1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU VỀ BỨC TRANH VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ CỦA CÁC DÂN TỘC THUỘC BA NHÓM BA NA, KHƠ ME, KA TU

38 684 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 50,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đây, để là rõ khái niệm về ngôn ngữ, chúng tôi có thể dẫn ra một số quanđiểm của một số nhà Ngôn ngữ học như sau: - Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội 2013

Trang 2

MỞ ĐẦU

Ngôn ngữ - văn hóa các dân tộc thiểu số là một khái niệm rất rộng Nó vừa

có đối tượng là một ngôn ngữ cụ thể, vừa có đối tượng là những vấn đề ngôn ngữcủa cả một vùng lãnh thổ Và liên quan tới vấn đề ngôn ngữ là vấn đề văn hóa

1 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ - văn hóa các dân tộc thiểu số là một khái niệm rất rộng Nó vừa

có đối tượng là một ngôn ngữ cụ thể, vừa có đối tượng là những vấn đề ngôn ngữcủa cả một vùng lãnh thổ Và liên quan tới vấn đề ngôn ngữ là vấn đề văn hóa

Nhắc đến ngôn ngữ, người ta có thể dễ dàng hình dung ra nó như một điềuhiển nhiên tồn tại trong đời sống của con ngươi và chẳng có lí do gì phải bận tâmtìm hiểu xem “ngôn ngữ là gì”

Tuy nhiên, chính cái “ điều không đáng bận tâm” đó lại là câu một câu hỏilớn mà cho tới hiện nay vẫn chưa có một câu trả lời nào thực sự chính xác và toàndiện Ở đây, để là rõ khái niệm về ngôn ngữ, chúng tôi có thể dẫn ra một số quanđiểm của một số nhà Ngôn ngữ học như sau:

- Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giaotiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người;ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển của tư duy, truyền đạt truyềnthống văn hóa- lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác [3]

- Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt của con người, nó là công cụgiao tiếp quan trọng nhất, công cụ của tư duy và công cụ để sáng tạo nghệ thuật

Trang 3

- “Ngôn ngữ là những tín hiệu được nói ra, được nghe thấy; tư duy của nhânloại được biểu đạt chủ yếu là nhờ loại kí hiệu này” “ Chúng ta coi ngôn ngữ là một

cơ chế vì lí do những cơ chế tương tự như thế tạo nên văn hóa”

Từ những quan điểm trên đây, chúng ta có thể rút ra những nhận xét kháiquát nhất, trả lời cho câu hỏi “ngôn ngữ là gì” Ngôn ngữ là một loại hệ thống tínhiệu đặc biệt, là công cụ của giao tiếp, là phương tiện của tư duy và đặc biệt hơnnữa, nó là nhân tố cấu thành văn hóa, lưu giữ và truyền tải văn hóa

2.Văn hóa

- Văn hóa: Cũng như ngôn ngữ, quan điểm thế nào là văn hóa cũng vẫn đang

là câu hỏi gây nhiều tranh cãi E.B Taylor - nhà Nhân loại học người nước Anh thế

kỉ 19 định nghĩa rằng: “văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người nói chung gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”

Theo UNESCO, văn hóa “là tổng thể nói chung những giá trị vật chất vàtinh thần do con người sáng tạo ra Văn hóa là cội nguồn trực tiếp của sự pháttriển”

Có rất nhiều những nhận định cũng như cách hiểu, cách quan niệm khácnhau về văn hóa Vì vậy, việc xác định và sử dụng khái niệm văn hóa không phảilúc nào cũng là một điều dễ dàng Ở trong bài viết này, để tiện cho quá trình tìmhiểu và nghiên cứu, chúng tôi thống nhất dựa theo định nghĩa về văn hóa đã đượcUNESCO đưa ra, đó là văn hóa là sản phẩm của con người và là cội nguồn trựctiếp của sự phát triển

- Văn hóa tộc người và văn hóa của tộc người

Trang 4

Văn hóa tộc người: văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố về tiếng nói,

chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lí tìnhcảm, phong tục, lễ nghi,…khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc ngườikhác Văn hóa tộc người là nên tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người.Một dân tộc bị đồng hóa, tức là bị mất văn hóa riêng thì ý thức của tộc người trước

su gì cũng sẽ bị mai một

Văn hóa tộc người trước tiên phải kể đến là ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, đặcbiệt là trang phục nữ, tín ngưỡng, lễ nghi, vốn văn hóa dân gian truyền miệng

Văn hóa của tộc người: văn hóa của tộc người là tổng thể những hiện

tượng văn hóa trong diện mạo hiện tại của tộc người đó, không kể các yếu tố vănhóa đó có sắc thái về tộc người hay trung tính về tộc thuộc

Theo “ Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam”- Ngô Đức NXB KHXH 2006

3 Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa

Ngôn ngữ và văn hóa - hai phạm trù tuy không bao giờ là một song lại cómối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau “Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hóa,đồng thời cũng là một hợp phần, thậm chí là hợp phần quan trọng nhất” Thôngqua ngôn ngữ, bức tranh về thế giới của một tộc người sẽ được vẽ lên, và qua đó, tahiểu rõ hơn về văn hóa, phong tục, tập quán, tín ngưỡng…của tộc người đó Cũngđồng thời, qua những trải nghiệm văn hóa xã hội dưới cái nhìn của cộng đồng, tộcngười cũng sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức nhất định, hiểu biết nhấtđịnh về cách mà ngôn ngữ được sử dụng

Bàn về vấn đề ngôn ngữ và văn hóa, hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồngtình rằng, khi nói tới ngôn ngữ, chúng ta không thể không xét tới cái nền văn hóa

Trang 5

sản sinh ra nó và ngược lại, chúng ta cũng không thể gạt bỏ đi những yếu tố vănhóa bao trùm lấy cái ngôn ngữ mà chúng ta đang quan tâm Đỗ Hữu Châu trong bàiviết “ tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ” đăng trên tạp chí Ngôn ngữ tháng 10/2000cho rằng “ngôn ngữ là công cụ của văn hóa bời vì không có ngôn ngữ, không cómột hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra được”, “phương tiện để kí ức hóa cáchiểu biết văn hóa là ngôn ngữ” Hay như Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp trongcuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” cũng khẳng định “ ngôn ngữ là nhân tố quan trọngbậc nhất trong số các nhân tố cấu thành nên nền văn hóa dân tộc Mặt khác, cũngchính ngôn ngữ đóng vai trò như một tấm gương phản ánh nội dung văn hóa, lưugiữu và chuyển tải văn hóa từ người này tới người khác, từ thế hệ trước sang thế hệsau Không có ngôn ngữ, chắc hẳn văn hóa không thể được lưu truyền như vậy; bởi

vì lịch sử, nền tảng văn hóa xã hội, quá trình tiến hóa, phương thức canh tác, sảnxuất, tín ngưỡng, phong tục tập quán…của mỗi tộc người bao giờ cũng được ghilại, được phản ánh trong chính ngôn ngữ của tộc người đó”

Có thể nói, nếu thiếu những hiểu biết mang tính văn hóa thì thật khó để cóhiểu một cách toàn diện ý nghĩa của những ngôn ngữ truyền tải chúng; và cũng thậtkhó nếu thiếu ngôn ngữ,thì sẽ chẳng bao giờ chúng ta có thể có được những hiểubiết, những tri thức về văn hóa của một cộng đồng, một dân tộc

NỘI DUNG

Trang 6

Nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa tộc người chưa bao giờ là đề tài có giớihạn Tuy nhiên cho tới nay, bức tranh về ngôn ngữ và văn hóa của các dân tộc củanước ta nói chung và các dân tộc thuộc nhánh ngôn ngữ Môn- Khơ me nói riêngvẫn đang chỉ là những bộ khung, những nét vẽ hết sức đơn giản.

Ở trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin được phép trình bày những hiểu biếtcủa chúng tôi về ngôn ngữ và những nét đặc trưng văn hóa của các dân tộc thuộc

ba nhóm ngôn ngữ nằm trong nhánh Môn- Khơ me của họ ngôn ngữ Nam Á là Ba

Na, Khơ Me và Ka Tu

Thuật ngữ chúng tôi sẽ sử dụng trong bài viết này sẽ là :

- Họ ngôn ngữ (family) dùng để chỉ khái niệm “ một họ ngôn ngữ là một tập hợp nhiều ngôn ngữ mà giữa chúng có thể xác lập được những nét chung cho phép giải thích chúng cùng dẫn xuất từ một dạng thức cội nguồn theo những quy luật nhất định” - Trần Trí Dõi

- Nhánh ngôn ngữ là một bộ phận của họ ngôn ngữ nhất định bao gồm những ngôn ngữ có những nét giống nhau nhiều hơn những ngôn ngữ thuộc bộ phận khác hay một nhánh khác trong cùng một họ

- Nhóm ngôn ngữ là những bộ phận ngôn ngữ mỗi nhánh có sự gần gũi nhaunhiều hơn so với những ngôn ngữ nằm trong nhóm khác của cùng một nhánh

Có thể trong bài viết của chúng tôi bắt gặp những thuật ngữ như “ngữ hệ”,

“chi”…của các học giả khác nhau

1.Bức tranh về ngôn ngữ và văn hóa

1.1 Về ngôn ngữ

Trang 7

Số lượng tộc người nói các ngôn ngữ thuộc nhánh Môn- Khơ me bao gồm

21 tộc người, nhiều nhất so với số lượng các tộc người nói các ngôn ngữ thuộc cácnhánh khác trong họ ngôn ngữ Nam Á “Ngôn ngữ của các tộc thuộc nhóm Môn-Khơ me có sự thống nhất và gần gũi bởi khối lượng lớn các từ cơ bản, bởi cấu tạo

từ các tiền tố, hậu tố, bởi phương thức cấu tạo từ Đó là các tộc bản địa ở Việt Nam

và Đông Dương, quen sinh sống ở môi trường cảnh quan đến sườn núi và caonguyên, canh tác nương rẫy là chính Làng là tổ chức xã hội mang tính cộng đồngcao Xưa kia xã hội bị phụ thuộc vào các tộc láng giềng, tín ngưỡng đa thần, vănhóa giữ lại nhiều tàn dư của xã hội nguyên thủy nên mang tính bản địa cao, ít chịuảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa hay Ấn Độ (trừ Khơ Me)”- (Văn hóa văn hóatộc người và văn hóa việt nam - Ngô Đức Thịnh)

1.1.1 Nhóm Khơ Me

- Ở Việt Nam, nhóm này gồm có 2 ngôn ngữ, là tiếng nói của hai dân tộc làdân tộc Khơ Me ở Nam Bộ và Rơnăm ở huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum với tổng sốngười nói là 859 526 người (1989) Cả hai ngôn ngữ này vừa có mặt ở nước ta, vừa

có mặt ở Lào và Campuchia (Theo Trần Trí Dõi - Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ởViệt Nam)

- Tuy nhiên, theo sự phân loại do R Parkin tập hợp (A Guide toAustroasiatic Speaker and their languages, University of Hawaii Press, Honolulu1991- dẫn theo Trần Trí Dõi) thì nhóm này chỉ có một ngôn ngữ duy nhất là ngônngữ Khơ Me, là ngôn ngữ có rất ít phương ngữ

Ở đây chúng tôi sẽ trình bày những đặc điểm về văn hóa và ngôn ngữ củanhóm này dựa theo quan điểm của Trần Trí Dõi, tức là nhóm ngôn ngữ này baogồm hai ngôn ngữ thành viên là tiếng Khơ Me và Rơ năm

Trang 8

- Về chữ viết, trái với người Khơ Me có hệ thống chữ viết ra đời từ rất sớm( khoảng thế kỉ III) thì ngôn ngữ của người Rơnăm hiện vẫn chưa có chữ viết

- Tình hình sử dụng ngôn ngữ

Tiếng Khơ Me:

Hầu hết người nông dân Khơ Me sử dụng tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai, dùng trong giao tiếp xã hội, đấy là chưa kể ngay trong bản thân ngôn ngữKhơ Me cũng tiếp thu một số vốn từ Việt vào trong văn hóa của ngôn ngữ mình(Đặng Việt Bích- tìm hiểu văn hóa dân tộc- nhà xuất bản văn hóa thông tin)

Tiếng Rơ năm:

Điều tra về năng lực ngôn ngữ cho thấy trạng thái song ngữ Rơ năm- Việt

và Rơ năm - Giarai diễn ra rất phổ biến, đặc biệt là trạng thái song ngữ Rơ Việt

Ở trong phạm vi làng tiếng Rơ năm có vị trí cao nhất, sau đó là tiếng Việt.Tiếng Giarai, một ngôn ngữ phổ thông vùng hoàn toàn không xuất hiện trong đờisống của người Rơ năm Tuy nhiên thì ra đến phạm vi xã thì tình hình lại có xuhướng khác, tiếng Giarai được sử dụng nhiều hơn trong các công việc giao dịchhành chính (Theo Phan Lương Hùng- tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Rơnăm ở làng Le - tạp chí ngôn ngữ số 262, tháng 3/2011)

1.1.2 Nhóm Ba Na

- Đây là nhóm ngôn ngữ thuộc nhánh Môn- Khơ me có nhiều ngôn ngữ thành phần nhất ở Việt Nam Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở nước ta thuộc nhóm này thì được chia làm hai tiểu nhóm là tiểu nhóm Bana Bắc và tiểu nhóm Ba na Nam

Trang 9

Tiểu nhóm Ba Na Nam gồm năm ngôn ngữ là tiếng Kơ Ho, tiếng Mnông, tiếng Xtiêng, tiếng Mạ và tiếng Chơ Ro.

Tiểu nhóm Ba na Bắc gồm sáu ngôn ngữ là tiếng Ba na, tiếng Xơ Đăng, tiếng Hrê, tiếng Gié- Triêng, tiếng Co và tiếng Brâu

- Hầu hết các ngôn ngữ này đều không có chữ viết cổ, phần lớn chữ viết hiện

có đều được người phương Tây xây dựng trên cơ sở chữ La tinh

- Việc xác định các thành phần ngôn ngữ cũng như sự phân chia, xác định phương ngữ của mỗi ngôn ngữ trong nhóm cho tới nay vẫn chưa thực sự được nghiên cứu, quan tâm, vẫn là một công việc còn bỏ ngỏ

1.1.3 Nhóm Ka Tu

- Ở về phía Bắc của nhóm ngôn ngữ Ba Na, nhóm Ka Tu ở Việt Nam gồm

có ba ngôn ngữ thành viên, đó là ngôn ngữ của các dân tộc Bru- Vân Kiều, Tà Ôi,

Cơ Tu Số lượng người nói ngôn ngữ thuộc nhóm Ka Tu ở Việt Nam là vào

khoảng 103 143 người ( 1989) trong đó tiếng Bru- Vân Kiều là ngôn ngữ có nhiều người nói nhất

- Cũng như nhiều các ngôn ngữ dân tộc thiểu số khác, các ngôn ngữ thuộc nhóm này cũng không có chữ viết cổ, chữ viết hiện nay đều được người phương Tây xây dựng trên hệ chữ La Tinh

1.2 Về văn hóa

1.2.1 Văn hóa của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ me

* Điểm chung

+ Về kiến trúc

Trang 10

Nhà truyền thống của cả hai dân tộc này đều là nhà sàn, tuy nhiên hiện nay,phần lớn đã được xây dựng lại theo kiến trúc hiện đại

+ Phong tục tập quán

Chế độ mẫu hệ là điểm chung dễ thấy nhất ở hai dân tộc này, tuy nhiên đốivới người Rơ năm, chế độ mẫu hệ đang dần chuyển nhanh sang chế độ phụ quyền

* Điểm khác biệt:

- Nơi sinh sống, nhà cửa

+ Người Rơ năm: hiện nay chỉ sinh sống tại làng Le Rơ- măm tại huyện SaThầy tỉnh Kon Tum

+ Người Khơ Me: phân bố rộng khắp ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ

- Phong tục tập quán, tín ngưỡng

+ Người Rơ năm : Tính chất hôn nhân của họ đang ở giai đoạn tiến lên chế

độ phụ hệ Sau ngày cưới đôi vợ chồng trẻ sống bên nhà vợ 4-5 năm rồi về ở bênnhà chồng hoặc cư trú luân phiên cả hai bên Việc ly dị rất ít xảy ra

Người chết được đặt ở mặt trước ngôi nhà, đầu hướng vào trong, mặt nhìnnghiêng Việc chôn cất sẽ được tiến hành vào một hai hôm sau Các ngôi mộ xếptheo hàng lối sao cho mặt người chết không nhìn hướng vào làng Một số ít ngôi

mộ chôn chung, từ 2 đến 3 người, thường là những người thân trong gia đình.Trong lễ bỏ mả có hai người đeo mặt nạ (một nam, một nữ) đánh trống nhảy múa.Mặt nạ nam có hai sừng trên đầu, mặt nạ nữ có hai chiếc răng nanh Kết thúc lễ bỏ

mả, hai chiếc mặt nạ được treo lại trên nhà mồ

Trang 11

Thờ cúng: Người Rơ Măm quan niệm "vạn vật hữu linh", cả linh hồn conngười sau khi chết cũng là lực lượng siêu nhiên đầy quyền lực và bí ẩn Ðó lànhững đối tượng mà họ thờ cúng để cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn Mộttrong những lực lượng siêu nhiên được người dân thờ cúng nhiều nhất là thần lúa.

Họ cúng thần lúa vào ngày bắt đầu trỉa giống, khi lúa lên đòng, trước ngày tuốtlúa để cầu mong một mùa rẫy bội thu

+ Người Khơ me

Thờ cúng: Tục hỏa thiêu đã có từ lâu Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp

"Pì chét đẩy", xây cạnh ngôi chính điện trong chùa

Thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng dân giannhư cúng thần ruộng (neak tà xiê), gọi hồn lúa (ok ang leok), thần mặt trăng (okang bok) Ngoài ra, vẫn tồn tại những dấu vết tàn dư còn lại của Bà la môn giáotrong đời sống (theo Làng văn hóa – du lịch các dân tộc Việt Nam-www.vinaculto.vn)

- Sinh hoạt văn hóa

+ Người Rơ năm: lễ tết được tiến hành theo chu kỳ sản xuất hay chu kỳ đờingười đều có hiến tế các con vật như: gà, lợn hoặc trâu Ngày lễ lớn nhất thườngđược tổ chức sau khi thu hoạch mùa rẫy Các gia đình trong làng làm lễ mừng kếtiếp nhau, có thể mỗi ngày một gia đình hay 4-5 ngày một chủ hộ giết lợn, gà, thậmchí tổ chức đâm trâu mời bà con trong làng tới dự Sau lễ mừng lúa mới là thờiđiểm diễn ra hàng loạt đám cưới của nam nữ thanh niên và lễ bỏ mả cho người đãchết

Những làn điệu dân ca, những bài hát giao duyên của nam nữ thanh niên,những câu chuyện kể của người già với bộ nhạc cụ gồm chiêng, trống và các loại

Trang 12

đàn, sáo được làm ra từ nguồn tre, nứa trong rừng là yếu tố chắnh tạo dựng nênnền văn nghệ dân gian của cư dân nơi đây.

+ Người Khơ me : Người Khmer có các hình thức cư trú sau: tụ tập thànhcác xóm, nền văn nghệ dân gian của cư dân nơi đây.làng (Phum, tróc) hoặc xen kẽ,hoặc riêng biệt với các xã ấp của người Việt và người Hoa, cư trú theo từng dải dàitrên các giồng (phxo), lớp phù sa cổ sinh, cư trú theo hình Ộvành khănỢ như cáclàng quanh chân núi Ba Thé, vùng bảy Núi An Giang

Từ lâu và hiện nay, chùa Khmer là tụ điểm sinh hoạt văn hóa - xã hội củađồng bào Trong mỗi chùa có nhiều sư (gọi là các ông lục) và do sư cả đứng đầu.Thanh niên người Khmer trước khi trưởng thành thường đến chùa tu học để traudồi đức hạnh và kiến thức Hiện nay ở Nam Bộ có trên 400 chùa Khmer Nhà chùathường dạy kinh nghiệm sản xuất, dạy chữ Khmer

Đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều phong tục tập quán và có nền vãn hóanghệ thuật rất độc đáo Những chùa lớn thường có đội trống, kèn, đàn, có đội ghengo Hàng nãm người Khmer có nhiều ngày hội, ngày tết dân tộc

Đồng bào Khmer có các ngày lễ lớn là Chôn Chơ nam thơ mây (năm mới),

lễ Phật đản, lễ Đôn ta (xá tội vong nhân), Oóc bom boóc (cúng trăng) (theo Cổng thông tin điện tử Chắnh phủ)

1.2.2 Văn hóa của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ba Na

- Các dân tộc thuộc tiểu nhóm Ba Na Nam

+ Cư trú: số dân của các dân tộc trong tiểu nhóm này không quá lớn, daođộng chỉ từ vài chục nghìn tới khoảng hơn một trăm nghìn người (2009)

Trang 13

Các dân tộc trong tiểu nhóm Ba Na Nam cư trú chủ yếu ở khu vực TâyNguyên và Tây Nam Bộ

+ Kiến trúc: Nhà truyền thống của các dân tộc hầu hết là nhà sàn, tuy nhiêntùy từng địa bàn cư trú mà kiểu nhà lại được thay đổi cho phù hợp với địa hìnhcũng như khí hậu

Một vài dân tộc hiện nay cũng không còn giữ được kiến trúc của nhàtruyền thống nữa mà thay vào đó đã là những ngôi nhà theo lối kiến trúc của nhữngdân tộc khác, như dân tộc Chơ Ro đã dựng nhà theo lối kiến trúc của người Việt

+ Phong tục, tập quán, tín ngưỡng: chế độ mẫu hệ là điều dễ nhận thấy ởhầu hết các dân tộc trong tiểu nhóm ngôn ngữ này Người phụ nữ là người có vaitrò quan trọng trong gia đình, trong hôn nhân thì đóng vai trò chủ động, sau khi kếthôn thì thường người đàn ông sẽ về nhà vợ

Tuy nhiên thì ở tộc người Chơ Ro thì lại có phần hơi khác Người Chơ

Ro coi vai trò của người đàn ông và phụ nữ trong gia đình là như nhau

Các dân tộc đều thờ cúng những vị thần thiên nhiên theo quan điểmtruyền thống của tộc người mình Các dân tộc đều có nên kinh tế nông nghiệp, dựavào thiên nhiên và trong các nghi lễ cúng tế, họ đều lựa chọn những sản phẩmnông nghiệp để cúng tế thần linh như trâu, bò, lợn, gà, dê và đặc biệt không thểthiếu được là rượu Bàn thờ luôn được đặt ở nơi trang trọng nhất và tôn nghiêmnhất trong nhà

+ Sinh hoạt văn hóa: người dân đều tập trung sinh sống thành một cộngđồng gọi là làng hoặc là Bon Đứng đầu là các già làng hay Bon trưởng, là nhữngngười lớn tuổi có uy tín cao trong cộng đồng Nơi tập trung sinh hoạt của ngườidân trong làng, trong Bon thường là nhà Rông

Trang 14

Các dân tộc đều có những hình thức sinh hoạt văn hóa đa dạng và mangnhững nét đặc trưng văn hóa riêng biệt Các loại trang sức như vòng cổ, hoa tai làcác loại trang sức không thể thiếu.

- Các dân tộc thuộc tiểu nhóm Ba Na Bắc

+ Cư trú: phần lớn dân số thuộc tiểu nhóm này cư trú ở khu vực Tây Nguyên

và Nam Trung Bộ

Dân số của các dân tộc trong nhóm có sự khác biệt rất lớn, có những dântộc có số dân lên tới hàng trăm nghìn người nhưng cũng có dân tộc chỉ có hơn 3trăm người ( dân tộc Brâu - 397 người)

+ Kiến trúc: Nhà hầu hết là nhà sàn nhưng hiện nay người dân của một sốdân tộc dần chuyển qua làm nhà đất

+ Phong tục tập quán, tín ngưỡng: hình thức luân cư sau hôn nhân là điều dễbắt gặp thấy trong văn hóa của các dân tộc thuộc tiểu nhóm này Luân cư hình thứcchú rể sau khi kết hôn sẽ chuyển sang bên nhà vợ trong một khoảng thời gian nhấtđịnh rồi sau đó hai vợ chồng mới về nhà chồng sinh sống

Tín ngường thờ đa thần là hình thức tín ngưỡng phổ biến của các dân tộcthuộc tiểu nhóm Ba Na Bắc

+ Sinh hoạt văn hóa: nhà Rông là nơi sinh hoạt văn hóa tập trung của làng,đứng đầu làng là các già làng, là người giàu có và có uy tín trong làng

Các dân tộc đều có những bài dân ca truyền thống đặc sắc, có nhiều loạinhạc cụ, đặc biệt là bộ Cồng Chiêng của dân tộc Gié - Triêng

1.2.3 Văn hóa của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Tu

- Cư trú : các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Tu cư trú tập trung chủ yếu

là ở các tỉnh Trung Bộ như Thừa Thiên Huế, Quảng Nam…

Trang 15

Dân số của các dân tộc thuộc các nhóm này chỉ dao động trong mức vàichục nghìn người

- Kiến trúc: người dân ở nhà sàn, quần tụ thành một làng

- Phong tục tập quán:

+ Người Cơ Tu: Người Cơ Tu ăn Tết vào khoảng tháng giêng, tháng haidương lịch sau mùa lúa tuốt

Lễ hội lớn nhất của làng là lễ hội đâm trâu

+ Người Bru - Vân Kiều: Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu đượckhuyến khích, viêc kết hôn giữa vợ góa với anh hoặc em chồng cũng như giữachồng góa với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận

Người Bru – Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên Theo họ, hiện thân của

“linh hồn” các thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát… đặt trong chòi nhỏdựng riêng Họ rất tin vào các thần linh: Thần Lúa, Thần Bếp Lửa, Thần Núi,Thần Đất, Thần Sông nước, …

Người Bru – Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh táclúa rẫy nhằm cầu mùa, gắn với các khâu phát, trỉa và thu hoạch Đặc biệt lễ thứctrước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng Trong một đời người, mỗingười cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình: khi ra đời, lúc đau

ốm, khi qua đời… Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất Tết đến từng làng sớmmuộn khác nhau, nhưng đều vào thời gian sau kì tuốt lúa

+ Dân tộc Tà Ôi: Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khỏe, tài sản, việcngăn chặn dịch bệnh, việc làm rẫy, vv Những lễ lớn đều có đâm trâu, tế thần vàtrở thành ngày hội trong làng

Gắn với chu kì canh tác có những lễ thức quan trọng nhằm cúng cầu ThầnLúa, mong bội thu, no đủ

Tết cổ truyền vào thời kì nghỉ ngơi sau khi tuốt lúa, trước mùa rẫy mới

Trang 16

- Sinh hoạt văn hóa: Mỗi làng của đồng bào đều có 1 ngôi nhà chung, là nơisinh hoạt văn hóa chung của cả làng Cũng như các dân tộc khác, đứng đầu mỗilàng là các già làng, là người có uy tín cao và là người giàu có trong làng

Vốn tục ngữ, ca dao, kho truyện cổ của các dân tộc khá phong phú, nhạc cụgồm nhiều loại như tù, cồng chiêng…

Có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khỏe, tài sản, việc ngăn chặn dịchbệnh, việc làm rẫy…

2 Tình hình nghiên cứu các ngôn ngữ và văn hóa của các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Khơ Me, Ba Na, Ka Tu ở Việt Nam.

“Ở nước ta,vấn đề nhạy cảm của ngôn ngữ dân tộc cũng như văn hóa dân tộcbắt nguồn từ mối quan hệ giữa các dân tộc trong tiến trình lịch sử Có thể nói ViệtNam là một Đông Nam Á thu nhỏ Ở đây có mặt hầu hết các dân tộc thuộc cácdòng ngôn ngữ ở ở Đông Nam Á”

“Rất nhiều dân tộc ít người sống xen kẽ với nhau, thậm chí có những nhómnhỏ bị tách biệt, có nguy cơ mất tiếng mẹ đẻ nhưng ngôn ngữ của họ lại giữ vai tròhết sức quan trọng trong việc xác định quan hệ cội nguồn của các nhóm ngônngữ.”

“Ngoài ra còn nhiều dân tộc trong quá trình du canh du cư, trải qua nhiều lầntiếp xúc với các dân tộc khác đã bỏ tiếng mẹ đẻ để sử dụng ngôn ngữ của các dântộc khác” (Giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ các dântộc ít người ở Việt Nam- vấn đề và giải pháp - GS.TS Phạm Đức Dương- tạp chí

NN 10/2000)

2.1 Những vấn đề về đặc điểm ngôn ngữ

Trang 17

Do thuộc cùng một nhánh ngôn ngữ, vì vậy mà các ngôn ngữ thuộc cácnhóm này đều mang những đặc điểm chung nhất định của nhánh Môn- Khơ Me “Nhóm Môn- Khơ Me có số lượng người lớn nhất so với các nhóm khác: 21 tộcngười, chiếm non nửa số tộc người ở nước ta Ngôn ngữ của các tộc thuộc nhómMôn- Khơ Me có sự thống nhất và gần gũi bởi khối lượng lớn các từ cơ bản, bởicấu tạo từ gồm các tiền tố, hậu tố, bởi phương thức cấu tạo từ

Tuy gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu nhưng “ đến năm 1975,gần 50 ngôn ngữ và các tiếng địa phương đã được tiến hành điều tra (chủ yếu là vềmặt từ vựng và ngữ âm)”

Các ngôn ngữ thuộc nhóm Ba Na, Khơ me, Ka Tu là những ngôn ngữ nhậnđược khá nhiều sự quan tâm của các học giả trong và ngoài nước “ từ năm 1975đến nay, viện ngôn ngữ học đã hợp tác với các tỉnh Lâm Đồng, Bình Trị Thiên,Đắc Lắc, Quảng Nam… trong nghiên cứu cải tiến bộ chữ Cơ Ho, Ta ôi, Bru- VânKiều, Cơ Tu, Gia Glai, Ba Na, Hrê, Chăm Hàng loạt các từ điển song ngữ đã đượcbiên soạn xong và xuất bản: từ điển Việt - Cơ Ho (1983), từ điển Việt- Cơ Tu(2007), từ điển Cơ Tu- Việt (2007) Những tập ngữ vựng đối chiếu đã được biênsoạn và sử dụng trong dạy và học ở địa phương: ngữ vựng Việt- Cơ Tu, ngữ vựng

Cơ Tu- Việt, ngữ vựng Ba Na - Việt, ngữ vựng Việt- Ba Na, ngữ vựng Việt- Hrê,ngữ vựng Hrê - Việt, ngữ vựng Chăm Hroi- Việt, ngữ vựng Việt - Chăm- Hroi.Các sách dùng để dạy và học tiếng đã được biên soạn và xuất bản: sách học tiếngPakôh- Ta ôi (1986), sách học tiếng Bru - Vân Kiều (1986), sách học tiếng Êđê.Một số sách miêu tả ngôn ngữ dưới hình thức chuyên khảo đã được xuất bản: ngữpháp tiếng Kơ Ho (1985), tiếng Rục (1993), tiếng Ka Tu- cấu tạo từ (1995), tiếng

Ka Tu (1998)”…

Trang 18

Các nghiên cứu so sánh các ngôn ngữ thuộc ba nhóm này với các ngôn ngữthuộc nhóm khác cũng như các ngôn ngữ trong cùng một nhóm cũng đã được tiếnhành so sánh đối chiếu với nhau Có thể dẫn ra một vài ví dụ cũng như kết quảnghiên cứu của các học giả như:

- Theo Nguyễn Văn Lợi trong bài viết “các ngôn ngữ nhánh Việt ( Vietic) ở trung Đông Dương và vấn đề Lịch sử tiếng Việt” tại hội thảo Khoa học “Những vấn đề ngôn ngữ và văn hóa”, ông không sử dụng thuật ngữ “nhóm” mà thay vào

đó ông gọi là “nhánh” Cũng trong bài báo cáo này, ông đã dẫn ra quan điểm của Huffman cho rằng “Việt và Mường có 33% từ chung với các ngôn ngữ Katuic và Bahnaric”, “tỉ lệ từ chung của Việt, Mường, Rục với các ngôn ngữ Katuic,

Bahnaric, Khmeric cao hơn hẳn tỉ lệ từ chung với ngôn ngữ Phlaungic, Khmuic và Mangic” Cũng theo tác giả, “ Rục có 20 - 23% từ chung với nhánh Phlaungic, Mangic trong khi ngôn ngữ này có 30 - 35% từ chung với các ngôn ngữ nhánh (nhóm) Katuic và Bahnaric Như vậy về mặt thống kê từ vựng, nhánh (nhóm) Việt (Vietic) có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ thuộc chi Môn - Khmer Đông như nhánh (nhóm) Bahnar và đặc biệt là Katu Ngoài ra, theo Difloth, giữa nhánh (nhóm) Việt và nhánh (nhóm) Ka Tu còn chia sẻ một số những cách tân chung trong quá trình biến đổi ngữ âm Dựa trên những cơ sở này, ngày càng có nhiều học giả cho rằng nhánh (nhóm)Việt thuộc chi (nhánh)Môn - Khmer Đông, dòng Môn- Khmer, ngữ hệ Nam Á Ngoài ra, Vietic và Katuic có thể bắt nguồn từ một gốc chung: ngôn ngữ Proto Viet - Katuic Theo Diffoth, Proto Viet - Katuic tách khỏi Proto Bahnar - Khmeric khoẳng 2800 năm trước Công nguyên”

- Vị trí của tiếng Tà ôi trong nhóm ngôn ngữ Ka Tu của Phan Xuân Thành đăng trên tạp chí ngôn ngữ 1/1986 Theo đó, trong bài viết này, tác giả đã tiến hành

so sánh các mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của tiếng Tà Ôi với các tiếng khác

Trang 19

trong nhóm như Vân Kiều, Pa Kô và nhận thấy tỉ lệ vốn từ chung giữa tiếng Tà Ôi

và Vân Kiều là 41% và tỉ lệ vốn từ chung với tiếng Pa Kô là 76%

- Bìa viết của Pogibenko về “cấu trúc bị động và hình thức thụ động trong các ngôn ngữ Môn- Khơ Me (trên tư liệu tiếng Mạ)” trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1986

2.1.1 Các ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Khơ Me

Ngôn ngữ thuộc tiểu nhóm Khơ Me thì có 2 ngôn ngữ là Khơ Me và Rơnăm,tuy nhiên, ngược lại với tiếng Khơ Me được các nhà nghiên cứu quan tâm khánhiều thì tiếng Rơ năm lại ít được chú ý nghiên cứu

Các học giả trong nước quan tâm tới lĩnh vực nghiên cứu tiếng Khơ Me ởViệt Nam như Tạ Văn Thông, Nguyễn Văn Lợi, Thái Văn Chải…với các côngtrình nghiên cứu như “ hòa mã tiếng Khơ Me- Việt tại đồng bằng sông Cửu Long

và sự phát triển từ vựng tiếng Khơ Me tại Nam Bộ” của Đinh Lư Giang, “ngữ pháptiếng Khơ Me” của Vũ Đức Nghiệu

* Tiếng Khơ Me

Tiếng khơ me ở đồng bằng sông cửu Long gồm ba phương ngữ là phươngngữ Trà Vinh, phương ngữ Sóc Trăng và phương ngữ Rạch Giá Tuy vẫn cònnhiều vấn đề được đặt ra, song về cơ bản, chúng ta cũng đã có những hiểu biết nhấtđịnh về ngôn ngữ này

- Về mặt ngữ âm: có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu về ngữ âmtiếng Khơ Me như sau:

+ “Thêm một số tư liệu về quan hệ giữa các ngôn ngữ Mèo - Dao và Môn-

Ngày đăng: 07/05/2015, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Trí Dõi (2011), Lịch sử tiếng Việt, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Khác
2. Trần Trí Dõi (1998), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam Khác
3. Nguyễn Thiện Giáp, (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
4. Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Văn Hiệp,(2010),Dẫn luận ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
5. Đinh Văn Đức, Ngôn ngữ học đại cương những nội dung quan yếu, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Khác
6. Trần Quốc Vượng, (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục Khác
7. Ngô Đức Thịnh, (2006), Văn hóa văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Khác
8. Vũ Đức Nghiệu, (2002), So sánh ngữ nghĩa, ngữ pháp của từ bị, được, phải trong tiếng Việt với ban, t’râw, Tạp chí Ngôn ngữ 3/2002 Khác
9. Phạm Đức Dương, (2000), Giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ các dân tộc ít người ở Việt Nam-vấn đề và giải pháp, Tạp chí Ngôn ngữ 10/2000 Khác
10. Tạ Văn Thông, (2006), Loại từ Hrê và sự ghi nhận cách hình dung thế giới khách quan của người Hrê, Tạp chí Ngôn ngữ 7/2006 Khác
11. Thái Văn Chải (1986), Một số đặc điểm tiếng Khơ Me đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí ngôn ngữ 2/1986 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w