Nhân loại đang tiến từng bước vững chắc trong thế kỉ mới. Những thành tựu của tương lai đã và đang được xây dựng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
NGUYỄN PHƯƠNG AN
VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM VÀ TÍN NGƯỠNG
BÀ LA MÔN GIÁO TRONG LỊCH SỬ
VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Lời cam đoan 2
Bảng chỉ dẫn viết tắt 3
Lời cảm ơn 4
Lời mở đầu 5
PHẦN DẪN LUẬN
1- Tính cấp thiết của đề tài 6
2- Đối tượng nghiên cứu 7
3- Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4- Phương pháp nghiên cứu 7-8 5- Nội dung nghiên cứu 8-9 PHẦN NỘI DUNG Chương 1 : QUỐC GIA CỔ PHÙ NAM 1.1 – Sự thành lập vương quốc Phù Nam 10
1.1.1 – Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ ở khu vực ĐNA cổ đại 10
1.1.2 – Sự thành lập vương quốc Phù Nam 16
1.1.2.1 - Quá trình ra đời 16
1.1.2.2 – Điều kiện địa lý – dân cư 24
1.1.2.3 – Cương vực 31
1.2 – Quá trình phát triển của vương quốc Phù Nam 34
1.3 – Quá trình suy vong của vương quốc Phù Nam 58
Chương 2 : TÍN NGƯỠNG BÀLAMÔN TRONG LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 2.1 – Bàlamôn giáo và quá trình truyền bá vào ĐNA cổ đại 63
2.1.1 – Bàlamôn giáo 63
2.1.2 – Bàlamôn giáo trong đời sống cư dân Phù Nam 67
2.1.2.1 – Tín ngưỡng chung của vương quốc Phù Nam 67
2.1.2.2 – Bàlamôn giáo trong đời sống cư dân Phù Nam 70
2.2 – Hệ thống các vị thần Bàlamôn trong văn hoá Phù Nam 75
2.2.1 – Văn hoá Óc Eo - Bức tranh thu nhỏ của văn hoá Phù Na 75
2.2.2 – Đặc điểm các vị thần Bàlamôn trong VHOE 79
PHẦN KẾT LUẬN 98
Danh mục sách tham khảo
Danh mục bản đồ, hình ảnh
1
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài được viết chỉ nhằm phục vụ cho đất nước và nhân dân về nhiều mặt mà nó phát huy hiệu lực Xin cam đoan rằng đề tài hoàn toàn không vi phạm đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của nhà nước, đáp ứng đầy đủ các nguyên tắc quy định của một công trình nghiên cứu khoa học
Những gì trái với tinh thần nêu trên, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Người cam đoan
Nguyễn Phương An
2
Trang 4BẢNG CHỈ DẪN VIẾT TẮT
BFEO Trường Viễn đông bác cổ (Pháp)
KCH Khảo cổ học
ĐNB Đông Nam Bộ
NXB Nhà xuất bản
TCN Trước công nguyên
TNK Thiên niên kỉ
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
VHAĐ Văn hoá Ấn Độ
VHĐN Văn hoá Đồng Nai
VHOE Văn hoá Óc Eo
KHXH Khoa học xã hội
VQPN Vương quốc Phù Nam
3
Trang 5LỜI CẢM ƠN
µ ¸
Trong suốt qua trình nghiên cứu, tôi nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía Xin chân thành gởi lời cảm ơn đến:
Đảng uỷ – Ban giám hiệu – Hội đồng khoa học và đào tạo trường đại học
An Giang đã tạo điều kiện cho tôi tham gia vào công tác nghiên cứu Tổ chức nghiệm thu và sửa chữa đề tài
Ban chủ nhiệm, hội đồng khoa học và đào tạo khoa Sư phạm đã tận tình theo dõi, hướng dẫn, chỉ đạo tạo rất nhiều thuận lợi cho tôi trong nghiên cứu thực tế và nhiều mặt khác
Các phòng Kế hoạch - tài vụ, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, hành chính tổng hợp… đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc thực hiện thủ tục nghiên cứu và quyết toán kinh phí
Cán bộ, nhân viên thư viện trường đại học An Giang là nơi cung cấp nguồn
tư liệu chủ yếu phục vụ cho việc nghiên cứu của tôi
Đặc biệt, xin chân thành gởi lời cảm ơn rất nhiều đến cô Nguyễn Ngọc Thuỷ–giảng viên môn lịch sử thế giới-tổ bộ môn Sử_ Địa–khoa Sư phạm–Trường đại học An Giang là người hướng dẫn, theo dõi, góp ý sữa chữa trong suốt quá trình nghiên cứu của tôi
Cuối cùng xin gởi lời cảm ơn đến quý thầy cô, tập thể lớp DH3S, sở Văn hoá-Thông tin An Giang, bảo tàng tỉnh An Giang, ban quản lí khu di chỉ Óc Eo–Ba Thê, thư viện tỉnh An Giang… đã giúp đỡ tôi
Xin chân thành cảm ơn !
4
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
µ ¸
Nhân loại đang tiến từng bước vững chắc trong thế kỉ mới Những thành tựu
của tương lai đã và đang được xây dựng trên nền tảng quá khứ lịch sử vững chắc
Loài người tiến bộ đang hướng về tương lai với hành trang của tổ tiên Lịch sử cho
chúng ta bài học quý báu trong cuộc sống hiện tại và mai sau
Lịch sử VQPN và tín ngưỡng Bàlamôn trong lịch sử VQPN dần mở rộng
hơn cùng với sự nỗ lực muốn vận dụng lịch sử vào việc xây dựng và phát triển quê
hương đất nước Những chân trời mới ra đời làm sáng tỏ hơn nhiều vấn đề góc cạnh
khó khăn mà giới nghiên cứu lịch sử vấp phải khi nghiên cứu vấn đề này
Ở An Giang mọi nỗ lực của các cấp ban ngành và cá nhân có liên quan điều
mong muốn khai thác giá trị của lịch sử VQPN và tín ngưỡng Bàlamôn trong lịch
sử VQPN vào việc phát triển quê hương bác Tôn, nhất là về thương mại và du lịch
dịch vụ
Cần phải tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, đặc biệt là học sinh, sinh
viên những người chủ tương lai của đất nước về vấn đề lịch sử quan trọng này
Đề tài này được viết trong hoàn cảnh trên Đề tài là sự tập hợp tổng kết từ
những tư liệu có được, bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử cùng với
khả năng bản thân tôi mong muốn trình bày vấn đề “ Lịch sử VQPN và tín ngưỡng
Bàlamôn trong lịch sử VQPN” một cánh có hệ thống, rõ ràng, xác đáng sát với
hiện thực lịch sử đồng thời đưa ra những lập luận mới trên cơ sở những lập luận
trước đó
Xin chân thành cảm ơn các nhà nghiên cứu đi trước, các cấp ban ngành, cá
nhân có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công trình này
Mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng do những mập mờ quá khó, những hạn chế
chưa tìm ra được trong công tác khai quật, những thiếu thốn trong quá trình nghiên
cứu, chắc chắn đề tài sẽ không thoát khỏi sai sót Mong nhận được sự nhiệt tình chỉ
bảo từ nhiều phía Xin chân thành cảm ơn!
5
Trang 7PHẦN DẪN LUẬN
µ ¸
1-Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều học sinh lắc đầu khi được hỏi : “Bạn biết gì về VQPN, về Óc Eo và Bàlamôn giáo?” Cũng không ít sinh viên lắc đầu hoặc chỉ biết khái lược về Óc Eo – một di chỉ khảo cổ học nằm ở Thoại Sơn (An Giang), đạo Bàlamôn – tiền thân của đạo Hinđu, tôn giáo phổ biến ở AĐ thờ ba vị thần tối cao: Brahma, Vishnu và Siva còn phần VQPN thì mơ hồ thậm chí còn chưa nghe thấy
Một bộ phận cán bộ bảo tàng, giáo viên giảng dạy không thể nêu đặc điểm cũng như phân biệt được các vị thần Bàlamôn giáo vì sự hóa thân của các vị thần trong tôn giáo này là rất đa dạng, phong phú
Bàlamôn giáo được trình bày trong suốt chương trình học tập lịch sử cả ba bậc (trung học phổ thông, cao đẳng, đại học) nhưng do đây là một tôn giáo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trên trường khu vực và thế giới Tính chất phức tạp của tôn giáo đa thần, vai trò to lớn của nó đời sống văn hóa khu vực chưa tương xứng với những gì mà nó được viết trong chương trình Trong lúc này cần phải có một tài liệu hỗ trợ cần thiết cho giáo viên, những người công tác liên quan trong việc làm sáng tỏ tính chất phức tạp cụ thể hơn là đặc điểm phân biệt các vị thần Bàlamôn giáo – con đường tốt nhất để đi đến hiểu biết về tôn giáo lớn này
Chính màn tối mập mờ trong vấn đề lịch sử VQPN, sự kết nối quá khứ không trọn vẹn hụt hẫng có chủ ý là mảnh đất thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá mà An Giang là trọng điểm Vấn đề quốc gia tự trị KHMEROM trong những năm gần đây nói lên mức độ phức tạp, nguy hiểm của tình hình này
Thờ ơ với quá khứ đã và đang là căn bệnh nguy hiểm đầu độc thế hệ trẻ Sẽ chẳng bao giờ chúng ta tồn tại và phát triển được nếu quên đi bài học quá khứ Đất nước đang hội nhập vào xu thế phát triển chung của nhân loại, lịch sử là công cụ không thể thiếu trong công cuộc hội nhập đó Để có thể khai thác được giá trị lịch sử vào hoàn cảnh trên, An Giang rất cần phải đào tạo những con người biết
6
Trang 8phát huy thế mạnh của quê hương Óc Eo cái tên quá quen thuộc trở thành niềm tự hào của tỉnh nhà trong những năm gần đây là một trong số những thế mạnh đó
Xuất phát từ lỗ hổng kiến thức quá lớn về vấn đề đã nêu, từ yêu cầu cấp thiết trong việc chống các thế lực thù địch lợi dụng chống phá ở một tỉnh phức tạp, nhiều tôn giáo như An Giang đề tài được tôi chọn và thực hiện với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo những con người biết vận dụng bài học quá khứ để hướng tương lai trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa ngày nay
2- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu lịch sử VQPN và tín ngưỡng Bàlamôn trong văn hóa Phù Nam thể hiện qua các di chỉ thuộc VHOE là chủ yếu Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu tôi cũng tham khảo các tài liệu khác có liên quan đến VQPN, Bàlamôn giáo, các hiện vật nằm ngoài phạm vi VHOE trong một chừng mực nhất định nhằm làm sáng tỏ vấn đề chính
Đề tài không đi sâu vào nghiên cứu chi tiết lịch sử VQPN trên mọi lĩnh vực mà tập trung nghiên cứu điều kiện địa lý – dân cư, quá trình ra đời, cương vực, vai trò của nó trong quá trình tồn tại và phát triển Tôi cũng không nghiên cứu toàn diện về Bàlamôn giáo mà chỉ nghiên cứu ảnh hưởng của nó đến đời sống của dân
cư Phù Nam, đặc điểm các vị thần Bàlamôn giáo thể hiện qua các di chỉ VHOE là chủ yếu
3-Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ làm sáng tỏ lịch sử VQPN qua một số mặt đã nêu ở mục
2 (đối tượng nghiên cứu) nhằm tạo một bức tranh lịch sử một cách cụ thể, chính xác, sinh động về vùng đất nam bán đảo Đông Dương, miền nam nước ta trong đó có An Giang thời cổ đại
Tôi còn có nhiệm vụ nêu và hệ thống hóa hệ thống thần linh Bàlamôn với những đặc điểm cơ bản qua đó nhận thấy được sức sáng tạo, giá trị của cuộc sống dân cư Phù Nam qua hiện vật KCH có được thuộc VHOE là chính
4- Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thứ nhất được tôi sử dụng là phương pháp tiếp cận hệ thống, lấy đó làm cơ sở nghiên cứu vì nội dung nghiên cứu được viết rất tản mạn, rải rác trong nhiều tác phẩm
7
Trang 9Phương pháp thứ hai mà tôi sử dụng là phương pháp khảo sát điền dã bởi các hiện vật KCH rất quan trọng giúp làm sáng tỏ vấn đề Điều kiện thực tế cho phép tôi khảo sát, thu thập hình ảnh hiện vật trong suốt quá trình nghiên cứu
Phương pháp thứ ba mà tôi sử dụng là phương pháp liên ngành vì vấn đề mà tôi nghiên cứu được phản ánh trong rất nhiều tài liệu không chỉ là tài liệu lịch sử mà còn có các tài liệu KCH, ĐNA học, dân tộc học, thần học… Kết hợp tri thức tổng hợp liên ngành giúp vấn đề nghiên cứu được sáng tỏ trên mọi khía cạnh
Trong phạm vi khoa học lịch sử, phương pháp thứ tư được tôi sử dụng xuyên suốt trong nhìn nhận vấn đề là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic với mục đích khôi phục lại lịch sử “VQPN và tín ngưỡng Bàlamôn trong lịch sử VQPN” đúng như nó từng tồn tại
Đề tài lấy Chủ nghĩa Mác – LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu, đường lối chủ trương của Đảng và tỉnh Đảng bộ làm kim chỉ nam kết hợp với tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm, thành tựu của các nhà khoa học trên thế giới về lĩnh vực có liên quan
Tóm lại, đề tài đáp ứng yêu cầu của phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung Các phương pháp được vận dụng tối đa đảm bảo thể hiện được tính khoa học, tính lịch sử, tính Đảng của vấn đề Làm được điều đó nói lên kết quả của sự vận dụng các phương pháp khoa học nói trên
5- Nội dung nghiên cứu
Chương 1 QUỐC GIA CỔ PHÙ NAM
1.1- Sự thành lập Vương quốc Phù Nam
1.1.1- Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở khu vực Đông Nam Á cổ đại
1.1.2- Sự thành lập Vương quốc Phù Nam
Trang 101.3- Quá trình suy vong của Vương quốc Phù Nam
Chương 2 TÍN NGƯỠNG BÀLAMÔN TRONG LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM
2.1- Bàlamôn giáo và quá trình truyền bá vào Đông Nam Á cổ đại 2.1.1- Bàlamôn giáo
2.1.2- Bàlamôn giáo trong đời sống dân cư Phù Nam
2.1.2.1- Tín ngưỡng chung của Vương quốc Phù Nam
2.1.2.2- Bàlamôn giáo trong đời sống dân cư Phù Nam
2.2- Hệ thống các vị thần Bàlamôn trong văn hóa Phù Nam
2.2.1- Văn hóa Óc Eo – bức tranh thu nhỏ của văn hóa Phù Nam 2.2.2- Đặc điểm các vị thần Bàlamôn trong văn hóa Óc Eo
Trang 11PHẦN NỘI DUNG
µ ¸
CHƯƠNG 1
QUỐC GIA CỔ PHÙ NAM
1.1 – Sự thành lập vương quốc Phù Nam
1.1.1 – Ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ ở ĐNA cổ đại
ĐNA được biết đến như là nơi diễn ra cuộc cách mạng nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, quê hương của cây lúa nước nguồn lương thực quan trọng nhất trên hành tinh chúng ta, bởi những đổi thay to lớn trong khu vực làm xoay chuyển cục diện thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai và hơn thế nữa là nền văn hoá đa dạng, đặc sắc, phát triển cao trong sự thống nhất
Điều gì đã tạo ra một nền văn hoá như vậy? Có rất nhiều yếu tố như : điều kiện tự nhiên, con người trong khu vực, ảnh hưởng của các nhân tố ngoại lai tạo nên nó Trong phạm vi nghiên cứu tôi chỉ đi sâu vào mối quan hệ giữa văn hoá ĐNA với VHAĐ–một trong những yếu tố ngoại lai quan trọng tác động và có ảnh hưởng lớn lao đến văn hoá khu vực này
ĐNA cổ đại rộng hơn bây giờ Không gian ĐNA tiền sử thực ra còn bao hàm cả vùng Hoa Nam (TQ) và một phần AĐ ngày nay phía bắc tới bờ nam sông Dương Tử, tây tới biên giới bang Assam(AĐ), đông tới quần đảo Philippin và nam là quần đảo Inđônêsia ngày nay Như vậy, ĐNA cổ đại chẳng những là láng giềng mà còn là địa điểm quá cảnh quan trọng trên con đường buôn bán với TQ của AĐ
Quan hệ giữa bán đảo AĐ và miền đông nam châu Á có từ thời Vêđa khi mà bộ tộc Aryan bắt đầu xâm nhập và làm chủ bán đảo Ấn (khoảng TNK II
Trang 12TCN) Trong thời gian này, VHAĐ được truyền bá nhìn chung theo ba con đường sau đây:
* Hoạt động thương mại:
Mối quan hệ giữa hải cảng miền tây ĐNA và AĐ có từ thời tiền sử Các nhà buôn và hàng hải cả hai phía điều tham gia vào việc đó Trong hai thế kỉ TCN, do
bị mất nguồn nhập khẩu kim loại quý AĐ tìm cách nhập khẩu từ đế chế La Mã
nhưng không được Họ phải quay sang vùng đất có tên gọi là “Kherson vàng” mà
họ tưởng tượng là rất nhiều vàng Những nhà buôn thường đến các cảng mà họ xây dựng được mối quan hệ điều đặn và trú ngụ ở đó vào những mùa buôn nhất định Họ mua hương liệu, gia vị, long não, xạ hương, gỗ mun … đem đi bán ở các vùng Tiểu Á, Ba Tư và La Mã, ngoài ra còn để tìm vàng Một nhóm hạt nhân các nhà buôn ở lại lập thương điếm giữ vị trí trung chuyển hàng hoá Các thương gia định
cư đã cưới phụ nữ bản xứ qua đó VHAĐ được truyền bá
Không chỉ có biển cả mới là con đường chính truyền bá VHAĐ vào ĐNA, hoạt động thông thương còn diễn ra theo đường bộ Con đường bộ chính nối liền thông thương đi từ bang Assam (bắc Ấn) qua thượng Miến Điện và Vân Nam (TQ) Ngoài ra còn có những người du hành đi từ Moulmein và đèo Ra Heng tới khu vực sông Mê Nam rồi từ đó theo sông Mê Kông lên cao nguyên K’orat (Thái Lan) thông qua Si- T’ep tới khu vực Bassak (Campuchia) Những bằng chứng KCH cho thấy một số ảnh hưởng của AĐ thâm nhập vào thượng Miến Điện, vương quốc Nam Chiếu của người Thái và Bassak (Campuchia)
Tuy nhiên sẽ là rất sai lầm nếu nói rằng quan hệ thương mại này được thiết lập từ một phía AĐ Các tài liệu KCH cho biết việc đi lại bằng thuyền đóng bè mảng và thuyền đi biển ở ĐNA là có từ rất sớm Theo Solheim, khoảng 8000 –
9000 năm trước đây kỹ thuật đi biển đã xuất hiện ở Sulu, Mindanaw, Borneo và Selebor và đạt đến trình độ cao vào thế kỉ V TCN khi những hình thuyền cỡ lớn, mũi cong được khắc trên trống đồng Đông Sơn Thư tịch cổ TQ từ thế kỉ III cũng xác nhận rằng các sư tăng Trung Hoa sang AĐ thời bấy giờ đều đi trên những con thuyền được gọi là Côn Luân bản dài đến 50m, trọng tải 600 tấn, có thể chở hàng trăm người với buồm lớn, buồm con của các nước thương nghiệp ĐNA
* Hoạt động truyền giáo:
“Các cuộc tiếp xúc thương mại là không đủ để truyền bá nền văn minh cao hơn của một dân tộc này cho một dân tộc khác” [27, trang 43 ] Nếu nhà buôn đóng
vai trò truyền bá văn hoá thì trung tâm ban đầu phải là khu buôn bán ven
Trang 13biển nhưng những gì tìm được cho thấy nó lại nằm sâu trong lục địa mà lại là các công trình tôn giáo Điều đó nói lên rằng bên cạnh hoạt động thương mại thì theo đoàn thuyền buôn là những nhà truyền giáo truyền bá một cách tự nguyện hay có sự chỉ đạo từ phía các ông hoàng trên đất Ấn Hai tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng là Phật giáo và Bàlamôn giáo
Thời gian Phật giáo được truyền bá vào ĐNA cho đến nay vẫn chưa xác định chính xác nhưng chắc rằng rất sớm Lịch sử ghi nhận nhiều cuộc truyền giáo lớn ra bên ngoài AĐ kể từ sau khi Đức Phật viên tịch trong đó nổi bật nhất là những cuộc truyền giáo do vua Asôka (273–237 TCN) phát động Theo tài liệu cổ Xri Lanca–cuốn Maha Vamsa và bút tích số 13 của vua Asôka thì sau khi định đô
ở Pataliputra và tổ chức thành công đại hội Phật giáo họp năm 242 TCN, Asôka không đưa những đoàn quân viễn chinh mà đã phái 9 đoàn thuyền truyền giáo ra
nước ngoài trong đó có một đoàn gồm 3 cao tăng đã đến vùng đất vàng
(Suvarnabhumi) ở phía đông
Ngoài những cuộc truyền giáo lớn được tiến hành có tổ chức theo mệnh lệnh của các vị vua, chúng ta còn ghi nhận rất nhiều công sức của các nhà sư đi truyền đạo với danh nghĩa cá nhân Họ thường thâm nhập vào tầng lớp bình dân rồi dần dần giáo hoá theo tôn giáo của mình Nhiều khi những cuộc truyền bá như thế này lại có tác dụng rất lớn và nó dần trở thành cách thức truyền đạo phổ biến của tăng lữ Phật giáo sau này khi mà Bàlamôn mạnh lên, lấn áp đạo Phật trong đời sống tâm linh của cư dân trên bán đảo Ấn
Đạo Bàlamôn cũng được truyền bá vào ĐNA rất sớm Cách thức truyền bá của Bàlamôn không giống như Phật giáo Nó gắn chặt với vương quyền như một thể thống nhất Tăng lữ Bàlamôn thường được triều đình các trong khu vực mời đến và do vậy đối tượng truyền bá sẽ là bộ phận quý tộc, quan lại Bàlamôn giáo từ đó sẽ toả ra khỏi phạm vi cung đình đi vào đời sống dân chúng Ngoài ra, những đạo sĩ Bàlamôn vượt qua cấm đoán nghiệt ngã, khắt khe của giáo lí cũng góp phần truyền bá tôn giáo này vào khu vực ĐNA
Tuy nhiên, không thể bỏ qua vai trò của người bản xứ trong quá trình truyền bá hai tôn giáo trên vào ĐNA Chính dòng người mộ đạo từ AĐ đến đã khuyến khích một sự đối lưu mạnh hơn nhiều của các nhà sư bản xứ sang (với danh nghĩa cá nhân hoặc được sự chỉ đạo của giai cấp thống trị) chiêm ngưỡng, học tập giáo lí về truyền thụ cho dân chúng
12
Trang 14* Không chỉ những nhà truyền giáo mới có vai trò to lớn như vậy, những người
thuộc tầng lớp tri thức thượng lưu, vương công quý tộc thuộc dòng dõi “Kơxatơria”
sa cơ thất thế dưới thời Asôka theo các thuyền buôn cũng có vai trò không kém
trong việc truyền bá VHAĐ sang đây Van Leur cho rằng “phần lớn các thương gia
thuộc những nhóm xã hội hạ lưu không thể truyền bá nền học thuật, kiến thức và sự thành văn mang tính duy lí và quan liêu được ” [J.C Van Leur Thương mại và xã
hội Inđônêsia, La Haye, Bandung, 1955, trang 92 trích lại trong D.G.E Hall Lịch sử ĐNA, trang 40] đó là việc của tầng lớp tri thức quý tộc nói trên
Như vậy quan hệ giao lưu giữa AĐ và ĐNA có từ rất sớm Nó là kết quả của thành tựu hàng hải thời bấy giờ, công lớn của các thương gia, những nhà truyền đạo, quý tộc và mặt khác xuất phát từ nhu cầu của chính các triều đại trong khu vực thời bấy giờ
Hệ quả của công cuộc truyền bá này là hết sức lớn lao và sâu sắc có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử, văn hoá ĐNA Khái quát lại có thể đánh giá ảnh hưởng của VHAĐ ở những mặt sau:
Trước hết đó là sự phổ biến chữ Pali – Sankrit ở rất nhiều quốc gia ĐNA như Lào, Campuchia, Thái Lan … Dấu ấn của ngôn ngữ AĐ cũng được tìm thấy trong ngôn ngữ của nhiều nước khác trong khu vực như trong tiếng Melayu (Inđônêsia, Malaysia, Brunei, Singapo), tiếng Việt…
Hai bản trường ca Ramayana và Mahabharata được truyền bá và có ảnh hưởng lớn đến sử thi của nhiều nước ĐNA với biến thể khác nhau của nó Sự xâm nhập của hai bản trường ca này sâu sắc đến mức ở nhiều nơi cư dân bản địa vẫn cho rằng nó là của họ chứ không phải có nguồn gốc từ AĐ Ngoài ra kinh Phật, kinh Vêđa và các tác phẩm văn học khác cũng có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống nói chung, văn học nói riêng của cư dân các quốc gia ĐNA
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc AĐ cũng có ảnh hưởng không kém Thường thì các công trình kiến trúc và điêu khắc thuộc phạm vi Phật giáo và Bàlamôn giáo Các công trình kiến trúc điêu khắc Phật giáo tiêu biểu như Thạt Luông (Lào), Borobudur (Inđônêsia)… Bàlamôn giáo thì có Ăngcovát (Campuchia), hệ thống các tháp ở vương quốc Chămpa Có thể nói dấu ấn ảnh hưởng của kiến trúc điêu khắc AĐ đối với khu vực ĐNA là rộng rãi và sâu sắc đến mức hiện nay chúng ta có thể thấy nó ở bất kì đâu trong khu vực
Một biểu hiện rõ nét nhất nói lên ảnh hưởng của VHAĐ đối với khu vực ĐNA là sự truyền bá đạo Phật và Bàlamôn giáo Ngày nay ảnh hưởng của
Trang 15Bàlamôn giáo (hiện là Hindu giáo) không nổi bật song Phật giáo thì ảnh hưởng rất sâu rộng trong đời sống văn hoá tinh thần của người dân bản địa trở thành quốc giáo ở một số quốc gia
Trên lĩnh vực chính trị - xã hội, rõ ràng sự truyền bá VHAĐ đã có tác dụng thúc đẩy quá trình phân hóa xã hội dẫn đến hình thành một số quốc gia cổ đại Theo Goeger Coedès, VHAĐ như là thượng tầng kiến trúc đặt trên hạ tầng kiến trúc là nền văn hoá bản địa Cả hai yếu tố trên có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau không thể thiên lệch một yếu tố nào Các quốc gia cổ đại ra đời sớm nhất và chịu ảnh hưởng đặc biệt của nền VHAĐ là Phù Nam và Chămpa
Sơ kết:
Về phạm vi ảnh hưởng: Đã có sự tranh chấp rất rõ giữa VHAĐ với văn hoá
Trung Hoa giành giật về phạm vi ảnh hưởng của mình ở ĐNA Mỗi nước theo
những cách khác nhau cạnh tranh một cách khắc nghiệt Chiến dịch “nam tuyên
quốc hoá” của Ngô vương Tôn Quyền (222 – 280) nhằm phủ dụ dân “Nam man”
do Khang Thái, Chu Diễn thực hiện không thành công Có thể là do những nước vùng rìa bán đảo và hải đảo ở xa TQ không thể phát huy ưu thế quân sự để áp đặt theo lối của mình Từ đó văn hóa TQ phải nhường chổ cho VHAĐ làm bá chủ ảnh hưởng trong khu vực phía nam Giao Châu trở xuống
Về cách thức truyền bá: Văn hoá Ấn được truyền bá bằng cách “gieo hạt”
trên nền đất tươi tốt của nền văn hoá bản địa đã được chuẩn bị hoàn toàn khác với
lối thống trị bằng quân sự theo “phương pháp cưỡng bức” (cách nói của A.M
Rechetop) của TQ TQ chỉ đơn thuần sáp nhập, áp đặt nền văn minh của họ bằng cách san bằng quá khứ, biến xứ khác thành một tỉnh của họ Còn AĐ thì thâm nhập theo cách riêng của họ khiến cho các dân tộc Đông Dương thoát ra khỏi sự cô lập, được đào luyện theo nền văn hoá Ấn để không bao lâu sẽ tạo nên bao nhiêu nền văn minh mới độc đáo một cách mau lẹ Sự so sánh trên cho ta thấy được đặc điểm, cách thức truyền bá của hai nền văn minh có ảnh hưởng lớn trong khu vực đặc biệt là cách thức truyền bá của AĐ tạo ra sắc thái riêng không thể nhầm lẫn được đối với lịch sử các quốc gia chịu ảnh hưởng
Như vậy, ảnh hưởng của VHAĐ là rất lớn và sâu sắc Những ảnh hưởng đó
“chủ yếu là sự bành trướng của một nền văn hoá có tổ chức, dựa trên quan điểm Ấn về vương quyền, tiêu biểu bằng AĐ giáo hoặc Phật giáo, thần thoại Purana, pháp giới Phacmaxastra và lấy tiếng Phạn làm phương tiện biểu đạt” [theo G Coedes
Lịch sử cổ đại … trang 40] Không ai có thể phủ nhận điều đó song cũng không thể
14
Trang 16nhìn nhận nó một cách tuyệt đối hoá, thiên lệch coi ĐNA như là thuộc địa của AĐ và các nhà nước ra đời lúc bấy giờ là những quốc gia Hinđu hoá Trước khi có tác động đầu tiên của AĐ, theo Coedès ĐNA đã tiến lên trình độ văn minh Do đó, nhân dân các quốc gia ĐNA không tiếp nhận VHAĐ một cách thụ động một chiều Trên cơ sở một nền văn hoá bản địa vững chắc–văn hoá nông nghiệp lúa nước trong thiên niên kỉ đầu công nguyên họ đã tận dụng tối đa những thuận lợi mà vị trí địa lí đem lại tiếp thu có chọn lọc những gì thích hợp trong thế giới Đraviđa, một nền văn minh cao hơn làm giàu cho nền văn hoá của mình
1.1.2 – Sự thành lập vương quốc Phù Nam
1.1.2.1 – Quá trình ra đời
Dựa vào thư tịch cổ TQ, minh văn khắc trên lá vàng, bia kí, trên bệ thờ bằng đá… các nhà KCH có thể kết luận một các chính xác niên đại ra đời của VQPN là vào thế kỉ thứ I – thời điểm quá trình dựng nứơc và giữ nước diễn ra sôi sục trên toàn khu vực ĐNA cổ đại
“ Trước đây, người ta vẫn nhấn mạnh đến vai trò của sự tiếp xúc với AĐ và
TQ trong việc ra đời các quốc gia cổ đại ĐNA Nhưng sự phát triển nội tại của các cộng đồng dân cư ĐNA đã chuẩn bị cho giai đoạn lịch sử mới này.” [4, trang 356 +
357] Khoảng 4000- 5000 năm trước cư dân ĐNA đã biết đến và sau đó là xây dựng nền văn minh đồng thau phát triển rực rỡ không thua kém gì các nền văn minh tối cổ khác, đạt bước tiến lớn trong sản xuất Riêng tại ĐNB (Việt Nam), những nhóm người Anhdonedieng nói tiếng Môn – Khơmer cổ đại di cư ồ ạt đến sống ở khu vực sông Đồng Nai vào khoảng thế kỉ III – II TCN lập nên nền VHĐN có nền tảng là nền kinh tế nương rẫy dựa vào truyền thống kỹ thuật đá mới Thiết chế xã hội được tổ chức theo chế độ công xã thị tộc mẫu quyền Người Anhdonedieng ban đầu sống chủ yếu ở những vùng cao thuộc ĐNB sang đầu TNK
II TCN thậm chí là nửa sau TNK này họ mới tiến xuống các chân ruộng thấp mở rộng về bờ tây sông Đồng Nai xa hơn nữa là Tây nam bộ, nơi có những đồng bằng rộng lớn thuận lợi hơn cho sản xuất Những cuộc tiếp xúc với các nhóm Anhdonedieng bản địa khác kể cả với người Thiên Trúc (AĐ ) giúp cho trình độ sản xuất và đời sống xã hội phát triển
Di vật bằng đồng phát hiện tại Núi Gốm ( niên đại 4000 năm trước ) được chế tác với trình độ không thua kém bất kì chủ nhân của nền văn hoá đồ đồng phát triển nào trong khu vực Di vật đồ đồng ngày càng được tìm thấy nhiều trong các di chỉ khác chủ yếu có niên đại từ 4000 năm trở về Điều này cho ra một giả
15
Trang 17thuyết cư dân Đồng Nai có trình độ luyện đồng khá cao Nhưng chủ nhân của nền VHĐN không thể tiến hành công cuộc chinh phục thiên nhiên với công cụ đồng hết sức mềm dẻo được mà phải có thay đổi lớn trong công cụ sản xuất Từ thế kỉ VI –
V TCN nghề làm đồ sắt đã xuất hiện và dần phổ biến Các di chỉ phát hiện di vật đồ sắt ít chứng tỏ cư dân Đồng Nai mới biết đến nghề làm đồ sắt Tiến dần về phía nam sông Đồng Nai những di vật xuất hiện đồ sắt ngày một nhiều và có niên đại ngày càng muộn hơn, một số còn thuộc VHOE Tại khu vực bờ tây sông Cửu Long phát hiện KCH(những ngôi mộ chum, mộ cự thạch có đồ trang sức ngoại nhập như vàng, bạc, đá quý; công cụ vũ khí bằng sắt rèn; các lưỡi qua lớn) có niên đại vài ba thế kỉ trước và sau công nguyên
Sự xuất hiện và phổ biến đồ sắt đồng nghĩa với địa bàn cư trú được mở rộng, tạo ra bước đột phá trong sản xuất và đời sống xã hội Chế độ mẫu quyền chuyển sang hình thức phụ quyền, cư dân Phù Nam đứng trước ngưỡng cửa xã hội có giai cấp và nhà nước Thời kỳ huy hoàng trong suốt 2000 năm tồn tại của nền VHĐN đến đây nhường chỗ cho nền văn hoá mới rực rỡ hơn – VHOE Một xã hội thịnh vượng có tổ chức ra đời – vương quốc cổ Phù Nam hùng mạnh
Như vậy vào đầu công nguyên nếu như trước đó đồ đồng chưa đem lại hiệu quả cho nền sản xuất trên quy mô rộng, đa dạng của thiên nhiên thì sự xuất hiện và sử dụng phổ biến đồ sắt trái lại mang đến cho con người bấy giờ chân trời mới của nền sản xuất phát triển Xã hội thị tộc dần tan rã cư dân nơi đây đứng trước
ngưỡng cửa của xã hội có giai cấp và nhà nước Có thể nói rằng VQPN ra đời là sự
sáng tạo của các nhóm tộc người trong việc xây dựng nhà nước của mình, dựa trên sự phát triển của đồ sắt và nền văn hoá bản địa
Đoạn trên, ta thấy được tác động to lớn của đồ sắt và nền văn hóa của cư dân bản địa trong quá trình hình thành quốc gia vào loại cổ nhất ở khu vực ĐNA nhưng không thể bỏ qua yếu tố ảnh hưởng của nền VHAĐ tác động đến nền văn hóa ấy như là chất xúc tác kích thích nhà nước ra đời nhanh hơn Văn hóa Ấn thường ảnh hưởng tới khu vực tây nam ĐNA nơi có nhiều vũng vịnh, đảo, bán đảo thuận tiện cho phát triển thương mại Nhà nước ra đời chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn là các nhà nước hải cảng trong đó VQPN mà tiêu biểu là thương cảng Óc Eo minh chứng cho điều này Chính thương gia AĐ ghé qua rồi ở lại, những người thuộc tầng lớp tri thức sang lập thương điếm có vai trò to lớn lan truyền thành tựu của nền văn hoá phát triển vào loại cao nhất trên thế giới cho cư dân bản địa Có ai dám không nói rằng chính họ đã thúc đẩy nhanh sức phát triển của công cụï sản xuất, phân hoá xã hội từ sự phát triển ấy Sở hữu cá nhân chắc chắn là xuất hiện sau đó ở những người giữ chức vụ cao trong cộng đồng Cở sở của giai cấp và nhà
Trang 18nước sơ khai là đầy đủ và rõ ràng là nó đã ra đời
Phù Nam ra đời là kết quả của nhu cầu kiểm soát đường giao thông trên biển nối liền TQ với AĐ Tuy nhiên, nhà nước sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu hệ tư tưởng làm nền để cai trị Nhiều nhà nước trong lịch sử được hình thành và không thể tồn tại được nếu thiếu tư tưởng thống trị nhằm ngu dân, tối thượng hoá sức mạnh siêu nhiên của bộ máy nhà nước Thông qua các bậc thầy Bàlamôn giáo nhà vua có thể cầu khấn đấng thượng đế toàn năng để duy trì trật tự cõi trần
K’ang T’ai (Khang Thái) cùng với Chu Ying (Chu Diễn) - hai sứ giả được
thứ sử nhà Ngô ở Giao Châu cử đến vào năm 229 kể rằng tổ tiên cư dân Phù Nam
là Kaundinya đến từ xứ sở xa xôi nào đó không được ghi rõ có thể là AĐ được thần linh báo mộng cho biết vùng đất mà ông sẽ lên ngôi Kaundinya được dẫn dắt đến nơi trong mộng cũng bằng những giấc mơ, trong tay là nỏ thần và một đạo quân chừng một vạn hai ngàn người Công chúa nước này là Sôma chống cự lại kẻ xâm lược nhưng bị nỏ thần của Kaundinya khuất phục nên phải đầu hàng Kaundinya kết hôn với Sôma trở thành vua xứ Cốc Thalốc (Cửu Đầu Xà), đóng đô
ở Vyađapura (Đặc Mục – thành phố của những người thợ săn) cách bờ biển 5000 dặm tức 25000 km thuộc Braphram – tỉnh Prâyven - Campuchia vào khoảng đầu công nguyên Kaundinya dạy cho vợ và cư dân ở đây cách ăn mặc, ngôn ngữ, văn tự Sănxcơri, luật pháp và tổ chức chính quyền theo kiểu AĐ
Câu chuyện trên mang nhiều yếu tố hoang đường, có tính văn chương lãng mạn một sự mô phỏng truyền thuyết của người AĐ về cuộc hôn phối giữa tu sĩ Bàlamôn Kaundinya và Nagi Sôma – con gái của vua các thần rắn Naga Thực chất truyền thuyết trên có thật hay không chưa ai có thể khẳng định được Liệu có phải hai sứ giả này ghi lại từ lời kể trong dân gian hay là họ nghe sự giải thích về nguồn gốc thần thánh của bản thân giai cấp thống trị chịu ảnh hưởng của Bàlamôn giáo… Không ai biết? Dù vậy, câu chuyện đã phản ánh các yếu tố tạo nên nhà nước Phù Nam: Kaundinya tượng trưng cho sự cống hiến của nền VHAĐ và nàng công chúa Sôma khoả thân nói lên trạng thái nguyên thuỷ của nền văn hóa bản địa
Ngoài những nhà truyền giáo đến từ AĐ thì bộ phận cầm quyền ở Phù Nam còn chủ động cho người sang đất nước Thiên Trúc học hỏi cách tổ chức nhà nước và quản lí xã hội Họ ý thức được tầm quan trọng của nền tảng tư tưởng để cai trị một vương quốc Bàlamôn giáo với sự phân chia đẳng cấp khắt khe đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra của xã hội Phù Nam thời kỳ đầu nên được tầng lớp trên tiếp thu, phổ biến nhanh chóng Đây cũng là lí do vì sao Phật giáo được truyền bá
17
Trang 19sâu rộng hơn trong thời kỳ đầu lại nhường chỗ cho Bàlamôn giáo trong địa vị tôn giáo chính ở nước này vào thời đại của vương triều Gúpta (AĐ)
Như vậy, từ đầu công nguyên trên nền văn hoá bản địa, cư dân ở đây nhanh chóng tiếp thu cách tổ chức chính quyền, xã hội, tôn giáo, cả chữ viết và nhiều thành tựu văn hoá khác để tổ chức nhà nước vương quyền theo kiểu AĐ Có thể nói rằng Phù Nam ra đời là kết quả phát triển tất yếu của nền văn hoá bản địa, xuất phát từ yêu cầu kiểm soát đường giao thông trên biển và ảnh hưởng của nền VHAĐ Nhiều nhà nước ra đời cùng lúc hay sau đó ở phía tây nam cũng là kết quả của quá trình trên
Thực ra chúng ta chưa hề biết chính xác về tên của vương quốc cổ này Trong một cuộc khai quật tại địa phận tỉnh Prâyven (Campuchia) ngày nay, các
nhà KCH phát hiện bia kí tên là “Vyađhapura” rồi đưa ra ý kiến về vương quốc
tên là Phù Nam hay Đặc Mục mà thư tịch cổ TQ từng viết Sự đoán định trên có phần không thỏa mãn bởi Phù Nam không phải là tên gốc mà là cách phát âm theo
tiếng TQ của một từ mà có lúc đã được phát âm là “B’iu-nam” cái tên mang dáng
dấp của một nhà nước tiền Khơmer Có lẽ Phù Nam được phiên âm từ một từ sẽ là
rất gần từ cổ Khơmer “Bnam” ngày nay là “Phnom” nghĩa là “núi” Các vua Phù Nam có vương hiệu đầy đủ là “Kurung Bnam” tức “vua của núi” Vương hiệu này ứng với từ “Sailaraja” trong tiếng Phạn – vương hiệu của các vị vua Pallava
thuộc Cojeveram miền nam AĐ [Theo ý kiến của L.Finot đưa ra, được G Coedès và P Dupont phát triển Trích lại trong “ văn hoá Óc Eo và các nền văn hoá cổ ở đồng bằng sông Cửu Long Sở văn hoá và thông tin An Giang Long Xuyên 1984]
Thủ đô của Phù Nam là Vyađhapura có nghĩa là “thành phố của những thợ
săn” gần núi Ba Phnom ở làng Ba Nam (Prâyven – Campuchia) Một thời gian
kinh đô của Phù Nam dời về Na Phất Na (Naravaranagara) tức thương cảng Óc Eo(theo quan điểm của Lương Ninh; B Aymonier, L Finot, G Coedès cho rằng Na Phất Na là Ăngkor Borei –Campuchia; L Malleret lại quả quyết Na Phất Na nằm
ở Óc Eo hoặc Cạnh Đền) sau khi kinh đô Đặc Mục bị vua Ychư na (Isanavarman) của Chân Lạp chiếm đóng (theo L Malleret, 1951)
Lúc cực thịnh của, Phù Nam không phải là một quốc gia hải cảng theo đúng nghĩa của nó mà đã trở thành một đế chế với nhiều quốc gia phụ thuộc có vai trò to lớn trên con đường thông thương chính từ AĐ lên TQ Trong thời kỳ này Phù Nam từng liên kết với Lâm Ấp đánh Giao Châu và quan hệ rộng rãi với TQ, AĐ cả với
La Mã do tìm thấy những đồng tiền La Mã trong nền VHOE
18
Trang 20Về thiết chế nhà nước và tổâ chức xã hội (sẽ trình bày rõ hơn trong mục III
“quá trình phát triển của VQPN” phần chính trị – quân sự) : Trước khi chịu ảnh hưởng của VHAĐ thiết chế xã hội truyền thống tổ chức theo kiểu mẫu quyền dân cử Tấn thư viết: “vua nước họ (Phù Nam) vốn là người đàn bà được gọi là nữ chúa, tên là Liễu Diệp”, Lương thư cũng chép tương tự : “dân chúng tôn một người phụ nữ lên làm vua, có tên là Liễu Diệp Sau đó, Hỗn Điền cai trị nước này, lấy Liễu Diệp làm vợ” Nguyên nhân là do yêu cầu ban đầu của nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp tại nhà, chức năng sinh sản duy trì nòi giống khiến cho địa vị của người phụ nữ cao hơn đàn ông
Trong những thế kỉ đầu công nguyên sau khi nền sản xuất phát triển và chịu ảnh hưởng của VHAĐ sự phân hoá xã hội diễn ra mạnh mẽ hình thành các giai tầng của xã hội Tổ chức nhà nước lúc này có phần theo kiểu mẫu nhà nước
AĐ Nhà nước trung ương cai trị cả vương quốc Lãnh thổ chia thành những vùng (xứ) do một hoàng thân cai trị Mỗi vùng lại chia thành những lỵ sở nhỏ do các quan lại cai trị và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của các vùng
Trên phạm vi đế chế, Phù Nam có một chính quyền của chính quốc tập hợp xung quanh là các nước chư hầu và phụ thuộc Mỗi nước chư hầu có tính độc lập tương đối cao với bộ máy nhà nước và cơ cấu xã hội mang sắc thái riêng
Từ cặp vợ chồng trong truyền thuyết sinh ra 3 đời vua kế nhau có họ đều là Hỗn Sau đó một viên tướng bản địa lên ngôi lập nên triều đại mới gồm 4 đời vua
đều có tước “Fan” (theo Coedès, Fan là phiên âm Hán của tiếp tố Varman trong
tiếng Phạn được một số vua tại nam AĐ sử dụng Sau đó một số triều đại ở ĐNA chấp nhận và sử dụng; nhưng không thể hoài nghi rằng đó là một tên của thị tộc có nguồn gốc bản xứ) Vương triều thứ ba thành lập với sự tham gia của người AĐ sau một thời gian ngắt quãng Phỏng đoán các vua Phù Nam trị vì từ khoảng đầu công nguyên cho đến cuối thế kỉ VI – khoảng giữa thế kỉ VII thì suy yếu và bị tiểu quốc phụ thuộc là Chân Lạp xâm chiếm kết thúc vai trò lịch sử của quốc gia cổ này Có thể lập thế thứ của các triều vua Phù Nam theo bảng sau:
1 Hỗn Điền (đầu thế kỉ I)
2 Hỗn Điệp (giữa thế kỉ thứ I)
3 Không rõ tên
4 Hỗn Bàng Thống (190), con là Hỗn Bàng Bàng lên ngôi vua được 3 năm thì mất
Trang 215 Phạm Man hay Fan Man, sách lịch sử Nam Chiếu ghi đầy đủ là Fan Shih Man phiên âm Hán là Phạm Sư Mạnh (230 –250) P’an – P’an là con thứ của Hun P’an – h’uang (lên kế vị khi vua cha mất năm 90 tuổi) trao quyền lại cho một vị tướng tên là Fan Man rồi được dân chúng bầu lên làm vua Ông là vị vua rất tài giỏi và thiện chiến, ông đóng những chiến thuyền lớn chứa từ 600 – 700 người đánh chiếm các nước lân bang lập nên đế chế gồm khoảng 10 quốc gia quy thuận Căn cứ vào tấm bia chữ phạn ở Nha Trang, Coedès cho rằng Phạm Sư Mạnh là vị vua có tên là Sri Mara Dưới thời vị vua này phật giáo được bảo trợ, chữ Phạn là ngôn ngữ chính thức Finot bác bỏ ý kiến trên và cho rằng Sri Mara cai trị một vùng đất là chư hầu của Phù Nam
6 Phạm Chiêm hay Fan Chan (khoảng 225–250) là cháu trai của Phạm Man Chính vị hoàng tử này đã giết hoàng tử kế vị hợp pháp, cướp ngai vua và trị
vì trong khoảng 20 năm trước khi bị một người em của chính người mà ông gạt ra khỏi con đường tiến của mình giết chết
7 Phạm Tầm hay Fan Hsun (250–290) một vị vua không được biết đến nhiều hơn ngoài những mối quan hệ mà ông tạo lập với TQ và những chuyến đi xứ của xứ thần TQ sang Phù Nam Theo Khang Thái, vị vua này là người ra sắc lệnh buộc nhân dân phải mặc quần áo, liên minh với vua Lâm Ấp là Fan Hsiung tiến hành chiến tranh chống lại Giao Chỉ Trong thời gian trị vì của ông sử sách chép lại có một vị vua lạ mặt từ đâu đến không biết
8 Trúc Chiên Đàng (Thiên Trúc Chiên Đàn) Có hai thuyết khác nhau về vị vua này Một thuyết cho rằng Trúc Chiên Đàng người gốc Việt Chi vùng trung Á thuộc Liên Xô cũ Một số khác cho rằng ông là người AĐ thuộc dòng họ Mặt Trăng Thuyết thứ hai có vẻ có cơ sở hơn bởi Trúc Chiên Đàng là người mang chữ Sankrit đến Phù Nam không loại trừ trường hợp ông đến bằng con đường thương mại Trúc Chiên Đàng mở đầu thời kỳ trị vì của các vua có nguồn gốc AĐ D.G.E HALL cho rằng khi ghi chép việc tiếp nhận các cống vật của vua Phù Nam tên là Chan – T’an, TQ đã miêu tả Chan – T’an là một người theo đạo Bàlamôn Chan – T’an là phiên âm
của từ “Chan Đan”, tức vương hiệu Kushanas thuộc dòng họ Kaniskha, Phù
Nam đã tiếp xúc vào giữa thế kỉ thứ III Do đó người ta đã đưa ra lí thuyết cho rằng vị vua này có thể là con cháu dòng họ Kaniskha bỏ trốn sang Phù Nam do cuộc chinh phục miền bắc AĐ của Sammudra Gupta (khoảng năm
335 – 375), vị vua thứ hai thuộc triều đại Gúpta [27, trang 60] Như vậy ý kiến thứ hai có vẻ đúng hơn
Trang 229 Trần Kiều Như (không rõ, năm sinh, năm trị vì) là người chấn chỉnh phong tục tập quán Ông mất năm 454
10 Trì Lê Đà Bạt Ma : làm vua vào khoảng năm 478 Ông đặt quan hệ ngoại giao với Tống, mượn thế Tống đánh Lâm Ấp
11 Kiều Trần Na Đề Gia Bạt Ma (Kaundinya Jayavarman) Ông được coi là vị
vua vĩ đại Triều đình TQ đã phong cho ông tước hiệu “ tướng quân miền
nam được bình định, vua của Phù Nam” Trong thời kì trị vì của ông nhìn
chung là đất nước yên ổn, không có cuộc chống đối nào xảy ra Kiều Trần
Na Đề Gia Bạt Ma còn củng cố quan hệ với TQ bằng cách cho thuyền buôn sang Quảng Châu buôn bán và giảng kinh Phật thời Nam Tề (minh văn bia
kí Phạn cổ ở Đồng Tháp) và mở rộng quan hệ với các nước ở phía tây
12 Gunavarman là con của Trì Lê Đà Bạt Ma chết vào khoảng năm 514 do người con của thứ phi (vợ Kiều Trần Na) giết chết
13 Lưu Đà Bạt Ma (Rudravarman) : Không có tư liệu viết về ông vua này ngoài việc ông giết Gunavarman để lên ngôi và việc ông cử sứ thần đến TQ từ năm 517 đến năm 539 Lưu Đà Bạt Ma bị xem là ông vua cai trị tồi Trong thời kì trị vì của ông, Phù Nam rơi vào tình trạng suy yếu các thế lực tranh chấp lẫn nhau Theo Tuỳ thư, nhân cơ hội Phù Nam suy yếu Trì Đà
Tư Nga vua nước Chân Lạp đem quân chinh phạt Lưu Đà Bạt Ma phải bôn tẩu về Na Phất Na (khoảng đầu thế kỉ thứ VI) Từ sau thế kỉ thứ VI Phù Nam biến mất hoàn toàn thay vào đó người ta thấy ghi chép về Chân Lạp như là sự kế tục trên mảnh đất này
Như vậy, quá trình ra đời của nhà nước Phù Nam không nằm ngoài tiến trình phát triển chung của khu vực ĐNA thời bấy giờ Ba yếu tố cần thiết cho sự ra đời quốc gia cổ đại là nông nghiệp, thương nghiệp và ngành luyện kim Phù Nam đều có cả Phù Nam không phải là ra đời trên vùng đất ven lưu vực sông Mê Kông vùng đất thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp đó sao Phù Nam lại nằm trên con đường thông thương quan trọng giữa TQ với AĐ và có nền sản xuất kim khí phát triển Ba yếu tố trên thể hiện sự phát triển của nền văn hoá đang ngấp nghé bước vào ngưỡng cửa văn minh Sự truyền bá văn hoá Ấn có tác dụng lớn đối với thượng tầng kiến trúc của cộng đồng dân cư bản địa khi mà nó chỉ thâm nhập và giữ địa vị cao trong tầng lớp trên của xã hội Chúng ta không phủ nhận vai trò của văn hoá Aán, song cũng không thể coi nó là tiền đề quyết định cho ra
21
Trang 23đời Phù Nam chỉ có thể khẳng định đây là cái cực kì quan trọng vì chính nền văn hoá bản địa mới là yếu tố quyết định
Nhiều tài liệu lịch sử trước đây viết về Phù Nam đều xem nó là nhà nước của người Khơmer cổ ghép lịch sử vương quốc này vào giai đoạn đầu của nhà nước Campuchia cổ đại Nhận định trên là sai lầm Phù Nam không bao giờ là đêm trước của lịch sử Campuchia dù có quan hệ với Chân Lạp (sau này khi bị Chân Lạp thôn tính Phù Nam trở thành vùng đất Thuỷ Chân Lạp trong quốc gia này) do những gì mà bản thân nó thể hiện trong giai đoạn tồn tại Chủ nhân của nền VHOE không phải là người Khơmer (ý kiến này tôi sẽ chứng minh ở phần 2.2 “điều kiện địa lí–dân cư”) nói chi đến cư dân Phù Nam Người Anhdonedien đến vùng đất này hợp sức với các nhóm Môn bản địa khác trên cơ sở nền sản xuất phát triển và ảnh hưởng VHAĐ mà lập nên VQPN của mình mang sắc thái riêng biệt, độc lập vào khoảng thời gian sớm hơn rất nhiều so với Chân Lạp của người Khơmer Mọi nhận định sai lệch hạn chế trong tầm nhìn thiển cận có chủ ý hay không đều gây nên nhiều hơn nữa bóng tối cho lịch sử vương quốc cổ này, làm sai lệch sự thật lịch sử
Nói tóm lại, VQPN ra đời và tồn tại trong khoảng thế kỉ thứ I đến thế kỉ thứ
VI với thiết chế chính trị, tổ chức xã hội, kinh tế , văn hoá riêng của nó không lầm lẫn được Với những gì có được dù không nhiều nhưng cũng có thể khẳng định Phù Nam là một thực thể có thật!
1.1.2.2 – Điều kiện địa lí – dân cư
* Điều kiện địa lí
Xét về vị trí địa lí không thể tách Phù Nam ra khỏi vị trí của thương cảng lớn lúc đó ĐNA như đã biết là chiếc cầu nối giữa phương đông với phương tây Như lẽ thường, Phù Nam có vị trí nằm dọc theo lưu vực sông Mê Kông chắc chắn sẽ là cầu nối giữa các quốc gia nằm trên bán đảo Trung–Ấn với các quốc gia hải đảo phía dưới khi mà biển còn ngập phần lớn diện tích miền nam Việt Nam Sách Tân Đường thư do Âu Dương Tu và Tống Kỳ biên soạn, quyển 222, tờ 2 có đoạn
viết như sau:“Nước Phù Nam nằm ở phía nam quận Nhật Nam bảy ngàn hải lí về
phía nam” tức phía nam đất Trung bộ của Việt Nam và chắc chắn là cách sở lị của
quận này khoảng bảy ngàn lí Thương cảng Óc Eo – thương cảng lớn nhất của Phù Nam và ĐNA lúc đó nằm ở vùng ven biển thuộc châu thổ sông Mê Kông giáp vịnh Xiêm (Thái Lan), cách biển khoảng 3 dặm Cảng này nằm trên con đường biển lớn giữa TQ và phương tây, rõ ràng có mối quan hệ hàng hải chặt chẽ với bờ
22
Trang 24biển của vịnh Xiêm, Mã Lai, Inđônêsia, AĐ, vịnh Ba Tư và gián tiếp với Địa Trung Hải Những phát hiện KCH thể hiện quan hệ thương mại rộng rãi của Óc Eo nói lên vị trí quan trọng của VQPN – một trung tâm thương mại trong thời điểm nó tồn tại
Khí hậu của Phù Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của gió mùa Gió mùa cũng là nhân tố thúc đẩy hoạt động hàng hải diễn ra sôi nổi tại đây khi mà kỹ thuật đi biển bấy giờ chỉ dựa vào sức gió Ngoài ra do nằm ven biển nên Phù Nam cũng chịu ảnh hưởng khí hậu mát mẻ đại dương đem lại
Lãnh thổ Phù Nam là những miền đồng bằng châu thổ rộng lớn do lưu vực sông Mê Kông cùng một số khác bồi đắp Các đồng bằng này nằm ven biển, thấp hơn bây giờ chứa nhiều giồng cát, đồi gò Một số là gò tự nhiên một số do con người đắp lên Phát hiện khảo cổ cho biết chúng là những địa điểm tụ cư chính của
cư dân Phù Nam nơi diễn ra hoạt động sản xuất và sinh hoạt Có điều là tại sao cư dân lại tập trung trên gò cao như vậy? Hình như, thiên nhiên hay ngập lụt vào những tháng mùa mưa thì phải Nếu là vậy thì các đồng bằng trong lãnh thổ vương quốc này vẫn còn trong quá trình bồi tụ do hoạt động của thuỷ triều và gió mùa
Phù Nam có nhiều đồng bằng nhưng lớn nhất quan trọng nhất là đồng bằng châu thổ sông Cửu Long Đồng bằng này chiếm phần lớn lãnh thổ của Phù Nam và là trung tâm kinh tế của vương quốc này Theo các nhà địa chất học từ rất xa xưa khi mà toàn bộ đồng bằng còn ngập trong biển thì sông Cửu Long không chảy qua đây mà nó chảy qua vùng ĐNB hợp sức cùng với sông Đồng Nai tạo ra các thềm
phù sa cổ lớn ở đây Trong thời kì cách tân (Pléistocène) “miền ĐNB cùng với dãy
Đậu Khấu ở Campuchia được nâng lên đồng thời với sự sụp lún của vịnh biển bây giờ là châu thổ Nam Bộ, sông Cửu Long đã trượt dần xuống phía nam cho đến vị trí ngày nay” [8, trang 13 ] Từ đó cho đến những thế kỉ đầu công nguyên đồng bằng
này vẫn trong quá trình bồi tụ mở dần rộng ra theo mức lùi của biển và sự nâng lên của các nền địa tảng
Tiến sâu vào lục địa là địa hình cao nguyên… Ngoài ra địa hình Phù Nam còn có dạng địa hình vũng vịnh, đầm hồ và nhiều đảo Một đặc sắc nữa về địa hình của Phù Nam là ngay trong đồng bằng vẫn mọc lên những dãy núi tạo thành vành cung chạy theo hướng tây bắc thả dần ra biển, ngày nay có tên chung là Thất Sơn (An Giang) Ngoài ra còn có vài quả núi đơn lẻ mọc lên giữa cánh đồng Đó là núi Sam (Châu Đốc), núi Voi hay núi Bà Khẹl (Tịnh Biên), núi Sập và núi Ba Thê (Thoaiï Sơn) tiến dần ra biển có núi đá vôi phân bố rất nhiều ở Kiên
23
Trang 25Giang Sự xuất hiện các dãy núi này với dấu tích vỏ sò chứng tỏ trước khi có hoạt động tạo sơn nơi đây vẫn chìm trong nước biển Nhiều di chỉ khai quật được tại chân núi Sập, Ba Thê, núi Bà Đội, núi Sam… làm lộ ra những điểm cư trú lớn của
cư dân Phù Nam Sự tồn tại các dãy núi trên pha thêm chút tính đa dạng cho thiên nhiên và cuộc sống ở đây
Thiên nhiên Phù Nam có thể nói là sơn thủy hữu tình bởi bên cạnh các dãy núi bao quanh nó là những con sông lớn và rất nhiều các con lung cổ, đường nước
cổ tồn tạị Sông cổ Hậu Giang (Proto–Bassak) là con sông lớn bấy giờ Nó chảy từ
vùng Bassak qua Châu Đốc, Rạnh Giá, Ba Thê thoát ra biển ở Cạnh Đền (U Minh
Hạ–Cà Mau) Sông vàm cỏ cổ (Proto–Vaico) chạy từ Sa Rài xuống Tân Hiệp Sông Bình Minh cổ (Proto–Hàm Luông) chảy từ Châu Đốc đến Cần Thơ rồi rẽ
sang Trà Vinh Từ Cẩm Giang đến Thái Mỹ (Củ Chi), con sông Trảng Bàng cổ
(Proto–Trảng Bàng) hợp lưu với sông Sài Gòn cổ (Proto-Sài Gòn) ở Bình Chánh
(TP HCM) Trong những năm 1931–1936, các nhà du thám hàng không P Paris phát hiện trong vùng tứ giác Long Xuyên khoảng gần 30 đường nước cổ chạy từ Phnom Ăngkor và Phnom Ăngkor Borei chảy về Châu Đốc qua núi Sam, rồi từ Tri Tôn chảy về Ba Thê theo dòng Mặc Cần Dưng cổ Từ Ba Thê có nhiều nhánh hoặc chảy ra Rạch Giá, hoặc chảy sang phía đông đến Đá Nổi, tiếp giáp vùng trũng Hậu Giang; còn có nhiều nhánh khác từ phía bắc, tây bắc đổ về [8]
Một bia kí phát hiện tại Đồng Tháp Mười ghi các địa danh bắt đầu bằng tên những con sông Nhiều nơi khác cũng ghi chép tương tự Tất cả di chỉ khai quật thuộc phạm vi VHOE đều là di chỉ cư trú dọc theo các con lung, các đường nước cổ Các con lung này một số là nhánh nhỏ của những con sông lớn, một số khác không loại trừ khả năng là do cư dân Phù Nam đào làm hệ thống kênh rạch phục vụ sản xuất nông nghiệp Phát hiện này chứng tỏ hệ thống kênh ngòi và sông rạch
ở Phù Nam là chằng chịt
Sinh thái Phù nam là sự tổng hợp các hệ sinh thái trong khu vực Nơi đây có cả hệ thống sinh thái trên cạn, nước ngọt và vùng ven biển Vùng khu vực cao nguyên có những cánh rừng nhiệt đới bát ngát với thảm thực vật đa dạng Sông Mê Kông cũng như các lung nước cổ chứa rất nhiều sinh vật nuớc ngọt Vùng ven biển: ven biển đông, giáp vịnh Thái Lan, vùng bắc quần đảo Mã Lai… là cả hệ thống sinh vật nước lợ và nước mặn phong phú mà ngày nay vẫn còn giữ vai trò quan trọng không kém
Tóm lại, Phù Nam có điều kiện địa lí tự nhiên rất đa dạng luôn biến động liên tục Theo thư tịch xưa, bia kí ghi lại đôi nét về một vùng thiên nhiên có địa
Trang 26hình phức tạp này Ở đó có “sông lớn, rộng 10 dặm, từ hướng tây-bắc chảy về phía
đông, rồi đổ ra biển…, đất đai thấp trũng, mênh mông bằng phẳng” (Lương thư);
“Phù Nam là một của biển có ngàn con sông” (Tam Tạng kinh - Cao Tăng truyện);
“ có bờ biển bao quanh và có nhiều hồ lớn”, “là vùng đầm lầy rộng lớn” (Tuỳ thư,
Tân Đường thư); “có thế đất đổ đốc từ trên cao xuống và bằng phẳng” (Lương thư )
Như vậy có thể chia cư dân Phù Nam ra là hai nhóm: cư dân bản địa và cư dân ngoại lai
Cộng đồng cư dân bản địa sinh sống trên đất nước này từ rất sớm Nhiều tài liệu, trước hết là của Khang Thái và Chu Diễn cho biết trước khi người AĐ đến
đây đã có mặt tộc “Mặt Trăng” hùng mạnh, trị vì là nữ chúa có tên Liễu Diệp
Những phát hiện KCH trong phạm vi VHOE (Cạnh Đền–Kiên Giang ; Óc Eo–Ba Thê ; Lò Mo, Định Mỹ cùng ở An Giang, Gò Tháp–Đồng Tháp ) cho ta biết đặc điểm cơ bản về tộc người này (hình 1.2, 1.3) Năm 1958 những chiếc sọ người công bố ở Cà Mau được nhiều nhà khoa học cho là sọ của người Anhdonedien Qua các phân tích khoa học có thể hình dung giống người này có loại sọ trung bình, trán thoai thoải, xương chân mày phát triển rộng gò má hơi cao Mặt họ có chiều ngang rộng, hốc mắt sâu Theo thuật ngữ nhân chủng học hiện đại, đó là loại hình nhân chủng Môngôlôid Phương Nam hay còn gọi là nhân chủng Nam Á
Theo Tấn thư, lớp người Anhdonedien có tên chung là “Nam Man” được
Trang 27miêu tả “hầu hết đều đen và xấu xí, tóc thì quăn, ở trần, đi chân đất, tính tình mộc
mạc, thẳng thắn, không trộm cắp” Mẫu người ghi trong thư tịch cổ có đặc điểm
nhân chủng hoàn toàn phù hợp với cốt sọ người Anhdonedien tìm thấy trong các di chỉ Óc Eo Mẫu người này cũng lưu lại hình ảnh trên nhiều di vật mà tiêu biểu nhất là tượng nô lệ bằng đồng có đầu tròn (Mésocéphale) mũi ngắn, nét mập, tóc xoăn thành từng cụm (chưởng phát) tại Óc Eo–Ba Thê Nhiều minh văn thời này
ghi rằng lớp người nói trên đã được gọi là “Ku” (đàn bà) và “Va” (đàn ông) dưới
thân phận của những người lao dịch
Dấu vết còn lại cho tới ngày nay của người Anhdonedien là sự tồn tại tộc
người “Mnông” tập trung nhiều ở Tây Nguyên và một số ở ĐNB Nhận định này
được chứng minh trên cơ sở khoa học vững chắc Nhiều nhà khoa học căn cứ vào tiếng nói thuộc ngữ hệ Môn–Khơmer, căn cứ trên cấu trúc xã hội tồn tại rõ nét chế độ nô lệ trong gia đình và tục mua bán nô lệ, qua vũ khí và công cụ sản xuất vốn rất tương đồng với người Anhdonedien Giống người này có mặt ở ĐNA ngay từ buổi bình minh của lịch sử khu vực này Không chỉ ở miền núi cao nguyên Việt Nam theo E.G Varcui, nhiều sọ người Anhdonedien tìm thấy trong các di chỉ Óc
Eo có quan hệ họ hàng với người Khạ (cao nguyên Boloven–Lào), người Dayak (Bornéo), người Zgorot (Philippin), người Batak ở Xumatơra
Theo Lê Trung Khá thì “ trên đất hạ lưu sông Mê Kông, loại hình nhân
chủng này đã thể hiện mối quan hệ chủng tộc rõ ràng với sọ người cổ ở di tích An
Sơn (Đức Hoà–Đồng Nai) có niên đại 2875 ± 50 năm cách ngày nay, với sọ người cổ ở di tích Samrongsen (Campuchia) niên đại 3250 ± 50 năm cách ngày nay ; đồng
thời chúng cũng có cùng loại hình nhân chủng với sọ người cổ ở chân đền Ăngkor (thế kỉ thứ XII) và sọ người Thượng cận đại ở Gò Cá Trăng.” [8, trang 171]
Không còn nghi ngờ gì nữa khi cho rằng không phải chỉ riêng ở Phù Nam mà rộng hơn nữa là trong cả khu vực ĐNA, người Anhdonedien chiếm số đông và chính họ là cư dân bản địa đầu tiên đến cư trú tại khu vực này trước khi những ngoại tộc đặt chân đến sau đó Chính họ đã xây dựng nên nền VHĐN rực rỡ, góp công lớn trong việc xây dựng nên một Phù Nam nói chung, thương cảng Óc Eo nói riêng phát triển thịnh đạt
Người Anhdonedien mặc dù chiếm số đông và là chủ nhân đầu tiên của vùng đất này nhưng họ không thể tự đạt được trình độ phát triển cao trước khi nhà nước Phù Nam ra đời bởi trình độ phát triển thời bấy giờ của nền văn hoá bản địa này nếu so với các trung tâm văn minh khác trên thế giới lúc bấy giờ thì quá nhỏ bé, lạc hậu Cho nên nếu như người Anhdonedien đặt nền tảng, thì những tộc
26
Trang 28người ngoại lai mà chiếm ưu thế là người Thiên Trúc đã kích thích phát triển cho nền văn hoá này tiến lên trình độ “văn minh”
Hầu hết cư dân ngoại nhập đến lập nghiệp tại vùng hạ lưu sông Mê Kông đều theo con đường thương mại, một số theo các dòng người di cư nông nghiệp, bị
bắt làm nô tì Theo thư tịch cổ TQ, họ gồm các tộc người như : “Côn Luân”,
“Dvipantara”, người nước “Kim Lân”, “Dvaravati” … Khai quật khảo cổ cũng cho
thấy một số tộc người khác sinh sống tại đây nhưng số lượng tư liệu quá ít cho nên đến tận ngày nay chúng ta vẫn chỉ gọi họ theo thuật ngữ ngôn ngữ học mà thôi Đó
là người “Malayo–Polynésie”; người “Môn”, người Khơmer cổ… Trong số cư dân
ngoại lai trên cộng đồng người Côn Luân, Dvipantara, Malayo–Polynésien sống ở vùng biển Trướng Hải–Nam Hải
Qua phân tích, các nhà nhân chủng thống nhất với rằng tất cả các tộc người trên điều thuộc loại hình nhân chủng Anhdonedien Thực ra, các tộc người này có mặt trên đất nước này hay không thì chưa có tài liệu lịch sử hay KCH nào chứng minh đầy đủ được Theo ý kiến gần đây nhất nhiều nhà sử học cho rằng họ đã sinh sống trên đất nước này dựa vào ảnh hưởng văn hoá thể hiện trên các di tích VHOE:
“ nghệ thuật tượng tròn đứng vẹo hông mang đặc trưng Dvaravati, tượng phật Quan Âm Nam Hải; những đồ trang sức bằng vàng nạm đá quý, có hoa văn răng cưa, có đậu chỉ vàng, những hình hoa thị tám cánh, bông tai có đeo hoa sen, sản phậm nguyên liệu thiếc”[8, trang 172] Theo Nam Tề thư ghi chép “dân Phù Nam đã bắt dân các vùng lân cận không chịu quy phục về làm nô tì” Những người ngoài đảo
biển hay láng giềng giống như cộng đồng cư trú tại chỗ đồng nhân chủng mang tên gốc ngữ âm Môn và Mã Lai cũng được ghi chép trên các minh văn cổ tìm thấy trong khu vực tồn tại của VHOE Trong hoàn cảnh một quốc gia thương nghiệp phát triển bao trùm cả khu vực ĐNA lúc đó, với nền sản xuất nông nghiệp không thua kém gì thương mại, một đế chế chế rộng lớn như Phù Nam rõ ràng sẽ tiếp nhận nhiều luồng người đến buôn bán theo các thương lái, theo các nhánh sông Mê Kông xuống hạ lưu sản xuất và những cuộc chiến tranh mang về đầy ắp tù binh thì
ý kiến trên là có cơ sở và dễ dàng tạm được chấp nhận trước khi có những phát hiện mới hơn về nó
Những người đến từ bán đảo Ấn thể hiện vai trò của mình trong buổi binh minh của vương quốc này Họ đến với tư cách là những nhà truyền giáo, các thương lái, trí thức … trải qua quá trình sinh sống họ dần trở thành bộ phận không thể thiếu trong cộng đồng dân cư Phù Nam thậm chí còn giữ vai trò quan trọng trong xã hội Các vị vua có nguồn gốc AĐ được ghi chép trong thư tịch cổ TQ như : Hỗn Điền (Kaundynia), Hỗn Diệp; Thiên Trúc Chiên Đàn thuộc triều đại
Trang 29Kushana (thế kỉ IV) dòng họ Kaniska … Tuy nhiên di cốt của loại hình nhân chủng Ấn – Âu chưa tìm thấy trên lãnh thổ Phù Nam mà những căn cứ để khẳng định sự có mặt của họ là các tài liệu viết tay cổ mà thôi
Người AĐ đến Phù Nam chia làm hai bộ phận chính: bộ phận người Thiên Trúc và bộ phận người Nguyệt Thị
Người Thiên Trúc chiếm số đông trong số cư dân có nguồn gốc Ấn sinh sống ở đây Họ đến đây với nhiều thân phận, mục đích khác nhau Tấn thư, Nam Tề thư viết về đạo sĩ Bàlamôn như Hỗn Điền; Sakỳnalạtna(Cakyanaganesa), Suylabạtma (Sanghavarman) là những thiền sư Phật giáo nổi tiếng mà Lương thư ghi chép … Người Thiên Trúc đến sinh sống ở Phù Nam không chấp nhận thân phận thấp kém trong xã hội cũng không bị đồng hoá bởi nền văn hoá bản địa mà chính họ đã cải biến xã hội này theo kiểu AĐ trở thành tầng lớp nắm quyền lực
Họ mang đến nơi đây “một tổ chức chính trị, một thiết chế xã hội, một quan niệm đô
thị, một mạng lưới giao thông, một hệ thống tôn giáo, một loạt kĩ thuật công nghiệp…” (theo L Malleret)
Bên cạnh người Thiên Trúc, bộ phận người gốc Nguyệt Thị cũng đến đây
cư trú Thiên Trúc Chiên Đàn, vị vua thứ 8 của VQPN xuất thân từ tộc người này Trên mặt gốm khai quật được có hình ảnh những nhà vương giả với bộ mặt bằng
đất nung, mắt và ria mép mang đặc trưng “Trung Á” , tượng thần Surya trong y
phục của các bộ tộc trên thảo nguyên hay tượng thần Siva với cái mão đội đầu hình ống trụ… Tất cả nói lên sự tồn tại của tộc người này ở đây
Một thắc mắc đặt ra là rất nhiều tài liệu cổ, các di vật thể hiện sự tồn tại của người gốc Ấn nhưng không một di cốt nào thuộc loại hình nhân chủng Ấn–Âu được tìm thấy cho đến nay Điều này khiến một số người nghi ngờ về sự tồn tại của họ ở đây và đặt ra khả năng đó là những ảnh hưởng của văn hoá Ấn thể hiện giống như các tộc người đồng nhân chủng Anhdonedien được tìm thấy ở trên Theo tôi, việc không tìm thấy di cốt người Ấn–Âu có nhiều nguyên nhân: do công tác khai quật chưa toàn diện hay là bộ phận dân cư này mai táng theo lối hoả táng–một kiểu an táng rất phổ biến tại AĐ và cũng được tìm thấy trong nhiều nơi trong di tích Óc Eo hoặc một lí do nào đó mà cho đến nay chúng ta chưa biết Mặc dù vậy, với vị thế thương cảng phát triển như Phù Nam thì không thể không có những ông bạn lái buôn ở đất nước láng giềng ghé qua trên con đường buôn bán với Trung Hoa khi mà kỹ thuật đóng thuyền và hàng hải đã rất phát triển
Ngoài ra có thể có nhiều đoàn người từ các nơi khác nhau đến như Trung
28
Trang 30Hoa, Ba Tư, La Mã… căn cứ vào những dấu tích văn hoá mà họ thể hiện Những dấu vết TQ như: các sứ thần Khang Thái, Chu Diễn, Túc Thận, Thường Tuấn …, tượng phật thời Bắc Ngụy, gương đồng thời Đông Hán–Lục Triều, hình viên ngọc có chạm con chuột kéo xe… hay hình mặt người Europoide râu quay nón rậm, những đồng tiền của người La Mã… Thật ra chúng chưa nói lên đều gì vì không thể phân biệt được là đó là sản phẩm qua tay các thương nhân AĐ, Trung Hoa, là ảnh hưởng văn hoá hay được sản xuất tại chỗ Có thể, thương nhân người Hoa, Ba Tư,
La Mã… đến buôn bán nhưng chưa chắc họ đã định cư lại hay chỉ là tạm trú mà thôi
Khi Phù Nam trở thành đế chế rộng lớn thì cư dân Phù Nam còn đa dạng và phức tạp hơn nhiều bởi sự có mặt của cư dân các nước phụ thuộc
Nhìn chung, chỉ riêng với những thành tựu khoa học hiện tại thì cũng nói lên rằng cư dân Phù Nam là hết sức đa dạng, phức tạp Cộng đồng người Anhdonedien bản địa chiếm đa số bên cạnh lực lượng không kém người Thiên Trúc, sau đó là Nguyệt Thị, các loại hình đồng nhân chủng Anhdonedien … Tất cả theo tiến trình lịch sử với địa vị khác nhau nhưng nhìn chung là đã chung sức xây dựng lên quốc gia Phù Nam hùng mạnh giữ vai trò bá chủ trong khu vực suốt vài thế kỉ đầu công nguyên
1.1.2.3 – Cương vực
Theo Lương thư : “nước Phù Nam ở phía nam quận Nhật Nam, trong một
vịnh lớn ở phía tây biển Nước cách Nhật Nam chừng 7000 lí và cách Lâm Ấp hơn
300 lí về phía tây nam Đô thành cách biển 500 lí Một con sông lớn từ tây bắc chảy về phía đông và đổ ra biển Nước rộng hơn 3000 lí Đất thấp và bằng phẳng … [
Theo P.Pelliot, Le Fou Nam trong tập san trường Viễn Đông bác cổ, Hà Nội –
1903 “Lâm Aáp là vương quốc cổ Chăm Pa” xem Lương Ninh – “Lịch sử trung đại thế giới quyển II” NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp Hà Nội, 1984 ] Tấn
thư cũng viết nước Phù Nam “đất rộng 3000 lí có những thành phố xây tường, có
lâu đài và nhà để ơ û” Ghi chép trên cho ta biết vị trí, diện tích của Phù Nam Xét
trên địa đồ ngày nay, Phù Nam trong thời kì đầu nằm dọc theo lưu vực sông Mê Kông mà trung tâm của nó nằm ở địa phận tỉnh Prâyven (Campuchia) ngày nay Trải qua quá trình phát triển của lịch sử, rõ ràng có sự bành trướng của tiểu quốc này cho đến khi hình thành đế chế hùng mạnh
Thật ra thời tiền sử ĐNA không chỉ có một mình Phù Nam là ra đời sớm và hùng mạnh hơn các tiểu quốc khác Những ghi chép để lại cho biết bên cạnh
29
Trang 31Vyâdhapura (tức Phù Nam) ở vùng Ba Nam, còn có nhiều tiểu quốc khác ra đời trong khu vực như: Sơrétthapura (Sresthapura) ở vùng Bassak, Ixanapura (Isanapura) ở vùng Compôngthom, Sambơhupura (Sambhupura) ở vùng bắc
Kratiê… Trong đó quan trọng hơn cả là Phù Nam và Bassak nhưng Phù Nam lại hùng mạnh hơn và trở nên có địa vị lãnh đạo tiêu biểu cho các quốc gia khác trong khu vực nam bán đảo Đông Dương
Trong suốt quá trình tồn tại của mình các quốc vương Phù Nam luôn tiến hành các cuộc chinh phạt đối với những tiểu quốc phụ thuộc bướng bỉnh Họ xem việc lập chiến công là vinh dự lớn lao, giúp tiến nhanh hơn đến với Siva Nhiều tài liệu để lại cho biết Phạm Sư Mạnh, vị vua thứ năm của Phù Nam là một nhà chinh phục vĩ đại được tôn xưng là “đại vương” Trong thời kì trị vì của ông, Phù Nam thôn tính được vùng đất rộng lớn gồm hơn 10 nước Phụ thuộc nằm trong châu thổ Mê Kông và Tônlêsáp từ sông Đồng Nai–Mê Kông đến tiểu quốc Sri Mara (Cam Ranh – Khánh Hoà) Cương vực của Phù Nam ngày càng mở rộng cùng với những chiến công của các vị vua, các hoàng thân, tướng quân bách chiến bách thắng
Lương Ninh có ý kiến mới [7, trang 76 + 77 + 78 ] khi cho rằng tồn tại một
nước tên là Naravara (Naravara–nagara–nước Chí Tôn) trên miền tây sông Hậu
(An Giang, Kiên Giang) Đoán định trên dựa vào phát hiện KCH tiến hành trong những năm 40 của các nhà khảo cổ người Pháp (đặc biệt là của L.Marellet) và vào những năm 80 của các nhà khảo cổ Việt Nam với di vật, dấu vết của thành thị hải cảng ở Vọng Thê (Thoại Sơn–An Giang) Lương Ninh còn cho rằng nước Chí Tôn thậm chí còn mạnh hơn Phù Nam về kinh tế với thương cảng Óc Eo nhưng lại yếu hơn về quân sự nên bị Phù Nam thôn tính trở thành đầu mối giao thông thương mại, nơi tiếp nhận chủ yếu sự giao thoa văn hoá với AĐ của Phù Nam
Ngoài ra trong thời kì này một số quốc gia hải đảo khác được hình thành
như Đốn Thốn, Xích Thổ ở hạ lưu sông MêNam và bán đảo Malaya; Thaton, Pêgu, Sri Kretra trên lưu vực sông Irawađi, Salwin, Sitang; Cantoli và Malayu trên đảo Sumatơra; Taruma ở Java … Một số quốc gia này trở nên phụ thuộc hoặc
chấp nhận sự bảo hộ trên danh nghĩa của nhà nước Phù Nam và do đó nhiều thư tịch cổ TQ mới cho rằng cương vực của vương quốc cổ này rộng lớn như trên
Sự phát triển nhanh mạnh đặc biệt là tiềm lực quân sự khiến cho Phù Nam có thể gây được ảnh hưởng lớn mở rộng cương vực đất nước từ lưu vực sông Mê Kông như đã nói ra toàn bộ miền nam nước ta, trung và hạ Lào, lưu vực sông Sê
30
Trang 32Mun cả lưu vực sông Mê Nam và bắc bán đảo Malayxia Lúc này Phù Nam không còn là một tiểu quốc theo đúng nghĩa của nó mà đã trở thành một đế chế với nhiều quốc gia phụ thuộc đóng vai trò bá chủ trong khu vực ít nhất là ở miền lục địa ĐNA
Một cuộc tranh cãi quyết liệt lại tiếp tục diễn ra giữa các nhà khoa học tâm huyết về vấn đề: Phù Nam tồn tại như là một đế chế với nhiều nước phiên thuộc giống như kiểu nhà nước phong kiến trung ương tập quyền hay là chỉ là một sự phụ thuộc trên danh nghĩa Về mặt này tôi hoàn toàn đồng ý với Lương Ninh khi ông
cho rằng “không thể hình dung Phù Nam là một đế quốc đã được tổ chức thống nhất
thành bộ máy cai trị và bóc lột” mà “chỉ là sự tập hợp của những tiểu quốc, trong đó mỗi tiểu quốc vẫn giữ nguyên được tổ chức , tên gọi riêng và cả truyền thống của mình” [Lương Ninh “Nước Chí Tôn, một quốc gia cổ ở miền tây sông Hậu”, trong
khảo cổ học , số 1, 1981, trang 38 ] Sự phát triển về kinh tế, quân sự của Phù Nam vẫn còn là hạn chế không thể thiết lập bộ máy nhà nước thống nhất và áp đặt ách cai trị trên phạm vi rộng lớn ngăn cách về tự nhiên của địa hình bán đảo Trung-Ấn lúc đó Có thể Phù Nam cũng giống như đế chế Sơrivigiaya (Inđônêsia)
ra đời sau đo,ù tức là vẫn có các quốc gia phụ thuộc nhưng các tiểu quốc này giữ vị trí độc lập tương đối với bộ máy nhà nước riêng Chính quốc cai trị chỉ cần tiểu quốc phụ thuộc nộp cống phẩm và giúp đỡ quân khi yêu cầu Mô hình nhà nước này cũng tồn tại nhiều ở các đế chế hải đảo trong thời sơ kì ĐNA
Kết luận chính xác bây giờ là quá vội vàng song trên những gì đạt được thì có cơ sở nhất vẫn là xem đế chế Phù Nam tồn tại như là tập hợp lỏng lẻo của các tiểu quốc khác nhau Có thể cương vực của Phù Nam còn rộng hơn nữa hoặc là sẽ phải thu hẹp lại điều đó tuỳ thuộc vào những phát hiện mới hơn trong tương lai Trước khi có những nghiên cứu sáng tỏ hơn thiết nghĩ chỉ nên dừng quan điểm về cương vực của vương quốc này ở mức độ tạm được tránh mọi ý kiến chủ quan hồ đồ khi chưa có đầy đủ tư liệu
1.2 – Quá trình phát triển của vương quốc Phù Nam
Quá trình phát triển của VQPN thể hiện trên ba mặt chủ yếu sau đây: Kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội Tất cả chúng chứng minh cho sự tồn tại một nền văn minh Phù Nam rực rỡ
1.2.1– Kinh tế
31
Trang 33Nền kinh tế Phù Nam phát triển tương đối toàn diện cả về nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp Trong đó chúng ta biết đến Phù Nam trước tiên nhờ sự phát triển của nền thương nghiệp mạnh nhất lúc đó
1.2.1.1– Thương nghiệp
Một quốc gia không thể có nền thương mại phát triển nếu như không có vị trí thuận lợi cho sự phát triển đó Phù Nam nằm ngay trên điểm nối giữa ĐNA lục địa với ĐNA hải đảo nó lại nằm ngay trên đường thông thương từ vùng biển TQ xuống các nước ĐNA hải đảo và AĐ khi mà những tiến bộ kỹ thuật hàng hải thời bấy giờ chỉ cho phép thuyền buôn đi men theo các bờ biển tránh gió bão và đá ngầm ở các quần đảo Một thuận lợi nữa là Phù Nam có rất nhiều sông lớn đổ ra biển Cửa các sông khi ra biển thường rộng và sâu khi mà đồng bằng châu thổ Nam bộ còn thấp trũng và ngập nước vào mùa mưa Rõ ràng các cửa sông sẽ là bãi neo đậu thuyền an toàn khi gặp trắc trở và là nơi ghé vào cung cấp lương thực, nước ngọt cho chuyến đi tiếp theo của các lái thương
Thiên nhiên cũng đem lại cho Phù Nam những điều kiện để phát triển nội thương Hệ thống kênh ngòi sông rạch chằng chịt là con đường giao thông buôn bán thuận lợi Tại di tích Đá Nổi (ấp Tây Hoà–Phú Hoà–Thoại Sơn) phát hiện trong lòng lung Xẻo Mây dấu vết thuyền bè chìm Địa hình chủ yếu là đồng bằng bằng phẳng dễ dàng phát triển buôn bán trên bộ Phương tiện vận chuyển là ngựa, voi (Lương thư, Tân Đường thư, Nam Tề thư ) và có thể có cả xe cộ do tìm thấy đường đi cổ được làm một cách cẩn thận và vết tích bánh xe còn sót lại
Phù Nam có hệ thống cảng biển phục vụ cho hoạt động hàng hải Trung tâm của chúng là Óc Eo nằm sâu trong nội địa hơn so với các địa điểm khác được các nhà khoa học coi là tiền cảng của nó Đây là nơi hội lưu nhiều đường nước cổ dẫn đến các vùng khác Óc Eo trở thành trung tâm đầu não của các hoạt động ngoại thương
Các tiền cảng của Óc Eo chỉ là giả thuyết do nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khi khai quật được nhiều hiện vật không phải của cư dân Phù Nam tại đó Có thể kể ra các tiền cảng lớn như:
Nền Chùa còn có tên là Tã kêv (ông Ngọc) nay thuộc Tân Hiệp–Kiên
Giang Năm 1944 trong một đợt thám sát L.Malleret phát hiện ra một con lung lớn có tên là lung Giếng đá chảy theo hướng đông bắc - tây nam (chếch nam 25 độ) từ
di tích Óc Eo gặp rạch ông Chạy (kinh thầy Thông) cắt ngang theo hướng tây bắc
32
Trang 34- đông nam rồi tẻ thành hai nhánh Lung Sen ở phía đông và Lung Năng ở phía tây tạo thành một vùng trũng rộng lớn, rồi tiếp tục đổ về về phía vịnh Rạch Giá mất dấu vết cách biển khoảng 15 km tức là ngay tại di tích Nền Chùa Có thể trước kia Nền Chùa là một cửa sông lớn của con lung này và nhiều con lung khác đổ ra bờ biển cổ tây nam Vào mùa nước nổi dòng chảy trong khu vực này dâng lên làm ngập một vùng đất lớn rất thuận tiện cho buôn bán Tại di tích này khai quật được đồng tiền bằng kim lọai có kiểu dáng khác nhau (tiền có hình mặt trời, tiền đồng của vương triều Kushana) qua đó có thể đoán định về sự xuất hiện của những
thương nhân nước ngoài nơi đây Dấu tích của “những dịch vụ thương mại, giao lưu
văn hoá đông – tây” [8, trang 112] cho thấy đây là địa điểm buôn bán lớn Nền
Chùa không chỉ có giá trị như là một tiền cảng của Óc Eo mà còn là đầu mối buôn bán nội vực của khu vực giáp biển tây nam của Phù Nam Ý kiến của L.Malleret là có cở sở nhưng cần tiếp tục làm sáng tỏ thêm (Lê Xuân Diệm, 1984)
Cạnh Đền được phát hiện vào năm 1938 với cái tên Trăm Phố (Thnal
M’ray, Thnol Moroy, Cent Rues) nay thuộc xã Vĩnh Phong-Vĩnh Thuận-Kiên Giang Đây là một vùng lầy trũng ven biển Người ta tìm thấy các con lung nước chảy trong rừng U Minh Cạnh Đền là điểm trung chuyển hàng hoá từ của biển theo các con lung cổ vào nội vùng và tiếp nhận hàng hoá của cư dân tại đây bán cho thuyền buôn xứ khác Như vậy, Cạnh Đền tồn tại như là một cảng khẩu quan trọng, cầu nối giữa vùng nội hạt phía trong với cư dân các quốc gia khác đến buôn bán, giao lưu văn hoá
Cần Giờ (Duyên Hải–TP HCM) nằm án ngữ ngay nơi vào đất liền của lái
buôn theo cửa các con sông Đồng Nai, Vàm Cỏ, Sài Gòn Tại đây lại có thể bao quát một khu vực sông rạch rộng lớn gồm sông Ngã Bảy, Động Tranh, Soài Rạp… Địa thế trên khiến cho người ta hình dung đây có thể là một tiền cảng nữa của Óc
Eo dù quy mô không lớn và có thể chỉ là nơi diễn ra neo đậu buôn bán với vùng nội địa Dấu tích thuyền buôn nước ngoài thì chưa tìm thấy nhưng dấu tích giao lưu văn hoá giữa các vùng thì rất nhiều (đồ gốm chịu ảnh hưởng của văn hoá Sa huỳnh, hiện vật VHOE…) dẫn đến lập luận hoạt động buôn bán diễn ra chủ yếu giữa cư dân bản địa với nhau Nếu như giả thuyết trên là đúng thì quả thật thương nghiệp của Phù Nam đã cực kì phát triển do hệ thống thương cảng mở rộng từ trung tâm (Óc Eo) đến các tiền cảng ít nhất là hơn 300 km Một mạng lưới thương cảng không thua kém gì so với bây giờ
Các tiền cảng trên đều có mối quan hệ với trung tâm ngoại thương lúc đó là
Óc Eo Đây là một đô thị cổ với nhiều di chỉ cư trú, sản xuất đạt đến trình độ cao
cả về kiến trúc, kỹ thuật xây dựng Di chỉ này ngày nay nằm trên cánh đồng
Trang 35Giồng Cát–Giồng Xoài tựa lưng vào núi Ba Thê ven bờ con lung Giếng Đá cổ Nghiên cứu của BFEO (Pháp) muộn hơn là Viện KHXHTP.HCM cho biết nơi đây có rất nhiều đường thuỷ đạo nối liền với các con sông lớn, đổ ra biển bờ biển tây nam cổ Theo D.G.E Hall, thì các phố trong đô thị cổ này được nối với nhau và với biển cả bằng những con kênh đủ rộng để có thể tiếp nhận những chiếc tàu đi biển[27, trang 51] Hệ thống thuỷ nông do con người đào nên xen kẽ giữa các căn nhà sàn xuyên sâu vô nội địa có tác dụng mở rộng khả năng phát triển thương mại cho vùng xa biển hơn
Rõ ràng có mối quan hệ rộng lớn giữa Óc Eo với cư dân các nước khác đến
vì mục đích làm ăn… Bên cạnh quan hệ với các nước trong khu vực Phù Nam còn mở rộng buôn bán với các quốc gia xa xôi khác Quan hệ thương mại với AĐ diễn
ra thường xuyên Dấu vết của tiểu lục địa này là rất nhiều tượng Ấn giáo, Phật giáo có nguồn gốc Ấn Buôn bán với TQ được khẳng định qua các hiện vật của đất nước này tìm thấy ở đây (gương đồng thời Đông Hán, tượng phật mang phong cách Bắc Ngụy…) Ngoài ra những hiện vật như tiền đồng, tiền bạc hình mặt trời, huy chương có khắc hình và chữ của Antoniuxơ Piuxơ năm 152, Marcuxơ Aureliuxơ (161–180); vương triều Sassanid (Ba Tư); vương triều Kushana (Trung Á) làm sửng sốt các nhà nghiên cứu Một giả thuyết nêu lên là có thể Phù Nam còn có quan hệ thương mại với các nước ở vùng Tây Á, Trung Á và Địa Trung Hải Điều này cần làm rõ Nếu là như vậy thì đây quả thật là thương cảng lớn lúc đó
Như vậy, Phù Nam có hệ thống thương cảng với cơ sở hạ tầng hoàn thiện dựa trên ưu đãi của thiên nhiên Hoạt động ngoại thương diễn ra sôi nổi và rầm rộ
ở vùng bờ biển phía tây nam Không chỉ phát hiện KCH nói lên điều này mà ngay con người thời đó cũng ghi chép về sự phát triển trên Du khách người Hoa có thể
“ đi thuyền băng qua Phù Nam ” (thư tịch cổ TQ) Sách Thuỷ Kinh Chú ghi vào thế
kỉ III, đời Phạm Chiêm, Gia Lễ Tường người nước Đàm Dương từ AĐ đi qua đến làm ăn buôn bán tại Phù Nam Các vua Phù Nam cũng cử các đoàn thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán Theo Thuỷ Kinh Chú, vua Phạm Chiêm của Phù Nam của sứ thần theo thương thuyền từ cảng Takhola (Đầu Lâu Lợi) vượt vịnh Bengal, sông Hằng giao lưu với vương triều Murunda của nước Tây Thiên Trúc rồi theo Nam Hải lên Giao Châu, Quảng Châu tiếp kiến vua Trung Hoa ở Nam kinh Nam Tề
thư viết “cuối đời nhà Tống (420-478), vua Phù Nam có quốc tính là Kiều Trần Như
(Kaundinya), tên là Bồ Gia Bạt Ma (Jayavarman) phái các thương gia sang Quảng Châu giao dịch buôn bán…”
Phù Nam không còn là quốc gia có hoạt động ngoại thương phát triển đơn
34
Trang 36thuần nữa mà đã trở thành một đế chế hàng hải khống chế con đường buôn bán chính của phương đông (AĐ – TQ) bấy giờ và của cả khu vực
Vậy Phù Nam mua gì và bán gì ? Thư tịch cổ TQ cho biết nhiều về điều
này Theo Lương Công Kí, Thái Bình Ngự Lãm thì “thuyền lớn Phù Nam, từ Tây
Thiên Trúc đến (Quảng Châu) bán gương lưu ly xanh mà đường kính lên tới một thước rưỡi”; “hàng hoá trao đổi có vàng, bạc, vải hoa” (Nam Tề thư) Bộ luật nhà
Lương cho biết rõ hơn “ xứ Phù Nam xuất vàng, đồng, thiếc, trầm hương, ngà voi,
công, chim thằng chài, vẹt ngũ sắc ” Ngoài ra còn có kim cương (Tân Đường thư),
mía (Ngô quân tuyển tập, Nam Tề thư ) Tóm lại Phù Nam xuất chủ yếu là các mặt hàng thủ công nghiệp, nông sản và những tài nguyên thiên nhiên quý
Ngoài ra ở các nước phụ thuộc buôn bán cũng rất phát triển Sách Lương
thư miêu tả cảnh buôn bán ở Đốn Tốn một nước phụ thuộc như: “nơi đây hoạt động
buôn bán rất đông đúc, chợ mọc lên nhiều, việc buôn bán phát đạt” Các nước lệ
thuộc nằm ở vịnh Thái Lan cũng rất phát triển thương mại
Bên cạnh ngoại thương, nội thương của Phù Nam cũng không thua kém
Lương thư miêu tả “chợ ở đây là chốn đông–tây giao hội; mỗi ngày có hơn 10.000
người” Sản phẩm trao đổi giữa là lúa gạo, trái cây nói chung là nông sản với sản
phẩm thủ công nghiệp Hình thức trao đổi là vật lấy vật (tính theo lúa, ruộng, gạo đặc biệt là tamlin – một đơn vị có thể coi như tiền tệ) chưa có thấy xuất hiện tiền tệ trong lưu thông (có giả định những đồng tiền không rõ nguồn gốc xuất xứ tìm thấy trong VHOE là của cư dân Phù Nam Một ý kiến khác cho là của cư dân ngoại quốc Ý kiến đang được chấp nhận là có thể đã xuất hiện những hình thức của tiền
nhưng chưa được sử dụng thống nhất trong cả nước để “thay thế cho mọi sản phẩm
trong hoạt động thương mại”) Minh văn ghi lại cảnh mua bán ruộng đất lấy “hoa lợi là lúa gạo, rồi quy đổi ngang giá bằng đơn vị Tamlin bạc, giá ruộng ở Ten Hvar Paren, Tem Mahanavami được tính bằng lượng thóc trị giá 10 tamlin bạc; ở Travan Devacila là 5 tamlin bạc; Ở Travan Tman là 10 tamlin bạc…” [8, trang 141]
Nhà nước thu thuế bằng hiện vật tuỳ theo nền sản xuất và thiên nhiên nơi
đây Tấn thư ghi chép “ thuế được thu bằng trầm hương, vàng, bạc, ngọc trai”
Không rõ hình thức thu thuế như thế nào, thời hạn mức độ thuế đánh ra sao, cần phải nghiên cứu thêm
Tóm lại Phù Nam là nơi hội tụ của thương nhân Thương mại của đất nước này rất phát triển cả về nội thương và ngoại thương Về ngoại thương, Phù Nam
35
Trang 37có quan hệ buôn bán với các nước trong khu vực (vịnh Thái Lan, Mã Lai, Inđônêsia…), với AĐ, TQ và có thể là với vịnh Ba Tư và Địa Trung Hải Nội thương diễn ra giữa các vùng Mặc dù hệ thống tài chính tiền tệ còn kém nhưng những gì mà Phù Nam đạt được chứng minh một cách hùng hồn về đế chế hải thương Phù Nam
1.2.1.2– Nông nghiệp
Không chỉ phát triển thương mại, Phù Nam còn có nền nông nghiệp khá phát triển Hoạt động nông nghiệp của Phù Nam được phản ánh trong nhiều thư tịch cổ, minh văn và di vật khai quật được
* Trồng trọt
Hoạt động trồng trọt của Phù Nam vẫn gây nhiều tranh cãi Xu hướng chung, trước hết của các nhà nghiên cứu nước ngoài (chủ yếu là Pháp, Nhật) đều cho rằng nơi đây sản xuất nông nghiệp nhất là lúa phát triển Các nhà sử học Việt Nam cũng đang đi trên con đường này Tuy nhiên cũng có một vài ý kiến trái
ngược Sơn Nam trong “Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn” (Sài Gòn, 1970) nêu ý kiến: “bảo rằng từ khoảng thế kỉ thứ III đến thế kỉ thứ V
sau tây lịch có làm ruộng ở vùng phụ cận núi Ba Thê là quá đáng nếu không nói là vô lí ” Tuy nhiên các tác giả trong văn hoá và cư dân đồng bằng sông Cửu
Long chứng minh bác bỏ ý kiến của Sơn Nam: “trên một địa bàn cư trú rộng lớn
như vậy cư dân Óc Eo không thể trông vào nguồn lương thực ở ngoài vùng đưa tới mà phải có một nguồn tại chỗ” [8, trang 258]
Cây trồng chính của Phù Nam là lúa Có rất nhiều giống lúa trồng được trồng nơi đây Di chỉ tìm thấy hoá thạch của lúa nằm rải rác trong những cánh đồng thấp trũng của tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười Đa số hạt lúa đều bị gãy, cháy đen mất đi phần phôi nên rất khó có thể xác định đây là loại lúa gì Hình dạng lúa có loại hạt tròn lớn nhỏ khác nhau, có loại hạt thon dài… Căn cứ vào đây nhiều ý kiến được nêu lên Theo nhà nghiên cứu người Nhật, ông Watabe thì trên
cơ sở những vỏ trấu tìm thấy ở Óc Eo cho biết đây là loại lúa tiên thuộc hệ Belgan,
còn loại hạt tròn là lúa canh T Watabe trình bày luôn trong quyển “Con đường lúa
gạo” rằng lúa canh là loại lúa có nguồn gốc bản địa và không loại trừ nó là lúa
hoang, lúa tiên thì có nguồn gốc AĐ Sự xuất hiện lúa tiên chứng tỏ vào những thế
kỉ đầu công nguyên thương nhân AĐ đã mang nó đến đây một là để buôn bán hai là định cư lại làm nông nghiệp
Thư tịch cổ TQ cho biết phương thức canh tác đơn sơ của nền trồng trọt
Trang 38Phù Nam Tân Đường thư chép “một năm cấy, ba năm thu hoạch” hay Lương thư cũng ghi rằng “ vua Phù Nam tổ chức cho dân trồng lúa một năm, ba năm sau thu
hoạch” Tuy nhiên một số minh văn cho biết dân cư canh tác một năm ba vụ Niên
đại của minh văn này là vào thế kỉ thứ VI Có thể lúc đầu khi mới bước vào trồng lúa thì trình độ canh tác thấp, càng về sau càng được nâng cao lên vàở những nơi thuận lợi là có thể sản xuất ba vụ trong năm như trên
Theo Nguyển Xuân Hiển (Viện khoa học nông nghiệp Miền Nam) “nghề
trồng lúa cổ Óc Eo thuộc dạng đầm lầy, đã sử dụng kênh rạch để hỗ trợ cho cây lúa, và không xa nơi trồng lúa còn bạt ngàn cả từng vạt lúa hoang dại Ngoài ra
nhiều minh văn cho biết cư dân Phù Nam còn canh tác trên triền đất cao không loại trừ có cả ruộng rẫy
Bên cạnh cây lúa, cư dân phù nam còn trồng nhiều loại cây khác như cây ăn trái cổ (xoài, chuối, quất, an thạch lựu), kê, mía, dừa, cau Sự đa dạng cây trồng chứng tỏ nghề làm vườn của Phù Nam đạt trình độ cao Đất canh tác theo liếp, trồng chủ yếu trên giồng cát, sườn núi có địa hình cao không bị ngập nước vào mùa lũ
Công tác thủy lợi được nhà nước chăm lo Quan sát trên máy bay các nhà khảo cổ BFEO phát hiện nhiều con lung, kênh chằng chịt một số tồn tại đến khi những người Việt đầu tiên đặt chân lên vùng đất này Các con kênh này dẫn nước từ sông, lung lớn vào đồng ruộng để rửa phèn, khử mặn và xả lũ cho sông Hậu về phía biển B.P Groslier cho rằng hệ thống thuỷ đạo này mở ra khả năng sản xuất lúa nổi Nhiều con kênh còn dẫn nước lên vùng triền cao đáp ứng nhu cầu nước tưới cho nương rẫy thể hiện trình độ vượt bậc của hệ thống thuỷ nông mà cư dân Phù Nam tạo ra
Nông sản thu hoạch dùng để tự chu cấp cho cuộc sống của mình, ngoài ra còn được nông dân đem ra bán cho lái thương, một số dâng cho vua và quan lại
Lương thư chép : “mía là vật phẩm được dân chúng đem lên nộp vua Phù Nam” còn
cau, dừa thì cung cấp cho tế lễ Không rõ là cư dân Phù Nam sản xuất trên ruộng của mình hay thuê canh tác, có điều nông sản là hình thức chủ yếu mà nông dân nộp lên vua nước họ như là cách để nộp thuế vậy
Tóm lại chủ nhân của hai đồng bằng rộng lớn Mê Kông và Mê Nam-cư dân Phù Nam đạt được trình độ tương đối cao trong trồng trọt Cơ cấu cây trồng đa dạng, lúa là cây trồng chủ yếu song rau màu, hoa quả cũng được trồng nhiều nơi Hình thức canh tác ngày càng được nâng cao Cư dân Phù Nam với bản tính
37
Trang 39cần cù của cư dân nông nghiệp cộng với những gì thiên nhiên mang lại đã tạo nên nền văn minh trồng trọt của cả vùng đất này
* Chăn nuôi
Chăn nuôi Phù Nam có phần kém phát triển hơn so với trồng trọt Di tích Lò Mo (xã Mỹ Tú–Châu Phú–An Giang) phát hiện di cốt của động vật chất chồng lên nhau Năm 1983 tại di tích núi Sam (Châu Đốc–An Giang) ở độ sâu 0,80m–1,20m phát hiện xương cá sấu với những bộ hàm còn dính nguyên cả răng, xương trâu, bò, chó, heo Ngoài hai di tích này còn rất nhiều di tích khác cũng có xương cốt động vật (hình 1.5) Rất nhiều hình ảnh động vật như chó, heo, bo,ø gà được khắc trên di vật bằng đá, vàng chứng tỏ vật nuôi của cư dân Phù Nam rất đa dạng
Địa điểm chăn nuôi là cánh đồng rộng lớn thường ngập nước vào mùa mưa đối với gia cầm như vịt, ngan Gà được nuôi tại nhà, trong các mảnh vườn Voi, ngựa, trâu, bò nuôi chủ yếu tại vùng đồi núi rừng rậm, vùng bán sơn địa, một số
ít được nuôi tại nhà Minh văn khai quật được tại vùng núi Ba Thê cho biết các chủ trại hiến cho thần 60 con bò, 2 con trâu, 30 con dê Minh văn ở Ăngkor Borei (Campuchia) niên đại thế kỉ VII ghi một chủ trại khác hiến còn nhỉnh hơn với 100 con bò, 20 con trâu Như vậy, ngoài hình thức chăn nuôi gia đình, xuất hiện những trại chăn nuôi tập trung lớn, có tổ chức do một người giàu có, thế lực làm chủ
Chăn nuôi của cư dân Phù Nam phục vụ nhiều mục đích khác nhau Ngoài mục đích chính là phục vụ nhu cầu thực phẩm tăng nguồn dinh dưỡng cho bữa ăn còn phục vụ chiến tranh (voi, ngựa), vận chuyển, hiến tế, cống phẩm cho quan lại, nhà vua Triều đình Phù Nam cũng đem nhiều cống vật là vật nuôi sang các nước hùng mạnh khác mà nó phải kiêng nể
Phù Nam có địa hình đa dạng với nhiều rừng núi, vũng vịnh ngập nước nên không thể không phát triển săn bắt và chăn nuôi thuỷ sản Không phải ngẫu nhiên
mà kinh đô của Phù Nam là Prâyven nghĩa là “kinh đô của các thợ săn” Hẳn là
săn bắt trở nên quan trọng Vào mùa nước ngập chắc chắn có thuyền đánh cá khai thác nguồn lợi thiên nhiên mùa lũ đem lại Trong nhiều di chỉ khai quật phát hiện chì lưới và dọi xe chỉ chứng minh cho sự tồn tại của hoạt động đánh bắt Hình thức và trình độ phát triển của săn bắt và đánh bắt cá của cư dân Phù Nam cần làm rõ thêm để khẳng định vai trò và tầm quan trọng của ngành này
Vai trò ngành chăn nuôi Phù Nam chưa chiếm vị trí quan trọng như trồng trọt nhưng không phải là không có những tiến bộ rõ rệt khẳng định vị thế ngày
38
Trang 40càng lên của ngành sản xuất nông nghiệp này Chăn nuôi góp phần tạo nên giá trị vật chất , tinh thần to lớn cho cuộc sống văn hoá nơi đây
1.2.1.3–Thủ công nghiệp
Sản xuất thủ công nghiệp Phù Nam diễn ra trên những lĩnh vực chủ yếu như: luyện kim và chế tác đồ kim loại; chế tác công cụ sinh hoạt, sản xuất; các sản phẩm phục vụ giao thông, tôn giáo Trong phần này tôi trình bày hoạt động sản xuất thủ công nghiệp của Phù Nam không theo mục đích sử dụng mà theo chất liệu tạo ra nó
* Luyện kim
Luyện kim rất quan trọng đối với mọi nền kinh tế đặc biệt là trong thời kì cổ trung đại khi mà sản xuất đặt ra yêu cầu cấp thiết về công cụ Ở Phù Nam luyện kim xuất hiện khá sớm ngay khi cư dân Đồng Nai đến đây tạo làng lập nước
Kim loại dùng để làm nguyên liệu tại Phù Nam rất nhiều Ngoài sự có mặt phổ biến như vàng, đồng, thiếc còn có sắt, bạc
Đồng được sử dụng để sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu tôn giáo (tượng đồng, chân đèn, kệ thờ ) và công cụ sinh hoạt–lao động (chum đồng, cuốc đồng, lưỡi câu, giá kê ) là chủ yếu Một số sản phẩm đồng dùng để làm đồ trang sức (khuyên tai, vòng tay ) , vũ khí (lao đồng, tên đồng )
Vàng dùng chủ yếu để sản xuất kim hoàn phục vụ nhu cầu làm đẹp của con người và “thần linh” Ngoài ra vàng còn được dùng như cuốn sách ghi lên đó sự kiện quan trọng xảy ra trong đời sống Kỹ thuật chế tác vàng đạt đến trình độ nghệ thuật Hàm lượng vàng không đúc hỗn tạp mà pha chế tuỳ theo từng sản phẩm Nhiều minh văn cho biết vàng không chỉ được đúc theo cách thông thường như nấu chảy, đúc, gò nóng, gò nguội mà còn cán mỏng, dũa, xuyên lỗ, vuốt sợi, cắt, cưa, tết thành sợi, móc xoắn, nối thành dây, chạm chìm, chạm nổi, lộng khảm
Sản phẩm đa dạng như dây chuyền; vòng đeo tay, cổ, chân; minh văn; nhẫn và vật dát, gắn trên trang phục Hoa văn trang trí đa dạng, có loại hình khối, tứ giác; có loại hình hoa, hình dộng vật, hình trái cây (bông tai, minh văn ), hình tròn , khối kim tự tháp, khối trụ, bệ thờ (mặt nhẫn, bệ thờ ) Đặc biệt là hình bông hoa nhiều cánh xoè, hình bò Nandin, rắn Naga
39