luận văn về Ngôn ngữ tiếng Trung, Sử động pháp và Ý động pháp trong tác phẩm Luận ngữ
Trang 1Ngôn ngữ tiếng Trung, Sử động pháp và Ý động pháp trong tác phẩm Luận ngữ
LỜI NÓI ĐẦU
Tiếp cận một tác phẩm văn học trước hết bắt đầu từ dặc điểm ngôn ngữcủa tác phẩm đó
Ngôn ngữ không phải là sự liên kết ngẫu nhiên, hỗn độn Ngôn ngữ là sựsắp xếp có cơ sở, có trật tự nhằm truyền đạt thông tin
Tiếng Hán cổ đại cũng là một ngôn ngữ như vậy!
Người làm công tác nghiên cứu hay người học tập Hán văn, ngoài nhữnghiểu biết của mình về văn hoá - xã hội còn phải nắm chắc từ ngữ, âm vực, cúpháp (Nghĩa là còn rất cần một số vốn vững chắc về ngữ pháp) Hán cổ Ngữpháp Hán cổ (ngữ pháp văn ngôn), câu và chữ đều rất linh hoạt Nếu làm đượcviệc ấy thì việc đọc đúng, hiểu đúng từ, cụm từ, câu nói trong tác phẩm Hán cổkhông có gì quá khó khăn
Có thể nói, ngữ pháp văn ngôn chính là chìa khoá giúp ta đi sâu vào nộidung các tác phẩm Hán văn xưa một cách khoa học và đảm bảo tính chính xác
Với phạm vi một niên luận, chúng tôi chỉ đề cập một phần nhỏ, song hếtsức đặc trưng của ngữ pháp văn ngôn là hai hiện tượng Sử động pháp và Ý độngpháp trong tác phẩm Luận ngữ
Niên luận này là bước đầu tập sự làm quen với những thao tác nghiên cứukhoa học; Đồng thời nhằm củng cố kiến thức, đặt nền móng cho quá trình tíchluỹ vốn tri thức Hán cổ
Trang 2PHẦN I GIỚI THUYẾT CHUNG
1 Lý do chọn đề tài
Về tư tưởng, Luận ngữ là tác phẩm kinh điển của Nho gia Trên bình diệnngôn ngữ, Luận ngữ là điển hình về câu, chữ cho các tác phẩm văn ngôn Vìvậy, người làm chọn Luận Ngữ là đối tượng để khảo sát
Trong ngữ pháp văn ngôn, sử động – ý động là những hiện tượng rất điểnhình Song đây cũng là hai trong số những hiện tượng ngữ pháp khiến người họclẫn người nghiên cứu các tác phẩm Hán cổ có nhiều khó khăn khi gặp Tìm hiểu
về sử động - ý động là mong muốn hiểu đúng bản chất vấn đề, qua đó củng cốngữ pháp Hán cổ phục vụ công việc dịch thuật
Hơn hết, người chọn đề tài này muốn được tìm hiểu sâu hơn và chính xáchơn nội dung tư tưởng của Khổng tử cũng như của Nho gia trong Luận ngữ
2 Mục đích đề tài
Sử động pháp – Ý động pháp được tìm hiểu với một số mục địch sau:
- Nắm được tỷ lệ câu có sử dụng sử động – ý động so với các dạng câutrong Luận ngữ
- Hiểu đúng bản chất của câu sử động, câu ý động
- Hiểu tác dụng của việc dùng những hiiện tượng đó trong văn ngôn
- Hiểu nội dung tư tưởng của Khổng tử đi đến hiểu đúng tác phẩm…
3 Phương pháp nghiên cứu
- Chủ yếu là phương pháp thống kê : Đọc toàn bộ tác phẩm, tìm và xác
định chính xác những câu có các hiện tượng trên
- Giới thuyết về sử động, ý động Căn cứ vào đó để phân ra các loại hình
cụ thể áp dụng vào tác phẩm Luận ngữ
- Dịch và xếp các câu có sử động, ý động theo từng loại hình.Phân tích và
rút ra kết luận
Trang 3- Tổng kết : Loại hình nào chiếm tỉ lệ bao nhiêu; So sánh với một số tác
phẩm khác Rút ra kết luận về mục đích, ý nghĩa và tác dụng của việc sử dụngcác hiện tượng trên trong Luận ngữ cũng như trong văn ngôn nói chung
4 Phạm vi nghiên cứu
- Tác phẩm Luận ngữ
- Tham khảo một số sách ngữ pháp và tác phẩm chữ Hán Trung Quốc vàViệt Nam
4.1 Giới thiệu về tác phẩm Luận ngữ
Luận ngữ là một trong những tác phẩm kinh điển của Nho gia ra đời vàothời Xuân Thu Chiến Quốc(722-480TCN) còn lưu truyền đến ngày nay
Theo cách hiểu của các học giả xưa thì “Luận” có nghĩa là bàn luận;”Ngữ”
là lời nói.Theo đó Luận ngữ là tác phẩm ghi lại những lời nói, lời bàn củaKhổng tử với các môn đồ; hay học trò ghi lại lời nói của thầy với mình , vớinguời khác , cũng có khi là của học trò với học trò Do đặc điểm này mà ngônngữ trong tác phẩm mang đậm chất văn ngôn Và các hiện tượng ngữ pháp trởthành mẫu mực
Luận ngữ hội tụ một cách phong phú tư tưởng của Nho gia , không vấn đề
gì là không được bàn ở đây: Từ tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ đến đạovua-tôi, cha-con, vợ-chồng; Từ Nhân, Lễ, nghĩa, Trí, Tín đến Trung, thứ,Thành; Từ đạo của người quân tử đến cách sống của kẻ tiểu nhân…Tất cả đềuđược đề cập tới một câch rất hệ thống Bên cạnh đó, những sinh hoạt thườngngày của ông tổ Nho gia-Khổng tử cũng được nói đến đầy đủ nhất : lúc dạy học,khi ngồi nhàn, lúc vào triều, khi tiếp đãi các sứ thần ; rồi thái độ với ngườixung quanh, người bất hạnh, người tàn tật ; hay cách ăn ở, đi lại, cách xétngười và tấm lòng khoan dung với học trò Song, hơn hết là đức thương dân,
là tư tưởng lấy dân làm gốc
Toàn bộ tác phẩm Luận ngữ gồm 20 thiên với gần 500 lượt nói, chủ yếu làlời Khổng tử Người đời sau đã tìm thấy trong đó hàng trăm câu châm ngôn bởitính thâm thuý và tinh thần nhân bản vốn có Luận ngữ thực sự là niềm tự hàocủa người dân Trung Quốc, là thánh kinh của người Trung Hoa
Trang 4Với giá trị nhiều mặt như vậy, Luận ngữ đã thu hút không ít sự quan tâmcủa các học giả nhiều quốc gia.Riêng là một sinh viên Hán Nôm bước đầu tìmhiểu một tác phẩm lớn một cách khoa học, người làm đề tài chỉ xin đề cập đếnmột đặc điểm rất cơ bản của ngữ pháp văn ngôn là : ý nghĩa sử động và ý nghĩa
ý động được sử dụng trong Luận ngữ, làm bước mở đầu cho việc đi sâu vào tácphẩm sau này
4.2 Giới thuyết về ngữ pháp văn ngôn
Văn ngôn là ngôn ngữ viết dựa trên khẩu ngữ tiếng Hán thời TiênTần( 221-207TCN) mà các văn bản của các trào lưu triết học (Nho gia, Phápgia, Đạo gia…) thường xuyên sử dụng để truyền bá tư tưởng của mình như Cáctác phẩm tiêu biểu là : Kinh Thi, Kinh Thư, Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trang Tử…Trên cơ sở xác định rõ khái niệm ngữ pháp văn ngôn, giới Hán ngữ học
đã bắt tay vào việc tìm hiểu và xây dựng bộ khung cho ngữ pháp Hán cổ, đồngthời chỉ ra đây là hướng đi cơ bản, chủ yếu của ngành Hán học Quả thực, nhànghiên cứu hay bất kỳ người học Hán Nôm nào khi làm việc với các tác phẩm
cổ văn đều phải sử dụng đến nó Ngữ pháp văn ngôn là công cụ và sách về ngữpháp văn ngôn là công cụ không thể thiếu
Cơ sở để đi vào từng lĩnh vực cụ thể của ngữ pháp văn ngôn là từ ngữ
Từ là đơn vị của ngôn ngữ có ý nghĩa biểu đạt ý niệm Một chữ có thể làmột từ song cũng có thể không phải là một từ
Có nhiều cách phân loại từ Dựa vào tích chất ý nghĩa, quan hệ kết hợpgiữa từ với từ (hình thái), vị trí và tác dụng của từ trong câu (chức năng), người
ta chia vốn từ thành mười loại : Danh từ, Đại từ, Động từ, Hình dung từ, Phótừ… Hay căn cứ vào số lượng chữ để chia ra từ đơn âm ( một chữ ), từ đa âm(nhiều chữ) Trong kho từ vựng tiếng Hán thì từ đơn âm chiếm ưu thế
Do dặc điểm trên mà cách dùng của từ trong tiếng Hán cổ rất linh hoạt,quan hệ của nó trong nội bộ câu cũng rất đa chiều Niên luận này không có điềukiện để khảo sát hết các phương diện của từ Bởi vậy, người viết chỉ xin được đềcập đến một khía cạnh nhỏ song cũng rất đáng quan tâm là: từ với cách dùng sửđộng, ý động và những lưu ý của nó
Trang 54.2.1 Giới thuyết về sử động pháp, ý động pháp
Sử động và ý động được nêu ra lần đầu tiên năm 1922 trong tác phẩm”Quốc văn pháp thảo sáng” của tác giả Trần Thừa Trạch Cách dùng sử động và ýđộng rất thường thấy trong Hán ngữ cổ đại.Thực chất, sử động và ý động là sựhoạt dụng (dùng linh hoạt) của từ tác động vào tân ngữ kế sau nó
(Hạng Bá sát nhân, thần hoạt chi)
Hạng Bá giết người, thần làm cho kẻ ấy sống lại
Tiên sinh chi ân, sinh tử hi nhục cốt giã
(Ơn của tiên sinh khác gì làm cho người chết sống lại, làm cho xươngđược mọc thịt ra)
Trang 6VD : 春 风 又 粶 江 南 岸.
Xuân phong hựu lục giang nam ngạn
(Gió xuân lại làm cho bờ nam sông Trường giang xanh tốt)
(Kinh thi – TIÓu nh·)
Vô kim ngọc nhĩ âm
(Chớ có cho tiếng của người là vàng ngọc)
Chuyển sang ý động: 孔子 登 东 山 而 以 鲁為 小, 登 泰 山 而 以 天 下
為 小.
Khổng Tử đăng Đông sơn nhi dĩ Lỗ vi tiểu, đăng Thái Sơn nhi dĩ thiên hạ
vi tiểu
4.2.2 Lưu ý về sự hoạt dụng của tính từ
Động từ + Tân ngữ = (Dĩ) tân ngữ (vi)
Trang 7Khi bàn về ngữ pháp Hán cổ, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Không nêntách hiện tượng chuyển loại của tính từ ra làm một cách dùng độc lập, bởi hiệntượng này đã có trong sử động và ý động.Tuy nhiên, vẫn có một số khác xếp hẳnhiện tượng chuyển loại này ra làm một hình thức riêng.
Xét trong tác phẩm luận ngữ, do đặc điểm của văn ngôn, người viết xinmạn phép được dành hẳn một mục riêng(ở phần lưu ý)để bàn về vấn đề này
PHẦN II CÁC HÌNH THỨC SỬ ĐỘNG VÀ Ý ĐỘNG TRONG LUẬN NGỮ
Tử Cống viết : Như hữu bác thi ư dân nhi năng tế chúng, hà như ? Khả vịnhân hồ?
Tử viết : Hà sự ư nhân?Tất dã thánh hồ ?Nghiêu Thuấn kì do bệnhchư.Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân.Năng cận thủthí , khả vị nhân chi phương giã dĩ
Dịch nghĩa :
Thầy Tử Cống hỏi rằng : Nếu như có người ban ơn rộng rãi cho dân, lại
có thể cứu giúp mọi người thì thế nào?Có thể gọi là người nhân được chăng?
Khổng Tử nói :Sao lại chỉ nói đến nhân thôi, tất phải gọi là thánh mớiđúng chứ?Vua Nghiêu vua Thuấn còn lo không theo kịp.Ôi!Người nhân làngười muốn gây dựng điều gì cho mình thì cũng gây dựng cho người điều đó,muốn mình thông đạt ra sao cũng khiến người được thông đạt như vậy.Khéo lấy
Trang 8bản thân mình làm mục tiêu so sánh, khá gọi là phương pháp tốt để thực hiện
điều nhân
己欲立而使人立,己欲達而使人達(Mình muốn gây dựng cũng làm cho người được gây dựng, mình muốnthông đạt cũng làm cho người được thông đạt)
有國有家者,不患寡而患不均,不患貧而患不安;蓋均無貧,和無寡,
安無傾。夫如是,故遠人不服,則修文德以來之。既來之,則安之…
(李氏) Phiên âm:
Khổng Tử viết : Cầu!Quân tử tật phù xả viết dục chi, nhi tất vi chitừ.Khâu giã văn hữu quốc hữu gia giả, bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạnbần nhi hoạn bất an.Cái quân vô bần, hoà vô quả, an vô khuynh.Phù như thị, cốviễn nhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi.Kí lại chi, tắc an chi…
Dịch nghĩa :
Khổng Tử nói : Anh Cầu!Người quân tử ghét thói che giấu lòng hammuốn mà phải nói là việc phải làm.Khâu ta từng nghe rằng vua chư hầu và quanđại phu chẳng lo chuyện tài sản ít ỏi, mà lo chia không đều;chẳng lo dân nghèo
mà chỉ lo dân không được yên ổn.Của chia đều thì dân không nghèo, dân hoàhợp thì của không ít, dân yên ổn thì nước không nghiêng đổ.Ôi!Nếu như thế màngười xa không phục thì phải sửa sang đức tốt để làm cho người ta đến vớimình, và khi người ta đã tới thì giúp cho họ được yên ổn…
則修文德以使之來(Để khiến cho người ta đến với mình)
Tổng kết về hiện tượng sử động của động từ.
Đây là hiện tượng xuất hiện không nhiều trong tác phẩm.Nếu so với sốlượng câu ở cả hai mươi thiên thì nó chiếm một tỉ lệ khá khiêm tốn.Có thể giảithích điều này bằng chính nội dung của tác phẩm: Luận ngữ là tác phẩm kinhđiển triết học.Nếu đối chiếu với Mạnh Tử(một trong Tứ thư)và sau này là Sử kýthì thấy rằng:
Trang 9- Mạnh Tử: Loại hình này hầu như không có.
Như vậy có thể thấy, sử động của động từ được sử dụng nhiều ở các vănbản kinh điển lịch sử(hay nói chính xác hơn là ở những tác phẩm mà nhân vật vàhành động của nhân vật là chủ yếu và được đặc biệt đề cao)
Việc sử dụng loại hình này đem lại những hiệu quả nhất định.Thử lấy một
ví dụ:
“Kỉ dục lập nhi lập nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân”
Nếu dịch xuôi động từ một cách thông thường, có thể hiểu câu này là :Mình muốn gây dựng thì gây dựng người, mình muốn thông đạt thì thông đạtngười.Có thể thấy nghĩa của câu không rõ ràng mà lại rất dễ gây hiểulầm.Nhưng nếu chuyển thành :
“Kỉ dục lập nhi sử nhân lập, kỉ dục đạt nhi sử nhân đạt”
Và hiểu là : Mình muốn gây dựng và cũng làm cho người khác được gâydựng, mình muốn đựoc thông đạt và cũng làm cho người khác được thông đạt,thì sẽ dễ dàng hơn rất nhiều
Thông thường, việc sử dụng động từ trong sử động có thể hiểu là việcchuyển động từ ngoại động(động từ mang tân ngữ)sang động từ nội động(động
từ không mang tân ngữ).Điều này cho phép điển hình hoá hành động ngay với
cả những hành động không có động tác cụ thể.Bởi vậy, hành động được dặc biệtnhấn mạnh
Thứ đến, đối tượng của hành động cũng được nhấn mạnh, hầu hết là biếnđối tượng thành kẻ chủ động.Riêng trong Luận ngữ, hiện tượng này còn chophép xác định được người nói(Vì câu trong Luận ngữ cơ bản là khuyết chủ ngữ)
1.2 Sử động của tính từ
1 有子曰:「信近於義,言可複也。恭近於禮,遠恥辱也。因不失其親,亦可宗也。
(學而) Phiên âm:
Hữu tử viết:Tín cận ư nghĩa, ngôn khả phục giã.Cung cận ư lễ, viễn sỉ
Trang 10nhục giã.Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông giã.
Dịch nghĩa:
Thầy Hữu Tử nói rằng: Tin theo đạo nghĩa, lời nói mới có thể đúngđược.Giữ cung kính hợp với lễ thì tránh xa được điều sỉ nhục.Thân cận vớingười, không bỏ mặc kẻ thân thuộc, cũng đáng tôn trọng vậy
使恥辱遠也(Khiến cho điều sỉ nhục tránh xa mình)
Phàn Trì vấn trí.Tử viết : Vụ dân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả
vị trí hĩ.Vấn nhân.Viết: Nhân giả tiên nan nhi hậu hoạch, khả vị nhân hĩ
Trang 11Viết: Kí phú hĩ, hựu hà gia yên?
Viết: Giáo chi
Dịch nghĩa :
Khổng Tử sang nước Vệ, Nhiễm Hữu đánh xe ra hầu
Khổng tử nói: Đông đúc thay!
Nhiễm Hữu hỏi: Dân đã đông nên làm thêm điều gì?
Đáp:Giúp cho dân giàu
Hỏi:Dân đã giàu có, nên thêm điều gí?
Đáp:Dạy dỗ họ
使之富
(Làm cho họ được giàu có)
4.曾子有疾,孟敬子問之。曾子言曰:「鳥之將死,其鳴也哀;人之將死,其言也善。君子所貴乎道者三:動容貌,斯遠暴慢矣;正顏色,斯近信笑;出辭氣,斯遠鄙倍矣。籩豆之事,則有司存。
(泰伯) Phiên âm:
Tăng tử hữu tật, Mạnh Kính tử vấn chi.Tăng tử ngôn viết: Biểu chi tuơng
tử, kì minh giã ai.Nhân chi tương tử, kì ngôn giã thiện.Quan tử sở quí hồ đạo giảtam:Động dung mạo, tư viễn bạo mạn hĩ;Chính nhan sắc, tư cận tín hĩ;Xuất từkhí, tư viễn bĩ bội hĩ.Biên đậu chi sự, tắc hữu tư tồn
Dịch nghĩa:
Thầy Tăng tử ốm nặng, Mạnh Kính tử tới thăm.Tăng tử nói:Con chim sắpchết, tiếng kêu của nó bi ai.Con người sắp chết, nói lời tốt lành.Chỗ quí giá củangười quân tử ở đạo lí có ba điều:Vẻ mặt lúc hành động thì tránh xa chỗ hung
Trang 12bạo và khinh nhờn;Giữ sắc mặt nghiêm chỉnh thì ở gần chỗ thành tín;Lời nóiphát ra, tránh xa sự thô lỗ và trái lẽ.Còn như việc cúng tế đã có quan tư hữutrông coi.
使顏色正(Làm cho sắc mặt được nghiêm chỉnh)
國有家者,不患寡而患不均,不患貧而患不安;蓋均無貧,和無寡,安無
傾。夫如是,故遠人不服,則修文德以來之。既來之,則安之…
(李氏) Phiên âm:
Khổng tử viết : Cầu!Quân tử tật phù xả viết dục chi, nhi tất vi chi từ.Khâugiã văn hữu quốc hữu gia giả, bất hoạn quả nhi hoạn bất quân, bất hoạn bần nhihoạn bất an.Cái quân vô bần, hoà vô quả, an vô khuynh.Phù như thị, cố viễnnhân bất phục, tắc tu văn đức dĩ lai chi.Kí lại chi, tắc an chi…
Dịch nghĩa :
Khổng tử nói : Anh Cầu!Người quân tử ghét thói che giấu lòng ham muốn
mà phải nói là việc phải làm.Khâu ta từng nghe rằng vua chư hầu và quan đạiphu chẳng lo chuyện tài sản ít ỏi, mà lo chia không đều;chẳng lo dân nghèo màchỉ lo dân không được yên ổn.Của chia đều thì dân không nghèo, dân hoà hợpthì của không ít, dân yên ổn thì nước không nghiêng đổ.Ôi!Nếu như thế màngười xa không phục thì phải sửa sang đức tốt để làm cho người ta đến vớimình, và khi người ta đã tới thì giúp cho họ được yên ổn…
使之安(Làm cho họ được yên ổn)
Tổng kết về hiện tượng sử động của tính từ
Đây là loại hình có thể gặp nhiều nhất so với hai loại hình khác của sửđộng từ.Đồng thời cũng là loại hình khiến cho người đọc gặp nhiều khó khănnhất.Bởi câu sử động của tính từ đặc biệt ngắn gọn
Ví dụ : Phú chi
Trang 13Nếu không xác định được ngữ pháp của câu thì sẽ rất khó trong lúcdịch.Có thể đơn giản hoá loại hình này khi gặp như sau: Sau tính từ thôngthường là tân ngữ(Thưòng là “Chi”, cũng có khi khuyết tân ngữ nhưng ít).Dovậy, trong loại câu này, tính từ được dùng với chức năng là động từ.Có thểchuyển câu trên như sau: “Sử chi phú” và được dịch là: Làm cho họ được giàu
có
Hình thức này không chỉ được sử dụng nhiều trong luận ngữ mà ở Mạnh
Tử cũng thường xuyên xuất hiện.Về cơ bản, nó có tác dụng nhấn mạnh sắc thái,
ý nghĩa và tính chất của hành động.Trong Mạnh Tử, loại hình này được sử dụng
để nhấn mạnh chủ thể hành động nhiều hơn
Tuy nhiên, việc phân biệt tính từ ở hiện tượng sử động hay tính từ đượcchuyển trực tiếp sang động từ hiện còn chưa rõ ràng và gây nhiều tranhcãi.Song, ở hình thức nào thì nghĩa của câu về cơ bản là không thay đổi
1.3 Sử động của danh từ
Trong Luận ngữ, không tồn tại hình thức này
Tiểu kết về hiện tượng sử động trong Luận ngữ.
Nhìn chung, sử động trong luận ngữ không nhiều, song những câu có sửdụng hiện tượng này đều mang tính điển hình.Với việc đưa tân ngữ lên trướcđộng từ, chủ thể của hành động được nhấn mạnh.Cho đến Luận ngữ, hình thứcngữ pháp này đã được hoàn thiện và bắt đầu phổ biến
2 Ý động pháp
2.1 Ý động của tính từ
子曰:「不仁者,不可以久處約,不可以長處樂。仁者安仁,知者利仁。」
(里仁) Phiên âm:
Tử viết: Bất nhân giả bất khả dĩ cửu xử ước, bất khả dĩ trường xửlạc.Nhân giả an nhân, trí giả lợi nhân
Dịch nghĩa:
Khổng Tử nói rằng: Kẻ bất nhân không thể chịu cảnh nghèo túng lâu dài,cũng không thể hưởng lạc thú lâu dài.Người nhân an vui với điều nhân, người trí