1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổ phần hóa doanh nghiệp ở công ty cổ phần hóa phẩm Ba Nhất

56 552 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổ phần hóa doanh nghiệp ở công ty cổ phần hóa phẩm Ba Nhất
Tác giả Nguyễn Diệu Linh
Người hướng dẫn Cô Nguyễn Minh Huệ
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Thể loại bài viết
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 496,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cổ phần hóa doanh nghiệp là một chủ trương lớn với Đảng và nhà nước

Trang 1

Lời nói đầu

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một chủ trơng lớn của Đảng và nhànớc ta nhằm huy động vốn của ngời lao động trong doanh nghiệp và các tổchức, cá nhân khác để đầu t, đổi mới doanh nghiệp nhà nớc, đồng thời tạo

điều kiện để những ngời góp vốn và ngời lao động trong doanh nghiệp nângcao vai trò làm chủ, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nớc kinhdoanh có hiệu quả

Với việc đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý của Nhà nớc đã tạocho các doanh nghiệp có quyền tự chủ kinh doanh trong cơ chế thị trờng, đồngthời đảm bảo sự điều tiết của Nhà nớc Nhng với quyền tự chủ kinh doanh củamình, các doanh nghiệp càng phải cạnh tranh nhau gay gắt và cố gắng trụvững, phát triển trong nền kinh tế thị trờng

Muốn đạt đợc điều đó các doanh nghiệp phải đạt đợc hiệu quả kinhdoanh ngày càng cao qua mỗi kỳ hoạt động sản xuất Chỉ có đạt đợc hiệu quảkinh doanh cao sau mỗi kỳ hoạt động sản xuất các doanh nghiệp mới có điềukiện để thực hiện tái sản xuất mở rộng và thực hiện sự phân phối hài hoà cáclợi ích: Nhà nớc, doanh nghiệp, ngời lao động

Do đó, lúc này nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc coi là mộtmục tiêu kinh tế quan trọng, mang tính sống còn của mỗi doanh nghiệp vàbuộc các doanh nghiệp đều phải quan tâm đến Nhng trong điều kiện nguồnlực của các doanh nghiệp ngày càng khan hiếm thì làm thế nào để nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề không đơn giản

Với những hiểu biết còn hạn chế của một sinh viên và thời gian tìm hiểuthực tế không nhiều, trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ muốn giới thiệu mộtcách khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổphần hoá doanh nghiệp ở Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất, từ đó đa ra một

số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác cổ phần hoá cácdoanh nghiệp

Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Phòng tài chính kế toán Công

ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất và các thầy cô giáo trờng Đại học kinh tế quốcdân, đặc biệt là cô Nguyễn Minh Huệ đã giúp đỡ tôi hoàn thành bài viết này

Trang 2

Chơng I Một số lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh và quá trình cổ phần hoá của doanh nghiệp

I Quá trình cổ phần hoá của doanh nghiệp

1 Mục tiêu của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc

Trong thời kỳ bao cấp, với cơ chế kinh tế tập trung, nhà nớc điều phốimọi hoạt động của nền kinh tế, bao cấp toàn bộ cho các DNNN ở cả đầu vàolẫn đầu ra Các DNNN chỉ sản xuất kinh doanh theo đúng kế hoạch, chỉ tiêu

đợc giao, không cần phải cố gắng nâng cao năng suất, cải tiến chất lợng, bởivậy hoạt động hết sức trì trệ, kém hiệu quả

Chính sách đổi mới của nhà nớc đợc ban hành đã thực sự đem lại sự thay

đổi to lớn trong nền kinh tế nói chung và các DNNN nói riêng Khi nhà nớcxóa bỏ chế độ bao cấp, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các DNNNphải đối mặt với một thử thách lớn Doanh nghiệp nào thích nghi với cơ chếmới, năng động, sáng tạo sẽ đi lên còn doanh nghiệp nào không chịu đổi mới

sẽ bị tụt hậu Bên cạnh nhiều DNNN làm ăn thành đạt, nhiều DNNN khác đã

bị giải thể do đã quen với sự bao cấp của nhà nớc, không thể thích ứng đợc vớicơ chế mới, sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, sản phẩm đầu ra không đ-

ợc đổi mới và nâng cao chất lợng nên không đợc ngời tiêu dùng chấp nhận.Nguyên nhân sâu xa của sự thất bại đó là do ngoài việc thiếu vốn cho đầu tphát triển sản xuất, lãnh đạo các doanh nghiệp này không chịu đổi mới t duy,ngời lao động trong doanh nghiệp cha phát huy vai trò làm chủ thực sự củamình trong hoạt động sản xuất kinh doanh chung

Chính bởi vậy, nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động cho cácDNNN, chính phủ đã đề ra rất nhiều biện pháp đổi mới cách thức quản lýdoanh nghiệp Cổ phần hoá DNNN là một trong những biện pháp đó, đem lạihiệu quả hết sức to lớn và thiết thực cho nền kinh tế nớc nhà

Nằm trong khuôn khổ sắp xếp và đổi mới quản lý các DNNN, việcchuyển một số DNNN thành công ty cổ phần hớng tới 2 mục tiêu cơ bản:

Trang 3

Thứ nhất là huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức

kinh tế, tổ chức xã hội trong nớc và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạothêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơcấu DNNN

Thứ hai là tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần

và những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý,tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhànớc, nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp phần tăng cờng kinh tế đất nớc.Khi đợc lựa chọn để tiến hành cổ phần hoá, các doanh nghiệp phải đa ra

đợc một phơng án sản xuất kinh doanh cụ thể, chi tiết, hiệu quả, đem lại lợiích thiết thực cho cả 3 phía: nhà nớc, bản thân doanh nghiệp cũng nh cho ngờilao động

2 Thực trạng các doanh nghiệp trớc cổ phần hoá và sau cổ phần hoá

Kinh tế Nhà nớc, trong đó doanh nghiệp nhà nớc là một bộ phận quantrọng, cùng với hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô là công cụ quản lý kinh tế chủyếu của Nhà nớc dẫn dắt nền kinh tế theo định hớng XHCN Hầu hết cácdoanh nghiệp đều đã hình thành từ thời kỳ quản lý tập trung bao cấp, nêndoanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam có những đặc trng cơ bản khác biệt so vớinhiều nớc trong khu vực và thế giới

Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế thị ờng có sự quản lý của Nhà nớc, Chính phủ đã triển khai đổi mới toàn diện hệthống tiền tệ, lao động, tiền lơng, mở rộng kinh tế đối ngoại, ban hành chính sáchpháp luật… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà nớc Nhờ đó đã bớc đầu tạomôi trờng cần thiết cho doanh nghiệp nhà nớc và các thành phần kinh tế kháccùng phát triển trong điều kiện mới Theo số liệu của Ban chỉ đạo Đổi mới vàphát triển doanh nghiệp trung ơng qua các đợt sắp xếp, số lợng doanh nghiệp nhànớc cuối tháng 6 năm 1997 còn 5.790 doanh nghiệp (so với 12.300 doanh nghiệp

tr-đợc thành lập trớc năm 1990), trong đó sáp nhập khoảng 3000 doanh nghiệp vàocác doanh nghiệp khác có liên quan về công nghệ, thị trờng và giải thể khoảng3.500 doanh nghiệp Nhờ đó giảm bớt đợc tài trợ ngân sách Nhà nớc cho doanhnghiệp bị thua lỗ và thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động có hiệu quảhơn

Trang 4

Theo số liệu của Ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp phầnlớn các doanh nghiệp nhà nớc sau khi tổ chức lại đã từng bớc phát huy quyềnlàm chủ kinh doanh, làm ăn năng động và có hiệu quả

3 Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hoá

3.1 Huy động đợc thêm nhiều nguồn vốn trong xã hội:

Cổ phần hoá góp phần làm tài sản Nhà nớc ngày càng tăng lên và tạothêm động lực trong doanh nghiệp Từ thực tế vốn nhà nớc giao cho DN cònthấp so với giá trị thực và bao gồm cả nợ khó đòi, sản phẩm, vật t ứ đọngkhông có khả năng sử dụng và giá trị máy móc thiết bị không còn sử dụng đợchoặc không còn sản xuất ra những sản phẩm mà thị trờng chấp nhận… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n nênphải đánh giá lại những tài sản này và có qui định phân tích và xử lý trớc khiCPH Trong 631 DN và bộ phận doanh nghiệp nhà nớc đã CPH, giá trị tài sảntrên sổ sách kế toán trớc khi CPH là 2388 tỷ đồng, khi cổ phần hoá đợc đánhgiá là 2714 tỷ đồng (không kể giá trị quyền sử dụng đất), tăng 13,7% KhiCPH, Nhà nớc giữ lại 978 tỷ, phần còn lại1786 tỷ đồng đợc bán cho ngời lao

động trong và ngoài công ty, số tiền thu đợc đa vào quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổphần hoá doanh nghiệp Sau khi CPH, các công ty cổ phần còn phát hànhthêm 1011 tỷ đồng cổ phiếu để thu hút vốn Do quy mô vốn Nhà n ớc của các

DN CPH nói chung là nhỏ (bình quân 3,78 tỷ đồng/DN) nên vốn huy độngtrong xã hội còn ít, mới đạt 2747 tỷ đồng Điều đáng khích lệ là sau một thờigian hoạt động đã tăng đợc giá trị tuyệt đối phần vốn nhà nớc ở các công ty cổphần Theo báo cáo của 202 DN đã CPH đợc trên 1 năm, phần vốn Nhà nớckhông những không đợc bảo toàn mà còn tăng thêm 65,420 tỷ đồng (từ377,343 tỷ lên 442,763 tỷ) bằng nguồn lợi nhuận để lại Một số công ty cổphần phát hành thêm cổ phiếu để tăng thêm vốn pháp định, trong khi phần vốncủa Nhà nớc tại các DN vẫn giữ nguyên và có công ty cổ phần đã bán bớtthêm phần vốn của Nhà nớc tại các DN (Khách sạn Sài gòn, Đông Nam dợc,Dịch vụ văn hoá quận Tân Bình

Vốn điều lệ (bao gồm vốn tích luỹ từ lợi nhuận, phát hành thêm cổ phiếutrong nớc và một số công ty đợc huy động vốn cổ phần ngoài nớc) tăng bìnhquân trên 25% năm Có một số công ty tăng hơn 2 lần

Theo Bộ tài chính đến nay sau cổ phần hoá, các doanh nghiệp đều hoạt

động kinh doanh có hiệu quả, các chỉ tiêu tăng trởng khá Trung bình vốn điều

lệ của doanh nghiệp tăng 44% đặc biệt có những doanh nghiệp vốn tăng lên

Trang 5

10 lần so với trớc cổ phần hoá nh : Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vậnchuyển tăng 30 lần, Công ty cổ phần cơ điện lạnh tăng 13 lần Bên cạnh đódoanh thu của doanh nghiệp cũng tăng 23,6%, lợi nhuận tăng 139%, thu nhậpngời lao động tăng 11,85, mức trả cổ tức bình quân đạt 17% năm.

Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp có 87%

số doanh nghiệp khẳng định kết quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp cổphần hoá tốt hơn hoặc tốt hơn rất nhiều so với trớc cổ phần hoá

3.2 Giải quyết vấn đề lao động và thu nhập của ngời lao động :

Đây là một vấn đề gây nhiều băn khoăn cho các nhà quản lý và đặc biệt

là ngời lao động nhng cũng đã đợc thực hiện khá thành công

+ Số lợng lao động chẳng những không giảm mà còn tăng bình quân là10%, có công ty tăng đến 20%

+ Thu nhập của ngời lao động bình quân tăng hàng năm 20% (cha kểthu nhập từ cổ tức) Điển hình là Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển,trớc khi CPH thu nhập từ 1,1 triệu/ngời/tháng nay đạt 4,4 triệu/ngời/tháng.Công ty chế biến thức ăn gia súc từ 800.000 lên 1,5 triệu đồng/ngời/tháng

3.3 Hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Các DN sau khi CPH hoạt động có hiệu quả hơn, các chỉ tiêu kinh tế, kỹthuật chủ yếu đều đạt cao hơn trớc khi CPH

Có những công ty cổ phần đạt gấp đôi doanh thu của cả năm trớc khiCPH Điển hình là công ty cổ phần Cơ điện lạnh đạt 353 tỷ đồng so với 78 tỷ

đồng Công ty cổ phần đại lý vận chuyển đạt 116 tỷ so với 16 tỷ trớc đó

+Lợi nhuận trớc thuế bình quân tăng : Có công ty đạt tổng lợi nhuận

gấp 2-3 lần so với trớc khi cổ phần hoá Công ty CP đại lý liện hiệp vận

Trang 6

chuyển lãi tăng từ 4,1 tỷ lên 37 tỷ Công ty cơ điện lạnh lãi tăng từ 8,8 tỷ lên

34 tỷ Công ty CP Đức Thịnh từ lỗ 350 triệu đồng chuyển sang lãi 425 triệu

+ Lãi cổ tức: đạt cao hơn lãi ngân hàng, bình quân đạt 1,2%/tháng Có

những công ty đạt hơn 2%/tháng nh Công ty cổ phần sửa chữa và đóng tàuBình Định đạt 26% Các công ty: Sơn Bạch Tuyết, Chế biến thức ăn gia súc,Chế biến hàng xuất khẩu Long An đều đạt lãi cổ tức 2% tháng

+Lợi nhuận tăng cao: Công ty CP Đức Thịnh từ lỗ 350 triệu đồng

chuyển sang lãi 425 triệu Nộp ngân sách của các tăng 34% Đặc biệt phầnnộp ngân sách của Công ty thơng nghiệp tổng hợp Hai Bà Trng tăng gấp 10lần, công ty CP Thơng mại và dịch vụ tăng 12 lần, thu nhập bình quân của ng-

ời lao động tăng 10% Công ty Sứ Bát tràng tăng 45%, công ty dịch vụ bánhtôm Hồ tây tăng 29%

Các doanh nghiệp đã CPH thuộc các Bộ, ngành, tổng công ty chiếm 25%,thuộc các địa phơng chiếm 75% Trong tổng số các DN đã CPH thì lĩnh vựccông nghiệp, xây dựng, giao thông chiếm 57%, lĩnh vực thơng mại, dịch vụchiếm 3%, lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp và thuỷ sản chiếm 5% Công ty Mía

đờng Lam sơn và công ty Mía đờng La Ngà đã thực hiện CPH theo hớng Nhànớc giữ cổ phần chi phối, đồng thời khuyến khích nông dân trồng mía mua cổphần đã tạo ra sự gắn bó giữa công ty và ngời lao động

Tóm lại,việc cổ phần hoá doanh nghiệp đã đa ngời lao động trở thành

ng-ời chủ thực thụ của DN, có quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng theo luật định Điềunày đã tạo ra một động lực trong sản xuất kinh doanh và hình thành cơ chếkiểm soát có hiệu quả hơn của ngời lao động và xã hội đối với doanh nghiệp,tăng đợc năng suất lao động, tiết kiệm chi phí (các công ty cổ phần bình quântiết kiệm đợc chi phí khoảng 20%… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n) hạ đợc giá thành sản phẩm, và nâng cao

Trang 7

hiệu quả sản xuất kinh doanh, bản thân ngời lao động có lợi ích lớn hơn (từthu nhập và cổ tức), đồng thời lợi ích của DN và Nhà nớc cũng đợc đảm bảo.Việc thu hút và phát huy trí tuệ của các cổ đông bên ngoài doanh nghiệp cũngtạo thêm điều kiện nâng cao trình độ quản lý ở công ty cổ phần

Phần lớn hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phầnhoá đều phát triển, tăng so với trớc khi cổ phần hoá

Qua thời gian thực hiện với những khó khăn và thách thức ban đầu, đếnnay chúng ta đã tạo ra đợc những chuyển biến tích cực về nhận thức trong xãhội, mục tiêu, giải pháp chính sách đã ngày càng đợc khẳng định rõ ràng hơn,phù hợp hơn với thực tế hơn Có thể nói, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đãthể hiện là sự kết hợp giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế của nhân dân để pháttriển đất nớc chứ không phải t nhân hoá Cổ phần hoá đã tham gia vào quátrình thay đổi cơ cấu vốn, cơ cấu quản lý, tạo điều kiện cho ngời lao độngtham gia thật sự vào việc làm chủ DN, khai thác đợc tiềm lực, tài năng trongnhân dân vào quản lý, sản xuất tạo đà phát triển, mở ra những khả năng và cơhội tiếp tục thúc đẩy, mở ra những khả năng và cơ hội tiếp tục thúc đẩy mởrộng nền kinh tế vào những năm tới

Từ thực tế trên, cho thấy cổ phần hoá đã có tác động tích cực đối với sựphát triển của mỗi doanh nghiệp:

- Sản xuất phát triển, đời sống cán bộ công nhân viên đợc nâng cao

- Công tác quản lý đợc đổi mới, bộ máy quản lý của nhà nớc đợc tinhgiảm, gọn nhẹ, có hiệu lực hơn

- Mọi ngời trong doanh nghiệp đều quan tâm đến kết quả sản xuất kinhdoanh của công ty bởi vì lợi ích của họ (bao gồm thu nhập và lợi tức cổ phiếu)gắn chặt với lợi ích của công ty Đây là bớc chuyển đổi t duy, hình thành độnglực thật sự cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp

- Nhà nớc thu ngân sách tăng, kể cả thuế và lợi tức cổ phần

- Cổ phần hoá là cơ hội tập dợt cho đội ngũ cán bộ kinh doanh, tổ chứcquản lý theo cơ chế thị trờng, không dựa vào Nhà nớc nh trớc đây Quản lýtheo phơng châm: “Chi phí tối thiểu, lợi nhuận tối đa” Thực chất các doanhnghiệp này chuyển sang cơ chế “tự thân vận động” chứ không chỉ thụ độngtrông chờ vào Nhà nớc nh trớc kia

- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc hoặc khuvực nhà nớc và góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế

Trang 8

phát triển, từng bớc xoá bỏ kinh doanh độc quyền, kém hiệu quả của doanhnghiệp.

- Các công ty cổ phần góp phần điều hoà lợi ích của các lực lợng kinh tế,nâng cao vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động, tạo sự ổn định về mặtchính trị- xã hội, làm động lực thúc đẩy doanh nghiệp nhà nớc kinh doanh cóhiệu quả

- Các công ty cổ phần làm ăn có hiệu quả đã phần nào làm giảm gánhnặng cho ngân sách nhà nớc, huy động đợc các nguồn vốn đa dạng ngoài xãhội đầu t cho sản xuất kinh doanh, thực hiện đợc dân chủ hoá, công khai hoátrong quản lý và các hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy chuyên môn hoálao động, tạo điều kiện để vay nớc ngoài và phát triển thị trờng chứngkhoán… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n

Các doanh nghiệp nhà nớc sau khi chuyển sang công ty cổ phần đã đónggóp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân

Tính cho đến nay, việc triển khai công tác cổ phần hoá DNNN ở ViệtNam đã tiến hành đợc nhiều năm.Trong bớc đầu hoạt động, các công ty cổphần đều phát triển đợc sản xuất kinh doanh, không những bảo đảm đợc việclàm mà còn thu hút thêm lao động, thu nhập của ngời lao động đợc nâng cao

Nhờ cổ phần hoá mà các DNNN chuyển thành công ty cổ phần nhữngnăm qua đã huy động thêm đợc một nguồn vốn rất lớn từ các cổ đông Hầu hếtcác công ty đều dùng nguồn vốn này để đầu t đổi mới công nghệ, phát triểnsản xuất theo chiều sâu hoặc mở rộng quy mô sản xuất; hiệu quả sản xuấtkinh doanh có những doanh nghiệp tăng lên rõ rệt Tiêu biểu nh công ty cổphần Việt Hà sau một năm hoạt động doanh thu tăng 20%, lợi nhuận tăng103%, thu nhập bình quân thực tế ngời lao động tăng 54%, chia cổ tức đạt32%; công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hoà: doanh thu tăng 15%, lợi nhuận tăng14%, thu nhập ngời lao động tăng 10%, vốn cổ phần tăng 28% ( )

Nhờ cổ phần hoá, các công ty cổ phần đã phát huy đợc vai trò, tráchnhiệm hội đồng quản trị, ban giám đốc và cổ đông trong quản lý, giám sát,kiểm tra, làm cho bộ máy quản lý đợc sắp xếp gọn nhẹ, tinh giản, hợp lý, chiphí gián tiếp giảm xuống rõ rệt, nhất là chi phí hiếu hỉ, tiếp khách Tất cả cán

bộ làm công tác Đảng, đoàn thể đều kiêm nhiệm Những chức danh trong hội

Trang 9

đồng quản trị, giám đốc điều hành, ban kiểm soát, kế toán đều là những ngời

có chuyên môn, đợc lựa chọn kỹ lỡng

Nhờ huy động thêm vốn của cổ đông, vốn điều lệ của các doanhnghiệp đợc cổ phần hoá có sự thay đổi lớn Nh vậy, cổ phần hoá DNNN đãthực hiện đợc mục tiêu thu hút rộng rãi các nguồn vốn của ngời lao động cảtrong doanh nghiệp và ngoài xã hội để phát triển sản xuất kinh doanh

Bên cạnh đó, các công ty đều tạo thêm đợc nhiều việc làm mới, thu hútthêm lao động vào làm việc Ví dụ nh: công ty cổ phần in và bao bì Mỹ Châuthu hút thêm 65 lao động và kỹ s giỏi, công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hoàthêm 560 lao động Thu nhập của ngời lao động cũng tăng lên đáng kể Ví

dụ nh Công ty cổ phần Việt Hà, thu nhập bình quân lao động đạt 1,4 triệu

đồng/ngời/tháng, lãi cổ tức của cổ đông đạt khoảng 2,7%/tháng; công ty cổphần Việt Phong thu nhập bình quân lao động đạt trên 1 triệu đồng /ng-ời/tháng, lãi cổ tức của cổ đông đạt khoảng 3,3%/tháng, 6 tháng mỗi cổ phầntăng thêm giá trị 8,57% ( )

Tóm lại, thực tế cho thấy chuyển doanh nghiệp từ 100% vốn nhà nớc sanghình thức công ty cổ phần chẳng những nhà nớc bảo tồn đợc nguồn vốn củamình mà còn tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn so với trớc đây.Nguồn vốn để đầu t vào các doanh nghiệp tăng cao Ngời lao động vẫn tiếptục đợc làm việc song vai trò của họ trong công ty cổ phần có sự thay đổi Họthật sự trở thành ngời chủ trên cơ sở đồng vốn của mình, vì thế ý thức và tinhthần trách nhiệm đợc nâng cao hơn trớc Hoạt động của các doanh nghiệp saukhi cổ phần hoá nhạy bén năng động, tự chủ hơn trớc, do đó mà chất lợng,hiệu quả hoạt động cao hơn, các khoản đóng góp vào ngân sách nhà nớccũng tăng lên Thực tế đó chứng minh rằng, chủ trơng của Đảng và nhà nớc

Trang 10

định cho mình một chiến lợc kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứngvới những biến động của thị trờng, phải tiến hành có hiệu quả các hoạt độngquản trị nhằm bảo đảm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào và trongquá trình đó luôn phải kiểm tra xem phơng án kinh doanh đang tiến hành cóhiệu quả không Muốn kiểm tra tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinhdoanh nói chung cũng nh của từng lĩnh vực, từng bộ phận công tác nói riêngdoanh nghiệp không thể không chú ý đến việc tính toán hiệu quả kinh tế củahoạt động sản xuất kinh doanh.

Từ khái niệm trên, chúng ta hiểu hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản

ánh mặt chất lợng của các hoạt động kinh tế Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh

tế cũng hoàn toàn đồng nghĩa với việc nâng cao chất lợng của các hoạt độngkinh tế, nâng cao trình độ lợi dụng các nguồn lực ( lao động, máy móc, thiết

bị, nguyên vật liệu và tiền vốn ) trong hoạt động kinh tế nhằm đạt đợc mụctiêu mà doanh nghiệp đã xác định

Thực chất khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế củahoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quảkinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lợng của cáchoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động,máy móc, thiết bị,nguyên vật liệu và vốn ) để đạt đợc mục tiêu cuối cùng củamọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp - mục tiêu tối đa hoá lợinhuận

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt

động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệmhiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Trớc đây trong lý luậncũng nh thực tiễn đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quảcủa hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó đã coi kết quả là mục tiêu, mục

đích và coi hiệu quả cũng là mục tiêu Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sựhạn chế trong phơng pháp luận giải quyết vấn đề: đôi khi ngời ta hay coi đạt

đợc kết quả là đạt đợc hiệu quả và rõ ràng điều đó có nghĩa là không cần chú ý

đến hiệu quả kinh tế Đây là quan niệm sai lầm và cần phải đợc thay đổi

Hiện nay, chúng ta có thể hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt đợc sau một quá trình sảnxuất kinh doanh nhất định,kết quả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết

Trang 11

của doanh nghiệp Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanhnghiệp có thể là những đại lợng có thể cân, đo, đong, đếm đợc nh số sản phẩmtiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, và cũng có thể là các đại lợng chỉphản ánh mặt chất lợng hoàn toàn có tính chất định tính nh uy tín của hãng,chất lợng sản phẩm, Nh thế kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanhnghiệp Trong khi đó trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngời ta

sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả ( đầu ra ) và chi phí (các nguồn lực đầu vào )

để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Vấn đề đặt ra là: Hiệu quả kinh tếnói chung và hiệu quả của sản xuất kinh doanh nói riêng là mục tiêu hay ph-

ơng tiện của kinh doanh ? Trớc tiên, hiệu quả kinh tế phản ánh việc thực hiệnmục tiêu của doanh nghiệp đạt đợc ở trình độ nào Nhng xem xét hiệu quảkinh tế không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra cácnhân tố cho phép nâng cao hiệu quả kinh tế Từ đó có thể có các biện phápnhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp ở mức cao hơn với chi phí về nhân, tài,vật lực và tiền vốn ít hơn Nh vậy, nhiều lúc ngời ta sử dụng các chỉ tiêu hiệuquả nh mục tiêu cần đạt và trong nhiều trờng hợp khác ngời ta lại sử dụngchúng nh công cụ để nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả

2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp sau cổ phần hoá

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một khái niệm phức tạp và khó đánh giáchính xác Sở dĩ phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phức tạp

và khó đánh giá chính xác là vì ngay ở khái niệm về hiệu quả sản xuất kinhdoanh đã cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh đợc xác định bởi mối tơngquan giữa hai đại lợng là kết quả đạt dợc từ hoạt động sản xuất ( doanh nghiệpsản xuất ) hoặc kinh doanh ( doanh nghiệp thơng mại, dịch vụ, ) và chi phí

bỏ ra để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Trong khi cả hai đạilợng kết quả và chi phí đều khó xác định chính xác

Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chúng ta thấy hầu nh rất ít khigặp doanh nghiệp luôn luôn xác định đợc chính xác các kết quả mà doanhnghiệp thu đợc ở bất kỳ một thời đỉểm nào đó do các quá trình tạo ra kết quảdiễn ra trong các doanh nghiệp thờng có sản phẩm sở dang, bán thànhphẩm, Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp không phải chỉ tạo ra kếtquả ( sản phẩm, dịch vụ ) mà còn phải bán đợc các kết quả đó và quá trình bán

Trang 12

hàng và quá trình tạo ra kết quả luôn không trùng nhau Một doanh nghiệp ởmột thời điểm nào đó có thể có nhiều sản phẩm đợc sản xuất ra nhng lại tiêuthụ đợc rất ít, nh thế cha thể nói doanh nghiệp đã đạt đợc kết quả ( mụctiêu ) Nếu xét trên giác độ giá trị, đại lợng kết quả của sản xuất kinh doanhkhông phải là đại lợng đánh giá dễ dàng vì ngoài các nhân tố ảnh hởng trên,kết quả sản xuất kinh doanh còn chịu ảnh hởng của thớc đo gía trị - đồng tiềnvới những thay đổi của nó trên thị trờng Mặt khác, chính hoạt động của conngời là luôn nhằm đến và đạt đến kết quả nhất định, song không phải lúc nàocon ngời cũng nắm chắc đợc, biết hết đợc các kết quả do chính hành động củacon ngời gây ra.Việc xác định đại lợng chi phí cũng không dễ dàng Nếu xéttrên phơng diện lý thuyết thì chi phí tính bằng đơn vị hiện vật là chi phí sửdụng tài nguyên, chi phí “thực” để tạo ra kết quả của doanh nghiệp song điều

đó không thể xác định đợc trong thực tiễn ở mọi doanh nghiệp, việc kiểm kê,kiểm tra xem đã sử dụng bao nhiêu đơn vị nguyên vật liệu mỗi loại khôngphải lúc nào cũng tiến hành đợc Trong khi đó, ở mọi doanh nghiệp lại cònnhiều loại nguồn lực đầu vào không chỉ liên quan đến một quá trình tạo ra sản

phẩm nào đó mà nó liên quan đến nhiều quá trình kinh doanh khác nhau

3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá.

Xét trên phơng diện lý luận và thực tiễn phạm trù hiệu quả sản xuất kinhdoanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh

tế nhằm tìm ra một giải pháp tối u nhất, đa ra phơng pháp đúng đắn nhất để

đạt mục tiêu lợi nhuận tối đa Với t cách là một công cụ đánh giá và phân tíchkinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ đợc sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánhgiá chung trình độ sử dụng tổng hợp đầu vào trong phạm vi hoạt động củatoàn doanh nghiệp mà còn đợc sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu

tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp cũng nh ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Và do phạm trùhiệu quả có tầm quan trọng đặc biệt nên trong nhiều trờng hợp ngời ta coi nókhông chỉ nh phơng tiện để đạt kết quả cao mà còn nh chính mục tiêu cần đạt Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là với sự phát triển của kỹ thuật sảnxuất, ngày càng có nhiều phơng pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm với kỹthuật sản xuất phát triển cùng với nguồn lực, con ngời có thể tạo ra rất nhiềuloại sản phẩm khác nhau Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng

Trang 13

lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm tối u Sự lựa chọn dúng đắn sẽ đem lạicho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu đợc nhiều lợi ích nhất.Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng kết thúc và nhờng chỗ cho sự pháttriển kinh tế theo chiều sâu: tăng trởng kết quả kinh tế của sản xuất chủ yếunhờ việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lợng, ứng dụng tiến bộ kỹthuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế, cónghĩa là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Nh vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụngcác nguồn lực có hạn trong sản xuất.Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lựcsản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra

đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Trong cơ chế thị trờng, môi trờng cạnh tranh gay gắt, nâng cao hiệuquả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là điều kiện tồn tại và pháttriển của các doanh nghiệp Việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuấtcái gì,sản xuất cho ai, sản xuất nh thế nào dựa trên quan hệ cung cầu, giá cảthị trờng, cạnh tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết địnhkinh doanh của mình, tự hạch toán lỗ, lãi, lãi nhiều hởng nhiều, không có lãi

sẽ phá sản Khi đó, mục tiêu lợi nhuận trở thành mục tiêu quan trọng, mangtính sống còn của sản xuất kinh doanh

Mặt khác, trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp phải cạnh tranh

để tồn tại và phát triển Doanh nghiệp muốn tồn tại trong điều kiện bình thờng

đòi hỏi các hoạt động sản xuất kinh doanh phải tạo ra thu nhập về tiêu thụhàng hoá và dịch vụ, đủ bù đắp chi phí đã chi ra để sản xuất hàng hoá và dịch

vụ đó Còn muốn phát triển doanh nghiệp phải đảm bảo quá trình tái sản xuất

mở rộng, điều này đòi hỏi kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh không chỉ bù đắp chi phí đã chi ra mà còn tích luỹ để tiếp tục quá trìnhtái sản xuất mở rộng Đồng thời môi trờng cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-ờng khá gay gắt,trong cuộc cạnh tranh đó có doanh nghiệp trụ vững, phát triểnsản xuất nhng cũng có doanh nghiệp thua lỗ, giải thể, phá sản

Để có thể trụ lại trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp phải luôn nângcao chất lợng hàng hoá, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín nhằm đạt tớimục tiêu lợi nhuận càng cao càng tốt Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh vànâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề đợc quan tâm của doanh nghiệp

Trang 14

và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triểntrong nền kinh tế thị trờng.

Đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện hay, nâng cao hiệu quả hoạt

động sản xuất kinh doanh sau cô phần hoá cũng là vấn đề đợc quan tâm Hiệuquả kinh doanh của các doanh nghiệp sau cô phần hoá còn thấp, do các doanhnghiệp thờng có quy mô nhỏ, khả năng cạnh tranh kém, thiếu vốn, khó khăn

về thị trờng tiêu thụ, nên mức lãi cha cao.Với thực trạng sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp hiện nay: máy móc thiết bị còn lạc hậu, vốn đầu t thiếu,trình độ quản lý còn thấp kém, tất yếu các doanh nghiệp nớc ta phải đổi mớimáy móc, thiết bị, đổi mới phơng thức quản lý, kêu gọi vốn đầu t, để nângcao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nh vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của các doanh nghiệp Việt nam sau cổ phần hoá vừa là mục tiêu cơbản, quan trọng đồng thời nó còn phản ánh sự sống còn của mỗi doanh nghiệpvì nó là điều kiện kinh tế cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp trong thời đại mới

III Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá.

1 Nhân tố chủ quan.

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh sau ccô phần hoá là một mục tiêuquan trọng mà doanh nghiệp cần hớng tới.Việc sử dụng nguồn lực hợp lý,giảm chi phí không cần thiết và tăng chi phí cần thiết sẽ giúp doanh nghiệpkinh doanh có hiệu quả, đứng vững trên thị trờng Ngoài ra, doanh nghiệpcũng phải phát hiện tìm kiếm cơ hội trong kinh doanh cho chính mình Muốnkinh doanh hiệu quả doanh nghiệp cần phải kinh doanh có kế hoạchvà chiến l-

ợc rõ ràng.Các doanh nghiệp cần phải kinh doanh theo đúng kế hoạch đã định

và từng bớc chắc chắn trong lộ trình đã xây dựng.Kinh doanh hiệu quả chính

là việc sử dụng nguồn lực kinh doanh có hạn( ngời, vật , tiền) một cách cóhiệu quả để chiến thắng trong thơng trờng

Hiệu quả kinh doanh sau cổ phần hoá của một doanh nghiệp thờng phụthuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nh phơng thức quản lý, chiếnlợc đầu t phát triển sản xuất, thị trờng Hiệu quả kinh doanh không những làthớc đo chất lợng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà cũng làvấn đề quyết định của doanh nghiệp

Trang 15

2 Nhân tố khách quan.

Công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, điều lệ công ty

Nh-ng vấn đề là ở chỗ Luật doanh Nh-nghiệp và một số văn bản pháp luật khác cha

đồng bộ ,vẫn còn những điều quy định không rõ, gây khó khăn cho doanhnghiệp tiếp tục hoạt động sau khi đã hoàn thành công tác cổ phần hoá

Sau khi chuyển thành công ty cổ phần, trên thực tế đã tạo nên sự đột biến

về mặt pháp lý, những ngời lao động, ngời quản lý và các mối quan hệ giữacác thành viên trong công ty cổ phần vẫn cha chuyển biến kịp nên sau khichuyển thành công ty cổ phần, nhiều công ty phát sinh các sự cố, các tranhchấp đã ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của công ty

Nhiều bộ, ngành, địa phơng cha thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện chủtrơng giao, bán khoán kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp nhà nớc, cha xâydựng chơng trình, kế hoạch và biện pháp cụ thể

Điều này dẫn đến là nhất thiết phải có sự điều chỉnh của Chính phủ vềmặt pháp luật, xây dựng hệ thống pháp lý về hậu cổ phần hoá, hỗ trợ cácdoanh nghiệp cổ phần hoạt động tạo hiệu quả kinh tế cao hơn nữa

Để đạt đợc hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá

đòi hỏi phải có những giải pháp về vốn, thay đổi công nghệ, về vấn đề lao

động, thuế, tín dụng… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n tạo sự phát triển cho các doanh nghiệp, đồng thời giúpcác doanh nghiệp đang cổ phần hoá hay chuẩn bị cổ phần hoá tránh đợcnhững khó khăn ách tắc trong quá trình tiếp tục chuyển đổi sang công ty cổphần

Chơng II

Trang 16

Thực trạng về hiệu quả sản xuất kinh doanh sau quá trình CPH doanh nghiệp tại Công ty cổ phần hoá

Theo Quyết định số 2421/QĐ-UB ngày 18 tháng 6 năm 1998 về việc Xínghiệp đá vôi Kiện Khê sáp nhập vào Công ty hoá phẩm Ba Nhất làm cơ sởsản xuất CaCO3 tại xã Thanh Tuyền - Thanh Liêm - Hà Nam Từ tháng7/1998, Công ty hoá phẩm Ba Nhất gồm có hai bộ phận:

 Trụ sở giao dịch tại xã Đông Mỹ – huyện Thanh Trì - Thành phố HàNội

 Cơ sở sản xuất CaCO3 tại xã Thanh Tuyền - Thanh Liêm - Hà Nam.Ngày 01 tháng 7 năm 2002, UBND thành phố Hà Nội ra Quyết định số4580/QĐ-UB chuyển DNNN Công ty Hoá phẩm Ba Nhất thành Công ty Cổphần Hoá phẩm Ba Nhất

Sản phẩm chính của Công ty từ khi thành lập đến nay là bột nhẹ CaCO3(Canxi Cacbonat) Trớc đây, Công ty sản xuất CaCO3 và một số hoá chất cơbản nh Fe2O3, CaSO4, Ca(OH)2, CaO… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n tuy nhiên do vấn đề môi trờng trongkhu vực nên từ năm 1991 trở lại đây Công ty chỉ sản xuất duy nhất một sảnphẩm là CaCO3 với nguyên liệu sản xuất dùng 100% trong nớc vì:

 Hàm lợng CaO ở các mỏ nguyên liệu của nớc ta đạt trung bình55,18%, trong khi ở các nớc khác nh: Đài Loan, Hàn Quốc … trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà nhàm lợng caonhất chỉ đạt 54 - 55%

 Hàm lợng kim loại nặng ngay trong bản thân nguyên liệu ban đầu đãnhỏ hơn hàm lợng cho phép nên trong sản xuất không phải xử lý

Trang 17

 Cùng với sự phát triển của các ngành công nghiệp tiêu dùng, bột nhẹngày càng đợc sử dụng rộng rãi làm nguyên liệu đầu vào trong các lĩnh vựcsản xuất: Cao su, mỹ phẩm, nhựa, vật liệu xây dựng, sơn, giấy, giầy… trong đó có đổi mới doanh nghiệp nhà n.Hàngnăm, một số lợng lớn bột nhẹ chất lợng cao vẫn phải nhập ngoại, đây là mộtthị phần mà công ty đang chiếm lĩnh.

2 Đặc điểm về máy móc- thiết bị- công nghệ

Hiện nay, công nghệ sản xuất của Công ty ở loại trung bình tiên tiếntrong nớc, bởi Công ty vẫn cha trang bị đợc hệ thống máy móc- thiết bị vớicông nghệ sản xuất hiện đại một cách đồng bộ Do đó, để góp phần nâng caochất lợng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trờng, trong thời gian tới, Công ty có

kế hoạch đầu t lắp đặt dây chuyền sản xuất bột nhẹ hoạt động bằng gas của

Đài Loan

3 Đặc điểm về cơ cấu tổ chức.

Công ty Cổ phần Hoá phẩm Ba Nhất là một doanh nghiệp hoạt động độclập theo Luật Doanh nghiệp dới sự điều hành của Hội Đồng Quản Trị và Bangiám đốc

Sơ đồ tổ chức của Ban giám đốc Công ty

4 Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần hoá phẩm Ba nhất trớc cổ phần hoá.

KT - KCS điệnCơ Phân x ởng

CaCO 3

Phân x ởng chế thử

Kế hoạch

Trang 18

Nhìn chung, kể từ khi thành lập, Công ty cổ phần hoá phẩm Ba nhất đã cónhiều biến động về mặt tổ chức Tuy phải đơng đầu với sự cạnh tranh của cơchế thị trờng song công ty luôn cố gắng ổn định sản xuất, giữ vững và mởrộng thị trờng kinh doanh, phát triển sản phẩm mới, hoàn thành kế hoạch, đápứng một phần nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.

a Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh

7 Thu nhập bình quân (ngời /tháng) 1011,8 1077,6 1.263.600

8 Các khoản nộp ngân sách: Trong đó :

- Thuế giá trị gia tăng

- Thuế thu nhập doanh nghiệp

278.108 74730 94.000

243.238 240.434 32.000

282.752 143.368 46.686

9 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế (Trên vốn

10 Nợ phải trả

Trong đó: Nợ ngân sách

94.000 -3091

32.000 13.752

2.319.734 -70.138

Trang 19

* Máy móc thiết bị không còn sử dụng:

 Lao động dài hạn: 120 ngời

 Lao động dới một năm : 02 ngời

 Số lao động có tham gia đóng BHXH: 120 ngời

II Thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất sau cổ phần hoá.

Qua 2 năm hoạt động, với mức lãi cổ phần chia cho các cổ đông cao,công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất đã chứng tỏ một khả năng kinh doanhnhạy bén và hiệu quả Trong năm 2006, công ty tiếp tục triển khai việc mởrộng, nâng công suất sản xuất , cải tiến công nghệ nâng cao chất lợng sảnphẩm, thu hút thêm nhiều khách hàng

Dới đây sẽ đi sâu vào phân tích một số chỉ tiêu kinh tế của công ty cổphần hoá phẩm Ba Nhất qua các năm 2003, 2004 và 2005 để từ đó có thể đánhgiá đợc hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty sau khi tiến hành cổ phầnhoá một cách khách quan và chính xác

Trang 20

1 Hoạt động sản xuất kinh doanh Tài sản Vốn Lao động.

a Doanh thu

Giá trị doanh thu của Công ty cổ phần hoá phẩm

Ba Nhất qua các năm nh sau:

mà sản lợng bột CaCO3 tiêu thụ năm 2004 đã tăng thêm 426.606,5 kg tơng

đ-ơng 20%, đạt 2.531.606,5 kg Do giá bán không thay đổi nên sự thay đổi vềsản lợng là yếu tố quyết định đến doanh số bán hàng của công ty Tổng doanhthu năm 1999 của công ty là 10.126.426.000 đồng, tăng thêm 1.706.426.000

đồng, tơng ứng 20%

Sang năm 2005, giá bán vẫn giữ nguyên nhng do nhu cầu của khách hàng

có sự thay đổi nên so với năm 2004, sản lợng bột CaCO3 bán ra giảm xuốngcòn 2.317.200,5kg, tức giảm 214.406kg, dẫn đến doanh thu giảm xuống còn9.268.802.000 đồng, tức giảm 857.624.000 đồng, tơng ứng 8%

Sự suy giảm này là rất đáng lo ngại song không phải do nguyên nhân tiếnhành cổ phần hoá mà là do yếu tố khách quan Bởi vậy, năm 2006, công ty cổphần đã triển khai bớc tiếp theo trong phơng án sản xuất kinh doanh sau cổphần hoá là triển khai kế hoạch cải tạo nhà xởng, thiết bị, đổi mới công nghệ,nâng cao chất lợng sản phẩm, thu hút thêm nhiều khách hàng

Có thể thấy là, tuy có giảm so với năm 2004 song so với năm 2003 - trớckhi cổ phần hoá thì năm 2005, sản lợng tiêu thụ của công ty vẫn tăng thêm212.200,5 kg cho kết quả là doanh số của công ty tăng thêm 848.802.000

đồng, tơng ứng 10% Qua các số liệu trên, có thể nói hoạt động cổ phần hoá

đã có tác động tích cực đến việc nâng cao doanh số bán hàng của Công ty cổphần hoá phẩm Ba Nhất

Trang 21

- Chi phí giá vốn 2.547.050.000 4.432.969.108 4.165.048.414

- Chi phí bán hàng 12.710.000 7.315.800 7.800.000

- Chi phí quản lý DN 275.672.000 253.771.015 263.652.738Dựa vào các số liệu trên, có thể đánh giá về tình hình biến động chi phísản xuất kinh doanh của công ty trong năm 2004 so với năm 2003 qua bảngsau:

Trang 22

So với năm 2003, cả doanh thu thuần và tổng chi phí của công ty năm

2004 đều tăng Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đều giảm,tổng cộng: 27.295.185 đồng, thế nhng chi phí giá vốn (chủ yếu do giá nguyênvật liệu đầu vào tăng mạnh) lại tăng thêm 1.885.919.108 đồng làm cho tổngchi phí sản xuất kinh doanh của công ty tăng thêm 1.858.623.923 đồng, tơngứng 66%, cao hơn cả mức tăng của doanh thu thuần là 52% (2.319.371.720

đồng) Nh vậy, có thể thấy, tổng chi phí sản xuất kinh doanh của công ty trongnăm biến động cha hợp lý, dẫn đến công ty đã bội chi chi phí là 405.057.040

đồng

Trang 23

Sang năm 2005, do sản lợng tiêu thụ giảm nên cả doanh thu thuần và

tổng chi phí đều giảm, cụ thể nh sau:

Chi phí giá vốn giảm 267.920.694 đồng tơng ứng 6% thế nhng chi phí

bán hàng lại tăng 7%, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 4%, tổng cộng:

10.365.923 đồng, làm cho tổng chi phí sản xuất kinh doanh của công ty chỉ

giảm có 257.554.771 đồng tơng ứng 5%, nhỏ hơn mức giảm của doanh thu

thuần là 571.749.333 đồng (8%) Nh vậy, có thể thấy tổng chi phí sản xuất

kinh doanh của công ty trong năm 2005 biến động cha hợp lý làm cho công ty

bội chi chi phí là 123.584.026 đồng

So với năm 2003, tình hình quản lý chi phí năm 2005 của doanh nghiệp

lại càng cha tốt, cụ thể là:

Trang 24

Mặc dù chi phí bán hàng và chi phí quản lý đều giảm, tổng cộng16.929.262 đồng nhng do sản lợng tiêu thụ năm 2005 tăng so với năm 2003nên chi phí giá vốn tăng 1.617.998.414 đồng tơng ứng 64%, làm cho tổng chiphí sản xuất kinh doanh của công ty tăng 1.601.069.152 đồng tơng ứng 56%,cao hơn cả mức tăng của doanh thu thuần là 39% (1.747.622.387 đồng) Công

ty đã bội chi chi phí là 494.336.106 đồng

Có thể đi đến kết luận là công ty vẫn cha quản lý tốt chi phí sản xuất kinhdoanh của mình, liên tục bội chi chi phí, làm cho mức chi phí trên một đơn vịdoanh thu tăng dần: năm 2003, để có đợc 1 đồng doanh thu thuần, công typhải bỏ ra 0,64 đồng chi phí, đến năm 2004 con số này là 0,7 đồng và năm

2005 là 0,72 đồng Công ty cần phải quản lý chặt chẽ hơn nữa để tiết kiệm chiphí, tăng lợi nhuận của công ty

Trang 25

3 Lợi nhuận bất thờng 0 64.443.623 0

4 Lợi nhuận trớc thuế 1.596.146.947 2.121.338.367 1.742.700.182

5 Lợi nhuận sau thuế 877.880.821 1.781.924.229 1.463.868.153Qua các số liệu trên, có thể thấy rằng: so với thời điểm trớc khi cổ phầnhoá, lợi nhuận của Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất không những tăng màcòn tăng rất mạnh

Sau năm đầu hoạt động, tổng doanh thu của công ty tăng 20% Mặc dù đã

đuợc giảm thuế nhng do chi phí giá vốn tăng mạnh nên tổng lợi nhuận gộp củacông ty chỉ tăng 433.452.612 đồng tơng ứng 23% Thế nhng, do trong nămcông ty lại thu thêm đợc 64.443.623 đồng tiền lợi nhuận từ hoạt động bất th-ờng và đợc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp nên lợi nhuận sau thuế của công

đồng, giảm 318.056.076 đồng tơng ứng 18% so với năm 2004

Tuy nhiên, so với trớc khi cổ phần hoá thì chỉ tiêu lợi nhuận của công tynăm 2005 lại tăng ở mức cao So với năm 2003, doanh thu tăng 10% Chi phígiá vốn tăng 64% làm cho tổng lợi nhuận gộp của công ty chỉ tăng thêm129.623.973 đồng, tơng ứng 7% Tuy nhiên, do chi phí bán hàng và chi phíquản lý doanh nghiệp giảm 16.929.262 đồng cũng nh thuế thu nhập doanhnghiệp giảm 439.434.097 đồng, dẫn đến tổng lợi nhuận sau thuế của công tynăm 2005 tăng thêm đợc 585.987.332 đồng, tơng ứng 67% so với năm 2003.Qua phân tích trên có thể thấy rằng mặc dù yếu tố chi phí cha biến độngtheo chiều hớng tốt song chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty cổ phần hoá phẩm Ba

Trang 26

Nhất đã tăng rất cao : năm 2004 tăng 103% và năm 2005 tăng 67% so với năm

2003 Đây là những con số rất khả quan, chứng tỏ rằng sau khi chuyển sanghình thức cổ phần, công ty đã hoạt động sản xuất kinh doanh hết sức năng

động và hiệu quả

d Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nớc:

Có thể tóm tắt tình hình giao nộp ngân sách nhà nớc sau khi cổ phần hoá

là do đợc giảm thuế suất

e.Thu nhập của ngời lao động:

Sau khi cổ phần hoá, Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất không những đã

đảm bảo đủ việc làm cho ngời lao động mà còn đem lại mức thu nhậpcao.Năm 2003, tổng thu nhập bình quân của ngời lao động tại Công ty cổphần hoá phẩm Ba Nhất đạt 1,1 triệu đồng/ngời/tháng Sang năm 2004, saukhi cổ phần hoá, ngời lao động tại công ty cổ phần vẫn đợc giữ nguyên mức l-

ơng và hởng các chế độ thởng lễ, tết với tổng thu nhập là 1,4 triệu ời/tháng Ngoài ra, ngời lao động tại công ty cổ phần còn đợc thu nhập thêm

đồng/ng-về cổ tức

Nh vậy, thực tế thu nhập bình quân năm 2003 của ngời lao động tại công

ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất là 1.690.000 đồng/ngời/tháng, tăng 590.000

đồng/tháng, tơng ứng 54%

Trang 27

Năm 2005, do doanh thu giảm dẫn đến lợi nhuận giảm, lãi cổ phần giảmxuống còn 25% Ngời lao động tại công ty ngoài thu nhập bình quân 1,4 triệu

đồng/ngời/tháng còn đợc hởng thêm tiền lãi cổ phần bình quân mỗi ngời:

Nh vậy, thực tế thu nhập bình quân thực tế năm 2005 của ngời lao độngtại Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất là: 1.626.563 đồng/ngời/tháng, so vớinăm 2003 tăng 526.563 đồng/tháng, tơng ứng 48%

Qua các số liệu trên, có thể nói rằng hoạt động cổ phần hoá đã góp phầntích cực đến việc nâng cao thu nhập, cải thiện đáng kể đời sống cho ngời lao

động tại Công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất

g Cổ tức cho các cổ đông:

Sau 3 năm hoạt động hiệu quả, công ty cổ phần đã chia cổ tức cho các cổ

đông ở mức rất cao: 32% năm 2003 và 25% năm 2004 Các cổ đông đều hếtsức phấn khởi vì phần lợi nhuận thu đợc cao, tin tởng sớm thu hồi vốn

h Hiệu quả sử dụng vốn, tài sản và lao động:

1 Hiệu quả sử dụng tổng vốn:

Ta hãy xem xét bảng số liệu của công ty dới đây:

Qua các số liệu trên, có thể thấy rằng: năm 2004, công ty đã sử dụng nguồnvốn của mình hết sức hiệu quả so với năm 2003, cụ thể là:

Năm 2004, với 1 đồng vốn đầu t cho sản xuất kinh doanh, công ty thu

về đợc 0,99 đồng doanh thu và tạo ra 0,34 đồng lợi nhuận, trong khi năm 2003với 1 đồng vốn bỏ ra, công ty chỉ thu đợc 0,68 đồng doanh thu và tạo ra 0,29

đồng lợi nhuận Nói cách khác, so với năm 2003, năng lực kinh doanh của vốn

đã tăng lên 46% và khả năng sinh lời của vốn tăng 17%

Trang 28

Tuy nhiên, sang năm 2005 do chính sách của công ty đầu t thêm vốnmua dự trữ nguyên vật liệu với số lợng lớn nên tổng vốn của công ty tăng đáng

kể (hơn 3 tỷ đồng, tơng ứng 47%); trong khi đó, doanh thu và lợi nhuận tăng íthơn dẫn đến hiệu quả sử dụng tổng vốn giảm, cụ thể là:

Năm 2005, với 1 đồng vốn đầu t cho sản xuất kinh doanh, công ty chỉthu về đợc 0,62 đồng doanh thu và tạo ra 0,2 đồng lợi nhuận Nh vậy, trongnăm 2005, năng lực kinh doanh của vốn giảm 9% so với năm 2003 và 37% sovới năm 2004; khả năng sinh lời của vốn giảm 31% so với năm 2005 và 41%

Qua các số liệu trên, có thể đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của công ty nh sau:

 Về tài sản lu động:

Năm 2003, với 1 đồng tài sản lu động đa vào sản xuất kinh doanh, công

ty thu về đợc 1,23 đồng doanh thu, tạo ra 0,52 đồng lợi nhuận Năm 2004, con

số này là 1,66 đồng doanh thu và 0,57 đồng lợi nhuận Nh vậy năm 2004, khảnăng sản xuất kinh doanh của tài sản lu động đã tăng 35% và khả năng sinhlời của tài sản lu động tăng 10%

Năm 2005, do đá vôi và than là những nguyên vật liệu chính trong sảnxuất bột CaCO3 , có xu hớng ngày càng tăng giá mạnh nên công ty đã có chủ

Ngày đăng: 06/04/2013, 09:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tổ chức của Ban giám đốc Công ty - Khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổ phần hóa doanh nghiệp ở công ty cổ phần hóa phẩm Ba Nhất
Sơ đồ t ổ chức của Ban giám đốc Công ty (Trang 17)
Bảng cân đối kế toán năm 2004 của công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất - Khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổ phần hóa doanh nghiệp ở công ty cổ phần hóa phẩm Ba Nhất
Bảng c ân đối kế toán năm 2004 của công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất (Trang 33)
Bảng cân đối kế toán năm 2005 của công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất - Khái quát về vấn đề hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh sau cổ phần hóa doanh nghiệp ở công ty cổ phần hóa phẩm Ba Nhất
Bảng c ân đối kế toán năm 2005 của công ty cổ phần hoá phẩm Ba Nhất (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w