1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-1945

55 1,9K 19
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-1945
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Báo cáo khoa học
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 496 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-1945

Trang 1

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC

BÁO CÁO KHOA HỌC

Khảo sát các đơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao

giai đoạn 1930-1945

SV thực hiện:

Lớp :

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nam Cao được coi là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn họcViệt Nam thế kỉ XX Ông đã để lại cho chúng ta một kho tàng to lớn những tácphẩm như tiểu thuyết( Sống mòn), truyện ngắn( Chí phèo, Một đám cưới…) cảtrước và sau cách mạng Qua những tác phẩm của mình, đặc biệt là truyện ngắnông đã khắc họa thành công thế giới nhân vật cùng sự miêu tả tâm lí điêu luyệntạo nên một phong cách riêng cho văn xuôi Nam Cao Và chính vì thế, tác phẩmcủa ông trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà phê bình Văn học, của cácnhà ngôn ngữ học và ngày càng thu hút đông đảo lực lượng nghiên cứu

“Nam Cao toàn tập” là một bộ sách gồm ba tập: Tập I và II gồm nhữngtruyện ngắn Nao Cao viết trước cách mạng tháng 8 và truyện dài “Người hangxóm” Tập III gồm những truyện viết sau cách mạng cùng tiểu thuyết “Sốngmòn” Đây là một tác phẩm có thể nói đã thống kê được khá đầy đủ các tácphẩm của Nam Cao và nó trở thành một nguồn tư liệu đáng quý cho các nhànghiên cứu về Nam Cao, về tác phẩm của Nam Cao Thông qua những truyệnngắn này người đọc cũng phần nào thấy rõ được những quan điểm sống, quanđiểm sang tác, quan điểm nghệ thuật cùng với cách sử dụng ngôn ngữ trong việcxây dựng cốt truyện, lời kể, lời đối thoại giữa các nhân vật của Nam Cao Rõràng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn có một cảm quan hiệnthực và một cảm hứng sáng tác riêng Hệ thống ngôn ngữ được tác giả sử dụngthường rất dung dị, tự nhiên mang đậm hơi thở của cuộc sống Hệ thống ấy cóthể được tạo bởi thuật ngữ (từ ngữ nghề nghiệp), từ thông tục và cả những thànhngữ và quán ngữ nữa Trong đó, các thành ngữ được các nhà văn sử dụng rất cóhiệu quả Và Nam Cao cũng không phải là một ngoại lệ, bởi quan điểm sáng táccủa ông chủ trương là bám sát đời sống gần gũi với nông dân cùng khổ, vớinhững lời ăn tiếng nói hàng ngày, thoát bỏ mọi quan điểm khuôn sáo ước lệtượng trưng, cách điệu của ngôn văn học thời trung đại, bảo tồn và phát triểnmọi giá trị truyền thống

1

Trang 3

Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ mang tính chất dân tộc sâu sắc Nóthường xuyên có mặt trong lời ăn tiếng nói của mỗi người dân trong cuộc sống.Bất kì nơi đâu, trong thời gian nào thì thành ngữ cũng có thể xuất hiện khi viếtchuyện, khi viết thư, khi giao tiếp với nhau… Nó là một sản phẩm quý báu cùngvới kho tàng tục ngữ, ca dao Nói cách khác, thành ngữ được sáng tạo ra trênquá trình sinh hoạt xã hội quần chúng Vì thế chúng, như đã nói ở trên, thườngxuất hiện trong môi trường dân dã Tất cả những đặc điểm trên làm cho thànhngữ trở thành một đối tượng hấp dẫn đối với giới nghiên cứu không chỉ ở ngànhngôn ngữ học mà còn ở nhiều ngành khac như: dân tộc học, văn hóa… Nghiêncứu thành ngữ cũng là một công việc có đóng góp rất lớn trong việc miêu tả mộtngôn ngữ, so sánh đối chiếu các ngôn ngữ với nhau Nam Cao trong các tácphẩm của mình cũng đã vận dụng khá thành công thành ngữ trong việc khắc họahình ảnh nhân vật, miêu tả cuộc sống hiện thực lúc bấy giờ Nghiên cứu về NamCao cùng những tác phẩm của ông từ trước tới nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu nhưng mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra được đặc điểm này hay đặcđiểm khác trong việc sử dụng từ ngữ của Nam Cao như: cách sử dụng từ “hắn”trong “Chí Phèo”, tìm hiểu tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao thông qua hệthống các nhân vật như Điền (Trăng sáng), Hộ (Đời thừa), Độ (Đôi mắt)…Trong khi đó cách sử dụng thành ngữ của tác giả lại chưa được chú ý đúng mức.

Đó chính là lí do chúng tôi chọn đề tài cho báo cáo của mình là: Khảo sát cácđơn vị thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 1930-1945

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu thành ngữ trong tiếng Việt nói chung có thể nói đến giai đoạnhiện nay đã thu được nhiều kết quả đáng ghi nhận Công trình nghiên cứu đầutiên trong tiếng Việt là “Về tục ngữ và ca dao” của Phạm Quỳnh được công bốnăm 1921 Tuy nhiên, đến những năm 60 của thế kỉ XX, việc nghiên cứu thànhngữ mới có được cơ sở khoa học nghiêm túc Cái mốc quan trọng trong việcnghiên cứu thành ngữ học Việt Nam là việc xuất bản từ điển “Thành ngữ tiếng

Trang 4

nhà ngôn ngữ học và những ai quan tâm đến vấn đề này một tài liệu bổ ích, cógiá trị to lớn Tiếp đó là năm 1989 xuất bản cuốn “Từ điển thành ngữ và tục ngữViệt Nam” của Nguyễn Lân và “Kể chuyện về thành ngữ tục ngữ” (1988-1990)

do Hoàng Văn Hành chủ biên Các công trình khác sau đó đều đi sâu vào nghiêncứu với mục đich tìm ra sự khác biệt giữa thành ngữ với các đơn vị khác có liênquan, tức là khu biệt giữa thành ngữ và tục ngữ, giữa thành ngữ với ngữ địnhdanh, giữa thành ngữ với cụm từ tự do Có thể kể đến các công trình đó như

“Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ và thành ngữ” (1973) của Cù Đình Tú, “Từ vàvốn từ tiếng Việt hiện đại” (1976) của Nguyễn Văn Tu, “Vấn đề cấu tạo từ củatiếng Việt hiện đại” (1976) của Hồ Lê, “Tục ngữ Việt Nam” (1975) của ChuXuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri và gần đây nhất là “Phân biệt thànhngữ và tục ngữ bằng mô hình cấu trúc” (2006) của Triều Nguyên Tuy nhiên,các công trình nêu trên vẫn chưa thực sự thuyết phục được các nhà nghiên cứu.Vậy nên thành ngữ cho đến hiện nay vẫn đang được tiếp cận theo từng khía cạnhkhác nhau để có thể lập nên một tiếng nói chung về thành ngữ cho tất cả những

ai quan tâm

Một trong những khía cạnh nghiên cứu thành ngữ đó chính là nghiên cứunghệ thuật sử dụng thành ngữ của các nhà văn, nhà thơ - những tác giả lớn Mộtloạt những luận văn thạc sĩ, những khóa luận tốt nghiệp cũng như nhiều báo cáokhoa học, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí về vấn đề sử dụng thành ngữ củanhững tên tuổi lớn như chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyên Hồng, Tản Đà, TôHoài… xuất hiện trong thời gian gần đây

Trong khi đó Nam Cao cũng là một đề tài khá hấp dẫn đối với các nhànghiên cứu, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng như những người quan tâm đã dànhthời gian khá nhiều cho việc khám phá những đặc điểm nghệ thuật trong tácphẩm của Nam Cao, tức là chưa nghiên cứu một cách toàn diện ngôn ngữ trongtác phẩm của ông Nói như vậy có nghĩa là cách dùng thành ngữ của Nam Caochưa được chú ý đúng mực, chưa có một chương trình nào nghiên cứu một cáchcặn kẽ vấn đề này

3 Ý nghĩa và dự kiến đóng góp của đề tài

3

Trang 5

Thông qua việc thống kê, khảo sát những thành ngữ xuất hiện trong hơn

50 truyện ngắn trước cách mạng tháng Tám của Nam Cao chúng tôi hi vọng sẽgóp phần khẳng định sự sáng tạo và những đóng góp to lớn của Nam Cao đốivới kho tàng thành ngữ của dân tộc đồng thời, tìm hiểu giá trị phong cách củanhững đóng góp này Như vậy ý nghĩa trước hết của đề tài này đó chính làkhẳng định them một lần nữa tài năng, sự sáng tạo của Nam Cao trong việc sửdụng ngôn ngữ xây dựng nên những trang văn kiệt tác, cùng với đó là làm rõthêm giá trị của những thành ngữ mà ông sử dụng Bài báo cáo khoa học nàycũng còn một mong muốn khác đó là bằng việc nghiên cứu, phân tích kĩ nhữngđặc điểm thành ngữ về cấu trúc, ngữ nghĩa, phân loại về loại hình, về phản ánhcách tư duy, về văn hóa ngôn từ trong giao tiếp để chúng tôi có thể cung cấpthêm nhiều thành ngữ hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn cho cuốn từ điển thành ngữsau này

Tuy nhiên, do thời gian có hạn cũng như do khả năng của chúng tôi cònchưa cao nên chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát thành ngữ trong một sốtruyện ngắn của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám chứ chưa thể khảo sátcác đơn vị thành ngữ trong toàn bộ các tác phẩm của ông Chính vì thế, với đềtài này chúng tôi chỉ hi vọng sẽ đóng góp một phần rất nhỏ trong công việcnghiên cứu thành ngữ ở giai đoạn hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu và tư liệu nghiên cứu

Phương pháp chúng tôi sử dụng để hoàn thành bài báo cáo này chủ yếu làphương pháp thống kê, sau đó so sánh và đối chiếu theo khuôn mẫu của cấu trúcthành ngữ

Tư liệu nghiên cứu của chúng tôi là các truyện ngắn của Nam Cao giaiđoạn 30-45 in trong cuốn “Nam Cao toàn tập”, Nxb Hội Nhà văn Cụ thể là 51truyện ngắn dưới đây:

Trang 6

7 Nhìn người ta sung sướng

8 Một truyện Xú vơ nia

36 Một bà hào hiệp

37 Cảnh cuối cùng

5

Trang 7

38 Những cánh hoa tàn

39 Cái mặt không chơi được

40 Những chuyện không muốn

Trang 8

5 Kết cấu của báo cáo

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung củabáo cáo gồm ba chương:

Chương I: Giới thiệu chung về Nam Cao - tác giả và tác phẩm.

Chương II: Phân tích, phân loại thành ngữ trong một số truyện ngắn của Nam Cao.

Chương III: Các sử dụng thành ngữ của Nam Cao qua các truyện ngắn của ông

Ngoài ra báo cáo còn bao gồm phần phụ lục: Danh sách thành ngữ và cácbiến thể của chúng trong một số truyện ngắn của Nam Cao giai đoạn 30-45

7

Trang 9

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ NAM CAO - TÁC GIẢ

VÀ TÁC PHẨM

Nam Cao là một nhà văn hiện thực Các tác phẩm của ông đã phản ánh hiệnthực bộ mặt xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng 8, một xã hội mà ở đó sốphận của những người nông dân chất phác hồn hậu đã bị bần cùng trong đói khổ,quằn quại trong sự chèn ép và thông qua việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, tinh tế vớinhững tình huống điển hình Nam Cao đã làm được một việc lớn lao hơn hẳn một sốnhà văn hiện thực phê phán tiêu biểu cùng thời là “sự tổng hợp của nhiều tiếng nói,nhiều giọng điệu, nhiều lớp ý nghĩa, nhiều màu sắc thẩm mỹ, gợi sự suy ngẫm, liêntưởng” của người đọc khi đọc tác phẩm của ông và qua tác phẩm của ông thấy yêuquý, trân trọng ông – một nhà văn đầy nhân ái, đầy tình người

Có thể nói rằng sẽ có một khoảng trống không nhỏ nếu vì một lý do nào đấydòng văn học của Việt Nam không có Nam Cao Không chủ quan khi chúng tahoàn toàn có quyền tự hào xếp Nam Cao của chúng ta bên cạnh những Môpatxăng(Pháp), Đôttôiepxki, Bunhin, (Nga) Tác phẩm của Nam Cao không có nhữngxung đột căng thẳng, không đao to búa lớn mà cứ đời thường giản dị, thông qua cáctình huống, các cuộc đời nhân vật để nêu bật nên những giằng xé trong nội tâm,những ước mơ về một tương lai tốt đẹp Văn Nam Cao viết về những kiếp người

mà cuộc đời họ là những chuyển tiếp khác nhau của nỗi buồn, nỗi khổ, của nhữngtâm hồn đẹp đẽ, đáng trân trọng dù là người đàn bà quanh năm bị áp lực của thiếuthốn, lo toan đè nặng, lúc nào cũng nặng mặt, bẳn gắt chì chiết chồng con haynhững anh chàng trí thức tiểu tư sản ăn nói độc địa, hằn học Bởi trên tất cả nhữngbiểu hiện ấy vẫn toát lên bản chất của họ là hồn hậu, chất phác, chứa chan tìnhngười Nhà văn đã thấy phần “u tối” của cuộc sống, tìm ra trong đó cái đẹp và ông

Trang 10

Nam Cao là nhà văn có tầm cỡ còn là bởi vì ngay từ thời của ông, giữa lúcdòng văn học hiện thực phê phán, dòng văn học lãng mạn đang là một trào lưumạnh mẽ, Nam Cao đã không quá đắm chìm hoàn toàn theo hướng đó mà ông chọncho mình một hướng đi đúng đắn, hướng đi ấy đã góp phần xếp Nam Cao là mộttrong những nhà văn đặt nền móng cho nền văn học hiện đại Việt Nam : “Vănchương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưacho Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơinhững nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa - 1943), ônglên án thứ văn chương “tả chân”, “hời hợt” Nam Cao đã thông qua một loạt tìnhhuống để miêu tả chiều sâu đời sống nội tâm của con người Viết về nhân vật “Chíphèo”, về sự tha hoá của con người – cái gã Chí mà chất “con” đôi lúc nhiều hơnchất “người”, lúc tỉnh lúc say, khi thì thật bản năng lúc lại như một con người có ýthức vậy mà Nam Cao vẫn có cái nhìn đầy nhân ái, ông thấy Chí Phèo không phải

là thứ bỏ đi mà là một con người cũng có những khoảng lặng của cảm xúc, cónhững lúc luôn muốn vươn tới cái tốt, cái người nhất để rồi qua ông, người đọccũng có cái nhìn bao dung với dạng người như Chí Phèo này, chia sẻ, cảm thôngvới ước muốn làm người lương thiện của hắn chứ không phải cảm giác ghê tởm,cái nhìn không thiện chí Lòng nhân ái, tình người còn bao trùm ở Làng Vũ Đại củangười nông dân nghèo khổ, của anh thả ống lươn nhặt Chí Phèo xám ngoét từ lògạch bỏ không mang về, là bát cơm của bác Phó Cối, là bát cháo hành tình nghĩacủa Thị Nở, là những người bạn tế nhị xử sự vô cùng nhân ái khi đến nhà ngườibạn nghèo của mình, chứng kiến những vũng bùn đứa con đau bụng thổ ra từ đêm,chứng kiến cái nhà dột nát, nghèo túng khốn cùng “Anh nào cũng làm ra dễ tính

Sự cố gắng ấy do lòng quý bạn Cái nhà thật không đáng cho lòng tôi phải bận ”(truyện ngắn “Mua nhà” – năm 1943)

Truyện ngắn Nam Cao nói nhiều đến thân phận người phụ nữ Truyện

“Nghèo”, “Dì Hảo”, “Ở hiền”, “Trẻ con không được ăn thịt chó” , tất cả họ đềunghèo khổ, đói khát và bất hạnh và dẫu cơ hàn người nông dân sống với nhau thật

9

Trang 11

nhân ái, họ quan tâm đến nhau, yêu thương nhau Hãy nghe người mẹ nhắc con

“Khe khẽ cái mồm một chút! réo mãi bố mày nó nghe thì nó chết! Nó đã ốm đấy,thuốc không có, mà còn bực mình thì chết”; thân phận Dì Hảo: “Dì Hảo chẳng nóinăng gì Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc Chao ôi! DìHảo khóc Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ Dì thổ ra nướcmắt” Dì Hảo, người phụ nữ đẹp, cô đơn âm thầm, vẻ đẹp đáng quý của nội tâm.Tâm hồn Dì vừa đơn côi vừa bao dung, trắc ẩn Giọng điệu của truyện ngắn này đãđược nhà văn viết ra: buồn phiền, tiếc nuối và xót xa Người phụ nữ trong cáctruyện của Nam Cao thường gặp phải những ông chồng chết yểu, say rượu, theo gáihoặc gặp tai ương, hoạn nạn và họ phải chịu đựng, nhà văn hiểu thấu nỗi đau của

họ, ông đã đánh động vào tâm linh người đọc qua những mảnh đời muốn vùngthoát mà không sao thoát ra được

Hiện thực cuộc sống luôn là chất liệu để nhà văn phản ánh hay nói nhưBandăc “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại” Làng Vũ Đại của Nam Caochỉ là một làng quê như bao làng quê khác, ta thấy có dòng sông hiền hoà hai bên

bờ là những vườn chuối thấm đẫm ánh trăng, thấy tiếng dệt cửi và tiếng lao xao củacác bà, các chị đi chợ sớm, thấy những vườn trầu không, những vườn mía tả tơi saubão và trên mảnh đất ấy là những người nông dân chất phác, nhân hậu Họ bầncùng mỗi người một kiểu Người mẹ và bầy con nhỏ lê la trên nền nhà vũng nướctrộn lẫn bùn; bát cháo cám đắng nghét không thể nuốt nổi; người đàn ông đi lĩnhnhững đồng tiền ít ỏi về mua thuốc cho đứa con nhỏ ốm đau mà không nỡ trách cứviên thư ký ở nhà dây thép tỉnh bẳn gắt lại làm thiệt mất của gã một đồng bạc bởi lẽ

“Điền thấy thương ông ấy quá Điền tưởng ra cho ông ấy một gia đình đông contúng thiếu tựa nhà Điền Số lương chẳng đủ tiêu Sau mỗi ngày công việc rối tít mù,loạn óc lên vì những con số, vì những cái bưu phiếu, ông mỏi mệt giở về nhà, lạiphải nghe mấy đứa con lớn chí choé đánh nhau, đứa con nhỏ khóc, chủ nợ réo đòi

Trang 12

ngoài và người nào cũng muốn ông làm trước cho” và “Chỉ vì người nào cũng khổ

cả, và người nọ cứ tưởng vì người kia mà khổ” – tấm lòng nhân ái, cảm thông và

độ lượng của con người Nam Cao, nhân cách Nam Cao thể hiện rõ nét trong hầuhết tất cả các tác phẩm của ông mà những dẫn chứng trên chỉ là một đôi nét pháchoạ

Giá trị nhân đạo của các tác phẩm của Nam Cao thể hiện sâu sắc ở tấm lòngyêu thương trân trọng của tác giả với những người nghèo khổ Nói như văn hàoNga Eptusenco: “Chẳng có ai tẻ nhạt ở trên đời/Mỗi số phận chứa một điều caocả” Nam Cao đã tìm thấy những hạt trân châu lóng lánh trong sâu thẳm những thânphận con người - Nam Cao tỏ ra rất nhạy bén trong việc miêu tả tâm lý nhân vật,ông đi vào từng ngóc ngách tâm hồn của con người để tìm ra được những cái hay,cái dở trong mỗi nhân vật và bao trùm lên tất cả là một tấm lòng nhân ái, tình ngườithấm đậm trong từng trang viết và trong cuộc sống thời đại nào và lúc nào cũng cầnlòng nhân ái, cái nhìn thiện chí – nó giúp con người sống vươn tới “chân, thiện,mỹ” hơn, xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn và phải chăng khi ngắm nhìn một buổihoàng hôn trên mảnh đất mình đang sinh sống, đâu đó giữa bộn bề công việc bắtgặp một bức tranh đẹp, một áng thơ hay, một tác phẩm văn học mang nhiều thôngđiệp mà ta dửng dưng không rung động thì cuộc sống sẽ mất đi nhiều phần ý nghĩa!

và phải chăng đọc Nam Cao chúng ta thấy rằng: hãy cố gắng hiểu những ngườixung quanh ta, thông cảm và có cái nhìn thiện chí, có cái tâm trong sáng chính làsợi dây nối liền con người với con người – nền tảng để xây dựng cuộc sống tốt đẹphơn?

Như vậy,có thể khẳng định một lần nữa rằng Nam Cao đã tạo cho mình mộtlối văn mới đậm đà bản sắc bình dân nhưng không rơi vào chỗ thô tục trong khivăn lãng mạng tư sản đã xa rời lời ăn tiếng nói của nhân dân, viết lai Tây như văndịch, càng ngày càng trống rỗng, hình thức

11

Trang 13

Nam Cao có nhiều sáng tác cả trước và sau cách mạng Mặc dù Nam Caoviết ít nhưng trước sau đã để lại cho chúng ta một mẫu mực nhà văn, cho văn họcmột số lượng tác phẩm giá trị.

Nam Cao khai thác tối đa ngôn ngữ nhân vật Truyện ngắn của ông khôngdài trừ Chí Phèo, Nửa Đêm… chỉ dăm trang Số trang ngắn, lượng chữ ít, nên tìnhhuống truyện phải thật cô gọn, tiết kiệm trong ngôn ngữ, khi vào truyện thì phảivào ngay

Câu ngắn và cộc dường như không thể rút ngắn hơn

Nam Cao có một phong cách ngôn ngữ riêng, một phong cách nghệ thuậtriêng và một phong cách nhà văn riêng Tất cả những cấp độ phong cách nàyxuyên thấm vào nhau và bộc lộ ra cùng một lúc, thống nhất và vận động Trong bacấp độ phong cách thì phong cách nghệ thuật trội hơn hẳn so với phong cách ngônngữ và phong cách tác giả Tuy nhiên phong cách ngôn ngữ của Nam Cao cũng làmột nét đặc sắc trong phong cách Nam Cao Đối với các tác phẩm của mình, NamCao luôn cố gắng lựa chọn từ ngữ cũng như phương thức diễn đạt sao cho đạt đượchiệu quả cao nhất Và có thể thấy rằng thành ngữ- đơn vị ngôn ngữ gần gũi vớinhân dân lao khổ xuất hiện khá ổn định trong các tác phẩm của Nam Cao Ông sửdụng các thành ngữ khá đa dạng cả những thành ngữ nguyên dạng, cả những thànhngữ gốc Hán, và sáng tạo trên cơ sở những thành ngữ đã có sẵn

Trang 14

CHƯƠNG II PHÂN TÍCH, PHÂN LOẠI THÀNH NGỮ TRONG MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN CỦA NAM CAO GIAI ĐOẠN

1930 - 1945

I Những vấn đề chung về thành ngữ tiếng Việt

1 Thành ngữ trong tiếng Việt

Kể từ khi thành ngữ trở thành một đối tượng nghiên cứu khá hấp dẫn đối vớinhững người quan tâm đến vấn đề này cũng như đối với các nhà ngôn ngữ đã có rấtnhiều công trình cả vừa và nhỏ nghiên cứu về thành ngữ đã ra đời và đạt đượcnhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên một định nghĩa thành ngữ chính xác và thốngnhất giữa tất cả các nhà nghiên cứu thì chưa có Mỗi người lại nhìn thành ngữ theomột khía cạnh khác nhau như cấu trúc, công dụng… Theo cách hiểu thông thườngthì thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái, cấu trúc, hoànchỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hang ngày “Từđiển tiếng Việt”, 2002, Viện NNH, Nxb Đà Nẵng định nghĩa “Thành ngữ là tập hợp

từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơngiản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó” Về mặt ngữ nghĩa, chúng có thể tương ứngvới một từ hay cụm từ tự do; về mặt cầu trúc chúng giống tương ứng với một cụm

từ, một câu đơn

Như vậy, dù có nhiều định nghĩa về thành ngữ nhưng quy chung lại thànhngữ được quan niệm một cách thống nhất ở hai vấn đề:

Thứ nhất là thành ngữ có tính chất cố định về hình thái cấu truc

Thứ hai là thành ngữ có tính hoàn chỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểu cảm.Đặc trưng thứ nhất thể hiện ở chỗ thành phần từ vựng của thành ngữ nóichung là ổn định, tức là các yếu tố tạo nên thành ngữ hầu như được giữ nguyêntrong khi sử dụng; Ngoài ra thành ngữ cũng có tính bền vững về cấu trúc thể hiện ở

sự cố định về thành phần từ vựng và cấu trúc của thành ngữ hình thành là do thói

13

Trang 15

quen sử dụng của người bản ngữ Dạng ổn định của thành ngữ là dạng chuẩn, mangtính xã hội cao Tuy vậy, dạng chuẩn này của thành ngữ trong khi sử dụng nó vẫnuyển chuyển Nói là chuẩn là sự bắt buộc, có tính quyết định của xã hội, nhưngkhông vì thế mà hạn chế sự sáng tạo ở cá nhân, đặc biệt là của những cây bút tàinăng Đó chính là điều giải thích cái riêng trong phong cách ngôn ngữ của tác giả.

“Tại sao ở hiền không phải bao giờ cũng gặp lành?” (“Ở hiền”- Nam Caotoàn tập, trang 358)

Nam Cao sử dụng thành ngữ một cách độc đáo Ông chia tách thành ngữ “Ởhiền gặp lành” để nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong cách thể hiện tư tưởng, tình cảmcủa mình

Đặc trưng thứ hai đó chính là tính hoàn chỉnh về nghĩa và có sức gợi cảmcao… Nó biểu thị những khái niệm hay biểu tượng trọn vẹn về các thuộc tính, quátrình hay sự vật Nói cách khác,thành ngữ là những đơn vị định danh của ngôn ngữ.Thí dụ: “Nước mẳt cá sấu” là nước mắt giả dối… Tuy nhiên nội dung của thànhngữ ngụ ý điều gì đó đằng sau các từ ngữ tạo nên thành ngữ chứ không hướng tớiđiều được nhắc đến trong nghĩa đen

Như vậy, “Thành ngữ là những tổ hợp từ “đặc biệt”, biểu thị những kháiniệm một cách bóng bẩy( Hoàng Văn Hành, thành ngữ học tiếng Việt, 2004, NxbKHKT)

2 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do, với tục ngữ

2.1 Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do

Cả thành ngữ và cụm từ tự do đều là những tổ hợp do từ cấu tạo nên và hoạtđộng với tư cách là những bộ phận cấu thành câu Sự khác nhau giữa chúng có thểđược cụ thể hoá qua bảng so sánh sau:

Trang 16

cùng loại, chỉ làm tăng giảm nghĩa của

từ cụ thể còn nghĩa của cụm từ không bị

yếu tố cấu thành

Dùng để đinh danh như thành ngữ nhưg

không có giá trị hình ảnh, biểu cảm

Dùng để gọi tên(định danh) hiện tượng

sự vật tính chất, trạng thái… nhưngmang giá trị hình ảnh biểu cảm

Như vậy, có thể nói không có ranh giới rõ ràng, tuyệt đối để phân biệt cụm

từ tự do và thành ngữ Bởi lẽ nếu những cụm từ tự do trở nên cố định và nghĩa của

nó bị phức tạp hoá nó biến thành thành ngữ

2.2 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Đây là công việc vô cùng khó khăn đối với các nhà nghiên cứu khi phân biệtgiữa thành ngữ và tục ngữ Và trên thực tế có thể nói sự lẫn lộn giữa hai đơn vị này

là rất phổ biến, phổ biến đến mức người ta không còn coi nó như một sai phạm nữa

Sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ lần đầu tiên được đặt ra qua “Việt Nam văn học

sử yếu” (1943): theo cuốn sách này một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy

đủ hay khuyên răn chỉ bảo điều gì Còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để tatiện dùng mà diễn một ý gì hay tả một trạng thái gì cho có màu mè Tác giả VũNgọc Phan trong “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” (1956) lại không tán thành với ý

15

Trang 17

kiến trên Với Cù Đình Tú ở bài viết “Góp ý kiến về phân biệt tục ngữ với thànhngữ” (1973) đã dùng chức năng làm tiêu chí phân biệt tục ngữ thành ngữ Thànhngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọitên sự vật, tính chất, hành động Tục ngữ thông báo một nhận định, một kết luận vềmột phương diện nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi một câu tục ngữ đọclên là một câu hoàn chỉnh về diễn đạt, trọn vẹn về ý tưởng Hoàng Văn Hành vàmột số tác giả ở Viện Ngôn Ngữ học trong “Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ” đãnhận xét thành ngữ tuy có nhiều nét tương đồng với tục ngữ nhưng khác tục ngữ vềbản chất Thành ngữ là những tổ hợp từ đặc biệt, biểu hiện những khái niệm mộtcách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu-ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phánđoán một cách nghệ thuật

Và chúng ta có thể tóm tắt sự khác biệt giữa chúng thông qua bảng sau:

Thường thể hiện chức năng định

dạng giống như từ và trong câu

chúng hoạt động như những định

vị điểm danh

Là một thông báo đầy đủ, trongcâu chúng hoạt động như những

đơn vị thông báo

Làm một bộ phận cấu thành câu Làm một câu độc lập hoàn chỉnh

*)Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ

+ Thành ngữ và tục ngữ là những đơn vị có sẵn với cấu trúc rất bền chặt, cốđịnh, trong đó không thể dễ dàng thay đổi trật tự các yếu tố

+ Cả thành ngữ và tục ngữ đều có nội dung ngữ nghĩa mang tính khái quáthình ảnh và nghĩa bóng Tính hình ảnh của tục ngữ cũng xuất hiện nảy sinh bằngcon đường phát triển nghĩa mới, kết quả- trìu tượng giống như thành ngữ

+ Tục ngữ ngắn gọn về hình thức, phương pháp về nội dung, có vần điệuuyển chuyển giống như thành ngữ

Trang 18

Rừ ràng ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ là khụng rừ ràng, khụng dễ nhậnbiết bởi vỡ bao giờ cũng cú những đơn vị quỏ độ, trung gian Tuy nhiờn cú thể núichỳng khỏc nhau chủ yếu là ở mặt chức năng

Túm lại, tổng hợp tất cả những tiờu chớ như đó phõn tớch ở trờn cho phộp tỏchthành ngữ ra khỏi những đơn vị khỏc chỳng ta cú bảng sau:

Nột khu biệt Đơn vị

Tiờu chớ

Cụm từ

tự do

Thànhngữ

Tụcngữ

3 Phõn loại thành ngữ trong tiếng Việt hiện đai

Theo Nguyễn Thiện Giỏp trong “Từ vựng học tiếng Việt”, thành ngữ cú hailoại lớn đú là thành ngữ hợp kết và thành ngữ hũa kết

Về mặt cấu trỳc của thành ngữ ta cú thể hỡnh dung hệ thống thành ngữ tiếngViệt bằng hai sơ đồ tổng quỏt sau đõy:

Thành ngữ

Thành ngữ

Phi đối xứng dạng so sánh

17

Trang 19

Kết cấu cú pháp của thành ngữ có một số khuôn mẫu nhất định đó là: quan

hệ cụm chủ vị, quan hệ chính phụ, quan hệ đẳng lập và quan hệ đề thuyết Trongbáo cáo này chúng tôi sẽ tiến hành phân loại, phân tích các thành ngữ trong truyệnngắn của Nam Cao theo sự phân loại thành ngữ thành hai loại thành ngữ đối xứng

và phi đối xứng như đã nói ở trên và đi sâu vào các kết cấu của thành ngữ

II Phân tích, phân loại các đơn vị thành ngữ tiếng Việt trong các truyện ngắn

của Nam Cao giai đoạn 30-45

1 Phân loại một cách khái quát

Thành ngữ Tiếng Việt nói chung thường được chia thành 2 loại thành ngữlớn đó là thành ngữ đối xứng và thành ngữ phi đối xứng hay còn được gọi là thànhngữ ẩn dụ hoá đối xứng và ẩn dụ hoá phi đối xứng Trong mỗi loại lại chia thànhnhiều dạng thành ngữ nhỏ hơn, chủ yếu là được phân chia theo đặ trưng cú pháp,đặc biệt là các mô hình Trong báo cáo này chúng tôi xin theo cách phân loại đó đểtiến hành phân tích các thành ngữ được Nam Cao sử dụng trong các truyện ngắncủa ông

2 Phân tích

2.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng

Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng

Trang 20

30-45 loại thành ngữ này là 115/291 thành ngữ, chiếm 39,52% Đặc điểm nổi bậtcủa loại thành ngữ này về mặt cấu trúc đó là có tính chất đối xứng giữa các bộ phận

và các yếu tố tạo nên thành ngữ Chẳng hạn, trong thành ngữ “đổ đình đổ chùa” thì

“đổ đình” đối xứng với “đổ chùa”… Phần lớn các thành ngữ đối xứng đều gồm 4yếu tố, lập thành 2 vế cân xứng với nhau Quan hệ đối xứng giữa hai vế của thànhngữ được thiết lập nhờ vào những thuộc tính nhất định về ngữ pháp, ngữ nghĩa giữacác yếu tố được đưa vào trong hai vế đó

Khảo sát 115 đơn vị thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng mà chúng tôi thu được,chúng tôi nhận thấy loại thành ngữ bốn yếu tố có tới 105/115, chiếm 91,3%, số cònlại là các thành ngữ đối xứng có 6, 8 yếu tố Như vậy có thể nói thành ngữ bốn yếu

tố đối ngẫu cặp đôi là loại thành ngữ phổ biến, có số lượng nhiều và độc đáo, chiếm

vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống thành ngữ được Nam Cao sử dụng trongtác phẩm của mình Chính vì điều này nên chúng tôi phân tích loại thành ngữ bốnyếu tố này riêng và loại thành ngữ 6, 8 yếu tố riêng

2.1.1 Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố

Đây là loại thành ngữ có đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất là tính cặp đôi

và đối ngẫu (tương ứng) trong cấu trúc từ vựng- ngữ pháp, ngữ nghĩa và đặc biệt là

về mặt ngữ âm Thông thường, trên cơ sở khảo sát những quan hệ ngữ pháp giữacác yếu tố trong thành ngữ kết cấu hai vế đối xứng, các nhà nghiên cứu phân thànhngữ này thành bốn loại:

- Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một thành tố

- Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chủ vị

- Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu đề thuyết

- Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chính phụ

Áp dụng bốn mô hình này vào việc phân tích các thành ngữ ẩn dụ hoá đốixứng bốn yếu tố được sử dụng trong các truyện ngắn của Nam Cao chúng tôi nhậnthấy rằng:

+ Thành ngữ hai vế câu xứng, mỗi vế là một thành tố

19

Trang 21

Loại thành ngữ này chỉ có 15/105, chiếm 14,28% Đặc điểm của thành ngữnày cũng là tính đối xứng hai vế và tương ứng trong cấu trúc từ vựng- ngữ pháp.

Có thể đưa ra một số ví dụ cụ để khảo sát như:

Bất công vô lý

Mồ hôi nước mắtĐầu xuôi đuôi ngượcBữa bưng bữa vực (Bữa lưng bữa vực)Hán phù hộ độ trì

Con sâu cái kiến

Cờ bạc/ rượu chèChết đói chết khátTrong các ví dụ trên hai vế của thành ngữ tương ứng về cấu trúc từ vựng.Chẳng hạn như ở thành ngữ “mồ hôi nước mắt” thì “mồ hôi” và “nước mắt” là haidanh từ, ở thành ngữ “cờ bạc rượu chè” thì “cờ bạc” và “rượu chè” cũng đều là haidanh từ chung,… còn ở thành ngữ “phù hộ độ trì” cũng như “chết đói chết khát” thìhai vế tương ứng của mỗi thành ngữ đều là nội động từ

+ Thành ngữ hai vế cân xứng, mỗi vế là một kết cấu chính phụ

Trong số 105 thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố có tới 88 thành ngữthuộc loại này, tức là chiếm 83,81% Như vậy có thể nói loại thành ngữ này chiếmđại đa số và có vai trò rất lớn trong nghệ thuật sử dụng của nhà văn Phân tích loạithành ngữ này chúng tôi xin đi sâu vào các mô hình thường gặp cụ thể như sau:

*) Mô hình 1: động từ- danh từ + danh từ- tính từ

Loại thành ngữ thuộc mô hình này chiếm 39,77% tổng số thành ngữ đốixứng bốn yếu tố có mỗi vế là một kết cấu chính- phụ

Có thể kể ra một số ví dụ như:

Cãi chày cãi cối

Trang 22

1 2 3 4Giận cá chém thớt.

2 và 4 đều là những từ cấu tạo nên từ ghép đẳng lập Chẳng hạn như trường hợpcủa thành ngữ “van ông lạy bà” Thành ngữ này được cấu tạo trên cơ sở hai từghép đẳng lập “van lạy” và “ông bà”

Bên cạnh đó, một đặc điểm khác nữa trong số các thành ngữ thuộc loại nàychúng tôi thu được đó là yếu tố 1 và 3 giống nhau, còn các yếu tố 2 và 4 là danh từthuộc cùng một trường nghĩa Loại thành ngữ này chúng tôi gặp khá nhiều trongquá trình khảo sát Ví dụ như:

Cãi chày cãi cối

Trang 23

(Mua danh, trích “Nam Cao toàn tập”, trang 341)

Ở thành ngữ này chỉ có yếu tố 1 “đâm” là dộng từ có nghĩa và có thể dùngđộc lập, ba yếu tố còn lại có nghĩa không hoàn toàn rõ ràng Do đó có thể giải nghĩacủa chúng theo nhiều cách khác nhau

*) Mô hình 2: danh từ- tính từ + danh từ- tính từ

Trong tiếng Việt hiện đại cụm “danh từ- tính từ” là cụm từ tự do rất phổbiến Ví dụ: người đẹp, sách hay… Tuy nhiên trong số các thành ngữ đối xứng bốnyếu tố mỗi vế là một kết cấu chính phụ, thành ngữ loại này lại có rất ít Có thể là

do phạm vi nghiên cứu của chúng tôi hẹp nên kết quả thu được là chưa khả quannhưng số lượng này lại cho thấy rằng Nam Cao trong tác phẩm của mình rất ít sửdụng loại thành ngữ này Và đó cũng là một điểm quan trọng trong cách sử dụngthành ngữ của Nam Cao- một phần mục đích thực hiện đề tài này của chúng tôi

Cụ thể số thành ngữ này ở số liệu mà chúng tôi thu được chỉ có 7 thành ngữ, tức làchỉ chiếm 7,95% Một số ví dụ là:

Đầu bù tóc rối

Nay ốm mai đau

Chân yếu tay mềm

Lời hay ý đẹp

Cũng như ở mô hình thứ nhất, trong số thành ngữ thuộc mô hình này cónhững thành ngữ mang yếu tố lặp Yếu tố lặp lại thường là ở yếu tố thứ nhất Vídụ: Ống thấp ống cao

Từ ghép có vai trò quan trọng trong việc tạo nên loại thành ngữ thuộc dạngnày Chẳng hạn như:

Thành ngữ “đầu bù tóc rối” được tạo nên bởi từ ghép“ đầu tóc” kết hợp với

từ đơn “bù” và “rối”

Thành ngữ “nay ốm mai đau” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từ ghép

Trang 24

Thành ngữ “chân yếu tay mềm” được tạo nên bởi sự xen ghép giữa hai từghép “chân tay” và từ “yếu mềm”.

*) Mô hình 3: danh từ- động từ + danh từ- động từ

Loại thành ngữ có cấu trúc “danh từ- động từ + danh từ- động từ” chỉ chiếm5,68% (5 trong số 88) thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố được sử dụng trongtruyện ngắn Nam Cao Ví dụ:

Tiền mất tật mangĐầu trộm đuôi cướpCơm bưng nước rótThập tử nhất sinhNgười ghét của ưaCấu trúc “danh từ- động từ” là một trong những cấu trúc thường gặp nhấttrong tiếng Việt Quan hệ giữa các yếu tố trong trường hợp này thường rất rõ ràng

“đầu đuôi” và “trộm cướp” được tách ra và ghép vào nhau tạo thành một thành ngữgiàu tính biểu cảm thường mang nghĩa chê bai khinh thường

23

Trang 25

“chết dấm chết dúi” Từ đơn “chết” lặp lại xen giữa từ láy “dấm dúi” làm chothành ngữ càng mang sắc thái biểu hiện về sự chì chiết mạnh hơn bình thường.

*) Mô hình 5: danh từ-danh từ + danh từ-danh từ

Thành ngữ loại này chiếm 10,22% tổng số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốnyếu tố trong tư liệu của chúng tôi (trong số 88 thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốnyếu tố chúng tôi thống kê có 9 đơn vị thành ngữ loại này)

Ví dụ:

Năm bè bẩy bốiĐầu bò đầu bướuMột nắng hai sươngCon dòng cháu giốngTiền rừng bạc bểTất cả bốn yếu tố trong số thành ngữ ví dụ nêu trên đều là danh từ đơn âmtiết Các yếu tố 1, 3 và 2, 4 có quan hệ với nhau về mặt từ vựng- ngữ pháp và cả vềmặt ngữ nghĩa, chúng cùng thuộc một trường nghĩa: “năm, bẩy”, “một, hai” ,

“nắng, sương”… Các yếu tố thuộc thành ngữ loại này đều thuộc về một loại từloại Danh từ có vai trò rất quan trọng trong cấu trúc thành ngữ bốn yếu tố đốixứng

Nghĩa của các yếu tố danh từ trong thành ngữ loại này rất đa dạng: liên quanđến thiên nhiên, con người và hoạt động của con người, động vật, sự vật… tức là

nó liên quan đến nhiều hiện tượng khách quan của thế giới bên ngoài Số lượngnhững thành ngữ có yếu tố 1, 3 là số từ chiếm khá lớn Ví dụ như:

Năm bè bảy bốiMột nắng hai sương

Có trường hợp yếu tố 2, 4 là số từ như: “mồm năm miệng mười”

Loại thành ngữ này có thể có yếu tố lặp Danh từ ở vị trí 1 và 3 có sự lặp lại

Trang 26

*) Mô hình 6: tính từ-danh từ + tính từ-danh từ.

Loại thành ngữ này có số lượng không lớn, chỉ thu được 4 đơn vị, chiếm4,54% tổng số thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố

Tím ruột tím ganMát lòng mát dạMát lòng mát ruộtTrơn lông đỏ daTrong các loại thành ngữ này chúng tôi nhận thấy có hai đặc điểm nổi bậtnhất đó là cấu trúc lặp yếu tố 1, 3 và cách đảo ngược trật tự từ Cũng như nhiều môhình đã nói ở trên thành ngữ có thể có yếu tố lặp

Chẳng hạn:

Mát lòng mát dạTím ruột ganYếu tố lặp ở đây vẫn là ở vị trí 1 và 3

Đặc điểm thứ hai có thể nói đến đó là thông thường những từ như “ruột tím”,

“gan tím” là chỉ màu sắc bộ phận của cơ quan người khi bị thương chẳng hạn, đó lànhững cụm từ tự do Nhưng khi đảo ngược trật tự từ thành một thành ngữ là “tímruột tím gan” nó lại chỉ trạng thái tức giận đến cực cùng của con người Rõ ràng sựđảo ngược này có tác dụng rất lớn trong việc tạo giá trị biểu cảm cho thành ngữ.Cùng với đó, việc dùng cấu trúc tính từ-danh từ với trật tự từ đảo ngược cùng phéplặp cũng thường gặp trong loại thành ngữ này

*) Mô hình 7: tính từ-động từ + tính từ-động từ

Số lượng từ ngữ thuộc loại này chúng tôi chỉ thống kê được 3/88 tổng sốthành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu tố, chiếm 3,41%

Khôn sống dại chếtMềm nắn rắn buông

No dồn đói góp

25

Trang 27

Loại thành ngữ này không chỉ ít ở trong số lượng thành ngữ được Nam Cao

sử dụng mà ngay cả trong tất cả các thành ngữ tiếng Việt cũng rất hiếm những đơn

vị này Nguyên nhân là do quan hệ giữa động từ và tính từ Trật tự động từ-tính từphổ biến hơn và gặp nhiều hơn còn trật tự tính từ-động từ thường bị quy định bởicấu trúc toàn câu

*) Mô hình 8: danh từ-đại từ + danh từ-đại từ

Tiền nào của ấyChứng nào tật ấyNay đây mai đóĐặt đâu ngồi đấyĐặc điểm loại thành ngữ này là sử dụng đại ngữ nghi vấn từng cặp:

Nào-ấyĐây-đóĐâu- đấyYếu tố 2, 4 của thành ngữ này rất hạn chế không được lựa chọn rộng rãi nhưcác mô hình trước Vậy nên số lượng thành ngữ loại này rất ít chỉ có 4/88, chiếm4,54% tổng số

Trên đây là tám mô hình cơ bản của thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng bốn yếu

tố, mỗi vế là một kết cấu chính phụ Có thể nhận thấy vai trò rất to lớn của danh từtrong cấu trúc của loại thành ngữ này 6/8 mô hình có sự tham gia của danh từ

Ngày đăng: 06/04/2013, 09:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w