thườngphản ánh những gì mà trẻ biết được Và, tư duy - ngôn ngữ cuối cùngđược pha trộn, rất nhiều câu nói phi xã hội mà piaget gọi là “hướngnội” thực tế minh hoạ sự chuyển hoá từ suy luận tiền ngôn ngữ đến suyluận thành tiếng

Vưgôtxki cho rằng độc thoại của trẻ đến tiểu học xuất hiện mộtcách thường xuyên hơn trong một số khung cảnh so với những khungcảnh khác Đặc biệt, Vưgôtxki quan sát thấy trẻ thường nói một mìnhkhi chúng thử giải quyết vấn đề hoặc theo đuổi những mục tiêu quantrọng Những câu nói phi xã hội đó gia tăng đáng kể mỗi khi trẻ chạmtrán với trở ngại lúc theo đuổi đối tượng của chúng Ông kết luận: Lờinói phi xã hội không hướng nội mà có tính giao tiếp; nó là lời nói chobản thân hay lời nói riêng, nó giúp trẻ hoạch định chiến lược điều chỉnhhành vi sao cho chúng để đạt được mục đích hơn

Như vậy, ta thấy tư duy phát triển có phụ thuộc vào ngôn ngữ,vào công cụ tư duy, vào kinh nghiệm xã hội của trẻ Vưgôtxki cũngtuyên bố rằng lời nói riêng trở nên ngày càng ngắn gọn theo lứa tuổi

Nó không mất hoàn toàn, nó phục vụ như một hệ thống tự động, trởthành lời nói nội tâm - tư duy bằng từ ngầm mà chúng ta dùng để tổchức và điều chỉnh hoạt động thường nhật của mình

1.2 Định nghĩa ngôn ngữ.

Trang 7

Có nhiều lý thuyết cũng như các lĩnh vực khác nhau bàn về kháiniệm ngôn ngữ Ở đây, tôi xin được định nghĩa ngôn ngữ theo lý thuyếttâm lý học hoạt động như sau:

Ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu từ ngữ, dùng làm phương tiệngiao tiếp và công cụ của tư duy

-Kí hiệu: là bất kỳ cái gì của hiện thực được dùng để thực hiệnhoạt động của con người

-Kí hiệu từ ngữ: là một hiện tượng khách quan trong đời sống tinhthần của con người, là một hiện tượng của nền văn hoá tinh thần củaloài người, là một phương tiện xã hội đặc biệt Kí hiệu từ ngữ cũng tácđộng vào hoạt động, làm thay đổi hoạt động, nhưng là hoạt động tinhthần, hoạt động trí tuệ, hoạt động cấp cao của con người

Kí hiệu từ ngữ là một hệ thống, mỗi kí hiệu chỉ có ý nghĩa và thựchiện một chức năng nhất định trong hệ thống của mình

1.3 Các bộ phận của ngôn ngữ.

Khi nói một đứa trẻ thành thạo ngôn ngữ, ở đó phải hội đủ ba yếu

tố của ngôn ngữ: âm vị, cú pháp, ngữ nghĩa

1.3.1 Âm vị:

Bao gồm các đơn vị âm thanh căn bản nhất gọi là các âm vị; ảnhhưởng đến ý nghĩa của cách phát biểu bằng lời nói Hệ thống âm vịcũng liên hệ đến cách thức sử dụng các đơn vị âm thanh đó để tạo ra ýnghĩa bằng cách kết hợp chúng lại thành các từ ngữ

1.3.2 Cú pháp:

Là các nguyên tắc qui định các từ ngữ và các cụm từ ngữ nênphối hợp ra sao để hình thành câu nói Mỗi ngôn ngữ đều có các nguyêntắc tế nhị nhằm hướng dẫn các từ ngữ nên kết hợp với nhau theo thứ tựnào để truyền đạt ý nghĩa một cách thuận lợi

Trang 8

1.4.2 Chức năng thông báo.

Ngôn ngữ được dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểucảm và nhờ đó thúc đẩy, điều chỉnh hành động của con người

Ví dụ: đứa trẻ muốn ăn một quả cam nó thấy ở trên bàn, nó nóivới mẹ: “con muốn ăn cam”

Chức năng này của ngôn ngữ còn gọi là chức năng giao tiếp

1.4.3 Chức năng khái quát hoá

Ngôn ngữ không chỉ một sự vật, hiện tượng riêng rẽ, mà chỉ mộtlớp, một loại các sự vật, hiện tượng có thuộc tính chung bản chất Ngônngữ là một phương tiện đắc lực của hoạt động trí tuệ

Có thể nói, nhờ có ngôn ngữ, các chức năng tâm lý người, từnhững chức năng đơn giản nhất (cảm giác, tri giác…) đến những chứcnăng phức tạp nhất (tư duy, tưởng tượng…) đều được cải tổ, biến đổi về

Trang 9

chất, làm cho đời sống tâm lí con người cao hơn hẳn đời sống tâm lýcon vật.

Do đó, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ được coi là mặt phát triểnquan trọng nhất trong thời thơ ấu

II SỰ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CỦA TRẺ 0 - 6 TUỔI.

2.1 Tuổi sơ sinh: (0 - 2 tháng)

Tuổi sơ sinh bắt đầu cuộc sống của mình bằng tiếng hét mà nhữngngày đầu mang tính chất phản xạ không điều kiện Tiếng hét ban đầu làkết quả sự co thắt của khe dọc, sự thắt cơ kèm theo những phản xạ hôhấp đầu tiên Một số nhà bác học cho rằng, tiếng hét cũng là sự biểuhiện của cảm xúc tiêu cực Sự thắt cơ gây ra cảm giác khó thở Hay trẻ

có những khuôn mẫu kêu và khóc khác nhau để báo đói, đau và khóchịu (Nguyễn Văn Đồng - 2004)

Thực ra những trường hợp này không thể phân biệt được phảnứng cơ và thái độ cảm xúc vì trẻ sơ sinh vẫn chưa có một kinh nghiệmsống nào cả Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, ngay từ những ngàyđầu của cuộc sống, đứa trẻ đáp lại những cảm giác khó chịu gắn liềnvới nhu cầu ăn, ngủ, mặc ấm bằng tiếng hét: trẻ hét khi đói, tã ướt…

Khi được giáo dục bình thường, tiếng hét “oa, oa” của trẻ sơ sinhchuyển dần dần thành sự biểu hiện ít mạnh mẽ của cảm xúc tiêu cựctiếng khóc (Mukhina, 1980)

2.2 Tuổi hài nhi (2 - 12 tháng tuổi).

Là một sinh vật còn bất lực, cuộc sống của trẻ hoàn toàn phụthuộc vào người lớn Người lớn cho ăn no, mặc ấm, người lớn tạo ranhững ấn tượng ban đầu… Do đó, giao tiếp với người lớn là nhu cầuđầu tiên, bức thiết của trẻ em tuổi này mà thiếu nó đứa trẻ không tồn tại

và phát triển được

Trang 10

Nhu cầu giao tiếp tạo ta cơ sở cho sự xuất hiện sự bắt chướcnhững âm thanh trong ngôn ngữ con người Đứa trẻ sớm bắt đầu yênlặng, lắng nghe khi người lớn nói với nó Sau 3 tháng, nếu đứa trẻ cóthể trọng tốt, nó luôn luôn phát ra các âm thanh, phát ra tiếng kêu “gừgừ” Thường tiếng kêu này trở nên mạnh hơn nếu người lớn cúi xuốngbên cạnh đứa trẻ.

Khi phát ra âm thanh, đứa trẻ cũng lắng nghe những âm thanh đó

Có khi nó bắt chước mình một cách rõ rệt: nó phát ra các âm thanh khálâu, những âm thanh mà đầu tiên nó phát ra một cách ngẫu nhiên Ít lâusau đứa trẻ có thể bắt chước khác rõ nhịp điệu của các âm được phát ra.Chẳng hạn khi người ta đưa võng cho nó đồng thời lại ru “a a a ! a…a… a!” đứa trẻ tái tạo lại chính âm thanh đó đồng thời cả nhịp điệu củachúng nữa (âm thanh có thể có thể khác: “ư … ư… ư!” hay “o… o…o!”)

Cuộc trò chuyện giữa người lớn và trẻ hài nhi nhìn bề ngoàitưởng chừng như vô nghĩa Nhưng hực ra, nó đã khêu gợi ở trẻ trạngthái cảm xúc tích cực, sự thích thú được giao tiếp với người lớn, và bắtđầu có những phản ứng lại những sắc thái tình cảm khác nhau trong lờinói của người lớn Trẻ thường nhoẻn miệng cười khi nghe thấy những

âm thanh vui vẻ và thường mếu máo khi nghe những âm thanh dữ tợn,như mắng mỏ hay quát tháo

Càng về cuối năm, đứa trẻ lại càng thích giao tiếp với người lớnhơn bằng những âm bập bẹ của mình Nếu được người lớn đáp ứng thìđứa trẻ lại càng thích thú phát ra nhiều âm thanh bập bẹ hơn Âm bập

bẹ có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển ngôn ngữ sau này Trong tiếngbập bẹ, trẻ học cách sử dụng môi, lưỡi và hơi thở để chuẩn bị cho việchọc nói

Trang 11

Sự thông hiểu lời nói của đứa trẻ đầu tiên xuất hiện trên cơ sở trigiác nhìn và nghe Quá trình dạy trẻ thông hiểu lời nói thường diễn ranhư sau: người lớn hỏi trẻ “cái gì đây?”, “ở đâu?”, “bố đâu?”, “mẹđâu?”… những câu hỏi đó gây ra ở trẻ phản ứng định hướng cho trẻnhìn thấy, sau đó cần lặp đi lặp lại nhiều làn quá trình đó, kết quả làhình thành được mối liên hệ giữa các âm thanh trong câu hỏi và đốitượng mà người lớn chỉ cho.

Lúc đầu trẻ hài nhi nghe ngôn ngữ như những âm thanh nào đó.Ngữ âm là yếu tố đầu tiên quyết định thái độ phản ứng của trẻ cũng tức

là quyết định sự hiểu ngôn ngữ của trẻ Chẳng hạn, khi người lớn nóivới trẻ câu: “Lại đây với bác!” với ngữ điệu nặng nề, nghe như giận dữthì đứa trẻ tỏ ra sợ hãi, mếu máo hoặc là khóc Nhưng vẫn cân “Lại đâyvới bác!” mà lại nói với trẻ bằng ngữ điệu trìu mến, âu yếm thì đứa trẻ

sẽ nhoẻn miệng cười và đưa tay ra

Một thí dụ khác: đưa cho trẻ một bức tranh có chó sói và dê,người lớn cố tình nói bằng một giọng thô bạo: “Đây là chó sói” Bằngmột giọng êm dịu hơn: “Con dê con” Sau đó người lớn bằng cùng mộtgiọng: “chó sói đâu?” - trẻ chỉ đúng “Dê con đâu?” cũng chỉ đúng.Người lớn thay đổi ngữ điệu, câu hỏi về chó sói được nói lên bằng mộtgiọng mà trước đây người lớn nói về dê con Trẻ chỉ con dê Và khi hỏi

về con dê cũng bằng giọng như thế, trẻ chỉ vào con dê Người lớn hỏi

về con dê bằng giọng thô bạo.Trẻ chỉ vào con sói

Đến cuối tuổi hài nhi, đã xuất hiện mối liên hệ giữa tên đối tượng

và chính đối tượng, mối liên hệ thể hiện ở sự tìm đối tượng và tìm kiếmđối tượng Đó cũng là hình thức đầu tiên của sự thông hiểu ngôn ngữ.Lúc này trẻ có thể chỉ ra đúng đối tượng mà người lớn hỏi

Trang 12

Nhưng điều quan trọng đối với trẻ không phải là việc tìm kiếmđúng đối tượng, mà quan trọng là sự tìm kiếm đó cốt là để giao tiếp vớingười lớn Cứ mỗi lần được người lớn khích lệ thì đứa trẻ hết sức vuimừng, làm thoả mãn nhu cầu giao tiếp.

Cuối tuổi này, ở đứa trẻ đã có thể xuất hiện cả phản ứng ngôn ngữ

để đáp lại lời nói của người lớn Chẳng hạn, để đáp lại câu hỏi “Bốđâu?”, thông thường hơn cả là đứa trẻ quay đầu về phía bố và bập bẹmột cách vui sướng: “Bố ! Bố!”

Thông thường, trẻ có thể nói được từ 4 đến 15 từ Những trẻ traithường “ít mồm” hơn Vốn từ thụ đọng phong phú hơn nhiều Đó lànhững tên gọi của đa số cá đồ chơi, bát đĩa, quần áo, đó là những mệnhlệnh thuộc loại “đưa đây”, “không được”, “lại đây nào”… Hay đó lànhững từ phân loại những người xung quanh theo một cách nhất định:

mẹ, bố, bà, em, cô, chú…

Cùng với sự bắt đầu thông hiểu lời nói của người lớn và với việc

sử dụng những từ đầu tiên, bản thân đứa trẻ cũng hướng về người lớn

để đòi hỏi họ giao tiếp với mình, để đòi hỏi biết những tên gọi củanhững đồ vật ngày càng mới

Như vậy, đến cuối tuổi hài nhi, sự lĩnh hội ngôn ngữ đã có tínhchất tích cực và trở thành một trong những phương tiện quan trọng để

mở rộng khả năng giao tiếp của đứa trẻ đối với người lớn Thật khôngđúng nếu cho rằng, lúc đầu đứa trẻ trưởng thành còn sau đó thì người tagiáo dục nó, dạy nó Tất cả các hình thức hành vi, tất cả những thuộctính tâm lí và năng lực vốn có của con người mà đứa trẻ thu nhận đượcđều nhờ ngay từ thuở ấu thơ, người ta đã dạy nó đi, dạy nó hành độngvới các đồ vật, dạy nhìn, dạy nghe, quan sát, nhận biết, ghi nhớ (LêVăn Hồng, 19810)

Trang 13

Nếu người lớn tích cực giao tiếp với trẻ, dạy cho trẻ thì ngôn ngữtrẻ sẽ phát triển tốt.

2.3 Tuổi vườn trẻ (1-3 tuổi).(còn gọi là tuổi ấu nhi)

Tuổi vườn trẻ là thời kì nhạy cảm đối với sự phát triển ngôn ngữ:chính trong thời gian này, sự lĩnh hội ngôn ngữ diễn ra có hiệu quảnhất Việc nắm vững hoạt động với đồ vật và việc giao tiếp với ngườilớn tạo ra sự biến đổi đáng kể trong các hình thức giao tiếp giữa trẻ ấunhi với người lớn Điều đó quyết định sự phát triển ngôn ngữ ở lứa tuổinày

Thời kì này, những hình thức “chỉ đạo câm” (tức là sự chỉ dẫn củangười lớn đối với trẻ bằng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…) đã tỏ ra lỗi thời,không đáp ứng được nhu cầu chiếm lĩnh phương thức sử dụng đồ vậtcủa trẻ Hứng thú ngày càng tăng của trẻ đối với hoạt động với đồ vậtcàng kích thích trẻ hướng tới người lớn, mở rộng giao tiếp để mongđược họ giúp đỡ trong việc nắm vững cách thức sử dụng đồ vật xungquanh Đó chính là yếu tố làm nảy sinh ở trẻ nhu cầu giao tiếp vớingười lớn bằng ngôn ngữ

Bên cạnh nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ thì việc tích luỹ các biểutượng do hoạt động với đồ vật mang lại có ý nghĩa lớn đối với sự pháttriển ngôn ngữ của trẻ Các biểu tượng đó tạo ra cơ sở để lĩnh hội nghĩacủa các từ và để liên kết chúng với hình ảnh của các sự vật và hiệntượng trong thế giới xung quanh

Tuy vậy, việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở tuổi này phần lớn làtuỳ thuộc vào sự dạy bảo của người lớn Những đứa trẻ mà người lớn ítgiao tiếp hay ít được thoả mãn yêu cầu giao tiếp thì thường nói rấtchậm Để kích thích trẻ nói, người lớn cần đòi hỏi trẻ phải bày tỏnguyện vọng của mình bằng lời nói mới đáp ứng nguyện vọng đó

Trang 14

Sự phát triển ngôn ngữ trẻ ấu nhi theo 2 hướng chính: hoàn thiện

sự thông hiểu lời nói của người lớn và hình thành ngôn ngữ tích cựcriêng của đứa trẻ

2.3.1 Hoàn thiện sự thông hiểu lời nói của người lớn

Trong khi hoạt động với đồ vật, trẻ em thường gặp những tìnhhuống cụ thể trong các hành động với đồ vật chưa thể tách rời khỏinhau

Trong nhận thức của trẻ dường như chúng liên kết với nhau thànhmột tình huống trọn vẹn khiến cho rẻ không thể lĩnh hội các từ biểu đạt

đồ vật riêng, hoạt động riêng; mà trẻ chỉ có thể lĩnh hội ngôn ngữ biểuđạt cả tình huống trọn vẹn ấy Chẳng hạn, trẻ hiểu lời nói “đánh trống”khi trẻ trông thấy một người đánh trống hay chính trẻ đang cầm dùi gõvào trống Lời nói “đánh trống” là biểu đạt cho toàn bộ tình huống này

Đứa trẻ lên hai chưa hiểu được các từ riêng lẻ: từ “trống” là đểchỉ cái trống, từ “đánh” là chỉ hành động gõ vào trống Và trẻ lại càngkhông hiểu lời nói “đánh trống” khi tách rời khỏi tình huống cụ thể.Cũng như vậy, đứa trẻ chỉ có thể hiểu lời nói: “Bắt tay nào” khi trôngthấy một người lớn chìa tay ra bắt tay nó

Bởi vậy, để trẻ nhanh chóng hiểu được lời nói, chúng ta cần phảikết hợp lời nói với một tình huống cụ thể, trong đó các hành động với

đồ vật được thực hiện, vì lúc này trẻ chưa phản ứng trực tiếp với lời nói

mà phản ưng với toàn bộ tình huống Lời nói kết hợp với tình huống cụ

hể mới tạo thành tín hiệu hành động đối với trẻ lên hai tuổi

Sự kết hợp giữa lời nói với tình huống cụ thể được lặp đi lặp lạinhiều lần, dần dần đứa trẻ hiểu được lời nói mà không phụ thuộc vàotình huống cụ thể nữa

Trang 15

Sau một tuổi rưỡi, việc hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thểđược tiến bộ rõ rệt Nhờ đó, người lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫnhành động của trẻ và sự phục tùng của trẻ đối với lời chỉ dẫn của ngườilớn trở nên vững chắc hơn Chẳng hạn, người lớn có thể yêu cầu trẻcầm lấy một đồ vật khác ở trước mặt Tuy nhiên, việc thông hiểu ngônngữ chưa thể tách khỏi tình huống cụ thể Đối với trẻ hai tuổi, lời nói

có tác dụng khởi động sớm hơn nhiều so với lời nói có tác động kìmhãm Điều đó có nghĩa là đứa trẻ bắt đầu thực hiện hành động nào đótheo lời dẫn dễ dàng hơn nhiều so với việc ngừng lại một hành động màngười lớn buộc thôi làm, hay cấm đoán

Ví dụ: Người lớn bảo trẻ: “đánh trống đi” thì đứa trẻ hành độngngay lập tức Nhưng khi nó đánh trống mà người lớn lại bảo “thôi,không đánh nữa”, thì nó không ngừng ngay mà phải một lúc sau mớithôi

Chỉ khi hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thể thì việc chỉ dẫncủa người lớn mới bắt đầu điều chỉnh hành vi của trẻ trong những điềukiện khác nhau Khả năng này thường có ở đứa trẻ lên ba Trong thời kỳnày, sự thông hiểu lời nói của người lớn được biến đổi về chất Đứa trẻkhông chỉ hiểu những từ riêng rẽ, không chỉ có khả năng thực hiệnnhững hành động có đối tượng theo lời chỉ dẫn của người lớn Đứa trẻbắt đầu thích nghe bất kì lời nói nào của người lớn Cả những lời nóikhông trực tiếp nhằm vào bản thân nó

Nghe và hiểu những thông báo nằm ngoài hoàn cảnh giao lưu trựctiếp của người lớn với trẻ là một thành tựu quan trọng Nó giúp trẻ biết

sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện cơ bản để nhận thức thế giới

2.3.2 Hình thành ngôn ngữ tích cực riêng của trẻ

Trang 16

Trẻ lên hai hoạt động với đồ vật ngày càng phong phú, thì giaotiếp với những người xung quanh ngày càng được mở rộng Nhịp độphát triển ngôn ngữ tăng lên Đến cuối tuổi thứ hai, trẻ sử dụng được

300 từ và cuối tuổi lên 3 là 1500 từ

Đặc biệt từ 20 tháng tuổi trở đi, trẻ trở nên mạnh dạn hơn cónhiều sáng kiến hơn Điều đó không chỉ thúc đẩy trẻ cố lĩnh hội ngônngữ, thông hiểu lời nói của những người xung quanh mà còn kích thíchtrẻ phát triển ngôn ngữ tích cực, tức lời nói

Đây là thời kỳ nhạy cảm đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.Trẻ không chỉ luôn đòi hỏi biết được tên các đồ vật mà còn cố gắngphát ra lời nói để hỏi tên các đồ vật đó Chẳng hạn, trẻ nêu những câuhỏi như: “Cái gì đây?”, “Cái gì kia?” đòi hỏi người lớn phải giải đápcho nó và trẻ rất thích thú khi gọi được đúng tên các đồ vật và hiệntượng xung quanh

Trong những thời kỳ đầu, ngôn ngữ của trẻ ít giống với ngôn ngữcủa người lớn Chẳng hạn “ăn” thì trẻ nói là “măm”, “chuối” thì trể nói

là “chúi”, “thịt” thì trẻ gọi là “xịt”, “bổ cam” thì trẻ gọi là “mổ cam”…Người ta gọi loại ngôn ngữ ấy là “ngôn ngữ tự kỉ trung tâm” Ngôn ngữtrung tâm có các đặc diểm: ngôn ngữ nói với mình; người khác khônghiểu, nếu tách khỏi văn cảnh; và nói tắt (Vưgôtxki - 1998)

Sở dĩ, ở trẻ xuất hiện ngôn ngữ ấy là vì:

Thứ nhất - do người lớn gần gũi trẻ nói với nó như vậy, họ chorằng nói như thế dễ hiểu hơn

Thứ hai là do trẻ nghe không chuẩn nên phát âm bị méo tiếng.Thứ ba là do vốn từ của trẻ còn nghèo nên trẻ phải nghĩ ra một số

từ để tiện giao tiếp

Ngày đăng: 06/04/2013, 10:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Văn Hồng: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm - Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1981 Khác
2. Nguyễn Ánh Tuyết: Tâm lý trẻ em, Nxb Giáo dục, 2001 Khác
3. Phạm Minh Hạc: Tâm lý học Vưgôtxki, tập 1, Nxb Giáo dục, 1998 Khác
4. Nguyễn Quang Uẩn: Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 Khác
5. Nguyễn Văn Đồng, Tâm lý học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, 2004 Khác
6. Vũ Thị Nho, Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003 Khác
7. Lêvitốp,N.D: Tâm lý trẻ em và tâm lý học sư phạm, T9, Nxb Giáo dục, 1972 Khác
8. Poberts Feldman: Tâm lý học căn bản, Nxb ĐHQGTPHCM, 2005 Khác
9. Mukhina,V.X : tâm lý học mẫu giáo, T1, Nxb Giáo dục, 1980 Khác
10. Mukhian,V.X: Tâm lý học mẫu giáo, T2, Nxb Giáo dục, 1980 Khác
11. Sinhiak,V.A - Nudenman, M.M: Những đặc điểm của sự phát triển tâm lý trẻ điếc, Nxb CTQG, 1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w