luận văn về Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn”
Trang 1Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn”
LỜI NÓI ĐẦU
Hơn hai nghìn năm trước Trang Tử đã có một triết lí rất hay về biển cả:
“Biển cả là nơi mà tất cả các nguồn nước trên thế gian này đều ra đi từ đó,nhưng nó không vơi, và nó cũng là nơi đón nhận tất cả các nguồn nước nhưng
nó không đầy” Văn học cũng như những nguồn nước đều đi ra từ biển cả cuộcđời Và hàng ngày, tiếng sóng thuỷ triều vẫn âm vang chuyên chở ấy có bao giờngừng nghỉ, cũng như mảnh đất hiện thực có bao giờ vơi đi khi người nghệ sĩđến đó để chở nắng, chở gió cuộc đời và tưới mát muôn cây Ngô Tất Tố cũngnhư bao người nghệ sĩ khác, tâm hồn ông, nỗi đau, niềm vui sướng khổ của ôngluôn gắn chặt với mỗi cảnh đời, mỗi con người để từ đó kết tinh lại thành nhữngtrang văn tài hoa, nhức nhối
Người Nghệ sĩ nói chung và nhà văn nói riêng mỗi khi đặt bút để sáng tạonhững tác phẩm nghệ thuật đều hi vọng gửi gắm vào “đứa con tinh thần” củamình những xúc cảm suy ngẫm về cuộc đời, về con người mỗi một điểm nhìncủa tác giả ở mỗi một phương diện khác nhau đều hướng tới cái đích chung đó.Song không phải các tác phẩm được các tác giả sáng tác trong thời điểm giốngnhau đều có điểm nhìn như nhau Điều đó đã làm nên phong cách riêng của mỗimột nhà văn
Với Ngô Tất Tố, hoàn cảnh xuất thân và điều kiện xã hội đã giúp ông táitạo lại bức tranh hiện thực của xã hội thực dân phong kiến một cách trung thựcnhất Đọc “Tắt đèn” của ông, chúng ta như đau những nỗi đau của nhân vật.Điều quan trọng hơn là trong điểm nhìn của Ngô Tất Tố độc giả đã thấy sứcsống của con người Việt Nam trong xã hội cũ, không chịu khuất phục trước thếlực phong kiến tàn tạo Với ý nghĩa đó chúng tôi xin chọn tác phẩm “Tắt đèn”
để khảo sát cho đề tài này với nội dung “Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn””.
Bố cục bài viết gồm:
Trang 2Chương 1: Điểm nhìn và ý nghĩa của nó ở phương diện lý thuyết Chương 2: Tác giả Ngô Tất Tố và tác phẩm “Tắt đèn”.
Chương 3: Điểm nhìn của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn”
Trang 3CHƯƠNG I ĐIỂM NHÌN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ VỀ PHƯƠNG DIỆN
LÝ THUYẾT
1 Tên gọi và quan niệm
Cụm từ “le point de vue” (Tiếng pháp) “the point of view”, “the out look”(tiếng Anh) và “quan điểm” được dùng khá phổ biến trong nhiều lĩnh vực trongcuộc sống, có nghĩa là điểm hay chỗ đứng để xem xét, bình giá một sự vật, một
sự kiện, một hiện tượng tự nhiên hay xã hội Cũng có lúc được mở rộng tươngđương với “quan điểm” (quan điểm về thế giới, về nhân sinh v.v…) khá phổbiến trong triết học, chính trị và nghệ thuật như là thuật ngữ khoa học
Ở Âu Mĩ, theo K.Waless, trong nghiên cứu văn học và thi pháp học “điểmnhìn” là một trong số những thuật ngữ được bàn cãi nhiều nhất trong thế kỷ XXvới nhiều cách hiểu khác nhau với những tên gọi khác nhau: “phối cảnh”(perspective) hay “góc nhìn” (angle of vision) trong lí thuyết hội hoa, điện ảnh,tương đương “aspect” (thể, diện) (T.Todorov (1988)), “tiêu điểm tự sự” (Brooks
& Warren (1993)
2 Điểm nhìn của lời trong giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện
2.1 Điểm nhìn của lời trong giao tiếp
Ngữ dụng học quan tâm đến hành động ngôn ngữ, miểu tả thao tác định vịchủ thể giao tiếp, định vị không gian và định vị thời gian trong hành vi ngônngữ, xác định toạ độ của chủ thể nói năng trong tình huống giao tiếp cụ thểthông qua các hành vi ngôn ngữ đại từ và từ chỉ xuất (Đỗ Hữu Châu - 1993)
Theo sự khảo sát của chúng tôi, bất cứ một hành động nói năng nào tronggiao tiếp, đều thể hiện vị thế giáo tiếp trong một tình huống cụ thể (thời gian,không gian), được phân biệt bằng thao tác suy ý về một hay một số quan hệ.Chẳng hạn: lời chào hàng ngày;
- Chào Anh!
- Chào anh ạ!
- Em chào anh ạ!
Trang 4(So với lời chào tiếng Anh, tiếng Pháp, định vị thời gian được nhấn mạnhthể hiện điểm nhìn chia cắt thời gian khác người Việt).
Mỗi biểu đạt thể hiện một điểm nhìn: Vị thế được xá định với người nói,
thái độ của bản thân với người nghe v.v… Ngoài ra phải tính đến ngữ điệu, vàmột số yếu tố phi ngôn ngữ đi kèm như ánh mắt, vẻ mặt, cử chỉ, điệu bộ v.v…
để suy ra thái độ chân thật hay giả dối, nghiêm túc hay giễu cợt v.v… Từ tiêuđiểm thông tin và tiêu điểm biểu cảm gắn với chủ thể giao tiếp, người nhận quathao tác suy ý, nhận ra điểm nhìn của lời nói cụ thể trong tình huống cụ thể
Như vậy, điểm nhìn của lời nói giao tiếp là toạ độ của hai trục: lời nóihiển nghô và hành vi giao tiếp và do thao tác suy ý người nhận có thể tiếp nhậnđược
Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp có gì khác với điểm nhìn trong một vănbản tự sự (truyện ngắng, tiểu thuyết) v.v…
2.2 Điểm nhìn trong truyện
Điểm nhìn hay gọi đầy đủ hơn là “điểm nhìn nghệ thuật” trong truyện cóđiểm giống với điểm nhìn trong lời nói giao tiếp Bởi vì, bất cứ một hành độngngôn ngữ nào, dù nói một câu hay viết hàng trăm nghìn cầu đều là những hànhđộng giao tiếp bằng ngôn ngữ và mỗi hành động giao tiếp đều chứa đựng mộthay một số điểm nhìn nhất định
Những điểm khác nhau cơ bản giữa lời nói tự nhiên trong giao tiếp với lờinói trong văn bản là chức năng và câu trúc của chúng
Chức năng của lời nói giao tiếp là giao tiếp hội thoại, giao tiếp trực tiếp,gắn với một tình huống hội thoại cụ thể với một đối tượng cụ thể Vì vậy, nóphải phục tùng các quy tắc, các phương châm hội thoai, trong khi lời nói trongvăn bản phải phục tùng các qui tắc cấu tạo văn bản, nó phải đặt trong tổ chứcvăn bản bảo đảm tính mục đích, tính mạc lạc, tính hệ thống toàn vẹn của vănbản Do đó, mọi lời nói trong văn bản đều phải được cấu trúc lại, hệ thống hoátheo một mục đích nhất định
Đói với văn bản nghệ thuật (thơ, truyện, kĩ) thì một mặt, tổ chức văn bảnđược sáng tạo tự do và sử dụng tự do những lời nói hồn nhiên nhưng mặt khác
Trang 5lại đòi hỏi rất cao về mặt nghệ thuật biểu đạt, nghệ thuật xử lí ngôn từ nhằm mụcđích thẩm mĩ Vì vậy, điểm nhìn nghệ thuật tuy tiềm ẩn trong văn bản nhưng cầnphải chú ý phân tích và điều này không còn là mới đối với các nhà phê bình,nghiên cứu văn học Tuy vậy, các khái niệm “điểm nhìn nghệ thuật”, “quanđiểm phản ánh” v.v chưa phải lúc nào cũng được phân biệt rõ ràng như viện sĩM.Khrapchenko đã thừa nhận.
Trong thi pháp học, những quan niệm về điểm nhìn khác nhau với nhữngtên gọi khác nhau là lẽ tất nhiên Cho nên, cần làm rõ các khái niệm điểm nhìnvới “cái nhìn”, “góc nhìn” (nghệ thuật), “thể” (hay diện), (T.todorov), “tiêuđiểm” và “tiêu cự” (G.Genette) v.v
3 Điểm nhìn của văn bản
Do chỉ có ý nghĩa trong trường hợp có phản đề, một thủ pháp kết cấu bất
kỳ sẽ thành thủ pháp phân bịêt nghĩa riêng nếu như nó được kết nối vào sự đốilập với một hệ thống tươg phản Ở nơi nào mà toàn bộ văn bản được hàm chứa
và chỉ trong một bình diện, thì cái gọi là bình diện nói chung không cảm thấyđược Chẳng hạn không thấy được nó trong những trần thuật sử thi “Nhữngbước chuyển mau lẹ” (Pushkin) của các truyện lãng mạn chủ nghĩa chỉ có nghĩakhi phối hợp với các đoạn trần thuật chậm rãi Cũng như vậy “cái nhìn” sẽ trởthành yếu tố nhận thấy được của cấu trúc nghệ thuật khi xuất hiện khả năng thayđổi của nó trong phạm vi sự trần thuật (hoặc chiếu một văn bản trên một văn bảnkhác với cách nhìn khác
Khái niệm “điểm nhìn” tương tự như khái niệm góc nhìn trog hội hoạ vàđiện ảnh
Khái niệm “điểm nhìn nghệ thuật” thể hiện ra với tư cách là quan hệ của
hệ thống đối với chủ thể của mình (“hệ thốg” trong văn cảnh này có thể là hệthốg ngôn ngữ, hoặc ở những cấp độ khác cao hơn) Bằng khái niệm “chủ thểcủa hệ thống” (hệ thống tư tưởng, phong cách…), chúng tôi nhằm nói đến cái ýthức vốn có khả năng sinh ra cấu trúc đồng dạng và do đó có thể cải tạo lại đượctrong khi tiếp nhận văn bản
Hệ thống nghệ thuật được tạo nên như là sự phân tầng của các quan hệ
Trang 6Chính khái niệm “có nghĩa” muốn nói đến sự tồn tại của một mối liên hệ tin tức,tức là một sự kiện có tính khuynh hướng xác định Do chỗ mô hình nghệ thuậttrong hình thức chung nhất của nó tái tạo hình ảnh thé giới theo một ý thức nhấtđịnh, tức là mô hình hoá quan hệ của cá nhân và thế giới (trường hợp cá biệt -quan hệ của cá nhân nhận thức và thế giới được nhận thức) cho nên sự địnhhướng sẽ mang tính chất chủ thể - khách thể.
Một yếu tố cấu trúc nghệ thuật tồn tại như một khả năng trong cấu trúcngôn ngữ, và rộng hơn, trong ý thức cấu trúc con người Do vậy có thể mô tảlịch sử tiến triển nghệ thuật của nhân loại căn cứ theo một trong số những yếu tố
đó, chẳng hạn lịch sử ẩn dụ, lịch sử nhịp điuêụ hoặc lịch sử thể loại này haykhác Nếu chúng ta nắm được đầy đủ những mô tả kiểu như vậy thì khi quychung về các chùm quan hệ, chúng ta có thể có được bức tranh phát triển củanghệ thuật Thế nhưng hiếm có yếu tố nào lại liên quan trực tiếp đến việc xâydựng bức tranh thế giới như “điểm nhìn nghệ thuật” Nó liên quan trực tiếp đếncác vấn đề trong những hệ thốg mô hìh hoá thứ cấp như vị thế của người sángtạo văn bản, vấn đề tính chân thực, vấn đề cá tính
“Điểm nhìn” cấp cho văn bản sự định hướng nhất định về chủ thể của nó(điều này đặc biệt rõ ràng trong lời nói trực tiếp) Nhưng mỗi văn bản lại thuộc
về một cấu trúc ngoại văn bản mà cấp độ trừu tượng hoá cao nhất của nó có thểxác định như “loại hình thế giới quan” “bức tranh thế giới” hoặc “mô hìh vănhoá” (ranh giới rạch ròi giữa cái khái niệm đó trong trường hợp này không quantrọng)
Nhưng ở mỗi một mô hình văn học lại có sự định hướng của nó biểu hiệntrong một thang bậc nhất định những giá trị: chân thực và giả tạo, cao quý vàthấp kém Nếu hình dung “bức tranh thế giới” của một nền văn hoá cụ thể như làmột văn bản nhất định ở cấp độ trừu tượng, thì tính định hướng này ở trog điểmnhìn của văn bản ấy Vậy là xuất hiện vấn đề về các quan hệ khả thể của điểmnhìn văn bản văn hoá và điểm nhìn của các văn bản cụ thể này hay khác (thuộccấp độ biểu hiện bằng ngôn ngữ hay những ký hiệu khác của cấp độ này, chẳnghạn hình vẽ)
Trang 7Ngoài ra, quan hệ “điểm nhìn - văn bản” luôn luôn là quan hệ “người sángtạo - sản phẩm sáng tạo” Đối với văn bản văn học thì đây là vấn đề vị thế củatác giả, của “nhân vật trữ tình”… Còn đối với mô hình văn hoá đây là hợp thểcủa những vấn đề triết học tổng quát, liên quan đến sự ra đời của thế giới và tính
có ý thức của nó Bởivì quan hệ giữa tính định hướng của văn bản văn hoá vànhững điểm nhìn của các văn bản cụ thể ở trong nó được xem như quan hệ củatính chân thực hay giả mạo, nên ngay lập tức hiện ra hai quan hệ có tínhkhẳnông nghiệp: sự đồng nhất trọn vẹn và sự đối lập hoàn toàn
Vấn đề cái nhìn đưa đến cho văn bản yêu tố năng động: mỗi cái nhìntrong văn bản đều có đạt đến tính chân lý và mong muốn khẳng định mình trongcuộc đấu tranh với những cái nhìn đối lập Nhưng nếu đưa chiến thắng này đếnviệc thủ tiêu hệ thống đối lập, thì nó cũng thủ tiêu luôn mình một cách nghệthuật Với sự biến mất của chủ nghĩa lãng mạn thì sự luận chiến với nó cũngchết về phương diện nghệ thuật Do vậy khi đẩutanh với những hệ thống đối lập,điểm nhìn không chỉ thủ tiêu mà còn phục hồi chúng, và nâng cao tính tích cực.Vậy là cấu trúc “đa giọng điệu” phức tạp của những cái nhìn đã ra đời, làm cơ
sở cho nghệ thuật trần thuật hiện đại
4 Người kể chuyện và các điểm nhìn
Mở đầu bài viết Tiểu thuyết như sự tìm tòi ra mắt lần đầu năm 1955, sauđược tập hợp trong Luận về tiểu thuyết (1964) Michel Butor đưa ra định nghĩa:
“Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của trần thuật”
Đến một tiểu luận khác, nhan đề Những tìm tòi về kỹ thuật tiểu thuyếtcũng in trong tập sách trên, ông dành hẳn một mục để xác định “Khái niệm trầnthuật và vai trò tiểu thuyết trong tư duy hiện đại” Theo ông, “thế giới phần lớnchỉ hiện ra với chúg ta qua sự trung gian của những điều người ta kể với ta vềnó: trò chuyện, bà học, sách báo v.v…”, đơn vị cơ bản của truyện kể ấy có thểgọi là một “thông báo” hay một “tin tức”… Nhưng sự hiểu biết của chúng ta vềthế giới thườg sai lệch vì tin tức tam sao thất bản và đủ thứ nguyên nhân khác,
kể cả trí nhớ hạn hẹp của mỗi người, khiến nỗi “có biết bao nhiêu ảo ảnh giữachúng ta và thế giới, giữa chúng ta và những người khác, giữa chúng ta và bản
Trang 8thân chúng ta!” Các ảo ảnh ấy chẳng bao giờ hết Chẳng bao giờ có thể vạch raranh giới dứt khoát giữa cái thực và cái tưởng tượng Cách duy nhất để nói sựthật, để đi tìm sự thật là “đối chiếu không mệt mỏi, một cách có phương phápnhững gì chúng ta thường kể với những gì chúng ta thấy, chúng ta nghe, vớinhững thông tin chúng ta nhận được, nghĩa là làm việc trên truyện kể”, và “tiểuthuyết là nơi tốt nhất cho một công việc như thế”.
Tiểu thuyết là một hình thức đặc biệt của truyện kể, điều đó cũng dễ thấy.Trong tiểu thuyết có ai kể , kể về ai và kể cho ai, vì dù nói gì thì nói, con ngườivẫn chiếm vị trí trung tâm của tiểu thuyết, và tiểu thuyết viết ra là để cho ngườikhác đọc; trên đai thế tạo thành cái thế tam giác; người kể chuyện - nhân vật -độc giả Nói đến người kể chuyện, là nói tới điểm nhìn được xác định trong hệ
đa phương, không gian, thời gian, tâm lý, tạo thành góc nhìn Người kể chuyện
là ai, kể chuyện người khác hay kể chuyện chính bản thân mình, khoảng cách vềkhông gian từ nơi sự việc xảy ra đến chỗ đứng của người kể chuyện cũng như
độ lệch thời gian giữa lúc sự việc xảy ra và khi sự việc được kể lại vẫn thườngđược các nhà tiểu thuyết quan tâm từ lâu
Một dạng phổ biến của tiểu thuyết truyền thống là người kể chuyện giấumặt (người trần thuật), coi như đứng ở một vị trí nào đấy trong không gian, thờigian,bao quát hết mọi diễn biến của câu chuyện đã xảy ra trọng vẹn và thuật lạivới chúng ta Chuyện được kể ở ngôi thứ ba số ít Dù nhân vật người kể chuyệnkhông xuất hiện, ta không biết tên tuổi, mặt mũi, tư cách ra sao, nhưng ngầmhiểu trước sau vẫn một người ấy Đó là loại tiểu thuyết một điểm nhìn
Trong tiểu thuyết không thiếu gì những lúc các nhân vật đối thoại vớinhau, ngôn từ gián tiếp thay thế bằng ngôn từ trực tiếp, nhưng do cách viết sửdụng đối thoại như “những lời trích dẫn” thông qua khâu chọn lựa của nhà văn,nên các đối thoại ấy thường thiếu tư cách độc lập như ta đã có dịp nói đến, vàkhông thoát ra được vùng ảnh hưởng của điểm nhìn duy nhất
Một dạng phổ biến khác của tiểu thuyết trước kia là lối kể chuyện ở ngôithứ nhất với người kể chuyện xưng “tôi” Câu chuyện gây cảm giác đáng tin cậyhơn, vì người kể không phải ai đó xa lạ, đứng ở tận đâu đâu, trên cao, ngoài xa
Trang 9phóng tầm con mắt quan sát mọi chuyện mà hoà mình trực tiếp tham gia vào cácbiến cố, nhất là khi người kể chuyện đóng vai nhân vật chính Tuy nhiên, dùnhân vật xưng “tôi” kể chuyện người khác hay kể chuyện mình thì tình hìnhcũng chẳng cải thiện được bao nhiêu vì vẫn là loại tiểu thuyết một điểm nhìn.
Với loại tiểu thuyết nhiều điểm nhìn Câu chuyện sẽ hiện ra sinh động vớinhiều bình diện, từ nhiều góc nhìn của nhiều chủ thể kể chuyện khác nhau, tuy
có hơi khó theo dõi một chút đối với những ai quen đọc loại tiểu thuyết cũ Songnói như thế hoàn toàn không có nghĩa đem so sánh các tiểu thuyết ấy với hội hoạcủa trườg phái lập thể
Trang 10CHƯƠNG II TÁC GIẢ NGÔ TẤT TỐ VÀ TIỂU THUYẾT “TẮT ĐÈN”
1 Khái quát về tác giả
Mỗi nhà văn chúng ta đến với văn học, đến với cách mạng bằng một conđường riêng Ngô Tất Tố thuộc thế hệ những nhà nho cuối mùa như NguyễnTrọng Thuật, Mai Đăng Đệ, Phạm Quế Lâm, Nguyễn Khắc Hiếu … Nhữngngười đã từng chứng kiến cảnh chợ chiều của các nhà nho cũng như cảnh tiềutuỵ sa sút của một nền Hán học đã hơn nghìn năm rực rỡ Thật là kì lạ khi tathấy từ điểm xuất phát đó, nhà nho nghèo yêu nước Ngô Tất Tố đã phấn đấu đểtrở thành một nhà văn bạn đường của giai cấp công nhân trong thời kì Mặt trậndân chủ và về sau một đảng viên cộng sản Có thể nói trong quá trình “đổi mới
tư duy”, Ngô Tất Tố đã nêu một tấm gương sáng cho thế hệ của mình Tất nhiênquá trình diễn biến tư tưởng của Ngô Tất Tố có lúc đã in dấu vết của những tưtưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Hồ Thích, đã chịu ảnh hưởng của LưThoa (Rou sseau), Mạnh - Đức - Tư - Cưu (Montes quieu) Nhưng điều cần chú
ý là ông đã thẳng thắn chỉ trích phong trào “Âu hoá, vui vẻ trẻ trung cũng như
đã vạch mặt trái cái kiểu “đánh bại Tây” bịp bợm của Phạm Quỳnh, NguyễnVăn Vĩnh
Trong không khí của thời kỳ mặt trận dân tộc, ông đã tìm đọc tác phẩmcủa Lỗ Tấn, Qúch Mạt Nhược, Gorki và cuối cùng ông đã tìm đến những sáchbáo của Đảng, của Chủ nghĩa Mác-Lênin - Trong những môn đệ của KhổngMạnh, nhiều người ngơ ngác tụt lại phía sau nhưng Ngô Tất Tố đã phấn đấuvượt lên phía trước, đuổ kịp thế hệ trẻ và trở thành một trong những người tiến
bộ nhất của lớp nhà nho cuối mùa
Ngô Tất Tố sinh 1893 tại Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là huyện Đông Anhngoại thành Hà Nội Ông mất ngày 20-04-1954 tại Yên Thế Bắc Giang chỉ íttuần lễ trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi Sự nghiệp vănhọc của Ngô Tất Tố khởi đầu bằng tác phẩm dịch Cẩm Hương Đình (1923) vàkhép lại với vở chèo 10 cảnh Nữ chiến sĩ Bùi Thị Thác (1951) Ba mươi năm
Trang 11cầm bút miệt mài, say mê bằng tài năng và tâm huyết trên nhiều tư cách: Nhàtiểu thuyết, phóng sự, nhà báo, nhà khảo cứu, dịch thuật… Ngô Tất Tố đã kể lạimột sự nghiệp văn chương đồ sộ và đa dạng từ tiểu thuyết, phóng sự truyện kýlịch sử đến khảo luận nghiên cứu, những công trình dịch thuật và hàng trăm bàitiểu phẩm báo chí
Điều đáng quý hơn là Ngô Tất Tố và sự nghiệp văn chương của ông vẫnsống mãi “sống khoẻ mạnh và sắc sảo trong văn học ta” Như sinh thời nhà vănNguyễn Tuân đánh giá về ông Vượt lên sự phôi pha vốn như một quy luật sànglọc tự nhiên, sòng phẳng và nghiêm ngặt của thời gian Khối trước tác khổng lồ,
đa dạng của Ngô Tất Tố càng ngày càng hiện hình lừng lững, càng lấp lánh vẻđẹp của một tài năng, một tấm lòng, một nhân cách lớn, và càng có giá trị tựthân khẳng định vị trí đầy vinh dự của Ngô Tất Tố trong dòng văn học hiện thựcphê phán Việt Nam cũng như vị trí xứng đáng của ông trong nền văn học lịch sửdân tộc
Năm 1996 Ngô Tất Tố vinh dự được là một trong số ít các nhà văn đượcnhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, Nhà xuất bản Văn họccũng đã xuất bản toàn tập Ngô Tất Tố, 5 tập trên 4000 trang in Khơi trongnguồn mạch hiện thực của đời sống, gắn với quỹ đạo nghệ thuật vị nhân sinh,khơi sâu vào những tầng vỉa giá trị nhân văn sâu xa với ý thức, tấm lòng và tâmhuyết của một người cầm bút yêu nước tiến bộ luôn tâm nguyện “phải hoạtđộng, phải sông pha, phải lặn lội luôn luôn với dân chúng” Chính nhờ vậy khốichước tác của Ngô Tất Tố đã là khối tài sản vô giá khẳng định một cách thuyếtphục sức sống của một tài năng lớn, một sự nghiệp lớn của nhà văn - nhà vănhoá Ngô Tất Tố
Là một nhà Nho nghèo, Ngô Tất Tố đã từng phải chung chia cái nghèo,cái đói của một gia đình triền miên phải lĩnh thêm ruộng làng để cày cấy vàthường xuyên phải oằn lưng chịu những gánh nợ lãi Cái nghèo, cái đói đã ănvào, lặn vào thành máu, thành thịt của nhà văn Lại cũng sinh ra và lớn lên ởmột vùng quê nghèo giữa những cuộc đời khốn khổ luôn bị cột chặt trong vòngvây của đói khát, tù tùng, bóc lột, chà đạp, của những hủ tục quái dị, nặng nề…
Trang 12suốt cuộc đời kể cả khi phải cách xa làng quê, lặn lội viết báo, viết văn kiếmsống, Ngô Tất Tố vẫn thiết tha gắn bó trái tim mình với những con người nghèokhổ cần cù nhân ái vẫn rất gần gũi với cuộc sốg của ông Hoàn cảnh đó, sợi dâytình cảm đó khiến Ngô Tất Tố dễ dàng cảm thông sâu sắc và luôn tìm mọi cách
sẻ chia, bênh vực đến cùng những con người “nhỏ bé”, “mờ xám” đang quằnquại trong khổ đau, bất hạnh đồng thời cũng khiến ông căm ghét và tố cáo đếncùng bọn quan lại thống trị “một phần nguyên nhân trong cảnh thống khổ củadân chúng” Cảm thông, yêu tương và căm ghét, tố cáo - đó chính là tố chất cơbản, là linh hồn, là máu thịt của từng trang văn tạo nên giá trị hiện thực sâu sắc
và giá trị nhân văn sâu xa trong văn nghiệp của Ngô Tất Tố Cũng chính điều đó
lý giải vì sao Vũ Trọng Phụng đã đánh giá rất cao Ngô Tất Tố Theo Vũ TrọngPhụng, Ngô Tất Tố hơn bất cứ nhà văn nào cùng thời, là người có “đủ tư cách”,
“đủ thẩm quyền” để viết và đã là người viết ra thật cảm động những trang sách
“đáng khóc, đáng cười” về cảnh sống cơ cực ở thôn quê và của người dân quêthời thực dân phong kiến
Thôn quê Việt Nam dưới ngòi bút của Ngô Tất Tố không như bọn thựcdân bưng bít và một lũ nhà văn tư sản tô điểm Trong những luỹ tre xanh gầy vàgai góc kia, chiều chiều khói thổi cơm nhoi lên những mái tranh xám, tản ranhững cánh động lặng lẽ, không phải là những cảnh thơ mộng mà sự thật lànhững người mẹ gần chết đói, con thơ nằm bên vẫn còn kéo dài vú ra nhay, lànhững người cha ốm nhìn hấp hối trong những bếp đầu rau chỉ còn trolạnh vànhững mảnh nồi vỡ, bao nhiêu áo cơm và hơi sức của bao nhiều người làm ănlấm lưỡi đều bị sưu cao thuế nặng lột hết, lột hết
Và những nóc đình mái cong, ngói rêu có những cây gạo mọc vút lên hoa
đỏ rực trời, không phải chỉ có văng vẳng tiếng trống chèo và dập dìu bài Lưuthuỷ về giêng, hai, ba, đình đám! Ở đây cả một bọn quan lại và cường hào cạnhtranh nhau, tranh từng miếng phao câu, từng ngón tay xôi, cờ bạc, rượu chè, côđầu, chia nhau chấm nút cấu xé ruộng đất và sưu thuế, cưỡi trên những sốnglưng gần ngã gục của nông dân nô dịch…
Ngòi bút rắn chắc của Ngô Tất Tố đã không e dè đưa lên những sự thật
Trang 13ấy Người nông dân giãy lên trên những dòng chữ của Ngô Tất Tố, chưa ánh lênsức đấu tranh, những sự thống khổ của họ đem phơi ra đã được một phần nàothật, thật trên cái đen tối của chế độ tàn bạo và ruỗng nát lúc bấy giờ Bên cạnh
đó, những sự đè nén, lừa bịp và ăn gian nói dối của bọn thực dân và lũ bồi bútcủa chúng ngày càng tàn tệ, trâng tráo Cuộc chiến tranh thứ 2 vừa nổ, Pháp ởĐông Dương liền quy ngay gối, mở cửa cho quan phiệt Nhật vào Hai tầng ápbức bóc lột và khủng bố lấy dân chúng Văn hoá trong tay hai bọn ăn cướp nọcàng khốc hại Chúng nó cố kéo con người trở lại với tất cả những gì là thoái bộ,dìm cho con người cắm đầu mê muội không thể nào cất nhìn lên, trông về tươnglai Cái mạnh, cái sắc của Ngô Tất Tố là ở chỗ dám nhìn thẳng vào sự thật, cămgiận, chửi rủa và phá bỏ, Cái mạnh, ái sắc của Ngô Tất Tố còn ở những chố đisâu vào những khía cạnh đen tối, sai trái của kẻ thù Nhưng quằn quại gần hếtmột đời người trong những thiếu thốn ê hề, tàn nhẫn của sự sống và không sớmđược trau dồi ý thức đấu tranh sáng suốt, tươi tắn, quyết liệt và đúng mực, sắt
đá, rộng rĩ, cái ý thức cách mạng và khoa học của công nhân nên trong một sốsáng tác ngắn và sơ thảo trong kháng chiến của Ngô Tất Tố, nhân vật và sự sốngchưa được diễn tả đúng thực và còn nhiều chỗ lệch lạc, không toát lên được cáihướng đi lên của xã hội
Tóm lại, “ở con người Ngô Tất Tố là sự quy tụ, hoà hợp của nhiều conngười trong một con người: Nhà nho Ngô Tất Tố với vốn kiến thức học vấnuyên thâm về cổ học, nhà trí thức với khuynh hướng xã hội tiến bộ, nhà văn hiệnthực am hiểu và bênh vực quyền lợi người nông dân, nhà báo năng động vớingòi bút và giàu tính chiến đấu” Nếu tách riêng trên mỗi lĩnh vực “Ngô Tất Tố
là người viết sâu sắc và bộc lộ hết mình”, ông “luôn luôn làm ta kinh ngạc vìcách đặt vấn đề xã hội từ các tầng tiềm ẩn sâu xa của sự sống và của cả nền vănhoá và vì sự nhạy cảm, thức thời, cập hật của thời sự của hiện tại Nhưng “tổnghợp lại ông càng lớn trong những tầng hiểu sâu xa về cuộc sống và con người,
về xã hội và thời cuộc, về tri thức và văn hoá, về văn chươg và học thuật”
Ba mươi tuổi Ngô Tất Tố bước vào làng văn, làng báo và suốt 30 năm cònlại của cuộc đời, ông chân thành, miệt mài đem ngòi bút cống hiến cho sự
Trang 14nghiệp cách mạng, cho nền văn hoá dân tộc Con đường ông đi là con đườngthẳng từ khởi điểm nhà nho nghèo yêu nước, thường dân để đến với cách mạng,đến với Đảng và trở thành nhà văn cách mạng Ba mươi năm Ngô Tất Tố hoạtđộng văn học cũng là 30 năm của những biến động thăng trầm dữ dội trong đờisống chính trị, xã hội và văn hoá dân tộc Nhưng Ngô Tất Tố không hề chao đảonghiêng ngả Ông tự tin và quả quyết sống hết mình, viết hết mình trong nỗ lực
và mong mỏi: ngòi bút mình hữu ích cho xã hội, cho con người Thức thờinhưng không xu thời Nghèo nhưng không hèn Vượt trên mọi hư danh, cám dỗ.Ngô Tất Tố “đã biết đánh đổi cơm áo để lấy cái quyền viết theo chỉ thị của tráitim mình”, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ông hết lòng yêu thương, chỉ thuộc
về nhân dân mà ông thiết tha gắn bó Chính đó là cái lõi để tạo nên tài năng lớn,
đa dạng nơi ông trong nhiều tư cách: Một cây bút tiểu thuyết, phóng sự xuất sắc,một nhà báo “cự phách”, “có biệt tài”, một nhà khảo cứu, dịch thuật giàu tâmhuyết và bao trùm là tư cách một nhà văn hoál ớn Chính đó cũg là cái lõi tạonên giá trị đặc sắc riêng trong di sản văn hoá đồ sộ của Ngô Tất Tố, là cơ sởchắc chắn để khẳng định vị tri vững vàng của ông trong nền văn học dân tộc
2 Tiểu thuyết “Tắt đèn”
Ngô Tất Tố là một nhà văn có nhiều thuận lợi để viết về nông thôn, mộtcái vốn Nho học vững chắc và một sự hiểu biết sâu sắc về nông thôn và nôngdân Việt Nam “Tắt đèn” ngay từ lúc mới ra đời đã được dư luận hoan nghênhnhiệt liệt Vũ Trọng Phụng một nhà tiểu thuyết có tên tuổi lúc bấy giờ đã cangợi: ““Tắt đèn” một thiên tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn phụng sự dânquê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác tòng lai chưa từng thấy mà lại của một tácgiả đã được cái may hơn nhiều nhà văn khác là đã được sống nhiều ở nơi thônquê (…) đọc quyển “Tắt đèn” này, những độc giả khó tính cũng sẽ phải chịurằng óc quan sát của Ngô Tất Tố về những cảnh làm ruộng, thu thuế, chè chén,xôi thịt, ức hiếp, bán vợ đợ con của đám dân quê quả là một thứ óc quan sát rấttinh tường, rất chu đáo” Các báo chí cách mạng ở Sài Gòn cũng cho rằng viết
về cuộc đời của nông dân sau lũy tre xanh thì “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố “đãthành công một cách vẻ vang hết sức” Nhà văn đã mang đến một cách nhìn
Trang 15mới, có màu sắc “duy vật biện chứng”, một cách miêu tả và biểu hiện mới trongnghệ thuật so với những tác phẩm đã viết về nông thôn đương thời.
Tác phẩm xuất sắc nhất của Ngô Tất Tố và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất
về nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám, không thể không đề cậpđến Tắt đèn: “Một cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội… hoàn toàn phụng sự dânquê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy”, theo đánh giácủa Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố viết Tắt đèn năm 1937, ít lâu sau khi tác phẩmVấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình ra đời, trong ảnh hưởng của phongtrào Mặt trận Dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Ở thời điểm đó, vấn đề nôngdân, vấn đề đấu tranh chống lại chính sách sưu thuế, áp bứ bóc lột của bọn thựcdân, quan lại, địa chủ, cườg hào, đòi cải thiện đời sống cho người dân cày là mộtvấn đề lớn, trọng tâm của cách mạng Đó cũng là một đề tài lớn, phổ biến củavăn học, nơi để lại những thành tựu nghệ thuật sáng giá trong văn nghiệp củanhững nhà văn tên tuổi: Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… Tuy vậy,không một cay bút nào đề cập đến vấn đề nông dân một cách thiết tha, tập trungnhư Ngô Tất Tố Lòng yêu nước, thương dân, tình cảm gắn bó với số phậnngười nông dân lao động vốn như một nội lực của ngòi bút Ngô Tất Tố, khiếnnhà văn có thể nhanh chóng tiếp thu và tiếp thu một cách chân thành, tự nhiêntinh thần dân chủ, tiến bộ của phong trào Mặt trận Dân chủ Chính sự gặp gỡgiữa yêu cầu của thời đại, của cách mạng và sự thôi thúc bên trong của ngòi bútNgô Tất Tố đã tạo nên một đặc sắc và thành công xuất sắc của ông trong mảng
đề tài nông dân, nông dân nói chung và tiểu thuyết Tắt đèn nói riêng
Trước Cách mạng tháng Tám, thuế má là tại hoạ khủngk hiếp đối vớingười nông dân Xoáy sâu vào thuế thân - nột thứ thuế vô nhân đạo nhất trongchính sách thuế khoá dã man của chế độ thuộc địa Tắt đèn đã phơi bày đến tậncùng bản chất bóc lột xấu xa, bẩn thỉu của chế độ thực dân phong kiến ViệtNam Thuế đánh vào người sống Thuế đánh cả vào những cái xác chết Vì suấtthuế của chồng và cái thẻ sưu của người em chồg “chết dở năm Tây” mà bọnquan tây và vua quan ta đang cố kết “dựng dậy, đòi cho kỳ được cái suất sưu”,
“món nợ nhà nước đó” (Nguyễn Tuân), mà chị Dậu bị dồn đẩy đến bước đường
Trang 16cùng: Phải bòn bán hai gánh khoai (chút lương ăn cuối cùng của đàn con nhỏ và
cả gia đình), bán chó, rồi bán con và cuối cùng bán xứ đi ở vú cho nhà quanhuyện Cả một chuỗi tai hoạ thắt buộc số phận người đàn bà Khơi sâu vào nỗithống khổ và số phận thể thảm của người dân quê
Tắt đèn, do vậy, là bản tố cáo quyết liệt, bênh vực quyền sống của họ.Quả quyết, sắc sảo vạch mặt chỉ tên cả một bộ máy thống trị của quan Tây, quan
ta, nghị viện, địa chủ, cường hào gian ác đã làm nên “cái tối giời, tối đất”(Nguyễn Tuân) ở nông thôn, Tắt đèn đồng thời là bản án đanh thép kết tội bọnquan lại thống trị yhà hiếp, đục khoét người nông dân Nhưng không chỉ thấuhiểu, sẻ chia nỗi thống khổ không cùng với người lao động nghèo trong cuộcsống lầm lụi, bị giày vò, đạy đoạ, Ngô Tất Tố còn phát hiện ở họ những tìnhcảm đẹp đẽ, nhân ái, cao thượng và bản lĩnh kiên cường bất khuất, “Trên cái tốigiời, tối đất của đồng lúa ngày xưa”, Ngô Tất Tố đã dựng lên “sừng sững cáichân dung lạc quan của chị Dậu”, “đã đưa ra, đã dám đưa ra một nhân vật đàn
bà nông thôn khoẻ khoắn, lành mạnh”, tiêu biểu cho hình ảnh khoẻ khoắn, ngờisáng của người phụ nữ nông dân Việt Nam, một điển hình phụ nữ nông dân xuấtsắc nhất của văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám Giá trị nhân văncủa tác phẩm, do vậy càng sâu sắc Có thể nói, Ngô Tất Tố là người duy nhấttrong số các nhà văn cùng thời có được cái nhìn nhất quán, đầy trân tọng, yêuthương như vậy đối với người nông dân Tắt đèn xứng đáng là một “áng vănmới mẻ nhất về loại văn chương xã hội ngày nay”, “một thiên kiệt tác hoàn toànphụng sự dân quê… khiến người đọc phải có những tư tưởng cải tạo xã hội”,một trong những thành tựu nghệ thuật xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thựcViệt Nam trước cách mạng Ngay từ khi mới ra đời, Tắt đèn đã được dư luận vàbáo chí tiến bộ đánh giá cao ở giá trị hiện thực: mô tả “những sự tàn bạo ghêgớm, những chuyện hà lạm hèn mạt, những cảnh đói nghèo tai hại”; ở nghệthuật tiểu thuyết: “không còn là những điều biện giải khô khan của luân lý mà
nó đã gắn liền được vào cái nghệ thuật uyển chuyển của một tiểu thuyết gia”,
“Ngô Tất Tố đã dùng được đắc sách cái phương pháp khách quan, phương pháprất mới mà “chỉ nhà văn xã hội theo phương pháp duy vật biện chứng mới có mà
Trang 17có một cách đầy đủ” Một số ý kiến đặc biệt nhấn mạnh đến lập trường, cáchnhìn nhận đúng đắn của Ngô Tất Tố: “Trái với Tự lực văn đoàn khi nói tới quênhà: một đằng là chế giễu những ngớ ngẩn và thi vị hoá cảnh quê, một đừng lànói những cái bất bình nhìn từ con mắt của chính một người nông dân nhìn ra.Suốt trong sáu thập kỷ qua Tắt đèn đã được tái bản nhiều lần, và giá trị củacuốn tiểu thuyết ngày càng được khẳng định vững chãi hơn, ở những tầng vỉagiá trị hiện thực và nhân văn cao sâu hơn Hàng chục bài viết của các nhà văn:Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng… và các nhànghiên cứu, phê bình: Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh,Phong Lê, Nguyễn Hoành Khung, Hà Minh Đức, Như Phong, Hồng Chương…
từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, đều đi tới khẳng định giá trị đặc sắc của Tắtđèn, “đỉnh cao” của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam, đặc biệt đi sâuvào hình tượng nhân vật chị Dậu “cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn” (NguyễnTuân), vào nghệ thuật xây dựng nhân vật chị Dậu và nghệ thuật “kể chuyện,cách dựng truyện” tài tình của Ngô Tất Tố, một trong những yếu tố quan trọnggóp phần tạo nên sự “rung động”, sức hấp dẫn và giá trị của cuốn tiểu thuyết
Hơn nữa thế kỷ qua, tên tuổi Ngô Tất Tố trước hết và gần như bao quát làgắn với Tắt đèn, “một tiểu thuyết có luận đề xã hội, hoàn toàn phụng sự dân quê,một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy”, theo cách nói của tácgiả Giông tố, Số đỏ Nhà văn đã hoàn thành tác phẩm ngay chính trên làng quêcủa mình, đã đào xới vào tận các tầng sâu nỗi khổ của người dân như trên cácluống cày của đất quê, trên số phận của những người thân kẻ sơ một vùng quêkhông xa ánh sáng thành thị là mấy, mà cứ như hun hút ngập vào đêm đenTrung cổ Tắt đèn có tất cả mọi cung bậc một tiếng nói tố khổ quyết liệt cho sốphận người nông dân trong xã hội cũ, dường như bất dịch, không thay đổi hàngnghìn năm, cho đến khi có “ông Tây”; và đến lúc có ông Tây rồi, tình cảnhngười nông dân vẫn chẳng có bao nhiêu thay đổi Một xã hội nối dài từ các “việclàng”, chung quanh một cái đình làng cho đến một tư thất hoặc công đường nơihuyện sở, rồi một cảnh cụ cố - vú em ở phố tỉnh; hc thì có mở rộng, nhưng sốphận con người thì vẫn cứ thắt buộc trong tối tăm và oan khổ Tắt đèn ánh lên
Trang 18cái nhan sắc của người phụ nữ nông thôn, lầm lụi trong một sự sống bị giày vò,đày đoạ trăm bề, nhưng sự trong sáng và trinh trắng thì cứ ngời lên trên cái nềntối tăm của đêm sâu, của nửa đêm tối đen như mực Dồn ép con người đến mứctận cùng như Tắt đèn, và đưa con người lên đỉnh cao những giá trị tinh thần vàhình thể của con người như Chị Dậu, tác phẩm của Ngô Tất Tố, trong bất cứ têngọi nào vẫn là tác phẩm vào loại hiếm hoi gắn nối được cả hai mặt tối - sáng,phê phán - khẳng định, căm giận - yêu thương trong gia tài văn chương một thếkỷ.
Trang 19CHƯƠNG III ĐIỂM NHÌN CỦA NGÔ TẤT TỐ THỂ HIỆN TRONG “TẮT ĐÈN”
1 Điểm nhìn của văn bản
Trên nhiều tác phẩm thuộc trào lưu văn học hiện thực phê phán trước cáchmạng của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, TôHoài… ta đã có dịp nhìn thấy những biểu hiện xấu xa, thối nát của chế độ phongkiến thực dân Sau tất cả những hình ảnh mỗi tác phẩm đã dựng lên, một bên lànhững lực lượng phong kiến cùng mấy nét thấp thoáng của bọn thực dân, mộtbên là hình ảnh của những con người thuộc tầng lớp tiểu tư sản hoặc dân nghèonông thôn và thành thị…, thấy hiện lên dần dần sự tàn lụi của một cuộc đờitrong đó quan hệ giữa con người với nhau là quan hệ tước đoạt, đè nén khôngtình nghĩa Tiếng cười lắm khi rát mặt rát mày ở Nguyễn Công Hoan, sự chửibới đôi khi cũng đúng hướng và sắc cạnh trong Vũ Trọng Phụng, giọng đaynghiến chì chiết ở Nam Cao, tiếng thở dài ngao ngán ở Tô Hoài, và cái bức bốingột ngạt ở Nguyên Hông… tất cả đều hướng tới làm nổi bật lên mặt tối tắm vàtình trạng bế tắc của xã hội
Để miêu tả một xã hội tối tăm, bế tắc, khuynh hướng chung của nhiều nhàvăn hiện thực là thiên về việc khai thác những khía cạnh xấu xa ở những conngười trong hàng ngũ giai cấp thống trị, chủ yếu là bọn nhà giàu, do có tiền nên
có quyền hành, chức vị Hướng sự miêu tả về bọn chúng, nhà văn dễ có điềukiện vạch trần chân tướng giả dối, tàn nhẫn của chế độ, dễ có điều kiện biểu lộniềm căm phẫn của mình Một xã hội cần đạp đổ đi (dù chưa biết thay bằng cáigì) thì dĩ nhiên là phải đay nghiến cho bằng thoả ! Cho nên ta sẽ thấy trong vănhọc hiện thực nhiều hình tượg phản diện Và cùng một kiểu “quan nghị”, ta cóthể phân biệt cái tàn nhẫn “thật thà” của nghị Quế (Tắt đèn), cái nham hiểu củanghị Lại (Bước đường cùng), đến cái gian hùng như một bạo chúa của nghịHách (Giông tố), cả ba đều có lý lịch rõ ràng Qua hình ảnh những nhân vậtphản diện, các tác giả muố chứng minh rằng cuộc đời như thế không thể còn đấtsống cho con người lương thiện Muốn sống thì phải đào sâu chôn chặt nó đi
Trang 20Trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố cũng đã giải quyết được yêu cầu ấy của tràolưu Sự kết cấu tự nhiên giữa ba lực lượng cường hào, địa chủ, quan lại và thấpthoáng phía sau là bóng dáng của bọn thực dân đã được Ngô Tất Tố miêu tả nhưmột sức ép nặng nề Hình ảnh của bọn chúng tượng trưng cho những thế lực hắc
ám ở nông thôn và trong cả xã hội Việt Nam hồi bấy giờ Khi bọn cường hào
“tác oai” bằng quyền hành, roi vọt thì bọn địa chủ lại “tác phúc” bằng cách xỉa
ra từng xu rất “nhân nghĩa” để “giúp” người nghèo cầm cố nhà cửa, con cái,ruộng nương Khi bọn cường hào lợi dụng sưu thuế để kiếm ăn thì bọn địa chủcũng kiếm ăn và phát tài rất chóng trong mùa sưu thuế Tưởng không khó hiểulắm về nguyên nhân sự giàu có của một kiểu “quan nghị nhà quê” như nghị Quếtrong truyện Chính hắn là kẻ gây ra rất nhiều đau khổ cho người nghèo, mặc dù
ở trong truyện hắn có vẻ như không dính dáng gì với không khí bận rộn củanhứng ngày sưu thuế Bộ mặt bọn quan lại cũng gây nên một ấn tượng kinhkhủng không kém Đừng mong tìm thấy ở chúng một chút tình thương, một chútcông minh chính trực Sự mục nát trong xã hội trở thành một hiện tượng quánxuyến từ trên xuống dưới, và xem chừng, càng lên trên càng có nhiều khía cạnh.Tên quan phủ Tư Ân trong truyện cũng nổi tiếng về chuyện hống hách, chuyện
ăn tiền và còn có thêm chuyện hiến vợ cho quan trên và cưỡng hiếp con dântrong hạt
Những sự thật ấy, Ngô Tất Tố cũg đã miêu tả với tất cả niềm căm phẫncủa mình Nhưng ngòi bút của Ngô Tất Tố còng là một ngòi bút khẳng định Sựkhẳng định của ông trực tiếp hướng về những con người trong hàng ngũ nhândân, hơn thế, trong hàng ngũ những người phụ nữ nghèo khổ
Nói cho đúng, không phải trên các sáng tác của nền văn học công khai hồinày, bên cạnh những hình tượg phản diện, không có hình tượng những conngười ở tầng lớp quần chúng nghèo khổ Ngay cả trong trào lưu lãng mạn, dướitác dụng của phong trào đấu tranh sôi nổi của quần chúng trong thời kỳ Mặt trậnDân chủ ta cũng đã thấy xuất hiện trên nhiều sáng tác hình ảnh những người…bình dân Nhưng chẳng qua đó chỉ là một thứ đồ trang sức cho có vẻ hợp thời.Chỉ biết rằng hình ảnh nhân dân chẳng bao giờ lại tội nghiệp như mấy bác “nông
Trang 21phu” kiểu nhiêu Tích, khờ khạo đi lên tỉnh, bị xe một thanh niên tư sản cán ngã,rồi lại còn bị hắn bợp tai mấy chiếc mà vẫn ngỡ mình là kẻ có tội, phải khúmnúm chắp tay xin lỗi hắn
Trong trào lưu hiện thực, trái lại, hình ảnh người nghèo nói chung đềuđược miêu tả với một thái độ thông cảm, che chở, thậm chí ở một số tác giả còn
là thái độ trân trọng, kính phục Thế giới người nghèo trong sáng tác củaNguyễn Công Hoan, có thể nói là cả một xã hội bao gồm khá nhiều hạng người.Riêng những người đi ở, kéo xe, những kẻ ăn xin, gái điếm… cũng đã phongphú, đủ vẻ Càng về sau, hàng ngũ người nghèo càng được bổ sung thêm vàmiêu tả sâu hơn trong các sáng tác của Nguyên Hồng, Nam Cao Tuy nhiên,trong tất cả những hình tượng đã được dựng lên, chị Dậu trong Tắt đèn là hìnhtượng nổi bật hơn cả Nổi bật không phải chỉ vì sự phong phú về đời sống bêntrong của nó mà còn vì vẻ đẹp trọn vẹn, rực rỡ của nó ngay từ đầu đã khiến cho
ta kinh ngạc So với nhiều nhà văn hiện thực khác, có thể Ngô Tất Tố chưa baoquát được mặt này mặt kia trong đời sồng, nhưng phần đóng góp sâu sắc vàcũng là độc đáo của Ngô Tất Tố chính là ở chỗ nhà văn đã khám phá được vẻđẹp bên trong rất đáng quý của người nghèo trong một xã hội vô cùng tối tăm
2 Điểm nhìn nghệ thuật
Tắt đèn là một bản cáo trạng đanh thép, kết án nghiêm khắc bọn thống trị
áp bức, bóc lột nông dân đến tận xương tuỷ Ngoài bút của Ngô Tất Tố đã dũngcảm bóc trần thực trạng đen tối, ngột ngạt của cuộc sống ở nông thôn Ở đâycũng cần nói rõ là lúc bấy giờ phong trào cách mạng Việt Nam đã bước sangmột giai đoạn phát triển mới Sau một thời gian thoái trào ngắn, từ 1934 phongtrào đã bắt đầu phục hồi dẫn và từ 1935 trở đi phong trào đấu tranh của quầnchúng lại sôi nổi khắp toàn quốc Thời kỳ Mặt trận Dân chủ là thời kỳ đã sảnsinh ra nhiều tác phẩm văn học có giá trị hiện thực sâu sắc Phong trào đấu tranhcủa quần chúng đã tạo điều kiện cho một số nhà văn trông thấy được những mâuthuẫn lâu nay đang âm ỉ trong lòng xã hội Ngô Tất Tố là một trong những nhàvăn đã dũg cảm bóc trần các mâu thuẫn xã hội ấy
Tắt đèn là tấn bi kịch của những người nông dân bị áp bức, bóc lột cực
Trang 22độ Gia đình chị Dậu nghèo khổ đến mức không có cả khai mà ăn Vụ sưu làmột tai hoạ lớn đối với vợ chồg chị Trước sự doạ nạt và khủng bố tàn nhẫn củabọn cường hào, chị Dậu kêu khóc thảm thiết: “Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó
và hai gánh khoai mới được hai đồng bảy bạc Tưởng rằng đủ tiền nộp sưu chochồng, thì chồng tôi khỏi bị hành hạ đêm nay ? Ai ngờ lại còn suất sưu củangười chết nữa! Khốn nạn thân tôi ! Trời ơi! Em tôi chết rồi còn phải đóng sưu
hở trời ? Tôi biết đâm đầu vào đâu cho được hai đồng bẩy bạc bây giờ?”
Thật vậy, chỉ vì một vài đồng bạc sưu mà anh Dậu bị đánh đập tơi biệnphápời, chết đi sống lại Đối với bọn thống trị, mạng con người cũng chỉ nhưmạng con cóc, con nhái
Chị Dâu kêu xin cho chồng, sợ chồng đang ôm nặng mà bị trói bị đánh thì
có thể chết Nhưng tên lý trưởng trừng mắt quát: “Chết thì ông chôn! Mày tưởngchồng mày chết thì ông sợ à? Muốn chồng khỏi trói, về đem nốt hai đồng bảynữa ra đây Nếu không thì ông còn trói, ông trói cho đến bao giờ đủ sưu thìthôi”
Thảm thương nhất là ảnh chị Dậu mang con đến bán cho nhà Nghị Quế
Mụ nghị cò kè bớt một thêm hai: nếu em bé được bảy tuổi thì mụ bằng lòng trảcho hai đồng, nhưng nếu chỉ mới sau tuổi thì chỉ cho một đồng thôi Con ngườiđàn bà ấy cơ hồ như không nhớ rằng mình cũng đã từng làm mẹ và lòng mẹ đốivới con như thế nào mụ ta không thèm biết đến Trước những giọt nước mắt đauthương của người mẹ nghèo khổ, mụ nghị nói với một giọng thản nhiên và háchdịch: “Tao không thể tin cái miệng vợ chống hà mày! Người ta mách tao là nólên sau Chứ tao biết đâu nó đẻ năm tý hay năm tỵ, năm tỳ… Đáng lẽ biểukhông thì phải… Cho một đồng cũng quá lắm rồi… Không phải nài nẫm gìnữa!”
Thương tâm hơn nữa là cái cảnh thằng Dần, em cái Tý, bắt mẹ phải đi tìmchị cho nó Nó nhất định không chịu ăn, không chịu ngủ và cố làm tình làm tộingười mẹ đã đem chị nó đi bán Đêm đã khuya, chị Dậu phải bế cả hai con bé, đihết ngõ này sang ngõ khác: “Trời khuya, canh vắng, ba mẹ con thơ thẩn ômnhau trên đường, chị Dậu thấy mình là người điên rồ Mấy lần chị toan quay về