Khi một ñứa trẻ sinh ra ñời, nó không biết và cũng không thể chọn lựa cho mình một cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn hay một cơ thể khuyết tật, một tinh thần còi cọc, vì thế bên cạnh những cháu bé bình thường và phát triển tốt, còn có một tỷ lệ không nhỏ các cháu có những khiếm khuyết về thể chất hay về tâm lý, và những cháu bé này cần có những sự can thiệp và hỗ trợ càng sớm càng tốt ñể giúp cho các em có ñược những cơ hội tốt nhất trong việc phát triển và hội nhập xã hội. Tại Việt Nam cũng như trên thế giới tỷ lệ trẻ khuyết tật chiếm một số lượng không nhỏ (khoảng 10% tổng số trẻ em ñược sinh ra). Vì thế công tác chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật, ñã và ñang là vấn ñề quan tâm chung của toàn xã hội và là nỗi niềm canh cánh của nhiều người có lương tâm và trách nhiệm cũng như nỗi lo âu lớn nhất của gia ñình, bố mẹ các em. Có hai tình trạng khuyết tật của trẻ là khuyết tật về thể chất và khuyết tật về tâm lý. Trong số những trẻ khuyết tật về tâm lý thì trẻ có hội chứng tự kỷ là một trong những ñối tượng gặp nhiều khó khăn nhất. Theo báo cáo của bệnh viện nhi Trung ương Hà Nội và các bệnh viện nhi ñồng I & II tại thành phố Hồ Chí Minh; các Trung tâm tư vấn, chăm sóc, giáo dục trẻ khuyết tật, thì số trẻ ñến khám, ñược chẩn ñoán bị tự kỷ và ñiều trị ngày càng nhiều và gia tăng rõ rệt, nhất là trong những năm gần ñây. Rối loạn Tự kỷ ñã ñược Bs Leo Kaner (người Mỹ gốc Áo) mô tả từ năm 1943. Tới năm 1944 Asperger, Bác sỹ nhi khoa người Áo giới thiệu một nhóm trẻ có các khiếm khuyết giống như Bs Kanner ñã mô tả nhưng mức ñộ nhẹ hơn, khả năng nói tốt hơn trẻ tự kỷ, hội chứng ñó ñược lấy tên của ông ñể ñặt - hội chứng Asperger. Cũng từ ñó có nhiều nhóm Bs nghiên cứu ñể tìm nguyên nhân cũng như phương pháp ñiều trị nhưng kết quả còn rất hạn chế, tiếp theo ñó với các nghiên cứu về phương pháp can thiệp về giáo dục lại ñạt ñược những kết quả cao hơn của y tế. Hai người ñi tiên phong trong lĩnh vực can thiệp là: Jean – Marc Itart (1774 – 1836) và Maria Montessori (1870 – 1952)
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Khi một đứa trẻ sinh ra đời, nĩ khơng biết và cũng khơng thể chọn lựa cho mình một cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn hay một cơ thể khuyết tật, một tinh thần cịi cọc, vì thế bên cạnh những cháu bé bình thường và phát triển tốt, cịn cĩ một
tỷ lệ khơng nhỏ các cháu cĩ những khiếm khuyết về thể chất hay về tâm lý, và những cháu bé này cần cĩ những sự can thiệp và hỗ trợ càng sớm càng tốt để giúp cho các em
cĩ được những cơ hội tốt nhất trong việc phát triển và hội nhập xã hội Tại Việt Nam cũng như trên thế giới tỷ lệ trẻ khuyết tật chiếm một số lượng khơng nhỏ (khoảng 10% tổng số trẻ em được sinh ra) Vì thế cơng tác chăm sĩc và giáo dục trẻ khuyết tật, đã
và đang là vấn đề quan tâm chung của tồn xã hội và là nỗi niềm canh cánh của nhiều người cĩ lương tâm và trách nhiệm cũng như nỗi lo âu lớn nhất của gia đình, bố mẹ
các em
Cĩ hai tình trạng khuyết tật của trẻ là khuyết tật về thể chất và khuyết tật về tâm
lý Trong số những trẻ khuyết tật về tâm lý thì trẻ cĩ hội chứng tự kỷ là một trong những đối tượng gặp nhiều khĩ khăn nhất Theo báo cáo của bệnh viện nhi Trung ương Hà Nội và các bệnh viện nhi đồng I & II tại thành phố Hồ Chí Minh; các Trung tâm tư vấn, chăm sĩc, giáo dục trẻ khuyết tật, thì số trẻ đến khám, được chẩn đốn bị
tự kỷ và điều trị ngày càng nhiều và gia tăng rõ rệt, nhất là trong những năm gần đây
Rối loạn Tự kỷ đã được Bs Leo Kaner (người Mỹ gốc Áo) mơ tả từ năm 1943 Tới năm 1944 Asperger, Bác sỹ nhi khoa người Áo giới thiệu một nhĩm trẻ cĩ các khiếm khuyết giống như Bs Kanner đã mơ tả nhưng mức độ nhẹ hơn, khả năng nĩi tốt hơn trẻ tự kỷ, hội chứng đĩ được lấy tên của ơng để đặt - hội chứng Asperger Cũng từ
đĩ cĩ nhiều nhĩm Bs nghiên cứu để tìm nguyên nhân cũng như phương pháp điều trị nhưng kết quả cịn rất hạn chế, tiếp theo đĩ với các nghiên cứu về phương pháp can thiệp về giáo dục lại đạt được những kết quả cao hơn của y tế Hai người đi tiên phong trong lĩnh vực can thiệp là: Jean – Marc Itart (1774 – 1836) và Maria Montessori (1870 – 1952)
1.2 Trong xu thế hiện nay thì Giáo dục trẻ khuyết tật nĩi chung và trẻ tự kỷ nĩi riêng tại cộng đồng đang là hướng đi chủ đạo với những cách làm cụ thể đạt hiệu quả cao, phù hợp với nền kinh tế xã hội với mọi vùng dân cư Việt Nam Nĩi đến giáo dục cộng đồng, trước hết là hoạt động giáo dục trẻ khuyết tật tại gia đình Hoạt động này giúp
Trang 2trẻ khuyết tật vẫn được cùng sống, cùng ăn, ở, và sinh hoạt vui chơi với gia đình Vì
dù như thế nào đi nữa thì mơi trường gia đình vẫn là nơi cĩ nhiều thời gian và điều kiện tiếp xúc, giáo dục đối với trẻ Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nĩ sẽ ảnh hưởng lớn đến tồn bộ hoạt động học tập, vui chơi, lao động của trẻ trong nhà trường, ngồi
xã hội sau này Đặc biệt giai đoạn phát triển của trẻ từ 0 đến 36 tháng tuổi là giai đoạn phát triển rất nhanh, là tiền đề cho sự phát triển sau này của trẻ, là cơ sở để trẻ hồ nhập xã hơi Vì vậy mơi trường gia đình đĩng vai trị quan trọng trong cơng tác chăm sĩc giáo dục trẻ
Hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, vẫn chưa cĩ một cuộc khảo sát nào cĩ quy mơ trên tồn thành phố về những trẻ em cĩ rối loạn tự kỷ Nhưng số trẻ đến khám
và điều trị rối loạn tự kỷ tại Bệnh viện tâm thần, Trung tâm phục hồi chức năng - bệnh viện đa khoa Đà Nẵng và một số trung tâm, trường chuyên biệt cĩ xu hướng ngày càng tăng Thành phố cũng chưa cĩ một trung tâm nào chuyên trách về vấn đề trẻ tự kỷ Đây là một thiệt thịi lớn đối với trẻ và gia đình trẻ tự kỷ Vì vậy, nhiều gia đình đã phải rất vất vả để đưa con ra Hà Nội hay vào Sài Gịn để chẩn đốn và chữa trị rồi sau một thời gian lại phải quay về Đà Nẵng mà trẻ vẫn chưa cĩ được những biến chuyển tích cực Điều quan trọng nhất là trẻ chưa được cha mẹ chăm sĩc giáo dục đúng cách
Do cha mẹ chưa được trang bị kiến thức và kĩ năng trong cơng tác chăm sĩc giáo dục trẻ
Vì những lý do trên, chúng tơi chọn đề tài “Thực trạng chăm sĩc, giáo dục cho trẻ tự
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể: Cơng tác chăm sĩc giáo dục cho trẻ tự kỷ tại gia đình
3.2 Đối tượng: Nhận thức - kĩ năng của các phụ huynh và những điều kiện cơ sở vật
chất trong cơng tác CSGD
4 Giả thuyết khoa học
Hầu hết các bậc cha mẹ đều cĩ sự quan tâm trong việc CSGD trẻ tự kỷ Tuy nhiên đại đa số phụ huynh thường chỉ biết chăm sĩc - giáo dục một cách tự phát,
Trang 3không có chương trình can thiệp riêng cho từng trẻ với mức ñộ nặng/nhẹ khác nhau Trẻ tự kỷ thường gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống Nếu có những biện pháp hướng dẫn và hỗ trợ phù hợp, gia ñình sẽ ñược nâng cao kiến thức và kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ, tạo cho trẻ cơ hội thuận lợi ñể phát huy khả năng giao tiếp ứng xử và các kỹ năng
cá nhân ñể có thể hoà nhập công ñồng
5 Nhiệm vụ - Phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu và hệ thống một số vấn ñề lí luận về chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ tại gia ñình
- Nghiên cứu thực trạng chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia ñình ở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng CSGD tại gia ñình
5.2 Phạm vi
Do ñiều kiện khách quan và chủ quan, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
Nội dung nghiên cứu: Những vấn ñề thực tế về chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia
ñình, các biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ
Địa bàn khảo sát: 5 quận huyện thuộc thành phố Đà Nẵng
Đối tượng khảo sát: 30 cha mẹ có con tự kỷ (từ 0 ñến 6 tuổi)
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hoá những thông tin, những nghiên cứu thuộc các vấn ñề có liên quan ñến ñề tài của các tác giả Việt Nam và nước ngoài Làm sáng tỏ các thuật ngữ có liên quan ñến ñề tài Xây dựng cơ sở khoa học về mặt lý luận cho ñề tài Phân tích, lý giải về mặt khoa học cũng như tính hợp lý của những luận ñiểm mà ñề tài ñưa ra
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp ñiều tra Anket
Trên cơ sở xây dựng phiếu câu hỏi có trọng tâm, phù hợp với ñối tượng là phụ huynh trẻ tự kỷ Qua ñó, chúng tôi tiến hành ñiều tra thực trạng kiến thức - kỹ năng chăm sóc, giáo dục cho trẻ tự kỷ tại gia ñình của các bậc phụ huynh trên ñịa bàn TP Đà Nẵng Đây là phương pháp chính ñược sử dụng trong quá trình nghiên cứu thực tiễn
Trang 46.2.5 Phương pháp thu thập kinh nghiệm
Phương pháp này giúp chúng tôi thu thập những thông tin liên quan ñến vấn ñề chăm sóc - giáo dục cho trẻ tự kỷ thông qua các bài viết và tài liệu báo cáo của các chuyên gia,các nhà nghiên cứu, lý luận v.v ñể phục vụ cho việc xây dựng ñề tài
7 CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN
Ngoài phần mở ñầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 2 chương nội dung chính
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHĂM SÓC , GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI GIA ĐÌNH
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỈ TẠI GIA ĐÌNH
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Trang 5NỘI DUNG CHÍNH Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHĂM SĨC , GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI GIA ĐÌNH 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Ngược dịng lịch sử, dường như trẻ tự kỷ đã cĩ mặt khá lâu trong xã hội lồi người, dù rằng cho mãi đến năm 1943, sau cơng bố của BS Leo Kanner (Người Mỹ gốc Áo), người ta mới thực sự biết được sự hiện diện của những đứa trẻ như thế
Năm 1943, Kanner (ĐH John Hopkins – Hoa Kỳ) là người đầu tiên đã mơ tả một nhĩm trẻ đặc biệt này Từ đĩ sự quan tâm của giới khoa học ngày càng gia tăng
Đã cĩ nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị tình trạng này mới được dần dần quan sát và mơ tả thật chi tiết
Sau đĩ, nhiều phương pháp trị liệu và giáo dục đã ra đời gĩp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của trẻ tự kỷ
Ở Việt Nam theo tính tốn của các chuyên gia, với dân số 80 triệu nước ta cĩ khoảng 160.000 người bị tự kỷ (tính tỷ lệ 1/7.000 dân số theo tài liệu nước ngồi) Trẻ
tự kỷ ở Việt Nam thường được phát hiện muộn khi việc can thiệp đã kém hiệu quả Theo bác sĩ Đỗ Thúy Lan, Hội Y tế cơng cộng, phần lớn trẻ tự kỷ là nam Thực tế khám và điều trị tại Trung tâm Sao Mai (Hà Nội, thuộc Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật Việt Nam) cho thấy, cứ 5 trẻ tự kỷ đến khám thì 4 là các bé trai Chỉ 1/3 số trẻ tự kỷ đến khám trước 3 tuổi Trong khi đĩ, theo tiến sĩ Trần Thị Thu Hà, Phĩ trưởng khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Nhi Trung ương, thời điểm để can thiệp tốt nhất là 18 - 36
tháng tuổi Bác sĩ Thúy Lan cũng cho biết, lý do khiến tình trạng này bị phát hiện
muộn là bố mẹ khơng biết đưa con đi khám ở đâu, hoặc vì mặc cảm, khơng muốn mọi người biết con mình bất thường về phát triển Nhiều phụ huynh đã sớm nhận biết những bất thường trong hành vi và ngơn ngữ ở trẻ, đã đưa đi khám nhưng khơng chấp nhận chẩn đốn của bác sĩ hoặc cĩ khi cĩ những chẩn đốn mơ hồ, khơng chính xác
Họ đưa trẻ đi khám nhiều nơi khác mong cĩ chẩn đốn "tích cực" hơn, và khi buộc phải chấp nhận thực tế thì đã muộn
Đối với trẻ tự kỷ, việc can thiệp sớm giúp hạn chế sự gia tăng những rối nhiễu của trẻ Mục đích can thiệp là giúp trẻ tự chăm sĩc bản thân, phát triển khả năng nĩi, giao tiếp để hịa nhập tốt hơn Việc này cần sự phối hợp giữa các ngành như y tế
Trang 6(chuyên khoa nhi, tâm thần) cùng với chuyên ngành tâm lý lâm sàng và giáo dục ñặc biệt Và nhất là với sự tận tâm của bố mẹ (họ cần ñược hướng dẫn kỹ năng dạy trẻ)
Ở Việt Nam, việc phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ rất khó khăn vì ngành giáo dục chưa xây dựng mô hình hay chỉ ñạo chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục ñặc biệt cho trẻ tự kỷ Các trung tâm ít ỏi cho những em này thường thuộc nhiều cơ quan quản
lý khác nhau như thuộc hội cứu trợ trẻ em tàn tật (như Sao Mai, Hy Vọng, Phúc Tuệ ở
Hà Nội), hội phụ nữ (trường Hoa Phong Lan ở Đà Lạt), Bệnh viện Tâm Thần (các trường Tương Lai, tại một số quận thuộc TP HCM) sở Thương Binh & Xã Hội TP.HCM ( Trường Mầm Non 6 ) hay Giáo hội Công Giáo (trường Thánh Mẫu, TP HCM) hoặc một số trường chuyên biệt dân lập nên không thể có ñược những biện pháp và chủ trương thống nhất trên các quan ñiểm giáo dục cũng như trị liệu
Ở Đà Nẵng hiện có các trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật có tiếp nhận và hỗ trợ cho trẻ tự kỷ như Nguyễn Đình Chiểu, Tương Lai và trung tâm phục hồi chức năng
- bệnh viện C và bệnh viện tâm thần Số lượng trẻ tự kỷ ở thành phố Đà Nẵng có khoảng 200 em, ñó là một con số ñáng quan tâm cho xã hội và các cơ quan chuyên môn (y tế, thương binh xã hội, tâm lý, giáo dục,…)
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Trẻ tự kỷ
Thuật ngữ
Kanner ñề xuất thuật ngữ “tự kỷ sớm nhũ nhi” nhấn mạnh về tình trạng tự kỷ
ñã có từ tuổi nhũ nhi Tuy nhiên tên gọi tự kỷ còn nhiều tranh cãi Nó khiến người ta
dễ bị nhầm lẫn với việc Bleuler dùng thuật ngữ này ñể chỉ bệnh tâm thần phân liệt ở
người lớn Từ ñó dẫn ñến hàng loạt các tên khác nhau ra ñời ñể thay thế như: tâm thần phân liệt trẻ em, loạn tâm ranh giới, loạn tâm cộng sinh và loạn tâm nhũ nhi tuỳ
theo quan ñiểm riêng của tác giả về căn nguyên và bản chất của tình trạng tự kỷ
Lorna Wing ñề xuất thuật ngữ Autistic Spectrum Disorder (ASD = Rối loạn
phổ tự kỷ) xem rối loạn tự kỷ như một phổ trường gồm các phân loại tự kỷ ñiển hình (Pervasive developmental disorders - PDD), tự kỷ không ñiển hình (Pervasive developmental disorders – Not otherwise Specified – PDD - NOS), hội chứng Asperger, và các loại PDD khác [3]
Theo chúng tôi thuật ngữ Tự kỷ (Rối loạn phổ tự kỷ - Autistic Spectrum
Disorders) là thuật ngữ tương ñối chính xác vì nó phản ánh tính ña dạng của tình trạng
Trang 7rối loạn phát triển lan toả phức tạp ở trẻ nhỏ (gồm 5 phân nhĩm) Hơn nữa thuật ngữ này cịn nĩi lên một vấn đề là Tự kỷ khơng phải là một “bệnh”, khơng thể dùng thuốc
để chữa trị được mà nĩ sẽ kéo dài suốt cuộc đời trẻ vì nĩ là một rối loạn phát triển
Khái niệm trẻ tự kỷ
1943, Kanner đã đưa ra định nghĩa trẻ tự kỷ là những trẻ khơng tạo lập mối quan hệ với con người, thường cĩ thái độ bàng quan, thờ ơ với mọi người xung quanh, cĩ biểu hiện chậm nĩi, chủ yếu giao tiếp qua các cử chỉ đơi khi cĩ vẻ kỳ dị , cùng với các hoạt động vui chơi đơn giản, mang tính lập đi lập lại
1969, Rutter đã đưa ra 4 đặc trưng chủ yếu của tự kỷ:
- Thiếu quan tâm và đáp ứng trong quan hệ xã hội
- Rối loạn ngơn ngữ: Từ mức độ khơng cĩ lời nĩi đến lời nĩi lập dị
- Hành vi, vận động dị thường: Từ mức độ chơi hạn chế, cứng nhắc, cho đến khuơn mẫu hành vi phức tạp mang tính nghi thức và thúc ép
- Khởi phát sớm trước 30 tháng
1978, Hiệp hội quốc gia về bệnh tự kỷ ở Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa: tự kỷ là một hội chứng các hành vi biểu hiện trước 30 tháng tuổi với những nét chủ yếu sau:
- Rối loạn tốc độ và trình tự phát triển
- Rối loạn đáp ứng với các kích thích giác quan
- Rối loạn lời nĩi, ngơn ngữ, giao tiếp phi ngơn ngữ
- Rối loạn khả năng quan hệ với con người, sự vật, sự kiện
Như vậy cĩ nhiều khái niệm khác nhau về trẻ tự kỷ Tuy nhiên các khái niệm này khơng đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để đưa đến khái niệm hồn chỉnh về trẻ
tự kỷ
Theo chúng tơi trẻ tự kỷ là những trẻ cĩ những rối loạn phát triển lan toả phức tạp ở những lĩnh vực sau: tương tác xã hội, ngơn ngữ, hành vi định hình lặp đi lặp lại, rối loạn cảm giác Những rối loạn này thường xuất hiện trước 36 tháng tuổi và cĩ thể kéo dài suốt cuộc đời trẻ Cĩ 5 phân nhĩm của chẩn đốn trong phổ tự kỷ: tự kỷ điển hình, hội chứng Asperger, rối loạn Rett, rối loạn phân rã ở trẻ nhỏ, rối loạn phát triển lan toả - khơng điển hình
Trang 81.2.2 Chăm sóc, giáo dục
Chăm sóc là hoạt ñộng nhằm duy trì, ñiều chỉnh và phục hồi các khả năng hoạt
ñộng bình thường của cơ thể, tạo ñược trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho ñối tượng ñược chăm sóc
Giáo dục là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của
những tác ñộng có mục ñích xác ñịnh, ñược tổ chức một cách có kế hoạch, có phương pháp , có hệ thống của các cơ quan giáo dục chuyên biệt.[2]
Theo chúng tôi chăm sóc, giáo dục là hoạt ñộng cần thiết ñể phục hồi các khả năng bình thường của ñối tượng ñược tác ñộng và hướng dẫn những kĩ năng ñể giúp
họ gia tăng năng lực nhằm tham gia ñời sống xã hội hoà nhập cộng ñồng
1.2.3 Gia ñình
Gia ñình là một ñơn vị cơ bản của ñời sống nhân loại, gia ñình là một nhóm người có quan hệ với nhau bởi huyết thống, hôn nhân hoặc con nuôi Các thành viên trong gia ñình có chung mục tiêu, những giá trị Họ có cùng trách nhiệm ñối với các quyết ñịnh và có sự ràng buộc trong suốt cuộc ñời
Gia ñình là một hình thức tổ chức ñời sống cộng ñồng của con người, một thiết
chế văn hoá-xã hội ñặc thù, ñược hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên.Gia ñình ñược xem là một ñơn vị nền tảng cho mọi cộng ñồng xã hội và có nhiều hình thức khác nhau:
Gia ñình huyết thống, gia ñình bè bạn, gia ñình ñối ngẫu, gia ñình hạt nhân, gia ñình
ña thế hệ, gia ñình phụ hệ, gia ñình mẫu hệ …
Chính những mối quan hệ ràng buộc nhau giữa các thành viên gia ñình ñã khiến cho sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau rất mạnh mẽ, ñiều này vừa gây ra những cơ chế không tốt lên các thành viên nếu ñó là một gia ñình rối nhiễu, không ổn ñịnh nhưng ngược lại, ñiều ñó lại có giá trị tích cực lên từng thành viên, nếu gia ñình ñó ñược tái cấu trúc, hay ñược trang bị những kiến thức kỹ năng ñể xây dựng các mối tương giao lành mạnh
1.2.4 Chăm sóc giáo dục tại gia ñình
Theo chúng tôi: chăm sóc, giáo dục tại gia ñình là những hoạt ñộng có kỹ thuật, có ñịnh hướng ñạt ñến những mục ñích rõ ràng của cha mẹ/người chăm sóc nhằm tác ñộng ñến ñứa trẻ và giúp nó cải thiện hay tăng năng lực về mặt thể chất và
Trang 9tinh thần Những hoạt đơng này mang giá trị tích cực và cĩ hiệu quả lâu dài hơn là những hoạt động trị liệu chỉ được tác động trong một thời gian ngắn và khơng thường
xuyên
1.3 Đặc điểm phát triển trẻ tự kỷ
1.3.1 Cảm giác, tri giác
Phản ứng với các cảm giác gần kề: Trẻ tự kỷ hoặc rất nhạy cảm hoặc kém nhảy
cảm với mọi thứ xung quanh trẻ.Trẻ cĩ thể liếm và ngửi người khác như một mĩn đồ
ăn hay nhìn họ như một mĩn đồ Một số trẻ khác thì lại cĩ phản ứng rõ rệt khi bị người khác đụng đến mình và cĩ ai tỏ ý muốn vuốt ve thì chúng lại tìm cách lảng tránh hay tỏ vẻ khĩ chịu hoặc sợ hãi Cĩ trẻ lại tỏ ra quá nhạy cảm với một số mùi, cĩ trẻ lại rất ghét khi đụng chạm đến quần áo của chính mình Bà Temple Grandin, một phụ nữ
Tự kỷ đã kể lại trong tự truyện:” cấp cứu: Chẩn đốn là tự kỷ ” là khi bà cịn bé, lúc
mặt một chiếc váy ngắn hồ bột cứng, bà cảm tưởng như nĩ được dệt bằng dây kẽm gai!
Cũng cĩ những trẻ khơng cảm thấy nĩng hay lạnh và trong mùa nĩng vẫn cĩ thể mặc
áo len hoặc ăn mặc phong phanh khi trời lạnh Một trong những đặc điểm đáng ngạc nhiên nhất là trẻ tỏ ra khơng biết đau, cĩ nhiều trẻ bị gãy xương, sưng răng, đau bụng hay bị các vết trầy xướt cũng khơng hề kêu ca gì, khi chúng tự mình làm đau thì cũng khơng hề chạy đến người lớn để được chăm sĩc Ngược lại, cũng cĩ trẻ lại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi một chút xíu là cũng đủ để trẻ la tống lên, điều này gây trở ngại rất lớn cho những người chăm sĩc trẻ
1.3.2 Tư duy, tưởng tượng
Trí tưởng tượng: Một đứa trẻ tự kỷ khơng sử dụng trí tưởng tượng của nĩ khi
chơi với đồ chơi và thay vì nhận thức những đồ vật trong tình trạng tồn vẹn của chúng, thì trẻ cĩ thể quá chú ý đến một chi tiết nhỏ của một mĩn đồ chơi, một con người hay một đồ vật nào đĩ Chẳng hạn khi chơi với một bộ phận nhỏ, như cái bánh
xe hay bộ phận giảm xĩc hơn là dùng nĩ như một chiếc xe lửa để chơi
Một trẻ tự kỷ quả là cĩ đeo đuổi những hoạt động thu hút trí tưởng tượng, như đọc sách chẳng hạn, song những sinh hoạt này cĩ tính lặp đi lặp lại và rập khuơn Thí dụ con bạn cĩ thể đọc đi đọc lại chỉ một cuốn sách duy nhất hay cứ xem mãi một cuốn phim
Trang 10Các trẻ nhỏ mắc chứng Tự kỷ hầu như khơng biết chơi các trị chơi giả vờ và các hoạt động tưởng tượng một cách giống như các trẻ khác Chúng cầm các đồ chơi hay các đồ vật khác lên chỉ là để cĩ cảm giác về sự đụng chạm, hay số khá hơn cĩ thể sử dụng các mĩn đồ chơi cơng cụ thu nhỏ như bộ làm bếp, hay cho xe lửa chạy trên đường ray, nhưng cũng rất đơn giản ở một số động tác
Trẻ tự kỷ cĩ bề ngồi như những trẻ bình thường Các chỉ số phát triển vận động như: lẫy, ngồi, bị, trườn, đứng, đi, chạy giống như trẻ bình thường cùng tuổi Khác với một số bệnh cơ thể và bệnh tinh thần khác, trẻ bị rối loạn tự kỷ cĩ tuổi thọ trung bình như người bình thường Đồng thời, theo mơ tả của Kanner, dường như TTK nĩi chung lại cĩ bề ngồi khơi ngơ tuấn tú Nhưng hầu hết các mơ tả về mặt chức năng tâm lý cho thấy cĩ vấn đề rõ rệt Nhất là trong vấn đề tương tác xã hội, giao tiếp và hành vi
1.3.3 Ngơn ngữ và giao tiếp
Trẻ tự kỉ cĩ rất nhiều vấn đề về ngơn ngữ và giao tiếp, điển hình là: sự khiếm khuyết về các kĩ năng giao tiếp sớm trước khi sử dụng ngơn ngữ cĩ lời và khơng lời
Khả năng quan sát
Trẻ cĩ khuynh hướng khơng nhìn vào mắt người khác để cĩ được thơng tin (sự thay đổi nét mặt cĩ thể đốn biết cảm xúc, quan điểm, mong muốn, hài lịng hay khơng hài lịng của người đối diện) Trẻ khơng hiểu được những gì mà người khác cĩ thể biểu lộ qua ánh mắt và nét mặt để thể hiện những ý tưởng, nguyện vọng hay hành vi của mình Nhưng ngược lại, với những đồ vật mà chúng thích thì chúng cĩ thể ngồi chơi hàng giờ mà khơng chán; với chương trình tivi mà chúng yêu thích, chúng cĩ thể ngồi xem chăm chú suốt cả ngày Với những thứ mà chúng quan tâm, chúng thể hiện
sự chú ý đặc biệt đến mức dường như cĩ thể quên hết mọi thứ Mọi thứ ở xung quanh cũng khơng cĩ ảnh hưởng tới chúng, kể cả các âm thanh Chính vì thế mà cha mẹ trẻ thường đưa trẻ tự kỷ đi khám tai vì nghĩ rằng con mình cĩ thể cĩ vấn đề về tai
Khả năng tập trung
Trẻ cĩ mối quan tâm đặc biệt với những thứ mà chúng thích Trẻ chỉ thể hiện sự tập trung cao độ vào các thứ đĩ, cịn đối với những thứ khác thì chúng rất nhanh chán Trẻ cũng khơng thích nhìn người khác, khơng quan tâm tới người khác, khơng thích chơi cùng người khác nên trẻ tự kỉ ít cĩ khả năng tập trung để cùng làm một việc với người khác Điều này đã ngăn cản trẻ tự kỉ học các kĩ năng giao tiếp và gây khĩ khăn
Trang 11rất nhiều khi chúng ta lựa chọn các hoạt ñộng vui chơi nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp của trẻ
Khả năng tập trung kém nên việc bắt trẻ tự kỉ phải ngồi một chỗ trong một thời gian dài là một việc làm khó khăn Tăng ñộng là một ñặc ñiểm thường thấy ở nhiều trẻ
tự kỉ Hoạt ñộng chính của những trẻ này là chạy nhảy suốt ngày không có mục ñích
Vì vậy, nhiều bố mẹ trẻ cảm thấy bất lực khi bắt ñầu cho trẻ làm quen với việc ngồi yên một chỗ
Khả năng dùng cử chỉ
Hầu hết những trẻ TK ñều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm Đa số trẻ không hiểu và ñồng thời cũng không biết thể hiện ra ngoài những hành vi phi ngôn ngữ Điều này thể hiện khá rõ thông qua việc trẻ không muốn giao tiếp bằng mắt và không biết sử dụng ngón trỏ ñể chỉ các ñồ vật Cụ thể là khi muốn ñiều gì, trẻ không nhìn vào mặt người khác và không sử dụng các tín hiệu cử chỉ ñể báo cho người khác biết mà thường ñến kéo tay họ ñến chỗ trẻ cần (ñối với trẻ, bàn tay quan trọng hơn
khuôn mặt)
Sự hạn chế trong việc hiểu lời nói của TTK
Một trong những lý do mà các phụ huynh có con bị TK ñưa trẻ tới bệnh viện khám bệnh là trẻ hầu như không có phản ứng khi ñược gọi tên, trẻ không quan tâm và làm theo những hướng dẫn của người khác Các phụ huynh cảm thấy rằng trẻ hoàn
toàn không hiểu ngôn ngữ của họ cho dù trẻ vẫn có khả năng nghe bình thường
Chậm phát triển ngôn ngữ
Có thể ñây là dấu hiệu dễ nhận thấy nhất ñối với các phụ huynh có con bị TK, trẻ có biểu hiện sự mất ngôn ngữ hay chậm trễ trong phát triển ngôn ngữ Ngay cả khi trẻ có ngôn ngữ thì ngôn ngữ ñó cũng có dấu hiệu bất thường: giọng nói ñều ñều, không biết biểu cảm qua giọng nói; Không biết nói thầm, nói tiếng gió; Thích ñộc thoại hoặc không giữ vững cuộc ñối thoại; Khó khăn trong việc dùng ñại từ nhân xưng; Nhiều khi nói không liên quan ñến tình huống giao tiếp, ñến môi trường xung quanh; Lời nói tự phát, không có sự khởi ñầu khi giao tiếp; Tiếng nói có khuynh hướng lặp ñi lặp lại các từ, ñoạn, câu
Giai ñoạn giao tiếp của trẻ
Trẻ tự kỷ trải qua 4 giai ñoạn giao tiếp với 4 mức ñộ khác nhau
Trang 12Giai đoạn tự phát
Trẻ ở giai đoạn tự phát cĩ vẻ muốn chơi một mình và hình như khơng quan tâm đến những người xung quanh trẻ Trẻ chưa hiểu trẻ cĩ thể ảnh hưởng đến người khác bằng cách gửi tín hiệu trực tiếp cho họ vì sự giao tiếp của trẻ thường trước khi ý thức Chúng ta cĩ thể biết cách trẻ cảm nhận qua việc quan sát cử động của cơ thể trẻ, cử chỉ, tiếng hét và tiếng cười Nhiều trẻ nhỏ tuổi ở giai đoạn tự phát khi trẻ được chẩn đốn đầu tiên là hội chứng tự kỷ
Ở giai đoạn tự phát trẻ cĩ thể: Tương tác với cha/mẹ rất ngắn và dường như khơng bao giờ với trẻ khác Muốn tự làm việc Nhìn hoặc với tới điều trẻ muốn Khơng ý thức giao tiếp với bạn Chơi một cách lạ thường Gây tiếng động để tự chấn
an Khĩc hay hét để phản kháng Gần như khơng hiểu từ nào
Giai đoạn yêu cầu
Trẻ ở giai đoạn yêu cầu bắt đầu hiểu rằng trẻ cĩ thể nĩi với bạn làm nhiều điều bằng cách kéo hoặc dẫn bạn đi Ở giai đoạn yêu cầu, trẻ cĩ thể: Tương tác với cha/mẹ trong thời gian ngắn Dùng âm thanh để tự trấn an hay tập trung Lặp lại vài từ để tự trấn an hay tập trung Đạt đến điều trẻ muốn Chủ yếu giao tiếp khi trẻ cần một điều gì bằng cách dẫn bạn hay nắm bàn tay bạn Yêu cầu bạn tiếp tục một trị chơi cĩ người tham gia như cù lét hoặc rượt đổi với tiếp xúc mắt/nụ cười/cử động cơ thể/âm thanh Đơi khi theo hướng quen thuộc nếu trẻ cĩ thể nhìn điều phải làm Hiểu các bước trong những việc thường quy quen thuộc
Giai đoạn giao tiếp sớm
Trẻ ở giai đoạn giao tiếp sớm cĩ thể dùng một cách nhất quán cùng cử chỉ, âm thanh hoặc từ để hỏi những điều trẻ thích và để nĩi với bạn rằng trẻ thích tiếp tục chơi một trị chơi sau khi đã bắt đầu
Khi trẻ ở giai đoạn giao tiếp sớm bắt đầu chia sẻ quan tâm với bạn bằng cách nhìn một vật gì và rồi nhìn lại bạn, trẻ đang phát triển sự chú ý phối hợp (chú ý liên kết), là một bước tiến bộ lớn để học giao tiếp
Ở giai đoạn giao tiếp sớm trẻ cĩ thể: Tương tác với cha/mẹ và người thân trong gia đình trong tình huống quen thuộc Chơi luân phiên nhiều hơn trong trị chơi cĩ người và chơi với cha/mẹ trong thời gian lâu hơn Yêu cầu cha/mẹ tiếp tục vài trị chơi
mà trẻ thích như cù lét hoặc rượt đuổi bằng cách dùng những hành đơng, âm thanh hoặc từ ngữ mỗi lần bạn chơi Mỗi khi yêu cầu hoặc đáp ứng bằng cách lặp lại điều
Trang 13cha/mẹ nói (dùng chứng nhại lời ngay lập tức) Yêu cầu những ñiều gây ñộng viên (thức ăn, ñồ chơi, trò chơi có người, giúp ñỡ) bằng cách dùng hình ảnh, cử chỉ hoặc từ ngữ Bắt ñầu phản kháng hoặc từ chối dùng cùng một hành ñộng, âm thanh hay từ ngữ Đôi khi dùng cử ñộng cơ thể, cử chỉ, âm thanh hay từ ngữ ñể gây sự chú ý của bạn hoặc chỉ cho bạn ñiều gì Hiểu câu ñơn giản, quen thuộc Hiểu tên của những ñồ vật và người quen mà không cần gơị ý bằng mắt
Giai ñoạn ñối tác
Trẻ có thể giao tiếp và chơi như một ñối tác Trẻ thích tương tác với người khác
và có khả năng trò chuyện ngắn về những ñiều trẻ quan tâm Tuy nhiên câu chuyện có thể bị cắt ñứt vì trẻ không hiểu ñiều người ta ñang nói hoặc vì trẻ không thể nhớ những
từ trẻ cần sử dụng Khi ñiều ñó xảy ra, trẻ thường dựa vào việc “nhại lời” người vừa mới nói
Ở giai ñoạn ñối tác trẻ có thể: Tham gia lâu hơn vào sự tương tác với cha/mẹ Chơi với các trẻ khác một cách thành công nhất trong các trò chơi quen thuộc Dùng từ hoặc một cách giao tiếp khác ñể: yêu cầu, phản kháng, chào hỏi, gây sự chú ý của cha/mẹ về ñiều gì ñó hoặc hỏi và trả lời câu hỏi Bắt ñầu dùng từ hoặc cách giao tiếp khác ñể: nói
về quá khứ và tương lai, bày tỏ tình cảm, giả vờ Tự nói những câu ñơn giản Trò chuyện ngắn Đôi khi sử dụng ñiều trẻ nói khi có người không hiểu trẻ Hiểu ý nghĩa của nhiều từ khác nhau
1.3.4 Tương tác xã hội
Trẻ bị suy giảm nhiều trong ứng xử qua lại với mọi người Hầu hết TTK biểu hiện sự cô lập, thích chơi một mình, tránh giao tiếp với các bạn… Số ñông phụ huynh cho rằng trong năm ñầu tiên trẻ: rất ngoan, yên tĩnh, thích chơi một mình, không thích giao tiếp mắt, không có dấu hiệu dang tay khi ai muốn bế bồng, không biết chỉ ngón trỏ và nhìn theo hướng chỉ tay của người khác, không sợ người lạ và cũng không thân thiện với người chăm sóc, không biết cười ở tháng thứ 3, không biết khóc hay biểu hiện sợ hãi ở tháng thứ 8, không phản ứng khi ñược gọi tên, tránh né giao tiếp bằng mắt nhưng lại có thể nhìn chăm chú vào một ñiểm bất thường, khả năng gắn bó với người thân rất kém
1.3.5 Đặc ñiểm hành vi
Trẻ tự kỷ thường có những hành vi bất thường sau:
Trang 14Hành vi ñịnh hình
Theo Kanner, hành vi ñịnh hình là biểu hiện ñiển hình của TTK Quan sát lâm sàng cho thấy TTK có những hành vi rập khuôn, lặp ñi lặp lại: trẻ thích ñi ñi lại lại trong phòng, thích xếp các ñồ vật thành hàng thẳng; Vặn, xoắn các ngón tay và bàn tay; Thích chạy vòng vòng và quay vòng vòng; Thích chơi các ñồ chơi phát ra tiếng ñộng; Thích bật tắt các nút ñiện hay ñiện tử… Những trẻ khác nhau, sở thích về các
hành vi ñịnh hình khác nhau
Không thích sự thay ñổi
Hầu như TTK muốn tất cả mọi ñiều phải quen thuộc, gần gũi, trẻ rất ghét sự thay ñổi, xáo trộn: từ những ñồ dùng cá nhân, ñồ dùng học tập cho ñến nơi chốn sinh hoạt hàng ngày Đối với TTK, sự không quen thuộc ñồng nghĩa với sự thiếu an toàn, trẻ sẽ cảm thấy bất an khi có một người lạ, ñồ vật lạ hay ñến một nơi xa lạ Do
ñó, việc báo trước cho trẻ chuẩn bị tư tưởng ñể ñón nhận những ñiều mới lạ là một việc hết sức quan trọng
Thiếu nhạy cảm hoặc quá nhạy cảm
Ngày nay, những chuyên gia dạy TTK rất quan tâm ñến giác quan của trẻ Theo quan sát của các chuyên gia, hầu hết TTK ít nhiều ñều có vấn ñề về giác quan, biểu hiện việc trẻ hay ñưa các ñồ vật lên ngửi, liếm Các rối loạn khác như ăn muối không thấy mặn, ăn chanh không chua, quay tròn lâu không chóng mặt, thích leo trèo cao, thích lộn ñầu xuống ñất, ñập ñầu vào tường không biết ñau, bịt tai khi nghe thấy âm thanh thông thường Do ñó, trị liệu cảm giác (sensory therapy) cho TTK là một công việc rất ñược quan tâm hiện nay
Hành vi gây phiền toái nơi công cộng
Thường TTK ít quan tâm ñến các chuẩn mực xã hội, muốn làm theo sở thích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự mong ñợi của người khác như: la khóc khi người lớn không ñáp ứng sở thích của trẻ, chụp nhanh những ñồng tiền từ tay nhân viên bán hàng hay một món ñồ chơi từ tay ñứa trẻ bên cạnh, tự lấy ñồ ở giỏ sách của
Trang 15người khác mà không mắc cỡ, ngượng ngùng Do TTK có những hành vi khác thường gây phiền toái cho những người xung quanh nên các bậc phụ huynh rất ngại khi cho con ñi ñến chỗ ñông người Nhưng theo các chuyên gia nghiên cứu về TTK, dù trẻ có làm vậy ñi nữa, phụ huynh vẫn nên cho trẻ ñến nơi công cộng, ñiều này giúp trẻ sống hòa nhập với mọi người và lâu dài sẽ có lợi cho sự phát triển của trẻ
La hét, giận dữ
TTK có những sở thích, thói quen kỳ lạ nên trẻ thường ứng xử không ñúng với những chuẩn mực xã hội thông thường Khi người lớn thấy vậy và ngăn chặn hành vi bất thường ñó sẽ làm trẻ rất khó chịu và có những hành vi nổi cáu, gây hấn Đồng thời
do TTK gặp khó khăn về ngôn ngữ, không biểu ñạt ñược những ý nghĩ của mình ra ngoài nên người lớn không hiểu trẻ Vì vậy, sự khó chịu của trẻ xuất hiện khá thường xuyên so với trẻ bình thường
Những hành vi liên quan khác
Những cá nhân bị TK cũng có thể phát triển những triệu chứng ña dạng khác nhau Những rối loạn tinh thần xuất hiện bao gồm rối loạn tăng ñộng kém chú ý, (chứng) loạn tâm thần, sự buồn chán, rối loạn ám ảnh cưỡng bức và những rối loạn lo
âu khác Những cá nhân bị TK cũng có thể có biểu hiện những hành vi phá phách Trẻ
có thể tấn công lại bản thân hay những người khác
Trên ñây là những ñặc ñiểm cơ bản về hội chứng TK, ñiều này giúp chúng ta có cách nhìn toàn diện, khái quát về TTK, trên cơ sở ñó sẽ giúp cho các giáo viên tại các nhà trẻ, những nhà tâm lý trị liệu, các bác sĩ nhi khoa và toàn thể phụ huynh phát hiện
sớm và ñưa trẻ ñi khám kịp thời
1.4 Chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ
1.4.1 Mục tiêu
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục cho trẻ có nhu cầu ñặc biệt, mục tiêu của công tác chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ lứa tuổi mầm non là: giúp trẻ có thể thích ứng với các môi trường khác nhau (gia ñình, nhà trường, trung tâm và xã hội), trẻ có thể hội nhập cộng ñồng, trẻ chấp nhận người khác và ñược người khác chấp nhận, phát triển hết khả năng của trẻ, giúp trẻ giải toả những cảm xúc ức chế Trên cơ sở ñó gíup trẻ có thể sống ñộc lập và hoà nhập xã hội
Trang 161.4.2 Nội dung chăm sóc giáo dục trẻ tự kỷ
1.4.2.1 Rèn kĩ năng thích ứng
Một trong những mục tiêu của CSGD là hướng trẻ tự kỷ ñến cuộc sống ñộc lập
Vì vậy rèn luyện kĩ năng thích ứng cho trẻ là rất cần thiết Sự phát triển khả năng tự chăm sóc bản thân là dấu hiệu khởi ñầu cho sự ñộc lập của trẻ ñối với cha mẹ, giúp trẻ
có thể thích ứng với sự thay ñổi của môi trường xung quanh Các kĩ năng tự chăm sóc
cơ bản bao gồm những nhiệm vụ hàng ngày ñể trẻ giữ gìn vệ sinh cá nhân (ñi vệ sinh, ñánh răng rửa mặt, tắm, ), ăn uống, mặc quần áo, Các nhiệm vụ này ñược thực hiện hàng ngày Chúng có ảnh hưởng quan trọng và lâu dài (suốt ñời) ñến tình trạng sức khoẻ, quan hệ xã hội cũng như quan hệ với chính bản thân của trẻ
Đặc biệt ñối với trẻ nhỏ và thanh thiếu niên tự kỷ dạng trung bình, nặng và rất nặng, việc có khả năng thực hiện các kĩ năng tự chăm sóc bản thân (mặc dù phải dựa vào sự quản lý giám sát của người khác) là vô cùng quan trọng Khi trẻ bước vào tuổi thanh thiếu niên, các kĩ năng mặc quần áo chỉnh tề là rất cần thiết ñể người khác chấp nhận và hội nhập tốt hơn vào môi trường cộng ñồng Đây là lĩnh vực luôn ñược các bà
mẹ ưu tiên vì chúng có thể ñóng góp ñáng kể cho chất lượng cuộc sống và tính tự quyết của trẻ Thực tế cha mẹ trẻ tự kỷ là những người ủng hộ nhiệt tình nhất trong quá trình ñăt mục tiêu và dạy kĩ năng tự phục vụ chăm sóc cho trẻ
Khi ñược hướng dẫn, trẻ tự kỷ có thể ñạt ñược những tiến bộ trong việc thực hiện các kĩ năng tự chăm sóc và thể hiện một mức ñộ ñộc lập nhất ñịnh ñối với cha mẹ cũng như với người khác
Trong môi trường xa lạ trẻ khó có thể hòa nhập Nguyên nhân là do trẻ không
có khả năng thích nghi với sự thay ñổi của môi trường Trẻ tự kỷ quen sự rập khuôn máy móc, những thói quen ñịnh hình lặp ñi lặp lại Vì vậy một sự thay ñổi nhỏ cũng làm trẻ khó chịu Ví dụ ngày ñầu ñến lớp trẻ bỗng dưng xô ñẩy, càu cấu các bạn khác chỉ vì trẻ không quen ở chỗ ñông người như thế Điều này khiến trẻ bị lạc lõng, các bạn xa lánh
Do ñó vai trò của chuyên gia và giáo viên và gia ñình là giúp trẻ có kĩ năng thích ứng
ñể thích nghi với môi trường, hoà nhập xã hội
Trang 171.4.2.2 Hình thành kỹ năng xã hội
Mục tiêu cần nhắm tới, và ngày ngày chuyển biến thành hiện thực, bằng những ñộng tác cụ thể, là tạo cho trẻ tự kỷ những quan hệ hài hòa, có mặt, lắng nghe, tôn trọng, ñồng cảm và vui tươi
Một trong những khiếm khuyết của trẻ tự kỷ là không biết tạo lập mối quan hệ
xã hội Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ ứng xử với mọi người xung quanh Vịêc hình thành kĩ năng xã hội sẽ giúp trẻ ñược mọi người chấp nhận và tôn trọng
Trong quan hệ tương tác giữa trẻ em và các thành viên khác thuộc môi trường gia ñình
và xã hội, trẻ tự kỷ mang dấu hiệu như: Các em thu hẹp hay là ñóng kín mình, trong vũ trụ hoàn toàn riêng tư của mình, Các em không tìm cách tạo quan hệ gắn bó, hay là tác ñộng qua lại hai chiều, với người lớn chung quanh, hoặc với trẻ em khác cùng lứa tuổi Thậm chí với người mẹ sinh ra mình, hoặc với anh chị em sinh ñôi, các em cũng không tham gia hoặc khởi ñộng các trò chơi ñơn giản như : « cúc cù, trốn tìm »; Trẻ tự kỷ không nhìn nhận và ñón nhận người khác như một chủ thể giống như mình, có khả năng chia sẻ niềm vui và nỗi buồn, cùng bao nhiêu kinh nghiệm và cảm nghiệm, trong ñời sống thường ngày Trái lại, họ chỉ ñược ñối xử như là một dụng cụ hoặc phương tiện, ñược các em dùng, ñể thâu ñạt một mục ñích Ví dụ trẻ chỉ cầm tay
mẹ, dẫn mẹ ñi lấy nước uống cho mình, thay vì dùng lời nói hay cử chỉ, ñể diễn tả nhu cầu và nguyện vọng Trong thực tế, với những trẻ có khả năng nói, phát âm và ñọc chữ…ngôn ngữ vẫn không phải là một dụng cụ ñể tạo quan hệ
Chính vì những lý do vừa ñược liệt kê, bốn ñộng tác « Xin, Cho, Nhận và Từ chối », một cách thanh thản, hài hòa, trong lãnh vực quan hệ giữa người với người, là bốn bài học rất cơ bản, nhưng rất khó học và khó làm, ñối với tất cả mọi người, không trừ sót một ai Cho nên 4 bài học nầy phải bắt ñầu ñược dạy với mỗi trẻ Tự Kỷ [8 ]
1.4.2.3 Phát triển kĩ năng giao tiếp
Khó khăn trong giao tiếp và sử dụng lời nói là nét ñặc trưng của trẻ tự kỷ Mối quan hệ xã hội giúp trẻ phát triển về ngôn ngữ rất nhiều Môi trường xã hội là môi trường quan trọng ñể trẻ có thể hiểu ñược ý nghĩa của việc giao tiếp Do thiếu hụt về mối quan hệ xã hội nên giao tiếp trở thành một vấn ñề ñối với trẻ tự kỷ Sự thiếu hụt nay khiến trẻ tự kỷ gặp khó khăn trong việc phát triển vốn từ, sử dụng cấu trúc câu và ñặc biệt là áp dụng các mẫu câu ñã ñược học vào các ngữ cảnh khác nhau Vì việc giao tiếp gặp nhiều khó khăn nên trẻ tự kỷ thường cố gắng tìm mọi cách ñể thể hiện nhu cầu của bản thân mình mà không cần phải dụng lời nói (ví dụ như khóc, ăn vạ…)
Trang 18Việc này xuất hiện nhiều lần sẽ tạo nên hành vi giao tiếp của trẻ Nếu những hành vi
ñó, ngươì lớn thường xuyên ñáp ứng cho trẻ thì chúng sẽ cảm thấy không cần phải dụng lời nói mà chỉ cần sử dụng những hành vi ñó chúng sẽ dễ dàng ñược ñáp ứng nhu cầu Điều này làm hạn chế việc giao tiếp của trẻ
Trẻ tự kỷ cần phải ñược dạy ñể hiểu các thông ñiệp trong giao tiếp, sự cần thiết phải giao tiếp
Trị liệu hỗ trợ phát triển các kỹ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ phải ñược thiết kế
và lên kế hoạch dựa trên sự hiểu biết về mức ñộ ảnh hưởng của chứng tự kỷ ñến khả năng giao tiếp và cách mà ñứa trẻ tự kỷ có thể học ñược
Nhà trị liệu lời nói và ngôn ngữ sẽ chọn phương pháp can thiệp dựa trên nhu cầu của từng trẻ và trên kiến thức, kinh nghiệm của họ về chứng tự kỷ và sự phát triển giao tiếp Từ ñó trẻ sẽ phát triển ngôn ngữ, dần dần ñược học thêm nhiều từ ngữ mới, những cách thể hiện và giao tiếp bằng ngôn ngữ và hành vi
1.4.2.4 Giảm thiểu hành vi không mong muốn
Trẻ tự kỷ có những hành vi tự xâm hại bản thân chẳng hạn: tự gây hại, thịnh nộ, hành hung người khác, những hành vi lặp lại như xoay tròn Những hành vi này rất nguy hiểm cho trẻ và ñôi khi ảnh hưởng ñến người xung quanh trẻ Mặt khác trong quá trình giáo dục, trẻ có thể chống ñối lại cha mẹ hoặc nhà chuyên môn, trẻ không hợp tác như khóc quấy lên, la hét Điều này gây bất lợi ñến quá trình dạy học Do ñó ñể việc chăm sóc giáo dục tiến hành hiệu quả, ñiều trước hết phải làm giảm thiểu các hành vi tiêu cực, từng bước hình thành hành vi tích cực ñể thay thế dần dần các hành vi tiêu cực của trẻ
1.4.2.5 Phát triển thể chất
Đối với trẻ nhỏ và trẻ trước tuổi ñi học (0-6 tuổi) thì trò chơi chính là cuộc sống của trẻ, cũng giống như việc học ñối với trẻ lớn hơn 6 tuổi và công việc ñối với người lớn vậy! Thông qua việc chơi, trẻ phát triển về mọi mặt: nhận thức, cảm xúc, trí tuệ, hành vi, sự quan tâm, ứng xử, giao tiếp, quan hệ xã hội Chính vì vậy thông qua hoạt ñộng chơi giúp trẻ phát triển thế chất.[12]
Từ 0 - 3 tuổi, hoạt ñộng chủ ñạo là chơi với ñồ chơi Qua ñó, trẻ tìm hiểu, khám phá về cấu tạo, màu sắc, chất liệu, cảm giác giúp trẻ phát triển giác quan, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ
Trang 19Từ 3 - 6 tuổi, hoạt ñộng chủ ñạo là chơi ñóng vai với bạn bè, với người thân Qua ñó, trẻ phát triển về giao tiếp, cảm xúc, quan hệ Chúng dần dần nhận ra vai trò, khả năng, vị trí của mình trong xã hội Bởi vì, thông qua trò chơi, ñể chơi ñược với bạn, chúng phải nắm ñược các quy luật, luật lệ, quy tắc trò chơi
Hầu hết trẻ tự kỷ thường ít thậm chí không trải qua những giai ñoạn như vậy
Đó là lý do tại sao chính người lớn phải tổ chức trò chơi cho trẻ, giúp trẻ từng bước vượt qua những giai ñoạn phát triển
Trò chơi vận ñộng là yếu tố vô cùng quan trọng trong chương trình luyện tập cho trẻ tổn thương não, thông qua ñó phát triển vận ñộng tinh, vận ñộng thô Với một ñứa trẻ có quá trình phát triển tâm vận ñộng bình thường thì vận ñộng ñược coi là nền tảng của cuộc sống Một trò chơi vận ñộng ñược nhà trị liệu ñưa ra cho ñứa trẻ phải ñảm bảo thực hiện ñược những mục ñích: Thiết lập mối quan hệ, Phát triển nhận thức, Điều chỉnh hành vi
Khi tổ chức một trò chơi cho trẻ thì ngừơi trị liệu luôn phải ñặt ra các vấn ñề: Lựa chọn trò chơi (Trẻ ñang ở ñộ tuổi nào, sự phát triển tâm vận ñộng của trẻ trong thời ñiểm hiện tại, sự phát triển theo ñộ tuổi thực của trẻ ; Trò chơi do ai thực hiện - Giáo viên dạy trẻ và gia ñình; Thực hiện trị liệu ở ñâu - Trị liệu tại gia ñình hay ngoài trời,…) Xác ñịnh mục ñích của trò chơi (Tại sao cần phải tổ chức trò chơi này cho trẻ
?Trẻ chơi trò này ñể phát triển gì?) Cách tổ chức trò chơi (Tổ chức trò chơi như thế nào, thao tác nào thực hiện trước, kỹ thuật như thế nào,trò chơi cần bao nhiêu người chơi cùng ) Yêu cầu của trò chơi (Những yêu cầu về dụng cụ ñộ an toàn), không gian
ñể tổ chức trò chơi
1.4.2.6 Dạy các môn học ñường chức năng
Mặc dù 75% trẻ tự kỷ bị chậm phát triển tâm thần, nhưng không có nghĩa là trẻ không thể học ñược Trẻ tự kỷ vẫn có thể học các kĩ năng như ñọc, viết, làm toán, nhận biết môi trường xung quanh, phục vụ bản thân, ñể có thể sử dụng trong cuộc hàng ngày Tuy vậy, một số trẻ chỉ có thể học ñược một phần nào ñó của các kĩ năng này hoặc thậm chí hoàn toàn không có khả năng học các kĩ năng ñó Có thể với một số trẻ, cái các em cần học là một số kĩ năng nhất ñịnh, ví dụ việc ñọc chữ qua nhận dạng, các kĩ năng về ñọc số, ñếm, sử dụng tiền, xem thời gian.v v Với một số khác thì việc học các kĩ năng tự chăm sóc cơ bản lại quan trọng hơn.[5]
Trang 20Dựa trên thơng tin về mức độ chức năng hiện tại của trẻ, giáo viên và chuyên gia cĩ thể cùng gia đình thảo luận để quyết định các mục tiêu kế hoạch giáo dục cá nhân phù hợp cho trẻ Tuy nhiên, để xác định được cái gì là quan trọng cho mỗi trẻ, chuyên gia và giáo viên thường phải nghiên cứu kĩ năng hoạt động hàng ngày của trẻ,
dự đốn những nhu cầu trong tương lai của trẻ để lập một thứ tự ưu tiên Việc học các mơn học đường chức năng sẽ giúp trẻ trở nên độc lập và tự chủ hơn khi ở nhà cũng như khi ở trường, tại nơi làm vịêc cũng như trong cộng đồng
1.4.3 Phương pháp
1.4.3.1 Cơ sở lựa chọn phương pháp trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ
Phương châm quan trọng nhất trong hướng dẫn trẻ tự kỷ là: làm mọi thứ trở nên
rõ ràng bằng cách tạo cho trẻ một mơ hình cần thiết trong cuộc sống của chúng Việc biết được những điều sẽ đến và nhận thức được mơ hình sống quen thuộc này sẽ là cơ
sở an tồn cho rất nhiều trẻ tự kỷ Khi nhu cầu về tính rõ ràng của các kết cấu và mơ hình sống quen thuộc bị phá vỡ, trẻ tự kỷ thường rơi vào trạng thái lo lắng và bối rối
Để đưa ra kết cấu, trong lớp học giáo viên dựa trên nhiều khía cạnh khác nhau, như kết cấu về khơng gian, kết cầu về thời gian, kết cầu về hoạt động, kết cấu về con người
Kết cầu về khơng gian
Kết cầu về khơng gian giúp trả lời câu hỏi “ở đâu?”, cĩ nghĩa là các hoạt động nào sẽ xảy ra hay các hành vi nào cần phải cĩ tại một địa điểm nhất định nào đĩ Trẻ tự kỷ thường cĩ khĩ khăn trong việc hiểu một địa điểm nhất định được sử dụng để làm gì và loại hành vi nào cần phải cĩ ở địa điểm đĩ Giáo viên nên đặc biệt chú ý đến việc bố trí các gĩc hoạt động trong lớp học, cĩ thể tạo cho mỗi gĩc lớp học một chức năng riêng, nhờ vậy mơi trường xung quanh sẽ trở nên dễ dự đốn hơn đối với trẻ tự
kỷ
Trong trường hợp giáo viên thay đổi cách bố trí trong lớp học, giáo viên cần thơng báo trước cho trẻ bị tự kỷ về những thay đổi sắp diễn ra
Kết cầu về thời gian
Kết cầu về thời gian giúp trả lời câu hỏi “khi nào?” và “bao lâu?” cĩ nghĩa là khi nào thì một hoạt động sẽ xảy ra và sẽ hoạt động đĩ sẽ diễn ra trong thời gian bao lâu
Dựa trên tư duy liên tưởng, trẻ cĩ thể hiểu khi nào thì các hoạt động sẽ xảy ra, vì vậy lập thời gian biểu cho trẻ là rất cần thiết, và sẽ tốt hơn cho trẻ nếu giáo viên giúp
Trang 21chúng biết trước khi nào sẽ có những thay ñổi trong thời gian biểu, cũng như khi nào thì những thay ñổi ñó chấm dứt và mọi việc trở lại bình thường
Ngoài ra giáo viên cần chú ý khoảng thời gian chuyển tiếp từ hoạt ñộng này sang hoạt ñộng khác
Giáo viên có thể giúp trẻ trả lời câu hỏi “trong bao lâu?” khi trẻ thực hiện một nhiệm vụ hay hoạt ñộng nào ñó bằng cách: Giúp trẻ nhận biết thời ñiểm hoạt ñộng hoàn thành, ví dụ trò chơi xếp hình ñược thực hiện xong khi tất cả các miếng hình ñã ñược xếp ñúng vào bảng Trẻ phải làm việc cho ñến khi ñồng hồ chỉ một giờ nhất ñịnh Trẻ phải làm việc cho ñến khi chuông ñồng hồ bào hết giờ
Kết cấu về hoạt ñộng
Kết cấu về hoạt ñộng hay kết cấu nhiệm vụ giúp trả lời câu hỏi “như thế nào?”,
có nghĩa là nhiệm vụ hay hoạt ñộng ñó phải thực hiện như thế nào từ ñầu ñến khi kết thúc
Kết cấu hoạt ñộng có thể ñược xây dựng bằng cách giải thích lần lượt từng bước thực hiện một nhiệm vụ Cụ thể trẻ sẽ phải làm gì, phải làm nhiệm vụ ñó như thế nào, phải thực hiện ở ñâu, có những công cụ và dụng cụ gì ñể thực hiện nhiệm vụ này, nhiệm vụ này ñược thực hiện trong bao lâu, và phải là gì sau khi thực hiện xong nhiệm vụ ñó
Kết cấu về con người
Kết cấu về con người giúp trả lời cầu hỏi “ai?” và “các nội quy hay quy tắc gì?” Câu hỏi “ai?” có nghĩa là trẻ sẽ phải làm việc với ai Trong trường hợp chỉ có một giáo viên thì câu trả lời ñã rõ ràng Nhưng trong trường hợp có hơn một giáo viên thì phải làm rõ cho mỗi trẻ biết ai sẽ chịu trách nhiệm chăm sóc và làm việc với trẻ
Câu hỏi “các nội quy hay quy tắc gì?” có nghĩa là giáo viên phải thể hiện rõ mình muốn trẻ cư xử như thế nào, những hành vi nào của trẻ là có thể chấp nhận ñược
và những hành vi nào là không thể chấp nhận ñược Giáo viên phải ñặc biệt chú ý làm sao ñể các nội quy và nguyên tắc rõ ràng Phải giúp trẻ hiểu tại sao phải tuân thủ những nội quy hoặc nguyên tắc ñó
Để tránh sự ảnh hưởng quá lớn của giáo viên ñến trẻ tự kỷ khi họ luôn hướng trẻ theo những kết cấu như trên thì các kết cấu cho trẻ tự kỷ phải ñược xem như là một dạng giao tiếp, một công cụ nhằm làm cho thế giới phức tạp xung quanh trở nên rõ ràng hơn ñối với trẻ, ñồng thời phải cẩn thận ñể không là trẻ trở nên quá cứng nhắc Dựa trên nhu cầu của từng trẻ mà cho phép trong các kết cấu có sự linh hoạt nhất ñịnh
Trang 221.4.3.2 Các phương pháp trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ
Phương pháp ABA (Applied Behavior Analysis – Phân tích hành vi ứng dụng)
Đây là một trong số những phương pháp hữu hiệu ñể dạy trẻ tự kỷ Do tác giả
Ivar Lovaas và các bạn ñồng nghiệp ñã nghiên cứu và phát triển vào những năm
1990 Những kĩ năng ñặc biệt ñược dạy bằng cách chia các hành vi ra thành từng bước nhỏ, dạy một bước trong một thời ñiểm và củng cố bước ñó Nhiều năm qua, ABA ñược sử dụng ñể dạy các cá nhân với những khả năng khác nhau, và có thể ñược
sử dụng trong tất cả lĩnh vực: tự chăm sóc, lời nói và ngôn ngữ, kĩ năng cư xử xã hội
• Cần nhiều thì giờ (30-40 giờ/tuần)
• Ảnh hưởng ñến thời gian với gia ñình
• Không giúp trẻ tự kỷ ñáp ứng với hoàn cảnh mới
Ví dụ:
1 Giáo viên nói: Cháu nhặt bút lên (request)
Trẻ : làm chính xác( hành vi)
Giáo viên: vỗ tay ( kết qủa)
2 Giáo viên: Đưa qủa bóng cho cô
Trang 23TEACCH là một cách tiếp cận theo suốt cuộc đời nhằm giúp những người bị tự
kỷ mà mục tiêu của nĩ là trang bị cho trẻ một cuộc sống hữu ích trong cộng đồng Cách tiếp cận này bắt đầu cung cấp các thơng tin thị giác, cấu trúc và sự dự đốn vì người ta nhận ra là kênh học tập thuận lợi nhất là thơng qua thị giác
• Khi áp dụng pháp cần chú ý những nguyên tắc:
- Mơi trường nên thích ứng với trẻ tự kỷ, chứ khơng phải trẻ tự kỷ thích ứng với mơi trường
- Tập trung vào cá nhân, xây dựng trên những kỹ năng và sở thích cĩ sẵn
• Chương trình bao gồm: đánh giá, kế hoạch giáo dục cá nhân, đào tạo kỹ năng
xã hội, kỹ năng nghề nghiệp, hướng dẫn phụ huynh, tư vấn nhà trường
• Cách dạy cĩ kết cấu bao gồm: …chương trình, tổ chức phịng lớp và vật liệu,
và sự hướng dẫn đơn giản, rõ rệt
• Được thiết kế để hồn chỉnh những kỹ năng giao tiếp, xã hội và xử lý
• Khác với chuẩn phát triển ‘bình thường” - bắt đầu ở mức độ trẻ và giúp trẻ phát triển đến mức cao nhất cĩ thể
• Các khả năng học hỏi của trẻ được đánh giá bằng PEP: những biểu hiện tâm lý giáo dục
Phương pháp cĩ 9 lĩnh vực can thiệp và chia theo từng giai đoạn tuổi từ 1 đến 6
1 Bắt chước (Imitation)
2 Nhận thức (Perception)
3 Vận động thơ (Gross motor)
4 Vận động tinh (Fine Motor)
5 Phối hợp mắt và tay (Eye-hand intergration)
6 Kỹ năng hiểu biết (Cognitive performance)
7 Kỹ năng ngơn ngữ (Verbal performance)
8 Kỹ năng tự lập (Self-help)
9 Kỹ năng bắt chước xã hội (Social performance)
Ưu điểm
• Cả một chương trình đáp ứng ứng với các nhu cầu của trẻ
• Trẻ tự kỷ hiểu các yêu cầu và cách Tập trung vào những kỹ năng của trẻ, chứ khơng chỉ nhìn những khuyết điểm
Trang 24Khuyết ñiểm
• Rất gò bó, tập trung vào những ñồ phụ tổ chức (bảng, chương trình)
• Cần nhiều nhân lực ñể thực hiện
Ví dụ: Mục tiêu: Biết tên của các con loài vật, như gà, vịt, chó, mèo…
Giáo viên dùng 4 hình ảnh, ñể trước mặt trẻ GV gọi tên các con vật sau ñó hỏi: Gà ñâu? Tìm cho cô ( ? ) cần ghi ñầy ñủ !
Phương pháp PECS (Pictures Exchange Communication System - Hệ thống giao
tiếp trao ñổi hình)
PECS là một công cụ tốt giúp trẻ giao tiếp không lời PECS cho phép trẻ lựa chọn và giao tiếp nhu cầu khi trẻ có thể giao tiếp và thể hiện nhu cầu của chúng, thông thường các hành vi có thể giảm nhẹ và trẻ trở nên vui vẻ hơn
PECS có thể ñược dùng trong nhiều cách khác nhau ñể giao tiếp Điển hình PECS là các bức tranh về ñồ vật (thức ăn, ñồ chơi ) Khi trẻ muốn một trong những thứ ñó, trẻ ñưa tranh cho ñối tượng giao tiếp như bố, mẹ, nhà trị liêụ, người trông nom hoặc ñứa trẻ khác Đối tượng giao tiếp sau ñó sẽ ñưa cho trẻ ñồ chơi hoặc thức ăn ñể củng cố giao tiếp Cuối cùng các bức tảnh có thể ñược thay thế bằng các từ và câu ngắn
Việc sử dụng PECS là một quá trình kéo dài và phức tạp, trải qua nhiều tháng ñể hoàn thiện Đối với cuộc sống hàng ngày với một ñứa trẻ không có ngôn ngữ nói và cũng không sử dụng ngôn ngữ kí hiệu, PECS có thể hoàn toàn là một sự trợ giúp cho sự thiếu ‘phương tiện’ giao tiếp.[3]
Ví dụ: Trong giờ học, khi trẻ có nhu cầu ñi vệ sinh ta cầm tay trẻ chỉ vào hình có biểu
tượng ‘vệ sinh’ và nói ‘vệ sinh’, lập tức cô dẫn cháu ñi vệ sinh Nhiều lần như vậy trẻ
sẽ tự chỉ vào hình khi có nhu cầu
Phương pháp Floor Time (dựa trên sự phát triển, khác biệt cá nhân, và mối quan hệ/cùng chơi với trẻ)
Phương pháp này do hai bác sĩ tâm thần nhi, Stanley Greenspan và Serena Weider ñề ra Chương trình gồm ba yếu tố: Developmental (Dựa trên sự phát triển); Individual Differences (khác biệt cá nhân); Relationship-based (Dựa trên mối quan hệ) Chương trình gồm 3 phần:
1 Thời gian dưới sàn (thời gian chủ yếu khi bạn theo sau sự chủ ñộng của con bạn1 (bố mẹ theo sát con và ñể trẻ dẫn ñi, ñể trẻ chủ ñộng), cố gắng ñể xây dựng một
Trang 25
hướng của ý muốn và dòng chảy của sự tương tác như là bạn bị theo ñuổi, bị lôi cuốn
và bị ve vãn bởi cảm xúc và năng lượng của mình)
2 Hiểu và can thiệp vào với những nhu cầu khác biệt về giác quan của con bạn (nắm bắt ñược trẻ tỏ ra khác biệt như thế nào trong cách mà chúng nói và nghe, tiếp nhận thông tin từ giác quan và cảm giác, cách mà chúng nhìn, tìm thấy và tìm kiếm, cách mà chúng dự kiến và tiếp tục hoạt ñộng của chúng ñối với người khác hay với ñồ chơi)
3 Một phần kết cấu trò chơi (bạn tạo ra cơ hội ñể chơi và học những cảm xúc nền tảng bằng việc khai thác ñộng cơ thúc ñẩy con bạn) Trẻ nên ñược thấy khả năng
ñể ñược ñiều chỉnh và ñược hứa hẹn (phần thưởng) và giao tiếp mắt trước khi xây dựng những kỹ năng riêng biệt hơn
• Không dạy cách học theo yêu cầu của người lớn
• Hơi khó tương tác ban ñầu với trẻ
Ví dụ: khi bạn mang cốc nước ñá vào phòng chơi, trẻ với tay một cách bất ngờ ñến
chiếc cốc thủy tinh (và tất nhiên ñầu tiên bạn nghĩ rằng “tại sao mình không dùng một cái cốc nhựa nhỉ?”) Bạn nhận ra rằng trẻ có thể là khát, hoặc bạn có thể dạy trẻ về nóng và lạnh, ướt và khô Bạn có thể lấy nhiều cốc và ñổ nước vào mỗi cốc với mức khác nhau ñể làm thành một bộ nhạc cụ, nhưng nếu bạn quan sát thật kỹ, thì cái thúc ñẩy trẻ lại là quả chanh nổi trên nước Một quả chanh chua ngậm trong miệng người
mẹ sẽ tạo ra khuôn mặt hài và làm trẻ cười Chỉ cần bạn theo dõi sự phát triển nhận thức của trẻ ñối với những gì chúng thích, những gì kích thích chúng hay trẻ chỉ nhìn ñơn thuần, bạn sẽ có cơ sở ñể tiếp tục
Phương pháp social story (những câu chuyện xã hội - CCXH)
Phương pháp CCXH sử dụng những CCXH làm công cụ ñể dạy KNXH cho trẻ mắc hội chứng Tự kỉ và trẻ khuyết tật CCXH là câu chuyện ngắn tập trung vào việc mô tả một chi tiết hoặc một hoạt ñộng nào ñó với các ñiểm chính sau:
Trang 26
Những câu nói mang tính xã hội: chào hỏi, xin phép, xin lỗi…
Những sự kiện hoặc những tương tác mà cá nhân có thể chờ ñợi trong những tình huống ñó
Những hành ñộng và những tương tác mà cá nhân nên sử dụng trong tình huống
CCXH cung cấp cho trẻ những cách tiếp cận gần nhất với các tình huống xã hội
Bản thân các tình huống xã hội rất phong phú, ña dạng và thường biến ñổi linh hoạt Trẻ bình thường cũng phải học và rèn luyện rất nhiều mới có thể phản ứng phù hợp trước các tình huống xã hội gặp phải Do ñó nếu chỉ ñược nghe giảng giải, giải thích, khuyên răn…bằng lời trẻ mắc hội chứng Tự kỉ sẽ không hiểu hết ñược bản chất của vấn ñề CCXH cung cấp cho trẻ mắc hội chứng Tự kỉ những cách tiếp cận gần nhất với các tình huống xã hội nghĩa là CCXH cung cấp cho trẻ những cách tiếp cận với các tình huống xã hội thông qua ñoạn chuyện ngắn gọn, ñơn giản, ñôi khi còn ñược kết hợp với tranh ảnh thực hoặc qua cả băng video quay các tình huống thực
CCXH tạo cho trẻ mắc hội chứng Tự kỉ cơ hội thực hành các kỹ năng một cách thường xuyên
Những CCXH ñược xây dựng dựa trên những tình huống xã hội gần gũi, thường nhật mà ñứa trẻ thường bối rối, khó chịu khi gặp phải Do ñó, những tình huống xã hội này sẽ ñược lặp ñi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn (một giờ, một tiết học, một buổi học, một ngày học, một tuần học…) Đây chính là ñiều kiện thuận lợi ñể trẻ có thể thực hành ứng dụng những kỹ năng ñược học trong
Trang 27CCXH một cách thực tế nhất Giáo viên cũng qua ñó dễ dàng ñánh giá ñược hiệu quả của CCXH ñến hành vi, thái ñộ của trẻ trước tình huống mà trẻ gặp phải
Có thể thấy phương pháp CCXH ñã giải quyết khá triệt ñể những khó khăn, bối rối, lo lắng của trẻ mắc hội chứng Tự kỉ trước các tình huống xã hội thường ngày thông qua việc: giải quyết vấn ñề khó khăn trong việc hiểu cảm xúc, suy nghĩ, dự ñịnh của người khác một cách trực diện; cung cấp thông tin về một số tình huống xã hội theo hình thức cấu trúc cố ñịnh; cung cấp cho trẻ những cách tiếp cận gần nhất với các tình huống xã hội; tạo cho trẻ mắc hội chứng Tự kỉ cơ hội thực hành các kỹ năng một cách thường xuyên
Như vậy, việc sử dụng CCXH vào rèn luyện KNXH cho trẻ mắc hội chứng Tự
kỉ ñem lại những hiệu quả nhất ñịnh ñối với sự phát triển ở hiện tại và tương lai của trẻ Trên thế giới ñây là một phương pháp giáo dục trẻ mắc hội chứng Tự kỉ phổ biến Còn tại Việt Nam việc xây dựng và sử dụng CCXH còn gặp nhiều khó khăn
Phương pháp SI ( Sensory Integration - Hòa nhập cảm giác)
Các giác quan của chúng ta ñưa cho chúng ta thông tin mà ta cần ñể nhân thức thế giới các giác quan lấy thông tin từ các hiện tượng cả ngồi và trong cơ thể chúng ta
5 giác quan: nghe, nhìn, nếm, ngửi, sờ, phản ứng với các hiện tượng ñến từ bên ngồi
cơ thể Trị liệu hồ hợp giác quan là công cụ có giá trị ñể dạy trẻ làm thế nào ñể tương tác với môi trường xung quanh
Trẻ tự kỷ có thể có những phản ứng không ñủ hoặc quá nhạy cảm, hoặc thiếu khả năng hòa hợp các giác quan Vì vậy có một số trẻ tự ñập ñầu vào tường hoặc quay tròn Phương pháp hoà nhập cảm giác tập trung vào giúp trẻ bớt nhạy cảm, giúp tổ chức lại thông tin cảm giác
Ví dụ: cho trẻ tập trong phòng phát triển giác quan có các thiết bị như âm nhạc nhẹ,
phòng sáng tối ñể luyện thị giác
Phương pháp OT (Occupatoin Therapy - Hoạt ñộng tri liệu)
OT ñưa ra những hỗ trợ cho trẻ tự kỷ mà có khó khăn trong các giác quan, vận ñộng, cơ lực và các kĩ năng thăng bằng
Nhà trị liệu và giáo viên thường sử dùng mát-xa, bạt lò xo, ván trượt, bóng cao su to,
bể bơi tất cả những thứ này ñược dùng ñể trẻ trở nên nhận thức hơn về cơ thể mình và
có khả năng sử cơ thể trong các cách khác nhau
Trang 28Phương pháp “Trò chơi không ñịnh hướng”
Trò chơi không ñịnh hướng giống như tương tác và chơi – nói chung không ép buộc, không có cấu trúc và vui vẻ nó không giống như chơi bình thường bởi vì khi bạn là giáo viên, bạn ñóng vai trò như một ñối tượng chơi tích cực của trẻ Nhiệm vụ của giáo viên là theo sự dẫn dắt của trẻ và chơi bất cứ cái gì mà trẻ thích và làm ñiều này theo cách sao cho khuyến khích trẻ tương tác với mình Điều này có nghĩa rằng nếu muốn trẻ ñẩy xe ô tô, bạn ñẩy xe ô tô với trẻ, ñưa trẻ xem một cái ô tô ñi nhanh hoặc một cuộc thi xem ai nhanh hơn Nếu cần thiết, lấy ô tô của bạn ñâm vào ô tô của trẻ - làm những gì ñể tạo nên sự tương tác Vai trò của bạn là trở thành người giúp có tính xây dựng và khi cần thiết, khiêu khích bằng cách làm bất cứ ñiều gì ñể ñưa hoạt ñộng của trẻ vào sự tương tác lien cá nhân
Phương pháp “Trị liệu ngôn ngữ và lời nói”
Trẻ em tự kỷ thường không giao tiếp bằng cách dùng lời nói hoặc bất cứ loại ngôn ngữ nào, ví dụ như tiếp xúc mắt và ngôn ngữ cơ thể Nếu như một ñứa trẻ không muốn giao tiếp, nó sẽ không khám phá ra ñược khả năng phát âm của mình, học các
âm thanh mới hoặc nghe ngôn ngữ nói xung quanh mình Điều này sẽ dẫn sự chậm phát triển ngôn ngữ và kĩ năng giao tiếp và trẻ sẽ thấy rất khó khăn ñể thể hiện bản thân mình Điều này thường dẫn ñến sự thất vọng cho trẻ
Trị liệu ngôn ngữ rất quan trọng trong phát triển chức năng cho trẻ và nó nên ñược sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của tất cả những trẻ có khó khăn về lời nói và ngôn ngữ
Phương pháp “Trị liệu nước”
Đây là hoạt ñộng trị liệu có ý nghĩa hỗ trợ rất tích cực cho sự phát triển của trẻ
tự kỷ Trị liệu nước giúp trẻ tự kỷ giảm căng thẳng, giảm bớt hành vi không mong