1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HỒ CHÍMINH VẬNDỤNG PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG TRONG LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤUT RANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆTNAM

67 647 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồ Chí Minh Vận Dụng Phương Pháp Biện Chứng Trong Lãnh Đạo Cuộc Đấu Tranh Chống Thực Dân Pháp Và Đế Quốc Mỹ Ở Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hồng
Người hướng dẫn Ts. Võ Văn Thắng
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 661,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất nước Việt Nam tự hào đã sản sinh ra Hồ Chí Minh, một danh nhânvăn hóa thế giới,

Trang 1

NGUYỄN THỊ KIM HỒNG

LỚP DH5CT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG

TRONG LÃNH ĐẠO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG

THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ Ở VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn

Ts VÕ VĂN THẮNG

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài Trang 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 4

6 Kết cấu khóa luận 4

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG 1.1 Phương pháp và phương pháp biện chứng 1.1.1 Phương pháp và phân loại phương pháp 5

1.1.2 Phương pháp biện chứng và vai trò của phương pháp biện chứng 1.1.2.1 Phương pháp biện chứng 7

1.1.2.2 Lịch sử phương pháp biện chứng 9

1.1.2.3 Vai trò của phương pháp biện chứng 10

1.2 Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng 1.2.1 Nguyên tắc phản ánh 14

1.2.2 Nguyên tắc năng động 16

1.2.3 Nguyên tắc toàn diện 17

1.2.4 Nguyên tắc lịch sử 19

1.2.5 Nguyên tắc mâu thuẫn 20

1.2.6 Nguyên tắc phủ định biện chứng 21

Trang 3

PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG TRONG LÃNH ĐẠO

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ

Ở VIỆT NAM

2.1 Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng trong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam 232.1.1 Xuất phát từ thực tế Việt Nam mà đề ra phương pháp, cách làm thích hợp 272.1.2 Có quan điểm toàn diện trong việc xem xét, giải quyết các vấn đề của cách mạng

2.1.2.1 Đánh giá kẻ thù từ nhiều mặt để tìm ra bản chất của chúng 32 2.1.2.2 Huy động sức mạnh toàn dân tộc, đánh địch với mọi qui mô, mọi cách thức, mọi phương tiện 34

2.1.2.3 Tranh thủ tất cả yếu tố nhằm đảm bảo cách mạng thắng lợi372.1.2.4 Có cách nhìn biện chứng giữa thời, thế và lực trong một cuộc cách mạng 402.1.3 Linh hoạt, mềm dẻo ứng phó kịp thời với từng hoàn cảnh lịch sử

cụ thể

2.1.3.1 Dĩ bất biến, ứng vạn biến 432.1.3.2 Linh hoạt, mềm dẻo sử dụng sách lược tác chiến phù hợp 442.1.4 Phân tích và giải quyết đúng mâu thuẫn của ta và mâu thuẫn của địch, đưa cách mạng tiến lên 462.1.5 Xem xét vấn đề của cách mạng trong sự vận động, phát triển không ngừng 482.2 Giá trị của phương pháp biện chứng mà Hồ Chí Minh vận dụng trong giai đoạn hiện nay 50

KẾT LUẬN 58

Trang 4

Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam tự hào đã sản sinh ra Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một anh hùng giải phóng dân tộc, một vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam

Hồ Chí Minh, người đã đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua bao sóng gió thác ghềnh, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác Đó là kết quả của quá trình kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh xã hội Việt Nam Ở góc độ triết học, Người đã tiếp thu chủ nghĩa duy vật biện chứng đặc biệt là phương pháp biện chứng; lấy nó làm nền tảng tư duy và chỉ đạo hoạt động thực tiễn của mình Điều đó được biểu hiện đặc sắc trong quá trình Người lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ

ở nước ta

Như chúng ta đã biết, tư tưởng của Hồ Chí Minh rất phong phú và rất sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, nhưng trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng thể hiện đầy đủ nhất, độc đáo nhất là sự vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng mác-xít, nó được thể hiện đầy đủ bản lĩnh và nghệ thuật của một nhà tư tưởng, nhà quân sự lỗi lạc Với Hồ Chí Minh, độc lập, tự do là giá trị cao quý nhất mà Người mong muốn đạt được và là khao khát cháy bỏng suốt cuộc đời của Người Chính khát khao đó là động lực thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước với hành trình ngót 30 năm gian khổ ở nước ngoài và gần 30 năm trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, đồng bào ta

ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [12;42]

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới đang diễn ra hết sức phức tạp Việt Nam không nằm ngoài bối cảnh chung đó Thực tiễn này đòi hỏi mỗi chúng ta, nhất là những nhà lãnh đạo phải thực sự bình tĩnh, bản lĩnh và có phương pháp tư duy biện chứng đúng đắn để lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và phát triển đúng hướng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đề ra một trong những phương hướng cơ bản là “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho

Trang 6

thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội” [11;71] Trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng đã xác định: “kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng”[24;49] Qua đó, chúng ta thấy rằng, Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh chiếm vị trí hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay

Là sinh viên chuyên ngành Giáo dục chính trị, tôi nhận thấy nhiệm vụ kế thừa và phát huy những chân giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh là rất cần thiết Để làm được điều đó, tôi muốn góp phần vào việc nghiên cứu một mảng nhỏ trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh với hy vọng góp phần làm sáng tỏ

và khẳng định giá trị trong việc vận dụng phương pháp của Người, đó là vấn

đề vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở nước ta Đó là lý do để tác giả chọn vấn

đề này để nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng trong việc lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam của Hồ Chí Minh

Khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về lĩnh vực phương pháp không những trong đấu tranh cách mạng thời kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà còn có ý nghĩa to lớn trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu phương pháp biện chứng và vai trò của nó trong đời sống, những nguyên tắc cơ bản khi vận dụng phương pháp biện chứng

Về thực tiễn, luận văn nghiên cứu việc vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, đồng thời, khẳng định giá trị của nó trong giai đoạn hiện nay

Trang 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Đề tài tập trung nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng trong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của Hồ Chí Minh

Ngoài ra, đề tài còn nghiên cứu những giá trị hiện thực của phương pháp biện chứng mà Hồ Chí Minh từng vận dụng đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh trong nhận thức và hoạt động thực tiễn là rất phong phú Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp đại học, tôi nghiên cứu việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng, trong quá trình Người lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả còn sử dụng các phương pháp:

* Phương pháp sưu tầm tư liệu: Tác giả đã tập hợp và chọn lọc những thông tin cần thiết, đáng tin cậy từ những tài liệu sưu tầm được để xử lý làm đối tượng nghiên cứu

* Phương pháp phân tích - tổng hợp: Để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu, tác giả đã phân tích sự quán triệt từng nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng ở Hồ Chí Minh, từ đó khái quát lên và chỉ ra nét độc đáo trong quá trình Hồ Chí Minh vận dụng phương pháp biện chứng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam

* Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình tìm hiểu về việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, tác giả đã có sự so sánh, đối chiếu với phương pháp biện chứng của triết học mác-xít để thấy sự sáng tạo, độc đáo của Hồ Chí Minh khi vận dụng chúng

* Phương pháp lôgic - lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã

sử dụng những sự kiện lịch sử theo sự phân bố thời gian từ quá khứ đến hiện tại để làm nổi bật sự sáng tạo trong việc vận dụng phương pháp biện chứng

Trang 8

của Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả tìm ra những giá trị của nó đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

5 Đóng góp của khóa luận

Thứ nhất, qua nghiên cứu việc vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng mác-xít của Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam, khóa luận góp phần khẳng định vai trò của triết học mác-xít đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội

Thứ hai, luận văn khẳng định và góp phần làm phong phú những giá trị khoa học trong tư tưởng Hồ chí Minh ở góc độ triết học mà đặc biệt là trong lĩnh vực phương pháp

Thứ ba, luận văn chỉ ra những giá trị của phương pháp biện chứng

mà Hồ Chí Minh vận dụng đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó khẳng định vai trò của công cụ tư duy lý luận đối với công tác lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”

6 Kết cấu khóa luận

Phần mở đầu

Phần nội dung

Chương 1: Phương pháp biện chứng và một số nguyên tắc cơ bản khi

vận dụng phương pháp biện chứng

Chương 2: Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng

trong lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở Việt Nam

Phần kết luận

Trang 9

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

CỦA PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG

1.1 Phương pháp và phương pháp biện chứng

1.1.1 Phương pháp và phân loại phương pháp

Từ trước đến nay đã có nhiều định nghĩa về phương pháp Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, phương pháp là sản phẩm thuần túy của tư duy, xuất phát hoàn toàn từ ý muốn chủ quan của con người, chỉ những gì thuộc về nhận thức và cải tạo thế giới khách quan

Nhà bác học nổi tiếng T.Páp-lốp cho rằng: “Phương pháp khoa học là những quy luật bản chất nội tại của vận động nhận thức khoa học được sử dụng một cách có ý thức để đạt đến những thành tựu chân lý đúng đắn hơn, nhanh chóng hơn, đầy đủ hơn” [Dẫn theo13;20]

Trong Từ điển Triết học, “Theo nghĩa chung nhất, phương pháp là cách thức đạt tới mục tiêu, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định Theo nghĩa triết học chuyên môn, với tính cách là phương tiện nhận thức, phương pháp là cách thức tái hiện lại đối tượng nghiên cứu trong tư duy” [23;458]

Theo tôi, phương pháp là toàn bộ những cách thức với tính chất là một hệ thống các nguyên tắc xuất phát từ các quy luật tồn tại và vận động của khách thể đã được nhận thức để định hướng và điều chỉnh hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn của con người nhằm tác động vào khách thể để thực hiện mục đích đã định

Như vậy, phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, nó là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động, xem nó như là một phạm trù thuần túy Còn chủ nghĩa duy vật khẳng

Trang 10

định phương pháp hình thành không phải chủ quan, tùy tiện, không có sẵn và bất biến mà nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra Để tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể cần nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan Từ đó, chủ thể xác định phải nghiên cứu và hành động như thế nào, cần phải sử dụng phương tiện, công cụ và biện pháp nào cho thích hợp cũng như cần phải kết hợp các yếu tố theo một trình tự như thế nào cho hợp lý Do vậy, phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu.

Do đối tượng nghiên cứu rất phong phú, đa dạng nên các phương pháp cũng phong phú, đa dạng Tùy theo tiêu chí khác nhau mà phương pháp được chia thành các loại khác nhau

Nếu dựa vào mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng thì phương pháp được chia ra thành phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng bộ môn khoa học cụ thể như phương pháp sinh học, phương pháp hóa học, phương pháp vật lí học Phương pháp chung là phương pháp áp dụng cho một số bộ môn khoa học như phương pháp quan sát, phương pháp mô hình hóa, phương pháp hệ thống cấu trúc Phương pháp phổ biến là phương pháp áp dụng chung cho tất cả các bộ môn, đó là phương pháp của triết học Mác-Lênin hay phương pháp biện chứng duy vật

Nếu dựa vào mục đích, chức năng thì có thể chia phương pháp thành phương pháp hoạt động thực tiễn và phương pháp nhận thức Phương pháp hoạt động thực tiễn là phương pháp sử dụng các phương tiện vật chất để tác động trực tiếp vào đối tượng nhằm biến đổi các đối tượng đó theo những nhu cầu của con người như phương pháp sản xuất, phương pháp thực nghiệm, phương pháp đấu tranh cách mạng Phương pháp nhận thức là phương pháp sử dụng các giác quan và tư duy để nắm bắt bản chất của sự vận động và phát triển của đối tượng như phương pháp quan sát, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể,

Tuy nhiên, việc phân chia này chỉ mang tính chất tương đối Mỗi phương pháp có vị trí, vai trò khác nhau, vì vậy không nên cường điệu phương pháp này mà hạ thấp phương pháp kia, phải biết vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp

Các phương pháp tuy khác nhau về nội dung, mức độ phổ biến, phạm vi ứng dụng, song không tách rời nhau mà có liên hệ biện chứng với nhau Quan

Trang 11

hệ giữa phương pháp biện chứng và phương pháp của khoa học cụ thể là quan

hệ giữa cái chung và cái riêng Trong hoạt động thực tiễn, chúng ta không chỉ nắm vững phương pháp riêng về lĩnh vực chuyên môn của mình mà còn phải nắm vững phương pháp phổ biến của triết học Mác-Lênin, phương pháp biện chứng duy vật Đây là phương pháp luận phổ biến khoa học, định hướng đúng đắn trong công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn, giúp chúng ta đạt đến chân lý khách quan và đạt hiệu quả cao trong công việc

1.1.2 Phương pháp biện chứng và vai trò của phương pháp biện chứng

1.1.2.1 Phương pháp biện chứng

Theo Ăngghen, phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ, ảnh hưởng nhau, ràng buộc nhau; nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động, biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Như vậy, phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt

Nó thừa nhận trong những trường hợp cần thiết thì bên cạnh cái “hoặc là hoặc là ” còn có cả cái “vừa là vừa là ”; nó thừa nhận một chỉnh thể trong lúc vừa là nó lại vừa không phải nó; thừa nhận cái khẳng định và cái phủ định vừa loại trừ nhau lại vừa gắn bó nhau Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại và phương pháp này hoàn toàn đối lập với phương pháp siêu hình

Phương pháp siêu hình hình thành trong thế kỷ XVII, XVIII, bị ảnh hưởng bởi trình độ phát triển của khoa học tự nhiên trong giai đoạn sưu tập,

mô tả Nó xem xét sự vật một cách cô lập, tách tời, cứng đờ, tĩnh tại, không thấy sự liên hệ và sự vận động, phát triển của chúng, thiếu quan điểm lịch sử-

cụ thể; không thấy mâu thuẫn bên trong của sự vật; không thấy quá trình chuyển hóa từ chất này sang chất mới, đúng như Ăngghen đã viết: “Phương pháp tư duy siêu hình chỉ thấy những sự vật cá biệt mà không thấy mối liên hệ giữa những sự vật ấy, chỉ thấy trạng thái tĩnh của sự vật mà không thấy trạng thái động của sự vật, chỉ thấy cây mà không thấy rừng.” [9;19] Sự phát triển của khoa học hiện đại đã bộc lộ tính hạn chế của phương pháp siêu hình Do vậy, nó phải bị phủ định bởi phương pháp khoa học hơn, đó là phương pháp biện chứng của triết học mác-xít

Trang 12

Yếu tố cơ bản trước tiên của phương pháp biện chứng là “tính khách quan của sự xem xét” Nghĩa là, khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng phải xuất phát từ thực tế khách quan, tránh thiên kiến chủ quan, phải phản ánh trung thành những quá trình, những quy luật tồn tại hiện thực.

Phương pháp biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật một cách toàn diện, phải tính đến mối liên hệ phổ biến và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, phải vạch ra “toàn bộ những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với sự vật khác” Quan điểm toàn diện đối lập với thuật ngụy biện và chủ nghĩa chiết trung của các học giả tư sản và bọn xét lại

Phương pháp biện chứng còn yêu cầu xem xét sự vật trong sự vận động

và phát triển của nó, vạch ra những mâu thuẫn bên trong của sự vật ấy, tức là tìm ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Ở đây, muốn nhận thức sự phát triển của sự vật, hiện tượng phải vận dụng tất cả các quy luật, các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng với tư cách là những quy luật của nhận thức, những phương pháp nhận thức

Phương pháp biện chứng còn đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử - cụ thể, phải gắn với thực tiễn Tính lịch sử - cụ thể trong việc nghiên cứu sự vật, hiện tượng là một nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng, như V.I.Lênin

đã viết: “ Bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là: “phân tích một tình hình cụ thể rằng phương pháp của Mác trước hết là xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một thời điểm lịch sử cụ thể” [9;314] Như vậy, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng, chúng ta phải quán triệt những nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng mà chủ yếu là các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, thực tiễn và lịch sử - cụ thể Khi phân tích bất kỳ vấn đề gì, tư duy phải mềm dẻo, năng động, linh hoạt, không cứng nhắc, một chiều; có như thế chúng ta mới phản ánh đời sống một cách đúng đắn, sinh động; phải tuyệt đối chống lối suy nghĩ máy móc, phiến diện,

có tính hình thức chủ nghĩa, chỉ dừng lại ở kết cấu hình thức của tư tưởng mà không đi sâu phân tích mâu thuẫn của sự vật, hoàn cảnh cụ thể của sự vật.Tóm lại, phương pháp biện chứng với những đặc tính ưu việt của nó đã trở thành phương pháp duy nhất khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực

Trang 13

1.1.2.2 Lịch sử phương pháp biện chứng

Chính nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới, ngay từ thời cổ đại, con người đã bước đầu hình thành cho mình một phương pháp để thực hiện mục đích đó Nhưng do các triết gia lúc bấy giờ bị hạn chế bởi tư tưởng biện chứng duy tâm và biện chứng tư biện mà phương pháp biện chứng của họ còn mang tính chất thô sơ Chẳng hạn, Platon coi phương pháp biện chứng là phương pháp tốt nhất để thực hiện sự hồi tưởng, sự nhớ lại những “ý niệm” Thực chất của phương pháp này, theo Platon là khả năng đưa ra những câu hỏi và những câu trả lời thích hợp để giải thích những vấn đề triết học, để đạt tới những tri thức chân thực, những khái niệm chung Những khái niệm này phản ánh đúng đắn những ý niệm và được Platon coi là vĩnh viễn, bất biến Phương pháp này

là phân đôi các khái niệm, những ý kiến thành các khái niệm, ý kiến đối lập nhau Ở đây, Platon đã xây dựng phương pháp nhận thức khái niệm một cách biện chứng - phương pháp đối chiếu các khái niệm đối lập Mặt khác, một số triết gia xem phương pháp biện chứng chẳng qua chỉ là hình thức đối thoại trực tiếp hay được thể hiện dưới hình thức các câu cách ngôn chất phát chứ chưa thật sự vạch ra một phương pháp khoa học cho nhận thức và hành động

Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử tư duy nhân loại, những nội dung quan trọng của phương pháp biện chứng được trình bày một cách có hệ thống bởi các nhà triết học Đức mà người khởi đầu là I.Cantơ và người hoàn thiện là F.Hêghen

Đối với F.Hêghen, phương pháp biện chứng được hiểu là con đường mà

tư duy phải trải qua khi muốn quy tri thức về thế giới như cái trọn vẹn tới sự thống nhất trực quan của trí tuệ Do đó, có được nhận thức như vậy về thế giới

và vị thế của chúng ta trong đó mà người ta sống một cách biết suy tư, biết làm cho cuộc sống phù hợp với những ý nghĩa nội tại của chính thế giới Phương pháp biện chứng của Ông là phương pháp suy ngẫm triết học về thế giới chứ không chỉ là nhận thức khoa học Kết quả của phương pháp đó là trực quan thế giới, là hình ảnh suy tư về thế giới chứ không giản đơn là bức tranh thế giới có thể thu được, tổng hợp được từ các kết quả của khoa học cụ thể Trong lô-gich học-học thuyết về các phạm trù, F.Hêghen phân biệt tồn tại với

tư cách là cái hiện diện, là cái thực tại và tồn tại thực tế Ông cho rằng, không phải mọi cái tồn tại hiện diện đều là tồn tại của cái thực tại và không phải mọi cái thực tại đều là thực tế Thực tại chỉ là những đối tượng mà ở chúng sự tồn tại trùng hợp với bản chất và đối tượng, đó là tự do tức là sự biểu hiện cần thiết của đời sống khái niệm, đó là cơ sở đích thực và bản chất của mọi thực

Trang 14

tại đang tồn tại trên thực tế Cái thực tế với tư cách là khái niệm thể hiện hợp

lý Vì vậy, sống một cách hợp lý cũng có nghĩa là sống có định hướng tới cái thực tế trong cái hiện diện Tuy còn nhiều hạn chế nhưng triết học cổ điển Đức nói chung và triết học F.Hêghen nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng Nó

là tiền đề cho các nhà kinh điển mác-xít kế thừa một cách có chọn lọc để xây dựng nên phương pháp khoa học của mình

Những năm 40 của thế kỷ XIX, Các-Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, về sau được V.I.Lênin phát triển Riêng chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác và Ăngghen đã

kế thừa phép biện chứng của F.Hêghen, lột bỏ cái “vỏ thần bí” của nó để xây dựng nên lý luận mới của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật Nó là

sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng Với tính cách là những bộ phận hợp thành hệ thống lý luận của triết học Mác, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều có sự biến đổi về chất so với nguồn gốc của chúng Mác đã cải tạo cả chủ nghĩa duy vật cũ, cả phép biện chứng của F.Hêghen để xây dựng nên triết học duy vật biện chứng Từ đó, Ông đã xây dựng nên phương pháp biện chứng khoa học hoàn toàn đối lập với phương pháp biện chứng của F.Hêghen Mác viết: “Phương pháp biện chứng của tôi chẳng những khác về căn bản với phương pháp biện chứng của F.Hêghen mà còn đối lập hẳn với phương pháp đó Đối với F.Hêghen, quá trình tư duy mà Ông đã đặt cho cái tên là ý niệm, là đấng sáng tạo ra hiện thực còn hiện thực chỉ là biểu hiện bề ngoài của ý niệm mà thôi Đối với tôi thì trái lại, sự vận động của tư duy chỉ là phản ánh của sự vận động hiện thực, di chuyển và biến hình vào trong đầu óc con người” [Dẫn theo 3;4]

1.1.2.3 Vai trò của phương pháp biện chứng

Trước hết, như chúng ta đã biết, phương pháp là con đường nhận thức khách quan có hiệu quả nhất trong lịch sử; thiếu phương pháp con người sẽ rơi vào tình trạng “mò mẫm” Thiếu phương pháp, con người sẽ nhận thức sự vật hiện tượng một cách rời rạc, tản mạn, nó giống như việc làm của những con kiến (theo cách so sánh của nhà triết học Anh Ph.Bêcơn), tri thức thu được như là sự góp nhặt một đống tư liệu để xây thành tổ kiến, chứ không phải như con ong Ph.Bêcơn xem phương pháp là ngọn đèn soi đường cho người lữ hành đi trong đêm tối Còn trong đấu tranh cách mạng, đồng chí Lê Duẩn có nói: “Phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu một phương hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng phù hợp”[4;41] Vì vậy, khi làm bất cứ

Trang 15

chuyện gì, dù nhỏ hay lớn cũng phải vạch ra những phương pháp thích hợp, đồng thời phải biết vận dụng nhiều phương pháp khác nhau thì công việc mới đạt hiệu quả cao.

Trong lịch sử, có rất nhiều loại phương pháp: Phương pháp chung, phương pháp riêng nhưng phương pháp phổ biến nhất là phương pháp của triết học Mác-Lênin - phương pháp biện chứng Để nhận thức sâu sắc và đúng đắn một sự vật, hiện tượng, một quá trình nào đó trong tự nhiên hay xã hội, chúng

ta phải xuất phát từ thực tế khách quan đồng thời phải so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát lên thành lý luận Điều đó đòi hỏi phải có tư duy đúng đắn không thể nào khác là tư duy lô-gich biện chứng, là phương pháp nhận thức của triết học Mác-Lênin - phương pháp biện chứng

Với tư cách là phương pháp nhận thức khoa học được rút ra từ phép biện chứng duy vật, phương pháp biện chứng là cơ sở chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp cách mạng và khoa học, là công cụ sắc bén cho nhận thức và

hành động như Mác đánh giá “Nó là thứ công cụ lao động tốt nhất của chúng

tôi và là một thứ vũ khí sắc bén nhất của chúng tôi” [22;238] Do đó, đối với

mọi người cách mạng, phương pháp biện chứng là công cụ quan trọng bậc nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân Điều quan trọng là chủ thể phải quán triệt các nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng, nếu xa rời các nguyên tắc đó chủ thể sẽ phải trả giá

Cách mạng là quá trình xóa bỏ cái cũ lỗi thời, xác lập cái mới tiến bộ hơn nên cách mạng không phải là quá trình dễ dàng, thẳng tắp, trơn tru mà là một quá trình khó khăn, phức tạp, quanh co, thậm chí có sự thụt lùi tạm thời nhưng cuối cùng cái mới tiến bộ hơn Điều quan trọng là chủ thể phải xác định phương pháp cách mạng phù hợp để thúc đẩy cái mới ra đời; phương pháp cách mạng nhất thiết phải dựa trên cơ sở những nguyên tắc của phương pháp biện chứng - một phương pháp chung nhất, phổ biến nhất, khoa học nhất Xta-lin viết: “Đối với phương pháp biện chứng, điều quan trọng trước hết không phải là cái mà trong một lúc nào đó có vẻ vững chắc nhưng đã bắt đầu tiêu tan; điều quan trọng trước hết là cái đang phát sinh và phát triển, ngay cả nếu trong một lúc nào đó cái ấy có vẻ không vững chắc thì đối với phương pháp biện chứng những cái đang phát sinh, đang phát triển là cái không có gì thắng nổi” [3;78]

Trang 16

Các-Mác là người đầu tiên vận dụng tài tình phương pháp biện chứng để phân tích mọi vấn đề, xây dựng một học thuyết khoa học, hoàn chỉnh làm lý luận soi đường cho giai cấp vô sản thế giới đứng lên đấu tranh cách mạng để xây dựng chủ nghĩa xã hội Tiếp thu tư tưởng của Mác, V.I.Lênin đã giành nhiều thời gian để tự nghiên cứu phép biện chứng và điều đó được thể hiện trong “Bút kí triết học” Trong “Bút kí triết học”, V.I.Lênin đã ghi chép tỉ mỉ

và Người đã tìm thấy “cái nhân hợp lý” rút ra từ những nguyên lý phong phú của phép biện chứng cũng như những nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng V.I.Lênin viết: “Tổng cộng và tóm tắt, tiếng nói cuối cùng và bản chất của lô-gich của F.Hêghen , đó là phương pháp biện chứng - cái này thật là tuyệt diệu”[3;75]

V.I.Lênin nghiên cứu phương pháp biện chứng một cách sâu sắc, nắm vững nó, dùng nó làm công cụ để phân tích vấn đề đương thời và thực tiễn xã hội vô cùng phức tạp Nhờ có phương pháp khoa học mà V.I.Lênin đã viết những tác phẩm nổi tiếng như: “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở nước Nga”, “Chủ nghĩa đế quốc giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” V.I.Lênin đã sử dụng phương pháp biện chứng một cách điêu luyện để phân tích tình hình, đề ra đường lối chiến lược, sách lược tài tình đưa đến thắng lợi vĩ đại của cách mạng tháng Mười và đẩy mạnh phong trào cách mạng trên thế giới

Trong khoa học tự nhiên, nếu không có phương pháp biện chứng duy vật thì những nhà khoa học nhất định không thể trả lời đúng đắn những vấn đề

mà cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang đặt ra Trong khoa học xã hội cũng vậy, nếu không có phương pháp biện chứng con người sẽ không thể có cách nhìn nhận đúng đắn về bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó không thể

có những định hướng đúng cho những cách thức để cải tạo hiện thực khách quan một cách hiệu quả, con người sẽ rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa Bệnh chủ quan duy ý chí là thể hiện về sự hạn chế của chủ thể nhận thức ở một mức độ nào đó không thể có được tư duy biện chứng do ý thức sai lầm về vai trò của lý luận, hạn chế về trình độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc phục, sửa chữa nên sai lầm càng nghiêm trọng Còn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là do sai lầm trong phương pháp tư duy cũng như trong cải tạo hiện thực, tuyệt đối hóa kinh nghiệm nên trong hoạt động thực tiễn họ rơi vào tình trạng mò mẫm, sự vụ, tùy tiện, tự ty, không nhất quán trong các chính sách của Nhà nước làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và bản thân người bị mắc căn bệnh này cũng trở nên

Trang 17

bảo thủ, lạc hậu, trì trệ bởi phương pháp hành động cũ kỹ và hậu quả sẽ trở nên nghiêm trọng hơn khi căn bệnh này đan kết chặt chẽ với bệnh chủ quan duy ý chí.

Ngày nay, phương pháp biện chứng được quan tâm nhiều hơn và việc áp dụng nó ngày một rộng rãi hơn vào các lĩnh vực khác nhau Nhưng chúng ta cần lưu ý rằng, nó không phải là cái “khóa vạn năng” và hoàn toàn không có

kỳ vọng giải thích tất cả, đưa ra câu trả lời “duy nhất” đúng cho mọi vấn đề Song, trong phạm vi tác động của mình (trước hết do tính phổ biến của nó quy định), đặc biệt là khi phân tích các hệ thống toàn vẹn đang vận động, phát triển thì phương pháp biện chứng có thể đạt hiệu quả cao

Tóm lại, với tư cách là phương pháp được rút ra từ phép biện chứng, phương pháp biện chứng là phương pháp khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, nó là công cụ của tư duy khoa học giúp chủ thể trong nhận thức và cải tạo thực tiễn, điều chỉnh hành vi của con người đi đúng hướng

Có thể nói, từ sau chiến tranh thế giới lần II đến nay, chưa bao giờ tình hình thế giới lại diễn ra hết sức phức tạp như ngày nay Trong bối cảnh ấy, sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta lại gặp nhiều khó khăn và phức tạp Đây là một thử thách lớn đối với Đảng và dân tộc ta Chính sự nghiệp đổi mới ngày càng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần được giải quyết Nhưng chính tình hình càng phức tạp lại càng đòi hỏi chúng ta phải nắm vững linh hồn của phép biện chứng, phương pháp biện chứng; cần mài sắc tư duy biện chứng để nhận thức đúng những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

1.2 Một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng

Nguyên tắc của phương pháp biện chứng là luận điểm được đề ra trên

cơ sở một hình thức tồn tại phổ biến hay một tính quy luật biện chứng nào đó

và bao hàm những yêu cầu nhất định đối với chủ thể tư duy, hướng dẫn chủ thể trong hoạt động nhận thức

Các sách báo mác-xít chưa có ý kiến thống nhất về những nguyên tắc của phương pháp biện chứng, do vậy, có sự khác nhau về cách diễn đạt, về sự phân loại, về số lượng nguyên tắc đưa ra Chẳng hạn, F.I.Ghe-ooc-ghi-ep phân biệt năm nguyên tắc cơ bản, còn Mi-tin cho rằng có bốn nguyên tắc; P.V.Dô-pốp và V.C.Vi-nô-gra-đốp phân biệt bảy nguyên tắc, còn An-đre-ep phân biệt mười nguyên tắc Trong khi đó, W.Xê-ghet phân loại các nguyên tắc của

Trang 18

phương pháp biện chứng phù hợp với sự sắp xếp các yếu tố của phép biện chứng trong “Bút kí triết học” của V.I.Lê-nin Mặc dù có sự bất đồng ý kiến trong nhận thức và diễn đạt các nguyên tắc của phương pháp biện chứng nhưng các tác giả đã có một sự thống nhất tương đối khi giải thích bản chất của phép biện chứng.

Khi xem xét các nguyên tắc của phương pháp biện chứng, điều quan trọng là khi xem xét chúng trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, cũng như với những bậc thang phát triển tương ứng của nhận thức khoa học và thực tiễn xã hội Theo quan điểm của A.P.Sep-tu-lin, tác giả xin nêu khái quát một số nguyên tắc cơ bản của phương pháp biện chứng, trình bày chúng trong sự liên

hệ lẫn nhau và phụ thuộc nhau một cách tất yếu, xác định vị trí của mỗi nguyên tắc trong toàn bộ hệ thống những yêu cầu biện chứng đề ra đối với chủ thể tư duy và trong hành động

1.2.1 Nguyên tắc phản ánh

Nguyên tắc phản ánh được đề ra trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học theo quan điểm duy vật, đặc biệt là mặt thứ hai của nó Theo cách giải quyết ấy, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, phụ thuộc vào vật chất, do vật chất quy định Tính thứ hai của ý thức trong quan hệ với vật chất biểu hiện ở chỗ: Không phải bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu cũng tồn tại ý thức, nó chỉ xuất hiện vào một giai đoạn phát triển đặc biệt của vật chất, ở những vật chất có tổ chức cao Mặt khác, nó là tính thứ hai vì nó phản ánh thế giới bên ngoài, là hình ảnh của những sự vật tồn tại khách quan, của những thuộc tính và quan hệ của chúng Là sự phản ánh của những sự vật của thế giới bên ngoài, ý thức không thể tồn tại độc lập đối với các sự vật, bởi vì phản ánh không thể tồn tại độc lập đối với cái được phản ánh

Vật chất là tính thứ nhất so với ý thức, vật chất tồn tại vĩnh viễn và sản sinh ra ý thức vào một giai đoạn phát triển nhất định của nó Ý thức về mặt nội dung (và hình thức), phản ánh của hiện thực ở bên ngoài ý thức, của những sự vật có thực, những thuộc tính và quan hệ của sự vật Vậy, khi nghiên cứu khách thể không được xuất phát từ tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về khách thể mà phải xuất phát từ bản thân khách thể, từ bản tính riêng của nó; không được bắt đối tượng phụ thuộc vào tư duy mà phải để tư duy phụ thuộc vào đối tượng Không được gán cho khách thể những sơ đồ chủ quan hay một lô-gich phát triển nào đó mà phải rút ra những sơ đồ ấy từ khách thể; tái hiện lại lô-gich phát triển riêng của bản thân khách thể trong ý thức, trong sự vận

Trang 19

động của các hình tượng lý tưởng Nói cách khác, trong việc nhận thức bất kỳ lĩnh vực nào của hiện thực cũng phải tuân thủ yêu cầu về tính khách quan, việc giải thích đối tượng nghiên cứu phải xuất phát từ bản thân đối tượng, từ những thuộc tính và quan hệ mà nó vốn có Yêu cầu này được V.I.Lê-nin diễn đạt trong “Bút kí triết học” như sau: “Tính khách quan của sự xem xét (không phải thí dụ, không phải dài dòng mà bản thân vật tự nó)” [1;10].

Ý thức là hình thức cao nhất của phản ánh và chỉ xuất hiện trong xã hội trên cơ sở của hoạt động lao động sản xuất, làm biến đổi hiện thực xung quanh

vì lợi ích của con người Vì vậy, ý thức là sự phản ánh của hiện thực, nó phản ánh hiện thực một cách có ý thức, là sự hiểu biết của chủ thể về tồn tại của mình và quan hệ của mình với hoàn cảnh; ý thức gắn liền với tính mục đích và

sự hoạt động nhằm thực hiện mục đích đồng thời biến đổi hiện thực hay nó là điều kiện cần thiết của hoạt động sáng tạo

Phản ánh hiện thực là một thuộc tính cơ bản của ý thức, nó quy định sự tồn tại của những thuộc tính khác của ý thức Mất khả năng phản ánh hiện thực thì không tránh khỏi đi đến việc mất tất cả các thuộc tính khác của ý thức

Ý thức phản ánh sáng tạo thực tại khách quan mà thực tại khách quan hiện ra trước mắt con người dưới dạng những hình ảnh chủ quan nhưng nguyên tắc phản ánh bao hàm yêu cầu về tính khách quan của sự xem xét Yêu cầu này có tầm quan trọng đặc biệt đối với nhận thức Nguyên tắc xem xét khách quan bao hàm yêu cầu con người không những phải xuất phát từ bản thân khách thể,

từ quy luật hoạt động và phát tiển của nó, không gán ghép cho nó bất kỳ cái gì của chủ thể, mà còn phải phân biệt rạch ròi quan hệ vật chất và quan hệ tinh thần; nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan; thừa nhận nhân tố vật chất quyết định nhân tố tinh thần, tư tưởng

Việc giải thích khách thể phải xuất phát từ chính bản thân nó, từ những thuộc tính và liên hệ mà nó vốn có, phải tính đến những quy luật hoạt động và phát triển của nó Như vậy, nguyên tắc khách quan còn bao hàm cả nguyên tắc

cụ thể, buộc chủ thể nhận thức phải tính đến những đặc điểm của khách thể được nghiên cứu và những điều kiện đặc thù của khách thể ấy V.I.Lê-nin viết:

“Trước hết là xem xét nội dung khách quan của quá trình lịch sử trong một thời điểm cụ thể nhất định, trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định ” [Dẫn theo 1;25]

Trang 20

Nói tóm lại, nguyên tắc phản ánh là nguyên tắc nền tảng có tính quyết định của phương pháp biện chứng, một phương pháp dựa vào những hình thức tồn tại phổ biến, những thuộc tính và mối liên hệ phổ biến của hiện thực.

1.2.2 Nguyên tắc năng động

Khi nói về nguyên tắc phản ánh quy định yêu cầu khách quan của sự xem xét thì một điều không thể không nói đến là: Ý thức không phản ánh hiện thực một cách giản đơn, thụ động mà phản ánh năng động, có những biến đổi

và cải tạo nhất định, không phải máy móc mà phản ánh một cách sáng tạo Tính năng động của chủ thể trong quá trình nhận thức là điều kiện tất yếu để phát hiện bản chất của khách thể nghiên cứu; để làm sáng tỏ các mối liên hệ, quan hệ và thuộc tính vốn có của nó Nếu chủ thể đóng vai trò là người quan sát trực quan giản đơn đối với khách thể nghiên cứu thì chỉ có thể phản ánh một vài thuộc tính bên ngoài trong những điều kiện tự nhiên sẵn có của nó mà thôi Những thuộc tính này không cho ta quan niệm về bản chất của đối tượng

Để phát hiện bản chất của chúng cần phải tác động lên nó, đặt nó trong những mối liên hệ và quan hệ khác với điều kiện mà trong đó khách thể đang tồn tại, biến đổi trạng thái tự nhiên của khách thể; từ đó con người đi sâu và phát hiện

ra những thuộc tính và những mối liên hệ tất yếu vốn có của nó, những quy luật chi phối sự hoạt động và phát triển của khách thể

Ngoài yêu cầu làm biến đổi khách thể, nó còn bao hàm yêu cầu làm biến đổi một cách tương ứng những hình tượng lý tưởng nảy sinh trong quá trình nhận thức khách thể; những hình tượng phản ánh như thế này hay thế khác những thuộc tính và những mối liên hệ của khách thể Để làm điều này, con người cần có tri thức về cái chung được lặp lại trong nhiều đối tượng hoặc hiện tượng tương tự, về cái tất yếu xảy ra không thể tránh khỏi trong những điều kiện phù hợp Cuối cùng, con người cần hiểu biết về những quy luật chi phối sự hoạt động, phát triển và qua đó biết được bản chất của nó, đồng thời phải sửa một cách căn bản những hình tượng cảm tính thu được do kết quả của

sự tri giác trực tiếp về khách thể, phải tách biệt cái chung với cái đơn nhất, cái tất yếu với cái ngẫu nhiên, phải tạo ra những hình tượng lý tưởng, những khái niệm phản ánh những mối liên hệ chung, tất yếu; lập ra những mô hình lý tưởng tái hiện lại các mặt và những mối liên hệ tất yếu bên trong và bản chất của khách thể

Vậy, nhiệm vụ của nhận thức là từ những yếu tố bên ngoài đi vào yếu tố bên trong, từ hiện tượng đi đến bản chất Vì cái bên ngoài và cái bên trong,

Trang 21

hiện tượng và bản chất không trùng hợp nhau nên nhận thức đi đến bản chất cần có tiền đề làm biến đổi các hình tượng lý tưởng, cải tạo các tài liệu cảm tính để đi đến bản chất của khách thể nghiên cứu.

Tóm lại, nguyên tắc năng động đòi hỏi phải biến đổi khách thể nhận thức và cải tạo một cách sáng tạo các dữ liệu cảm tính vạch ra bản chất của khách thể là có căn cứ khách quan Những sự biến đổi, cải tạo được thực hiện phải phù hợp với tính quy luật có thực của lĩnh vực được nghiên cứu; phải phản ánh những thuộc tính và mối liên hệ có thực của lĩnh vực ấy

1.2.3 Nguyên tắc toàn diện

Yêu cầu xem xét khách quan đòi hỏi quá trình nhận thức phải coi đối tượng là thực tại tồn tại độc lập bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể; là vật tự nó trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó Nhưng những điều kiện tất yếu tồn tại hiện thực của sự vật lại chính là những mối liên

hệ đa dạng của sự vật với các sự vật khác, là một hệ thống nhất định bao gồm các quan hệ của sự vật đó với các sự vật khác Từ đó, chúng ta thấy rằng, vật

tự nó phải được xem xét không tách rời những điều kiện tồn tại tất yếu của nó

mà trong các mối liên hệ và quan hệ của nó hay nói cách khác là xem xét một cách toàn diện

Mối liên hệ trước hết là quan hệ giữa các đối tượng và hiện tượng của hiện thực, nhưng không phải bất kỳ quan hệ nào cũng đều là mối liên hệ Khái niệm “quan hệ” rộng hơn so với khái niệm “liên hệ” Liên hệ là quan hệ giữa hai hiện tượng mà sự thay đổi của sự vật hiện tượng này nhất thiết dẫn đến sự thay đổi của sự vật kia Thí dụ công cụ lao động có liên hệ qua lại với đối tượng lao động, những thay đổi nào đó của công cụ lao động dẫn đễn những thay đổi được quy định chặt chẽ trong đối tượng chịu tác động của công cụ đó Đến lượt nó, sự thay đổi đối tượng lao động nhất thiết đòi hỏi những thay đổi nhất định về công cụ lao động, Ngược lại với liên hệ là tính biệt lập (tách biệt) là một quan hệ giữa các hiện tượng khi sự thay đổi của một hiện tượng này không ảnh hưởng gì đến các hiện tượng khác, không kèm theo những thay đổi nhất định của các hiện tượng đó Chẳng hạn, sự thay đổi những nguyên lý đạo đức không dẫn đến những thay đổi trong thiên nhiên và ngược lại

Trong thế giới, tất cả các hiện tượng đều ở trong tình trạng liên hệ lẫn nhau và biệt lập nhau Chúng liên hệ trong mối liên hệ này nhưng lại không liên hệ trong mối liên hệ khác Vì vậy, liên hệ và biệt lập luôn tồn tại bên nhau, đó là những mặt tất yếu của bất kỳ một quan hệ cụ thể nào giữa các sự

Trang 22

vật, hiện tượng Để nhận thức được sự vật, hiện tượng và vạch ra các thuộc tính đặc trưng của nó cần xem xét nó không phải ngay trong bản thân nó, tách rời các sự vật khác mà phải xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với các sự vật khác, tính tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác Chỉ như vậy mới bảo đảm được nhận thức thực sự về sự vật, hiện tượng V.I.Lê-nin nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó” [Dẫn theo 1;48] Thí dụ, để làm rõ bản chất của tư bản cần phải nghiên cứu các quan hệ tiền tệ - hàng hóa, việc chuyển hóa sức lao động thành hàng hóa và quan hệ giữa sức lao động với người sở hữu các tư liệu sản xuất, Tuy nhiên, V.I.Lê-nin nói: “Không bao giờ chúng ta đạt đầy đủ yêu cầu đó, nhưng

dù sao cần phải tuân theo yêu cầu đó, yêu cầu đó hướng chủ thể nghiên cứu phải sưu tầm lượng thông tin về đối tượng ở mức nhiều nhất có thể được và nhờ đó mà tránh được sai lầm và cứng nhắc” [Dẫn theo 1;49]

Trên con đường làm rõ các tính chất và bản chất của chúng cũng xuất hiện yêu cầu phải tách ra một tính chất nào đó để nghiên cứu nghĩa là yêu cầu xem xét toàn diện chuyển sang yêu cầu xem xét phiến diện thông qua lăng kính của một mặt, mặt này là chủ yếu, quyết định trong tổng thể cần nghiên cứu và thể hiện thành nền tảng của sự vật Nhưng sau khi các mặt quan hệ quy định trong tổng thể cần nghiên cứu đã được tách ra thì nó lại chuyển hóa thành điểm xuất phát để xây dựng nên hệ thống các khái niệm Nhờ hệ thống này mà người ta lý giải được về mặt lý luận bản chất của đối tượng và lần lượt suy ra các mặt (thuộc tính), quan hệ tất yếu và mối liên hệ qua lại giữa chúng Thế là, trong quá trình phát triển tiếp theo của nhận thức, cách xem xét phiến diện lại chuyển sang toàn diện cho phép tái hiện về mặt lý luận tất cả các mặt và quan

hệ tất yếu gắn liền với đối tượng trong mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của chúng Đến giai đoạn tái hiện bản chất của đối tượng trong hệ thống khái niệm thì yêu cầu về tính toàn diện được thực hiện gần như triệt để

Tóm lại, nguyên tắc toàn diện là một trong những nguyên tắc quan trọng của phương pháp biện chứng, nó xuất hiện và tác động trong tất cả các giai đoạn tiếp theo trong sự phát triển nhận thức Tuy nhiên, ở các giai đoạn đó cũng cần phải phối hợp với các nguyên tắc khác của phương pháp biện chứng

để quá trình tư duy được hoàn thiện hơn

Trang 23

1.2.4 Nguyên tắc lịch sử

Như chúng ta đã biết, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều ở trong trạng thái vận động và biến đổi không ngừng Trong thực tế, nếu vận động là thuộc tính, là phương thức tồn tại của vật chất; nếu tất cả các vật chất đều là những hệ thống vận động tương đối ổn định, hình thành và phát triển theo những quy luật nhất định và nếu hình thức vận động quy định bản chất của chúng thì muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng phải xem xét nó trong sự vận động, trong sự hình thành và phát triển của nó, bởi vì, chỉ khi nào làm rõ được các giai đoạn phát triển cơ bản mà sự vật, hiện tượng trải qua mới có thể hiểu được, giải thích được các thuộc tính và mối liên hệ tất yếu, các đặc điểm

về chất và lượng của sự vật

Yêu cầu xem xét sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển của

nó là nhân tố quan trọng bậc nhất trong nội dung của nguyên tắc lịch sử Thông thường người ta lấy yêu cầu đó làm đặc trưng cho chủ nghĩa duy vật Phương pháp lịch sử coi như là một trong những phương pháp nhận thức hiện thực khách quan, đặc biệt là các phương pháp nhận thức xã hội Yêu cầu này được F.Bêcơn nhấn mạnh rằng: “Muốn nhận thức được những biến hóa và quá trình của vật chất, cần phải hiểu rõ toàn bộ cái đang tồn tại, cái đã qua, cái hiện có và cả cái sẽ có” [Dẫn theo 19;117] Quan niệm này cũng gần giống như Xpi-nô-da đã từng quan niệm: “Phương pháp giải thích tự nhiên chủ yếu

là ở chỗ trình bày lịch sử thật sự của tự nhiên cũng như từ các dữ kiện đã biết, chúng ta rút ra cách xác định các sự vật tự nhiên ” [Dẫn theo 19;117]

Nguyên tắc lịch sử yêu cầu xem xét khách thể trong sự tự vận động và phát triển của nó Nguyên tắc lịch sử đòi hỏi chúng ta không chỉ miêu tả những biến đổi trong khách thể, chỉ ra những trạng thái về chất thay thế lẫn nhau mà còn phải tìm ra mối liên hệ tất yếu khách quan giữa các hiện tượng nối tiếp nhau; tìm ra các quy luật khách quan chi phối sự hoạt động và phát triển của khách thể, của cái hiện tồn và khả năng chuyển hóa của nó sang một chất mới, chất mới đó vừa là cái phủ định vừa là cái nối tiếp của chất cũ tức là duy trì nó dưới dạng đã cải tạo Nếu vạch ra được mối liên hệ tất yếu giữa các trạng thái về chất tạo ra lịch sử hình thành và phát triển của chỉnh thể cần nghiên cứu thì có thể hiểu được bản chất của sự vật, hiện tượng

Quan điểm lịch sử ước định không chỉ tái hiện trong nhận thức sự phát triển của khách thể cần nghiên cứu mà còn vạch ra mối liên hệ tất yếu giữa các hiện tượng, các quy luật thay thế nhau, chi phối sự quá độ từ một giai đoạn

Trang 24

hình thành và phát triển này của khách thể sang một giai đoạn khác Vì vậy, trong phương pháp, bản chất cái lịch sử không loại trừ cái lô-gich mà có quan

hệ hữu cơ với cái lô-gich Ở đây, lịch sử thể hiện dưới dạng đã gột sạch hết cái ngẫu nhiên được uốn nắn cho phù hợp với các quy luật của bản thân quá trình lịch sử Khi nêu lên đặc trưng này trong phương pháp mà Mác đã vận dụng trong bộ “Tư bản”, Ăngghen viết: “Về thực chất, phương pháp này chẳng qua cũng chỉ là phương pháp lịch sử, chỉ có khác là đã thoát khỏi hình thái lịch sử

và khỏi những hiện tượng ngẫu nhiên gây trở ngại mà thôi” [Dẫn theo 1;135]

Tóm lại, nguyên tắc lịch sử hướng người nghiên cứu xem xét đối tượng trong sự vận động và phát triển, vạch ra mối liên hệ tất yếu giữa các hiện tượng thay thế nhau, những quy luật chi phối bước quá độ của một chỉnh thể

từ trạng thái này sang trạng thái khác Trong tiến trình vận dụng, nó lại đòi hỏi

đề ra những yêu cầu mới, nguyên tắc mới của phương pháp biện chứng

1.2.5 Nguyên tắc mâu thuẫn

Muốn xem xét khách thể trong sự vận động và phát triển, phát hiện ra các quy luật quyết định sự chuyển hóa từ trạng thái chất này sang trạng thái chất khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác cần phải vạch ra nguồn gốc những sự biến đổi xảy ra trong khách thể Nguồn gốc vận động và phát triển là

sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập V.I.Lênin viết: “Điều kiện của một sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong “sự tự vận động” của chúng, trong sự phát triển của chúng, trong đời sống sinh động của chúng, là sự nhận thức của chúng với tính cách là sự thống nhất của các mặt đối lập” [Dẫn theo 1;139]

Nguyên tắc mâu thuẫn có vai trò quan trọng không chỉ trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng như những khách thể đang vận động và phát triển

mà cả trong việc giải thích tính đa dạng của các thuộc tính và các trạng thái về chất khác nhau và đối lập nhau mà sự vật vốn có trong việc vạch rõ mối quan

hệ qua lại tất yếu giữa chúng với nhau, sự chuyển hóa của cái này thành cái kia và thành mặt đối lập của mình

Khi phân tích về bản chất của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, Mác đã phân đôi khách thể nhận thức thành các mặt đối lập đã bảo đảm cho việc tái hiện sự phát triển của khách thể, sự quá độ của nó từ trạng thái chất này sang trạng thái chất khác Sau khi tách ra quan hệ cơ bản của xã hội

tư bản tức là sự trao đổi hàng hóa, Mác vạch ra những mâu thuẫn gắn liền với

nó và tồn tại bên trong nó; sau đó lần theo sự phát triển của những mâu thuẫn

Trang 25

ấy, Mác đã tái hiện dưới dạng một hệ thống phạm trù tất cả các mâu thuẫn khác và thuộc tính bắt nguồn từ sự phát triển ấy Nhờ vậy, Ông đã trình bày được hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, chỉ ra sự xuất hiện, phát triển

và cả bản chất của xã hội ấy

Tính tất yếu của việc phân đôi chỉnh thể được nhận thức thành các mặt đối lập và vạch ra mối liên hệ qua lại giữa chúng, bắt nguồn từ cơ sở vật chất

là sự thống nhất của các mặt đối lập Là một hệ thống vận động tương đối ổn định do sự tác động qua lại giữa các nhân tố hợp thành cũng như tác động qua lại với các sự vật khác, sự vật luôn vận động, biến đổi đồng thời vẫn tự duy trì tính chất của mình - nghĩa là trong cùng một lúc, trong cùng những quan hệ ấy

sự vật vừa là nó vừa không phải là nó, còn sự đồng nhất của các mặt của sự vật tồn tại đến một giai đoạn phát triển nhất định của mâu thuẫn, việc phá vỡ

sự đồng nhất dẫn tới sự vật cũ mất đi và sự vật mới xuất hiện Sự vật này cũng

sẽ là sự thống nhất của biến đổi và ổn định nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập Như vậy, sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hình thức tồn tại phổ biến của vật chất, là nguồn gốc của vận động và phát triển thông qua tác động qua lại của các mặt đối lập

Trong triết học Mác-Lênin, yêu cầu phân đôi chỉnh thể thống nhất thành các mặt đối lập và nhận thức mối liên hệ qua lại giữa chúng với nhau là kết luận rút ra từ tính phổ biến của mâu thuẫn, từ quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập - quy luật nói lên nguồn gốc vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

1.2.6 Nguyên tắc phủ định biện chứng

Đặc trưng của phủ định biện chứng là ở chỗ nó bắt nguồn từ sự phát triển của các khuynh hướng đối lập bên trong; nó là sự tự phủ định, một sự phủ định không chỉ đơn thuần thủ tiêu cái bị phủ định mà duy trì phần tích cực phù hợp với trình độ phát triển mới, nó là sự thống nhất giữa thủ tiêu và duy trì, một hình thái liên hệ giữa cái thấp với cái cao trong quá trình phát triển

Trong “Bút kí triết học”, V.I Lênin vạch ra bản chất của phủ định biện chứng: “Không phải sự phủ định sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi, không phải sự do dự cũng không phải

sự nghi ngờ là cái đặc trưng và cái bản chất trong phép biện chứng” [Dẫn theo 1;116] Sự phủ định trong tư duy phản ánh những biến đổi xảy ra trong hiện thực khách quan nên trong cái hiện thực đó sự phủ định cũng tồn tại độc lập với con người Có thể nói, phủ định biện chứng trước hết mang tính khách

Trang 26

quan, đó là một quy luật được thực hiện do kết quả đấu tranh của các mặt đối lập mà sự vật vốn có, nó là kết quả giải quyết một mâu thuẫn nhất định Trong tiến trình phủ định diễn ra sự cải tạo sự vật, chất này mất đi, chất mới xuất hiện cũng tức là sự vật chuyển từ một giai đoạn phát triển này lên một giai đoạn phát triển khác phù hợp với các quy luật tự nhiên khách quan Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên còn biện chứng gọi là chủ quan tức là tư duy biện chứng thì chỉ

là phản ánh sự chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên của sự vận động thông qua các mặt đối lập” [Dẫn theo 1;173]

Từ những đặc trưng này của phủ định biện chứng, nó đề ra yêu cầu đối với chủ thể nhận thức là trong quá trình nhận thức, khi lấy một luận điểm này phải định ra một luận điểm khác, cần kết hợp việc làm rõ sự khác biệt giữa luận điểm khẳng định và luận điểm phủ định với việc làm rõ mối liên hệ giữa hai phía, với việc tìm ra cái phủ định trong cái được khẳng định Tóm lại, nguyên tắc phủ định biện chứng dựa vào quy luật phổ biến trong sự phát triển của hiện thực khách quan và của nhận thức Về mặt phương pháp luận, nguyên tắc này đòi hỏi chủ thể khi xây dựng một luận điểm mới liên quan đến khách thể nghiên cứu phải lý giải một cách có phê phán luận điểm hiện có, vạch rõ rằng, cái mới khác cái hiện có ở chỗ nào, rút ra từ cái hiện có tất cả những gì

đã được kinh nghiệm và thực tiễn khẳng định và dành cho những cái đó một vị trí thích đáng trong quan niệm mới Như thế là nguyên tắc này đã hướng dẫn chủ thể theo một hướng nhất định trong hoạt động nhận thức

Tóm lại, phương pháp có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, nó là yếu tố quyết định thành công hay thất bại trong hoạt động cải tạo hiện thực Bất cứ việc gì dù to hay nhỏ nếu biết vạch ra phương pháp đúng đắn, chủ thể sẽ đạt hiệu quả cao trong công việc Ngày nay, có rất nhiều loại phương pháp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng phương pháp phổ biến nhất, khoa học nhất là phương pháp biện chứng Nó là giải pháp tối ưu trong mọi hoạt động nhận thức và cải tạo xã hội Do đó, nó được Hồ Chí Minh sử dụng làm công cụ rèn giũa tư duy ngày càng tinh xảo để chỉ đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác

Trang 27

CHƯƠNG 2

HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG SÁNG TẠO PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG TRONG LÃNH ĐẠO

CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐẾ QUỐC MỸ

và phương pháp đó để áp dụng trong quá trình hoạt động cách mạng của mình

Có thể nói, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo phương pháp biện chứng để

Trang 28

giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra Trong quá trình

đó, Người hình thành hệ phương pháp và phương pháp luận của mình mang nét đặc trưng riêng bởi tư tưởng và phong cách Hồ Chí Minh

Chúng ta biết, Hồ Chí Minh không viết một tác phẩm riêng về phương pháp biện chứng hay muốn khoa trương về một phương pháp luận khoa học mang tên mình và tất nhiên là không có tham vọng muốn sáng tạo ra một thứ chủ nghĩa duy vật mới hay một phép biện chứng mới, nhưng chúng ta có thể tìm thấy một phương pháp biện chứng trong tư duy và hành động của Người, thông qua các sách báo, các tác phẩm và trong thực tiễn chỉ đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam

Ngay từ tháng 6/1924, trong một bức thư gởi những người bạn và đồng chí cùng làm việc ở Báo Le paria, Người viết:

“Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ là sự bạo ngược của chế

Đoạn văn trên thể hiện tư tưởng và phương pháp tư duy rất biện chứng của Hồ Chí Minh, cụ thể là:

+ Thứ nhất, Người luôn chú trọng vào tình hình, hoàn cảnh để định ra phương pháp đấu tranh Đó là sự quán triệt trong tư duy nguyên tắc lịch sử và nguyên tắc cụ thể; không máy móc giáo điều, không trừu tượng, thoát ly đặc điểm lịch sử của từng dân tộc vì không có phương pháp hay giải pháp duy nhất nào áp dụng đồng loạt cho mọi nơi, mọi lúc Nói cách khác, không có một công thức chung trong đấu tranh cách mạng

+ Thứ hai, phương pháp phục vụ cho mục tiêu lý tưởng giải phóng dân tộc đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân, nên tính biện chứng trong phương pháp của Hồ Chí Minh thể hiện trước nhất và đặc sắc nhất trong phương pháp cách mạng của Người

Trang 29

+ Thứ ba, phương pháp của Người là một hệ thống, tập hợp các biện pháp, cách làm bước đi nhằm tập hợp lực lượng thức tỉnh quần chúng, tổ chức đoàn kết huấn luyện họ, hướng dẫn họ đấu tranh nhằm đạt tới mục tiêu, lý tưởng của cách mạng

Tuy nhiên, đó chỉ là giai đoạn đầu trong quá trình lĩnh hội phương pháp biện chứng Nó ngày càng được hoàn thiện hơn, rõ nét hơn và mang những nét đột phá trong các tác phẩm sau này mà đặc biệt là tác phẩm “Đường Cách Mệnh” Có thể nói, đây là một mẫu mực về phương pháp cách mạng dựa trên

cơ sở phương pháp biện chứng Trong tác phẩm “Đường Cách Mệnh”, Người viết: “Muốn đồng tâm hiệp lực muốn bền gan thì trước hết ai ai cũng phải hiểu

rõ vì sao mà phải làm, vì sao mà ai ai cũng phải gánh một vai, vì sao phải làm ngay mà không nên người này ngồi chớ người khác Có như thế mục đích mới đồng mục đích có đồng chí mới đồng, chí có đồng tâm mới đồng, tâm có đồng lại phải biết cách làm thì mới chóng” [14;261] Cách làm của Hồ Chí Minh nói đến ở đây là phương pháp khoa học và cách mạng, nó phải được phác thảo dựa trên cơ sở tuân theo các nguyên tắc, yêu cầu của phương pháp luận Mác-xít nhưng nó phải phù hợp với điều kiện hoàn cảnh nước ta và Hồ Chí Minh là người thực hiện sự phù hợp đó Mặt khác, phương pháp Hồ Chí Minh ngày càng có sự chuyển biến về chất và thực hiện những bước đột phá mới trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, phương pháp đó thể hiện một cách sinh động, đặc sắc được minh chứng bởi những thắng lợi rực rỡ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ

Có thể nói, chính sự nghiệp đấu tranh cách mạng đã làm cho Hồ Chí Minh vừa là một nhà tư tưởng vừa là một kiến trúc sư trong lĩnh vực phương pháp Người rất sáng tạo khi vận dụng phương pháp biện chứng, cũng chính vì vậy mà có nhiều nhà nghiên cứu, học giả cho rằng, phương pháp biện chứng

mà Hồ Chí Minh mang đặc trưng riêng, thậm chí người ta cho rằng, có một phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh Phương pháp đó đóng vai trò là phương pháp luận cho nhận thức và hành động của Người

Sự sáng tạo trong việc vận dụng phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh thể hiện trong cách nhìn nhận xét vấn đề trong việc giải quyết các nhiệm

vụ do cách mạng Việt Nam đặt ra Có thể nói, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn tư tưởng biện chứng trong triết học Mác-xít với triết học phương Đông, giữa truyền thống với hiện đại, giữa lý và tình, thấu lý đạt tình tình trong nhận thức và trong hành xử với người và việc chứ không nhất thiết vận dụng từng nguyên tắc, quan điểm của phương pháp biện chứng Mác-xít Nó là

Trang 30

sự tổng hợp các lý thuyết đã được đúc kết tạo thành những quan điểm nhất quán trong quá trình hoạt động cách mạng

Có thể nói, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh là một chỉnh thể, ở đó

có mối liên hệ hữu cơ không thể tách rời giữa tư tưởng phương pháp và phong cách, đạo đức, lối sống và nhân cách của người Đó là kiểu mẫu của sự hài hòa giữa tính dân tộc và tính nhân loại, giữa truyền thống và hiện đại mà đặc biệt

là sự hài hòa giữa một lãnh tụ tài ba, một vĩ nhân với một con người bình dị gần gũi với nhân dân Cho nên, ở Người có sức cảm hóa, thuyết phục, hấp dẫn

và lôi cuốn mạnh mẽ đối với mọi người Chính phong cách giản dị đó làm lấp lánh thêm vẻ đẹp trong tư tưởng triết học của Người làm cho triết lý của người thêm tinh túy, sâu sắc

Với bản lĩnh của mình, Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin một cách sáng tạo, biết làm sống lại các linh hồn của nó trên mảnh đất hiện thực ở Việt Nam, nên có người cho rằng, Người là một học trò xuất sắc của Mác, V.I.Lênin Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không phải là bản sao hay cái bóng của một Các-Mác hay một V.I.Lênin Nhà khoa học Êtiôpia – Teshome Kebede đã nhận xét: “Sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở khả năng của Người có thể áp dụng một cách sáng tạo phương pháp luận mác-xít lêninít vào điều kiện Việt Nam.” [2;84]

Với tất cả những điều đã nói ở trên, ta có thể kết luận rằng, phương pháp mà Hồ Chí Minh vận dụng sự kết hợp hài hòa phương pháp biện chứng mác-xít với truyền thống tư duy dân tộc, tiếp thu tinh hoa dân tộc, tiếp thu tinh hoa triết học thế giới nhất là triết học phương Đông và thực tiễn phong trào cách mạng, xem xét giải quyết những vấn đề của Cách mạng Việt Nam Nó đóng vai trò là phương pháp luận chung cho hệ phương pháp của Người Qua nghiên cứu, khóa luận xin khái quát sáu nội dung cơ bản mà Hồ Chí Minh vận dụng phương pháp biện chứng trong xem xét, giải quyết vấn đề:

- Thứ nhất, quan điểm thực tiễn và quan điểm về tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là quan điểm xuyên suốt trong nhận thức và hành động thực tiễn

- Thứ hai, bảo đảm nguyên tắc toàn diện, có hệ thống, có trọng điểm và thiết thực

- Thứ ba, phát hiện mâu thuẫn, giải quyết mâu thuẫn với phương pháp phù hợp có hiệu quả cao

Trang 31

- Thứ tư, có quan điểm phát triển, luôn đổi mới và hướng về cái mới.

- Thứ năm, giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc với giai cấp khi giải quyết những vấn đề xã hội của Việt Nam

- Thứ sáu, có quan điểm biện chứng sáng tạo khi biết “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” để ứng phó và giải quyết vấn đề

Đó là sáu nội dung cơ bản về việc vận dụng một cách sáng tạo phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trên các lĩnh vực, trong lĩnh vực đấu tranh cách mạng nó được thể hiện một cách độc đáo qua từng nội dung cụ thể sau:

2.1.1 Xuất phát từ thực tế Việt Nam mà đề ra phương pháp, cách làm thích hợp.

Trong triết học mác-xít, “thực tiễn” được hiểu là toàn bộ hoạt động sản xuất vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người để cải tạo

tự nhiên và xã hội Thực tiễn được coi là cơ sở, là động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý

Là người gần gũi với nhân dân, Hồ Chí Minh thường dùng khái niệm

“thực tế” khi nói về “thực tiễn” Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, thực tế là các vấn đề mình phải giải quyết, là mâu thuẫn của sự vật Chúng ta là những người cán bộ cách mạng, thực tế của chúng ta là những vấn đề mà cách mạng đặt ra mà chúng ta phải giải quyết Việt Nam là đất nước có truyền thống hàng ngàn năm lịch sử, có điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù của nó Đây chính là điểm xuất phát cho mọi suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình

Thực tế Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự thống khổ của nhân dân dưới sự thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, là giai đoạn thất bại của các phong trào yêu nước, là sự khủng hoảng về đường lối cách mạng và phương pháp cách mạng của các vị tiền bối Phan Chu Trinh quan niệm có tính chất cải lương khi đưa ra phương pháp “khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh” Còn Phan Bội Châu thì chạy Đông chạy Tây để cầu viện nghĩa cử đồng chủng, đồng văn của Nhật, điều này khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau” thay thế cách thống trị này bằng ách thống trị khác Thực tế đó là động lực thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, tìm một con đường cách mạng đúng đắn, phù hợp để giải phóng dân tộc khỏi xích xiềng nô lệ

Trang 32

Với ý chí và nghị lực phi thường, Người hòa mình vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, Người tìm thấy ở đó một câu trả lời bức thiết nhất cho cả dân tộc, làm thế nào để có thể giành được độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc; nó là đuốc soi đường cho con người đang đi trong đêm tối, chỉ cho con người cách thức làm thế nào để đạt được mục đích một cách khoa học và đạt hiệu quả cao nhất

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước chân chính giúp Người giải quyết sự bế tắt đường lối bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 Nhưng thực tế Việt Nam đặt ra nhiều vấn

đề bức xúc đòi hỏi Người giải quyết Thực tế đó là người dân Việt Nam mà đa

số là nông dân rất xa lạ đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và khi chưa hiểu “cách mệnh” là gì? Là thực trạng một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu làm thế nào chiến thắng tên đế quốc hùng mạnh? Là một xã hội thuộc địa nửa phong kiến thì làm thế nào vừa đem lại độc lập vừa có tự do thật sự? Thực tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù thì làm cách nào đưa cách mạng vượt qua giây phút hiểm nghèo, bảo vệ thành quả cách mạng? Thực tế cách mạng sau năm 1954 chỉ giải phóng được miền Bắc, làm thế nào giành được độc lập, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên xã hội chủ nghĩa,

Có rất nhiều câu hỏi về cách làm mà Người đặt ra từ thực tế Việt Nam làm cơ sở để đề ra đường lối, nhiệm vụ và phương pháp thích hợp Người ý thức được rằng, thực tế đó là những vấn đề cấp bách nếu không lo giải quyết thì cách mạng không thể tiến lên được Do đó, Người luôn yêu cầu đặt ra cho mình là phải nhạy bén trước thực tế, kịp thời phát hiện bản chất và quy luật phát triển khách quan của sự vật và đề ra phương pháp hành động phù hợp Muốn vậy, trước hết Người yêu cầu phải nắm vững lý luận khoa học Là nhà mác-xít sáng tạo lớn, hơn ai hết, Người đã nghiên cứu và nắm vững tinh thần

và phương pháp của học thuyết Mác - Lênin, lấy nó soi rọi vào thực tế Việt Nam Do vậy, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của lý luận Người nhấn mạnh câu nói của V.I.Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mệnh vận động” Do vậy, Người luôn quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn của triết học mác-xít Người nói: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [16;74,75] Theo Hồ Chí Minh, lý luận phải thấm sâu thực tiễn, phải bắt nguồn từ thực tiễn, ở trong thực tiễn và trở về với thực tiễn Lý luận không nảy sinh từ đầu óc tư biện, nó phải là công cụ hữu hiệu đề cải biến thực

Trang 33

tiễn theo hướng phát triển Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu “phải nâng cao trình

độ lý luận gắn liền với công tác lý luận với thực tiễn cách mạng, phải đi sát thực tế phải liên hệ mật thiết với quần chúng” [16;95]

Sau khi xác định độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển duy nhất đúng đắn trên thế giới lúc bấy giờ, Người quyết định đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường đó, nhưng hoàn cảnh mỗi nước khác nhau, cách thức đi trên con đường đó khác nhau không thể máy móc rập khuôn được Do đó, quan điểm thực tế ở Hồ Chí Minh đã bao hàm quan điểm lịch sử-cụ thể

Thực tế hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám là một dân tộc dưới ách nô lệ ngoại xâm; là cuộc chiến đấu đầy gian khổ của quần chúng nhân dân Người cộng sản phải biết xuất phát từ các hiện thực đau khổ đó làm động lực cải tạo hoàn cảnh đưa dân tộc bước ra màn đêm nô lệ trở về vùng trời tự do Để làm điều đó người cách mạng cũng phải xuất phát từ thực trạng của từng địa phương, từng thời điểm mà có cách làm thích hợp Muốn bày cho dân cách làm nhưng thực tế nhân dân ta không hiểu gì về chủ nghĩa Mác-Lênin thì “phải giảng giải lý luận cho dân hiểu” [14;267] Ngôn ngữ học thuyết khoa học xa lạ với họ thì Hồ Chí Minh sử dụng từ ngữ giản dị

dễ hiểu, gần gũi với họ Làm được điều này, Người không những am hiểu thực tiễn, bám sát thực tiễn, mà còn thấu hiểu đặc điểm của đồng bào mình

Xuất phát từ tính chất xã hội Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến và từ những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ nên ngay trong cương lĩnh đầu tiên của Đảng Người đã chỉ rõ mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” [11;26], từ đó đề ra nhiệm vụ chống đế quốc, chống phong kiến và tiến lên xã hội cộng sản Trong những thời điểm lịch sử

cụ thể mà hai nhiệm vụ đó thay đổi vị trí ưu tiên cho nhau

Năm 1941, do xuất phát từ tình hình thế giới và trong nước lúc bấy giờ, Người và Trung ương Đảng đã chủ trương thực hiện chuyển hướng chỉ đạo chiến lược một cách kiên quyết, nêu cao vấn đề dân tộc, chủ trương lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh nhằm tập hợp mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, cá nhân yêu nước tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đánh đổ mọi lực lượng là đế quốc và phong kiến tay sai, không tiến hành cách mạng tư sản dân quyền để giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa đồng thời, phân tích đúng tình hình thực tiễn, kịp thời đề ra chủ trương chuẩn bị

Ngày đăng: 06/04/2013, 09:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[19] Sự nghiệp và tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004 Khác
[20] Song Thành - Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997 Khác
[21] Trần Dân Tiên - Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Trẻ, 2007 Khác
[22] Triết học Mác-Lênin (chương trình cao cấp), Nxb Sách giáo khoa Mác- Lênin, 1981 Khác
[23] Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1975 Khác
[24] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Lý luận chính trị, 2002.Các trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w