1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Hành vi hạn chế cạnh tranh một số vụ việc điển hình của Châu Âu

63 1,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành Vi Hạn Chế Cạnh Tranh Một Số Vụ Việc Điển Hình Của Châu Âu
Người hướng dẫn PGS.TS. Lê Danh Vĩnh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại sổ tay
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 916,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xuất bản cuốn sổ tay "Hành vi hạn chế cạnh tranh một số vụ việc điển hình của Châu Âu" nằm trong khuôn khổ

Trang 2

HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MỘT SỐ VỤ VIỆC ĐIỂN HÌNH CỦA CHÂU ÂU

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Từ khi Luật Cạnh tranh có hiệu lực ngày 01/7/2005 đến nay, ở Việt Nam mới chỉ

có một số vụ điều tra và xử lý hạn chế cạnh tranh Số liệu này chưa chứng tỏ rằng môi trường cạnh tranh tại Việt Nam là hiệu quả và lành mạnh Một điều rất rõ ràng là dù Luật Cạnh tranh đã có hiệu lực được 4 năm nhưng nhận thức và hiểu biết về Luật Cạnh tranh vẫn chỉ giới hạn trong một số ít người mà chưa lan tỏa đến từng doanh nghiệp trong điều kiện cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam không chỉ phải mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường nội địa mà còn cả trên thị trường quốc tế

Trong một môi trường kinh doanh ngày càng trở nên phẳng, pháp luật cạnh tranh

đã trở thành một công cụ quan trọng bổ sung cho pháp luật thương mại trong việc điều tiết các hành vi kinh doanh của doanh nghiệp Nói một cách khác, các lợi ích mà hệ thống thương mại đa phương, các thỏa thuận thương mại tự do đem lại sẽ dễ dàng bị triệt tiêu nếu các hành vi hạn chế cạnh tranh được phép tồn tại Điều này lý giải một thực tế là cho

dù Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chưa có một hiệp định về cạnh tranh đa phương nhưng hầu hết các quốc gia thành viên của WTO đều có Luật Cạnh tranh

Để góp phần cảnh báo cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, chúng tôi luôn khuyến khích các nỗ lực phổ biến pháp luật cạnh tranh từ các khía cạnh và góc nhìn khác nhau Cuốn sổ tay này cũng là một nỗ lực như vậy Nội dung của cuốn sổ tay sẽ cung cấp một cách giải thích về pháp luật cạnh tranh ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn sinh động và dễ hiểu thông qua các ví dụ minh họa là các vụ việc cạnh tranh cụ thể Mặc dù đối tượng chủ yếu được hưởng lợi sẽ là cộng đồng doanh nghiệp nhưng với những nội dung hiện tại, đây cũng có thể được coi là cuốn sổ tay cho những luật sư đã và đang nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh hay những học giả, cán bộ giảng dạy có quan tâm

Hà Nội, tháng 10 năm 2009

PGS.TS Lê Danh Vĩnh Thứ trưởng Bộ Công Thương Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Việc xuất bản cuốn sổ tay "Hành vi hạn chế cạnh tranh: Một số vụ việc điển hình của

châu Âu" nằm trong khuôn khổ hoạt động của Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên (EU -

Việt Nam MUTRAP III) Mục đích của Dự án là tăng cường năng lực của Bộ Công Thương (BCT) trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược hội nhập kinh tế và thương mại của Việt Nam, trong đó có hợp phần 5 mang tên "Tăng cường năng lực của các bên liên quan đến chính sách cạnh tranh nhằm bảo đảm một sân chơi bình đẳng và công bằng cho mọi doanh nghiệp, bảo vệ người tiêu dùng thông qua việc thực thi Luật Cạnh tranh" Mục tiêu của cuốn sổ tay này là phân tích các vụ việc cụ thể để chỉ ra tác hại của hành vi hạn chế cạnh tranh cũng như lợi ích của việc thực hiện thành công chính sách cạnh tranh phù hợp Sau khi trao đổi với một số tổ chức, cá nhân liên quan như Hội đồng Cạnh tranh (VCC), Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (VINASTAS), một số thẩm phán của Tòa án Nhân dân Tối cao, đại diện của Bộ Tư pháp… các chuyên gia thống nhất sử dụng án lệ của Liên minh châu Âu (EU)

và các nước thành viên EU làm ví dụ minh họa Tham chiếu đến nguồn án lệ của EU tập trung vào các hành vi hạn chế cạnh tranh cơ bản, không đề cập đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.1

Án lệ EU rất phù hợp để làm ví dụ minh họa cho Việt Nam vì nền kinh tế của các nước thành viên EU – đặc biệt là các nước Đông Âu – có tình trạng phổ biến là sự hiện diện mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước và các doanh nghiệp độc quyền nhà nước

Cuốn sổ tay này được chia thành ba chương Chương I giới thiệu về pháp luật cạnh

tranh, nêu ngắn gọn học thuyết kinh tế cơ sở của pháp luật cạnh tranh, xác định và nghiên cứu các nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh thông thường, mô tả, về nguyên tắc, các lợi ích trong việc thực hiện đúng các nguyên tắc cạnh tranh, được công nhận bởi các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới Ngoài ra, các chuyên gia đưa ra nhận định tổng quát

về pháp luật cạnh tranh của Việt Nam, gồm cả pháp luật bảo vệ người tiêu dùng Chương

II xem xét các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Những thỏa thuận này thông thường được

xác định là các thỏa thuận giữa các chủ thể cạnh tranh trực tiếp (các thỏa thuận ngang) tác động tiêu cực đến cạnh tranh như là các cartel và các hành vi gian lận thầu (bid-rigging) Ngoài ra, các chuyên gia cũng dẫn chiếu ngắn đến các thỏa thuận dọc, tác động tiêu cực đến cạnh tranh.2 Cuối cùng, Chương III xem xét các hành vi tập trung kinh tế

1 Khác với pháp luật cạnh tranh của EU, pháp luật cạnh tranh Việt Nam cấm (i) các hành vi hạn chế cạnh tranh và (ii) các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Các qui định pháp luật điều chỉnh hai loại hành vi này có những đặc điểm rất khác nhau Các quy định pháp luật cấm hành vi hạn chế cạnh tranh nhằm mục đích bảo vệ cạnh tranh bằng cách loại bỏ các sai phạm trên thị trường Trong khi đó, các quy định cấm hành vi cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu điều chỉnh các quan hệ giữa một số ít các tổ chức kinh doanh Các hành vi này chỉ gây hại đến một số tổ chức kinh doanh có liên quan mà không ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường Cuốn sổ tay này sẽ chỉ xem xét các vấn đề liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh

2 Thuật ngữ “các thỏa thuận dọc” đề cập đến các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh ở các cấp độ khác nhau của nền kinh tế (các doanh nghiệp này không phải là đối thủ cạnh tranh của nhau), ví dụ như nhà cung cấp và bên mua sản phẩm Trong một số trường hợp những thỏa thuận như

Trang 5

hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường.3 Chương này đề cập ngắn gọn đến phương pháp thường được áp dụng bởi các cơ quan quản lý cạnh tranh để xác định vị trí thống lĩnh thị trường và các trường hợp có sử dụng hoặc có khả năng sử dụng vị trí thống lĩnh bất hợp pháp Chương này cũng đưa ra một số vụ việc về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhà nước độc quyền hoặc được nhà nước trao cho một số quyền đặc biệt

Trước khi trao đổi về các chủ đề này cần lưu ý ba điểm quan trọng Trước hết, pháp luật cạnh tranh là pháp luật kinh tế và do đó kiến thức về kinh tế là yêu cầu bắt buộc để nắm bắt được chủ đề này Chương I giải thích học thuyết cơ sở của cạnh tranh hoàn hảo, nhưng còn rất nhiều điểm cần tìm hiểu trong nội dung này.4 Thứ hai, pháp luật cạnh tranh

sử dụng rất nhiều thuật ngữ cụ thể có cùng nghĩa với các khái niệm pháp lý và kinh tế đã được xây dựng, ví dụ, “cartel”, “quyền lực thị trường”, “các rào cản gia nhập thị trường”, v.v Các chuyên gia đã giải thích ngắn gọn một số khái niệm chính trong cuốn sổ tay này, những khái niệm đó đã được gạch chân để bạn đọc lưu ý Tuy nhiên, để có thêm thông tin

chi tiết, đề nghị tham khảo thêm Bảng chú giải các thuật ngữ được sử dụng trong chính

sách cạnh tranh của EU.5 Lưu ý cuối cùng là để một quyết định có giá trị như tiền lệ pháp lý phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đưa ra các bằng chứng tương tự Do đó, pháp luật về cạnh tranh nên được thực thi theo hướng, đặc biệt với luật sư và thẩm phán, tiếp cận tùy theo từng vụ việc cụ thể và việc tham chiếu đến các tiền lệ không phải là vấn đề nguyên tắc mà cần phải xem xét các tình tiết của các vụ việc có tương tự hay không Cuốn sổ tay này hướng tới đối tượng là những người liên quan trực tiếp đến hoạt động thực thi pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam cũng như các cá nhân, tổ chức liên quan trực tiếp khác Những đối tượng này bao gồm cán bộ của các cơ quan cạnh tranh, các cơ quan hành pháp khác của Việt Nam (trong lĩnh vực viễn thông, năng lượng, vận tải, bưu chính, bảo hiểm và ngân hàng…), thẩm phán, luật sư, nhà nghiên cứu và các tổ chức, cá nhân kinh doanh…

vậy tác động tiêu cực đến cạnh tranh, ví dụ khi nhà cung cấp ấn định giá bán lại của bên mua nhằm hạn chế khả năng bên mua giảm giá bán cho khách hàng của bên mua (ấn định giá bán lại)

3 Thuật ngữ “tập trung kinh tế” đề cập đến các thoả thuận tài chính theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập quyết định kết hợp sức mạnh kinh tế của họ lại vào cùng một tổ chức duy nhất thông qua phương thức mua lại, sáp nhập hoặc liên doanh Thuật ngữ “lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường” để chỉ hành vi của một doanh nghiệp có khả năng khống chế thị trường (thống lĩnh đơn nhất) và quyết định “lạm dụng” khả năng khống chế thị trường đối với khách hàng của mình hoặc các đối thủ cạnh tranh Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hành vi lạm dụng được thực hiện bởi một vài doanh nghiệp không có vị trí thống lĩnh thị trường nếu đứng riêng rẽ, nhưng thông qua các hoạt động hợp tác, các doanh nghiệp này có được vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng khả năng khống chế thị trường của mình làm ảnh hưởng đến chi phí của khách hàng và đối thủ cạnh tranh (thống lĩnh nhóm – collective dominance)

4 Để có thêm thông tin chi tiết, đề nghị xem Chính sách Chống Độc quyền và Tổ chức Công nghiệp của Asch (Wiley bản sửa đổi, 1983), Chương 1: Hoạt động Kinh tế và Cấu trúc Thị trường Công nghiệp của Scherer và Ross (Houghton Mifflin, bản sửa đổi lần thứ 3, 1990), Chương 1 và 2: Các Nguyên tắc của Nền

Kinh tế của Lipsey và Chrystal (Nhà Xuất bản Đại học Oxford, bản sửa đổi lần thứ 9, 1999), Chương 9: Nền Kinh tế Cạnh tranh của Peeperkorn và Metha, Chương 1 trong Luật EC về Cạnh tranh của Faull và

Nikpay (Nhà Xuất bản Đại học Oxford, 1999)

5 Xem ec.europa.eu/competition/publications/glossary

Trang 6

Cuối cùng, dự án hy vọng rằng cuốn sổ tay này sẽ mang lại những nội dung bổ ích, đóng góp vào việc nâng cao nhận thức tại Việt Nam về pháp luật cạnh tranh và các hành vi hạn chế cạnh tranh

Thay mặt Ban Đặc trách Dự án EU-Việt Nam MUTRAP III,

Trang 7

4 Bà Diệp Hoài Nam, Luật sư, Công ty Luật YKVN, Chuyên gia tư vấn Dự án EU – Việt Nam MUTRAP III

3 Ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Công Thương

4 Bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Phó Vụ trưởng, Vụ Chính sách thương mại đa biên,

Bộ Công Thương, Giám đốc Dự án EU – Việt Nam MUTRAP III

Trang 8

CHƯƠNG I GIỚI THIỆU VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

Pháp luật cạnh tranh có thể được định nghĩa là khung pháp lý tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, khi tiến hành hoạt động kinh doanh trên thị trường, được cạnh tranh một cách tự

do, công bằng và mạnh mẽ Cơ sở của pháp luật cạnh tranh dựa trên mô hình kinh tế thuần túy được biết đến như là học thuyết về cạnh tranh hoàn hảo Nội dung của học thuyết này là nếu các doanh nghiệp được phép cạnh tranh lẫn nhau để giành khách hàng

và thị trường mới, mà không vi phạm bất kỳ qui định pháp lý nào, việc cạnh tranh của các doanh nghiệp sẽ tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn với giá thành thấp hơn.6Kết quả là,chỉ có những doanh nghiệp hiệu quả nhất có thể tồn tại trong khi các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ bị phá sản Lợi ích lớn nhất của cạnh tranh là người tiêu dùng phải trả ít tiền hơn cho các sản phẩm tốt hơn (lợi ích của khách hàng)

Đối lập với cạnh tranh hoàn hảo là khi thị trường bị tập trung và nằm trong tầm kiểm soát của một doanh nghiệp, có thể là một nhà cung cấp sản phẩm (độc quyền bán) hoặc một người mua sản phẩm (độc quyền mua) Do khách hàng của doanh nghiệp độc quyền không có lựa chọn khác nên doanh nghiệp không cần phải đưa ra các mức giá ưu đãi hoặc cung cấp các sản phẩm chất lượng tốt hơn Vấn đề tương tự phát sinh, tuy ở mức độ thấp hơn, khi thị trường nằm trong tay của một số ít các doanh nghiệp (độc quyền nhóm bán),

do các doanh nghiệp này thấy rằng họ có thể đạt được lợi nhuận cao hơn nếu áp dụng các chiến lược thương mại chung với các đối thủ của mình (hành vi định giá tương đồng), thiết lập cùng mức giá các sản phẩm thay vì tham gia vào cuộc chiến về giá.7

Như đã trình bày, chúng ta phải công nhận rằng các trao đổi nêu trên liên quan đến một

mô hình kinh tế đơn giản.8 Trong thực tế, pháp luật cạnh tranh có thể được áp dụng cho các thị trường với cấu trúc nằm ở vị trí trung gian giữa cạnh tranh hoàn hảo và độc quyền.9 Hơn nữa, hoàn toàn tự nhiên nếu một thị trường có cấu trúc độc quyền (độc

quyền thực tế)10 và có một số trường hợp khi độc quyền bán/độc quyền mua hình thành

6 Trong cuốn sổ tay này, thuật ngữ “sản phẩm” được sử dụng bao gồm cả “dịch vụ”

7 Ví dụ, đây là hành vi thường thấy của các doanh nghiệp cung cấp xăng và gas

8 Học thuyết về cạnh tranh hoàn hảo giả định rằng không thể buộc bất kỳ chủ thể nào tốt hơn lên mà không làm cho một số chủ thể khác yếu kém đi Học thuyết này chỉ ra rằng chi phí sản xuất luôn ở mức thấp nhất

có thể (hiệu quả sản xuất) và giá sẽ không bao giờ vượt quá chi phí biên (nghĩa là, chi phí tạo thêm một đơn

vị sản phẩm; hiệu quả phân bổ) Ngoài ra, học thuyết này cũng chỉ ra rằng các sản phẩm luôn luôn tương đồng, và người tiêu dùng luôn được thông báo về giá của các sản phẩm và bất kỳ doanh nghiệp nào đều có thể tự do gia nhập và rời khỏi thị trường mà không phải gánh chịu bất kỳ chi phí phát sinh nào Cuối cùng, học thuyết về cạnh tranh hoàn hảo không xét đến các chi phí phát sinh từ “các yếu tố ngoại hưởng” như ảnh hưởng của sản phẩm đối với môi trường hoặc sức khỏe của cộng đồng

9 Trong thực tế, các doanh nghiệp cạnh tranh sẽ cố gắng tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm của mình nhiều nhất có thể để ngăn khách hàng chuyển sang các đối thủ cạnh tranh Do đó, các sản phẩm khá phân biệt Bên cạnh việc cạnh tranh về giá cả và chi phí, các doanh nghiệp sẽ cố gắng thiết lập các rào cản gia nhập thị trường thông qua việc đầu tư vào công nghệ (sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền, bí mật thương mại) hoặc quảng cáo Cuối cùng, các doanh nghiệp muốn rời khỏi thị trường thường phải chịu những chi phí

“ngầm” (đó là các chi phí không thể thu hồi, ví dụ, chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng đặc thù)

10 Ví dụ, đối với thị trường cung cấp hạ tầng viễn thông và mạng lưới truyền tải điện hoặc dịch vụ vận tải cảng hoặc đường sắt, thông thường là những tài sản của duy nhất một doanh nghiệp

Trang 9

qua quá trình cạnh tranh “dựa trên năng lực”11 hoặc để đáp ứng các lợi ích công cộng được trao cho các doanh nghiệp nhà nước hoặc do pháp luật quy định (độc quyền theo pháp luật).12 Mặc dù vậy, một trong các mục tiêu quan trọng nhất của pháp luật cạnh tranh là bảo đảm khách hàng có đủ khả năng để lựa chọn trên thị trường mà không bị lệ thuộc vào sự lạm dụng quyền lực thị trường (khả năng khống chế thị trường) của một hoặc một số ít doanh nghiệp

Để đạt được mục tiêu của mình, pháp luật cạnh tranh xem xét ba nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, được thảo luận chi tiết tại Chương II (Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh) và Chương III (Tập trung kinh tế và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường):

- Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh: là các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp cạnh

tranh nhằm ấn định giá hoặc sản lượng hoặc phân chia thị phần, khách hàng – thường được biết đến dưới tên gọi cartel – hoặc các thỏa thuận theo đó các bên tham gia đấu thầu

ấn định giá bỏ thầu hoặc thỏa thuận trước doanh nghiệp sẽ thắng thầu – thường được biết đến dưới dạng đấu thầu thông đồng Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh cũng bao gồm cả các thỏa thuận dọc có tác động tiêu cực đến cạnh tranh như thỏa thuận ấn định giá bán lại một sản phẩm nhằm ngăn cản nhà phân phối cung cấp các ưu đãi cho các khách hàng

- Tập trung kinh tế hạn chế cạnh tranh: là các thoả thuận tài chính theo đó hai hay

nhiều doanh nghiệp độc lập quyết định kết hợp sức mạnh kinh tế của họ với nhau thành một tổ chức duy nhất thông qua phương thức mua lại, sáp nhập hoặc liên doanh làm ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc của thị trường, hay để tạo lập, củng cố vị trí thống lĩnh thị trường gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.13

- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường: là các hành vi thương mại được thực hiện bởi

các doanh nghiệp có khả năng khống chế thị trường có thể tác động tiêu cực đến cạnh tranh như phân biệt đối xử giá với khách hàng14 cũng như loại bỏ doanh nghiệp đối thủ ra khỏi thị trường bằng các giao dịch độc quyền15 với khách hàng của mình, ưu đãi đối

11 Thuật ngữ “cạnh tranh dựa trên năng lực” đề cập đến những trường hợp khi mà các doanh nghiệp đạt được những kết quả tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh là do họ có hoạt động quản lý, công nghệ, kỹ thuật, mô hình điều hành kinh doanh tốt hơn Pháp luật cạnh tranh khuyến khích cạnh tranh dựa trên năng lực ngay cả khi nó dẫn đến sự độc quyền trên thị trường Ví dụ, trường hợp hệ điều hành Microsoft Windows, được bảo vệ bởi bản quyền, hoặc nước giải khát Coca-Cola, được bảo đảm bởi bí mật thương mại thành công nhất thế giới (công thức mang lại cho Coca-Cola mùi vị đặc biệt)

12 Ví dụ, trong trường hợp việc tồn tại duy nhất một doanh nghiệp cung cấp/mua sản phẩm liên quan là cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng như trong trường hợp độc quyền bán theo pháp luật trong việc cung cấp dịch vụ bưu chính hoặc trường hợp cơ quan có thẩm quyền về y tế của một nước được trao toàn quyền mua dược phẩm

13 Như giải thích chi tiết tại Chương III, những trường hợp này có thể liên quan đến tập trung kinh tế hình thành doanh nghiệp độc quyền bán hoặc nhóm hai doanh nghiệp độc quyền bán

14 Phân biệt đối xử giá diễn ra khi một doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh xác định giá cho các khách hàng với các mức khác nhau trong các giao dịch tương tự, làm cho khách hàng rơi vào tình thế phải cạnh tranh bất lợi với các đối thủ của mình

15 Các thỏa thuận độc quyền là các thỏa thuận khi một nhà cung cấp hoặc một bên mua không được phép mua bán các sản phẩm cạnh tranh Trong các trường hợp này, thỏa thuận sẽ loại trừ cạnh tranh từ các nhà cung cấp hoặc bên mua khác mong muốn tham gia mua bán các sản phẩm là đối tượng của thỏa thuận độc quyền

Trang 10

tượng16, bán kèm17, bán giá cướp đoạt18 hoặc từ chối cho tiếp cận các sản phẩm thiết yếu Những hành vi này cũng bao gồm các hành vi lạm dụng được thực hiện bởi các doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoặc các doanh nghiệp được nhà nước trao cho một số quyền đặc biệt

Pháp luật cạnh tranh bổ sung cho nền kinh tế thị trường tự do hóa Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp phải được tự do cạnh tranh dựa trên năng lực, loại bỏ các tổ chức độc quyền (khi chúng không cần thiết) và các cartel Hơn nữa, pháp luật canh tranh bổ sung cho pháp luật thương mại trong bối cảnh lợi ích từ các quy định tự do thương mại – loại trừ các rào cản thương mại như phân biệt đối xử về thuế, thuế quan, hạn ngạch nhập khẩu

và xuất khẩu v.v – có thể bị triệt tiêu một cách dễ dàng nếu các doanh nghiệp nhà nước hoặc các doanh nghiệp tư nhân được phép thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh tương tự với các hành vi hạn chế cạnh tranh nêu trên Điều này giải thích tại sao pháp luật cạnh tranh hiện diện tại tất cả các nước chấp nhận các cam kết tự do thương mại, ví dụ như các nước thành viên WTO Những nước này bao gồm cả Trung Quốc, đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, cũng như các đối tác quan trọng trong khu vực như Thái Lan, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc và Nhật Bản Ngoài ra, Lào cũng đã ban hành Luật Cạnh tranh vào năm 2004, nhưng đến nay vẫn chưa thực thi, và Campuchia đang cân nhắc ban hành Luật Cạnh tranh trong thời gian sắp tới

Ngày nay, pháp luật cạnh tranh hiện diện ở trên một trăm nước trên toàn thế giới, trong

đó có khoảng sáu mươi nước đang phát triển Pháp luật cạnh tranh được đề cập trong chương trình nghị sự thường kỳ của hai tổ chức quốc tế quan trọng nhất về hợp tác kinh

tế thế giới: Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD: www.unctad.org/competition) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD: www.oecd.org) Hơn nữa, các cơ quan quản lý cạnh tranh trên toàn thế giới đã thiết lập Mạng lưới Cạnh tranh Quốc tế ghi nhận các vấn đề chung về chính sách và thực thi cạnh tranh trên thực tiễn, và thúc đẩy thống nhất hệ thống pháp luật trên toàn thế giới (www.internationalcompetitionnetwork.org)

16 Thuật ngữ “ưu đãi đối tượng” đề cập đến việc giảm giá hoặc các ưu đãi tài chính khác mà một doanh nghiệp cấp cho khách hàng của mình không dựa trên việc xem xét khách quan các cơ sở kinh tế thuần túy như trong trường hợp giảm giá bán dựa trên khối lượng (giảm giá theo khối lượng) Mục đích chính của ưu đãi đối tượng nhằm ngăn cản các đối thủ cạnh tranh tiếp cận với khách hàng bằng cách buộc khách hàng mua toàn bộ nhu cầu sản phẩm cần thiết từ một nhà cung cấp

17 Thuật ngữ “bán kèm” đề cập đến những trường hợp nhà cung cấp buộc bên mua phải mua một sản phẩm khác không liên quan đến sản phẩm đầu tiên Trong trường hợp này, nhà cung cấp lợi dụng khả năng khống chế thị trường của một sản phẩm phổ biến của mình để buộc giao dịch bán sản phẩm này phải kèm theo việc bán các sản phẩm ít phổ biến hơn, nhằm nâng cao thị phần và loại trừ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm “đi kèm”

18 Như được giải thích chi tiết hơn tại Chương III, thuật ngữ “bán giá cướp đoạt” đề cập đến trường hợp nhà cung cấp và bên mua là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp và nhà cung cấp phân phối các sản phẩm đầu vào cho bên mua với mức giá không thể cạnh tranh Nếu như giá bán các sản phẩm đầu vào lớn hơn giá bán sản phẩm của nhà cung cấp, thì bên mua sẽ không có khả năng cạnh tranh, bởi dù bên mua có vận hành hiệu quả thế nào đi chăng nữa, bên mua vẫn không thể đạt được lợi nhuận biên (do đó, hành vi hạn chế cạnh tranh này được gọi là “áp đặt biên”) Một kết luận tương tự cũng được đưa ra khi nhà cung cấp bán sản phẩm thấp hơn chi phí sản xuất bỏ ra Trong trường hợp này, hành vi hạn chế cạnh tranh được gọi là

“bán thấp hơn chi phí”

Trang 11

Những lợi ích từ việc thực thi đúng pháp luật cạnh tranh, được công nhận bởi cả các nước phát triển và đang phát triển là:

• Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

FDI được thừa nhận một cách rộng rãi là sẽ cung cấp các lợi ích cho nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư thông qua việc chuyển giao bí quyết kỹ thuật, tạo ra doanh thu chịu thuế

và cung cấp cho khách hàng khả năng mua các sản phẩm rẻ hơn và/hoặc sản phẩm có chất lượng tốt hơn Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ không sử dụng các nguồn lực của mình tại một nước không có môi trường pháp luật cạnh tranh rõ ràng

• Tạo ra tăng trưởng kinh tế ổn định cho các nước đang phát triển

Như một số nghiên cứu đã chứng minh,19 nền kinh tế của các nước đang phát triển đã thông qua và thực thi Luật Cạnh tranh được xác định là phát triển ổn định Sự phát triển

ổn định này bắt nguồn chủ yếu từ các lợi ích có được do loại trừ các rào cản thương mại của chủ nghĩa bảo hộ (phi điều tiết) và từ khả năng cạnh tranh với các cartel quốc tế Phi điều tiết tạo điều kiện thuận lợi để các nước đang phát triển tập trung vào các ngành kinh

tế mà nước đó hoạt động hiệu quả hơn, loại bỏ các ngành kinh tế kém hiệu quả do thiếu các nguồn lực (lao động có tay nghề, nguyên liệu thô v.v.) và bí quyết kỹ thuật (công nghệ hoặc các bí mật thương mại) Về khả năng cạnh tranh với các cartel quốc tế, một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới20 chỉ ra rằng vào năm 1997 các nước đang phát triển nhập khẩu khối lượng hàng hóa có giá trị 81,1 tỷ đô la Mỹ từ các ngành công nghiệp nơi

mà các doanh nghiệp đã tham gia vào thỏa thuận ấn định giá từ thập niên 1990 Những sản phẩm này chiếm 6,7% tổng khối lượng sản phẩm nhập khẩu và 1,2% GDP của các nước đang phát triển Những số liệu này chỉ ra những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng do các hành vi hạn chế cạnh tranh gây ra tại các nước đang phát triển

• Đẩy mạnh quá trình tư nhân hóa và tự do hóa nền kinh tế

Những nghĩa vụ phát sinh từ pháp luật cạnh tranh, các cam kết toàn cầu hóa và tự do thương mại, đặc biệt là các nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, sẽ khuyến khích chính phủ xóa bỏ các doanh nghiệp độc quyền nhà nước tại một số ngành, lĩnh vực của nền kinh tế để cho phép các doanh nghiệp mới được cạnh tranh Một số doanh nghiệp độc quyền nhà nước có thể được cổ phần hóa vì trong một số ngành kinh tế chiến lược, ví dụ như năng lượng, vận tải, bưu chính, viễn thông, bảo hiểm và ngân hàng, các doanh nghiệp độc quyền sẽ bị phản đối do thiếu quan tâm đến lợi ích công cộng và quy định pháp luật có thể được ban hành để loại bỏ các đặc quyền hạn chế tự do cạnh tranh (tự do hóa)

19 Tham khảo Những ảnh hưởng của các hành vi hạn chế cạnh tranh đối với các nước đang phát triển và

triển vọng phát triển của các nước này, xuất bản bởi UNCTAD năm 2008 tại Geneva

20 Xem Các Cartel Tư nhân Quốc tế và Ảnh hưởng của các Cartel này đến các Nước đang phát triển của

Margaret Levenstein và Valerie Suslow (2001), Tài liệu Cơ bản cho Báo cáo Phát triển Thế giới của Ngân

hàng Thế giới năm 2001, có tại trang mạng: www.worldbank.org/wdr/2001/bkgroundpapers/levenstein.pdf

Trang 12

• Bảo vệ các lợi ích bắt nguồn từ nền kinh tế thị trường mở

Việc thực thi nhất quán pháp luật cạnh tranh là cần thiết để đảm bảo rằng tư nhân hóa và

tự do hóa nền kinh tế sẽ không phải là sự thỏa thiệp các hành vi hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nước có vị trí thống lĩnh thị trường và các doanh nghiệp tư nhân

Để đạt được những lợi ích này, các cơ quan quản lý cạnh tranh phải được trao các công

cụ phù hợp và có toàn quyền sử dụng các công cụ này để thực thi hiệu quả Luật Cạnh tranh Như được phân tích chi tiết hơn tại các phần kế tiếp, Luật Cạnh tranh Việt Nam trao quyền này cho Cục Quản lý Cạnh tranh (VCAD) và Hội đồng Cạnh tranh (VCC), là hai cơ quan có quyền thực thi Luật Cạnh tranh tại Việt Nam

Mục đích của cuốn sổ tay này không nhằm để xác định thời điểm Việt Nam nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Tuy nhiên, phải lưu ý rằng phần lớn các lợi ích bắt nguồn từ việc áp dụng pháp luật cạnh tranh tại các nước phát triển có được từ tự do hóa, đặc biệt từ việc loại bỏ các đặc quyền không cần thiết đối với các ngành kinh tế chủ chốt như năng lượng, vận tải, viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm và các dịch vụ bưu chính (xem phần tự do hóa tại Chương III)

Những đặc điểm chính của Luật Cạnh tranh Việt Nam

• Bối cảnh ban hành Luật Cạnh tranh Việt Nam

Bước sang thế kỷ 21, việc sử dụng Luật Cạnh tranh như một công cụ chính sách đã trở thành xu thế Năm 2000 khi công bố Luật mẫu về cạnh tranh, UNCTAD đã thống kê có

74 nước và vùng lãnh thổ đã có Luật Cạnh tranh Đến năm 2004, khi Việt Nam thông qua Luật Cạnh tranh thì trên thế giới có khoảng 80 nước và vùng lãnh thổ đã có Luật Cạnh tranh Cho đến thời điểm năm 2007, theo thống kê của UNCTAD hiện có 113 nước và vùng lãnh thổ đang thực thi Luật Cạnh tranh của riêng mình.21

Quay lại bối cảnh của Việt Nam, năm 2000 là năm thứ 15 Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, chuyển từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Với những thành công ban đầu của công cuộc đổi mới, Chiến lược phát triển kinh tế – xã

hội 2001 – 2010 của Việt Nam đã khẳng định “Hình thành đồng bộ và tiếp tục phát triển,

hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh”

Từ chủ trương, định hướng chiến lược này, yêu cầu xây dựng pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền cũng được chỉ rõ trong các văn kiện của Đại hội lần thứ IX của Đảng

Cụ thể là “… Xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế để thị trường hoạt động năng động,

có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh…” và “… Ban hành Luật Cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh phù hợp với những điều kiện thực

tế của Việt Nam…”

21 UNCTAD, Luật mẫu về cạnh tranh (Geneva: 2003)

Trang 13

Từ năm 2000, dự án soạn thảo Luật Cạnh tranh chính thức được khởi động Sau 4 năm chuẩn bị, Luật Cạnh tranh của Việt Nam đã được thông qua vào ngày 9/11/2004 và chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2005

• Một số đặc điểm của Luật Cạnh tranh Việt Nam

Thứ nhất, Luật Cạnh tranh Việt Nam có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm hành vi hạn

chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi can thiệp vào môi trường kinh doanh từ phía cơ quan nhà nước

Vẫn luôn tồn tại cách thức phân loại hành vi cạnh tranh thành hành vi hạn chế cạnh tranh

và hành vi cạnh tranh không lành mạnh Nội hàm của hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ bao gồm cartel, lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền và sáp nhập mua lại với mục tiêu tổng quát là bóp méo môi trường cạnh tranh Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có tính chất gần với các hành vi dân sự hay thương mại hơn Cụ thể, trong Luật Cạnh tranh Việt Nam, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác… Đây là những hành vi có mục tiêu gây thiệt hại đến lợi ích của đối thủ cạnh tranh

cụ thể Do đó, một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được điều chỉnh trong Luật Dân sự hay Luật Thương mại của các nước

Đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, ở khuôn khổ đa phương, văn bản được biết đến nhiều nhất là Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, trong đó Điều 10

bis Công ước này đề cập trực tiếp đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh là “bất kỳ

hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại” Trong khi đó, đối với hành vi hạn chế cạnh tranh ở phạm vi đa

phương, Liên Hợp Quốc đã có Nghị quyết thông qua Bộ Quy tắc đồng thuận đa phương

về kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh.22 Các thảo luận trong khuôn khổ OECD cũng hiểu hành vi cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh

Việc Luật Cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh đồng thời cả hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được coi là một đặc thù do bối cảnh đem lại

Cụ thể, vào năm 2000, khi Việt Nam bắt đầu soạn thảo Luật Cạnh tranh, Việt Nam mới chỉ thực hiện kinh tế thị trường được 15 năm và thời điểm đó cũng là giai đoạn đầu thực hiện nhà nước pháp quyền Hệ thống pháp luật của Việt Nam, đặc biệt là pháp luật kinh

tế xung quanh thời điểm năm 2000 chưa đầy đủ Ngay cả với những luật hiện đang có thì phạm vi điều chỉnh cũng chưa bao quát hết Đây là một trong những lý do mà Luật Cạnh tranh Việt Nam đồng thời điều chỉnh cả hai loại hành vi cạnh tranh

Một đặc thù nữa là Luật Cạnh tranh Việt Nam điều chỉnh không chỉ hành vi của doanh nghiệp mà còn cấm cả hành vi can thiệp vào môi trường kinh doanh từ phía cơ quan nhà nước Có thể nói đây là một đặc thù của các nước có nền kinh tế chuyển đổi Luật chống độc quyền Trung Quốc cũng có quy định này và sau khi luật có hiệu lực, các vụ việc

22 UNCTAD, Bộ Quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc (Geneva: 2000)

Trang 14

doanh nghiệp kiện cơ quan nhà nước là mảng sôi nổi nhất trong thời gian đầu thực thi luật chống độc quyền ở Trung Quốc

Thứ hai, Luật Cạnh tranh đã thành lập mới các thiết chế thực thi Luật lần đầu tiên xuất

hiện tại Việt Nam Đó là Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh Trong đó Hội đồng Cạnh tranh là một thiết chế khá đặc biệt: là một cơ quan hành chính nhưng lại có chức năng “xét xử” độc lập

Hội đồng Cạnh tranh là cơ quan do Chính phủ thành lập, có từ 11 - 15 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại (nay

là Bộ Công Thương) Như vậy, Hội đồng Cạnh tranh là một cơ quan thuộc hệ thống hành pháp và có vị trí độc lập tương đối trong mối quan hệ với Bộ Công Thương

Hội đồng Cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh tranh Nói cách khác, Hội đồng Cạnh tranh của Việt Nam là một cơ quan chuyên “xét xử hành chính” đối với các vụ việc hạn chế cạnh tranh như là một cơ quan tài phán vì có đầy đủ những yếu tố cần thiết sau đây: áp dụng pháp luật để ra phán quyết; thủ tục xử lý mang tính tranh tụng; quyết định của Hội đồng Cạnh tranh chỉ bị xét lại bởi hệ thống toà án

Tuy nhiên, khác với các cơ quan xử lý hành chính hiện có trong bộ máy Nhà nước, Hội đồng Cạnh tranh tổ chức xử lý theo chế độ tập thể chứ không theo chế độ thủ trưởng Cụ thể trong số 11 đến 15 thành viên của Hội đồng cạnh tranh,23 Chủ tịch Hội đồng sẽ lựa chọn ít nhất 5 người để tham gia xử lý một vụ việc cụ thể Hội đồng xử lý này sẽ quyết định vụ việc theo nguyên tắc biểu quyết theo đa số.24

Thứ ba, Luật Cạnh tranh đã kết hợp các quy phạm của pháp luật nội dung và các quy

phạm của pháp luật hình thức Với Luật Cạnh tranh, tố tụng cạnh tranh chính thức ra đời bên cạnh các tố tụng khác như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính

Ở Việt Nam trước khi Luật Cạnh tranh ra đời, chỉ có tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính Tất cả các tố tụng này đều gắn với tòa án Trong hệ thống cơ quan hành chính chỉ có biện pháp xử phạt trên cơ sở biên bản vi phạm mà không có tranh tụng về quyết định của cơ quan hành chính Với sự ra đời của Luật Cạnh tranh, lần đầu tiên có một cơ quan hành chính đã thiết lập cơ chế ra quyết định trên cơ sở tranh tụng Đây là một đặc điểm mang tính đột phá trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ tư, Luật Cạnh tranh quy định chế tài phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cho đến khi có Luật Cạnh tranh, các chế tài hành chính phạt hành vi vi phạm pháp luật chỉ dừng lại ở mức phạt tiền theo số tuyệt đối Cụ thể, sẽ có quy định phạt tiền từ mức này đến mức khác cho hành vi vi phạm Tuy nhiên, khi Luật Cạnh tranh ra đời, lần đầu tiên đã có chế tài phạt tiền theo tỷ lệ phần trăm Cụ thể, Luật Cạnh tranh quy định mức trần tối đa cho việc xử phạt là 10% doanh thu của

23 Điều 53 Luật Cạnh tranh

24 Điều 80 Luật Cạnh tranh

Trang 15

doanh nghiệp vi phạm Đây là một mức phạt khá nặng nếu xét đến mức phạt tiền tối đa trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính chỉ là 500 triệu đồng Tuy nhiên, mức phạt này

sẽ đảm bảo tính răn đe đủ mạnh đối với hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh

Trang 16

CHƯƠNG II CÁC THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

Khi doanh nghiệp thấy rằng không thể tự tài trợ cho nghiên cứu hoặc phát triển một sản phẩm mới của mình, khi doanh nghiệp thấy các lợi ích kinh tế theo quy mô đáng kể khi thực hiện phân chia các chi phí cố định với những doanh nghiệp khác trong cùng lĩnh vực hoạt động, thì các thỏa thuận hướng tới những mục tiêu như vậy có thể đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế

Khi một doanh nghiệp không có khả năng khống chế thị trường để áp đặt các điều kiện cho thị trường, doanh nghiệp đó sẽ cố gắng yêu cầu các đối thủ cạnh tranh của mình cùng hợp tác để có thể áp đặt lên người tiêu dùng các mức giá có lợi cho doanh nghiệp và áp đặt lên các đối tác một mức giá thực chất cao hơn “giá thị trường” Các thỏa thuận này sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến thị trường

Thỏa thuận là một khái niệm rộng nhưng không có ý nghĩa trừ khi các phân tích kinh tế

và kinh nghiệm thực tế phải chỉ ra được thỏa thuận đó là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh,

thỏa thuận khuyến khích cạnh tranh hay thỏa thuận trung tính

Điều đầu tiên là nên phân biệt rõ thỏa thuận ngang và thỏa thuận dọc Thỏa thuận

ngang là thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh và thỏa thuận dọc là thỏa thuận giữa các

doanh nghiệp bổ trợ lẫn nhau

Các thỏa thuận ngang ngay lập tức tạo ra khả năng khống chế thị trường, còn các thỏa thuận dọc không đi kèm với khả năng khống chế thị trường

Điều đó có nghĩa khả năng hạn chế cạnh tranh của các thỏa thuận ngang lớn hơn rất nhiều

so với khả năng hạn chế cạnh tranh của các thỏa thuận dọc

Nhưng “thỏa thuận” có nghĩa chính xác là gì?

Thực tế, một thỏa thuận không chỉ là một hành vi mô tả chính thức bằng văn bản về các điều khoản và điều kiện cho sự hợp tác

Một thỏa thuận có thể là:

y Một thỏa thuận chính thức giữa các doanh nghiệp;

y Một quyết định đưa ra bởi hiệp hội của các doanh nghiệp: thay thế thỏa thuận giữa các doanh nghiệp thành viên của hiệp hội, phù hợp cam kết chung của hiệp hội đó Khi các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình đưa ra quyết định thì quyết định của hiệp hội cũng chính là quyết định của các thành viên của hiệp hội đó; hoặc

Trang 17

y Một cam kết đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia mà không thể hiện bằng văn bản

Để một hành vi hoặc một tập hợp các hành vi cấu thành một thỏa thuận thì điều phải luôn ghi nhớ là khi nào có sự thống nhất về ý chí, khi đó có thỏa thuận Các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh là đã có thỏa thuận giữa họ với nhau

I Các Thỏa thuận ngang

Các thỏa thuận ngang liên quan đến các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một thị trường (sản xuất hoặc phân phối cùng loại hàng hóa và dịch vụ) Các thỏa thuận giữa các doanh nghiệp có thể trực tiếp tăng khả năng khống chế thị trường của các doanh nghiệp này, nghĩa là tăng khả năng của các doanh nghiệp trong việc tính giá sản phẩm, dịch vụ của họ cao hơn mức giá thị trường

A Các thỏa thuận gây hạn chế cạnh tranh nhất (hardcore cartel)

1 Trong số các thỏa thuận ngang hạn chế cạnh tranh, hardcore cartel là những thỏa thuận nguy hiểm nhất cho cạnh tranh

Về cơ bản, hardcore cartel là “một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, hành vi phối hợp giữa các đối thủ cạnh tranh làm hạn chế cạnh tranh như ấn định giá, gian lận thầu, hạn chế sản lượng hoặc hạn ngạch hoặc chia sẻ và phân chia thị trường bằng cách phân bổ khách hàng, nhà cung cấp, lãnh thổ hoặc lĩnh vực thương mại”

"Cartel là ung nhọt của nền kinh tế thị trường mở…; bằng việc hủy hoại cạnh tranh, chúng gây tác hại nghiêm trọng cho các nền kinh tế và người tiêu dùng của chúng ta"

Ông Mario Monti – Cựu Cao ủy Cạnh tranh của EU

Gây ảnh hưởng trực tiếp đến các mức giá, hardcore cartel tác động tiêu cực đến chức năng của thị trường, hủy hoại tính hiệu quả, sự sáng tạo và sự lựa chọn Khi ấn định mức giá cao hơn mức giá thị trường (mức giá của một thị trường cạnh tranh), một cartel đã trực tiếp thu lợi nhuận cho mình từ túi tiền của người tiêu dùng

Hậu quả của việc nâng giá cao hơn này là hoạt động tiêu dùng sẽ bị thu hẹp trừ khi độ co giãn cho các sản phẩm của cartel gần bằng 0 (mua sản phẩm với bất kỳ giá nào) và, trong mọi trường hợp, sản lượng và phúc lợi toàn cầu sẽ bị giảm sút

Kết luận đầu tiên là cuộc chiến chống lại hardcore cartel là ưu tiên hàng đầu của hầu hết các cơ quan quản lý cạnh tranh trên thế giới

Trang 18

2 Hardcore cartel đáng phải chịu những chế tài nặng

y Tại châu Âu, khuynh hướng rõ ràng trong những năm gần đây là gia tăng hình phạt đối với hardcore cartel

y Các khoản phạt cho những vi phạm lớn có thể lên đến 10% doanh thu toàn cầu của tập đoàn

y Tại nhiều nước trong đó có Mỹ, Anh và Ireland một hardcore cartel còn bị coi là phạm tội hình sự và những người chịu trách nhiệm có thể bị phạt tù…

3 Hardcore cartel có thể bị phát hiện ở đâu và khi nào?

Rất nhiều cartel bắt đầu hoạt động trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và tiếp tục hoạt động sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế chấm dứt Các thị trường nhạy cảm cao là những thị trường có rất nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng không phải là nơi duy nhất có các hành vi hạn chế cạnh tranh

● Các thị trường nhạy cảm

¾ Thị trường với rất ít các doanh nghiệp cạnh tranh

¾ Thị trường không năng động/các sản phẩm tương tự

¾ Tồn tại “tổ chức hỗ trợ liên lạc thông tin”

¾ Các hiệp hội thương mại

¾ Minh bạch về sản lượng/giá

● Một số ngành có nhiều hành vi cạnh tranh

Vitamin/phụ gia thực phẩm, các dịch vụ tài chính, bán đấu giá, vận tải hàng không, công nghệ cao là những ngành tồn tại rất nhiều các hành vi hạn chế cạnh tranh

4 Làm sao để bắt được một hardcore cartel?

Vấn đề chính đối với hardcore cartel là, vào hầu hết các thời điểm, chúng hoạt động rất bí mật và rất khó phát hiện

Nếu muốn thành công:

i Cần sử dụng các công cụ điều tra mạnh

ii Nên sử dụng các “chương trình khoan hồng”

Trang 19

Ta có thể nghi ngờ về sự vận hành phù hợp của một thị trường, nhưng những điều có thể thấy trên thị trường như một mức giá cao đột biến hoặc một dấu hiệu bất thường tương tự

về giá hoặc sự hiện diện của duy nhất một doanh nghiệp tại một thị trường địa lý liên quan, là chưa đủ để bắt đầu một cuộc điều tra đầy đủ

Trước khi bắt đầu tiến hành một cuộc điều tra cần thu thập đầy đủ các bằng chứng để hỗ trợ cho nghi vấn ban đầu và những thông tin đó có thể tìm thấy tại rất nhiều nguồn khác nhau, từ các đối thủ cạnh tranh, từ những người có quan hệ gần gũi với doanh nghiệp hoặc thậm chí từ bên trong doanh nghiệp có liên quan

Có thể xảy ra trường hợp vì những lý do cá nhân, như chống đối cá nhân hoặc tranh chấp lao động, một cá nhân có thể trả thù bằng cách tiết lộ cho các cơ quan có thẩm quyền những điều đang diễn ra tại doanh nghiệp của anh ta Tuy nhiên việc này thường hiếm khi xảy ra

Hầu hết các trường hợp, cần thiết phải sử dụng các công cụ điều tra mạnh và công bằng

để tìm kiếm các chứng cứ thích hợp

Để làm được như vậy, cần nâng cao quyền lực của các cơ quan điều tra và trao cho các

cơ quan này các công cụ điều tra mạnh:

¾ Ngoài quyền kiểm tra các cơ sở kinh doanh, các cơ quan này phải có quyền kiểm tra nhà riêng và ô tô cá nhân của của giám đốc và các nhân viên khác (nếu có nghi vấn hợp lý rằng các tài liệu kinh doanh được giữ tại những nơi này)

¾ Những quyền này được trao và thực thi trong phạm vi pháp luật kiểm soát

¾ Quan trọng nhất là các cơ quan quản lý cạnh tranh phải được trao quyền đưa ra các mức phạt nặng và nghiêm khắc hơn cho các đối tượng cung cấp thông tin không chính xác hoặc sai lệch

Nhưng dù có đầy đủ quyền hạn các cơ quan quản lý vẫn khó phát hiện được cartel gây hạn chế cạnh tranh do chúng được che đậy và tổ chức hoàn hảo Do vậy, cần:

¾ Tìm cách có được những thông tin nhạy cảm và trực tiếp nhất từ những người có trách nhiệm của doanh nghiệp đang bị xem xét

¾ Đưa ra ý tưởng hợp lý để những người có trách nhiệm của doanh nghiệp đang bị xem xét đưa ra bằng chứng chống lại chính họ

5 Chương trình khoan hồng hoặc làm sao để có được thông tin nội bộ?

Nước đầu tiên thực hiện các chương trình này là Mỹ mà cụ thể là Bộ Tư pháp Mỹ với tên gọi là chương trình “Ân xá”:

Trang 20

¾ Doanh nghiệp đầu tiên khai nhận có thể được miễn bị phạt/truy tố

¾ Tạo ra sự không an tâm giữa các thành viên của cartel, không ai biết đối tác của mình sẽ làm gì và trong trường hợp có cạnh tranh cá nhân hoặc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thì tình trạng không an tâm có thể tạo ra một

“cuộc đua” đến với cơ quan hành pháp

¾ Chương trình này cho phép giảm mức phạt (khoan hồng) cho các đối tượng đến sau (tại Mỹ, chỉ có chủ thể đến đầu tiên được miễn hoàn toàn trách nhiệm)

¾ Ngay khi tham gia vào quá trình hưởng khoan hồng, doanh nghiệp phải cung cấp các thông tin đến khi cuộc điều tra kết thúc

Chương trình khoan hồng ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới vì được chứng minh là rất hiệu quả và hầu hết các cartel lớn bị bắt trong những năm vừa qua đều do có doanh nghiệp muốn tránh cho giám đốc của mình bị phạt nặng hoặc bị tù giam

EU gần đây đã tạo thêm tính thuyết phục và hấp dẫn cho chương trình “Miễn trừ/Khoan hồng” của mình và kỳ vọng lớn vào hiệu quả của quy định mới

+ Một cartel trong ngành thương mại thép

(Theo quyết định của Hội đồng Cạnh tranh Pháp ngày 16/12/2008)

a Ngành kinh tế và thị trường liên quan

Các sản phẩm được giao dịch (xà, ống, thép cuốn lá, thanh cốt thép, v.v.) là các hàng hóa trung gian được các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp, bao gồm xây dựng, kỹ thuật công trình, sản xuất, gia công kim loại tấm và công nghiệp hàng hải Một lượng lớn khách hàng của ngành thương mại thép là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) (sản xuất khóa, v.v.), các đối tượng này có nhu cầu quá nhỏ

để được cung cấp trực tiếp từ nhà sản xuất, vì thế họ bắt buộc phải mua thông qua các thương nhân

Trang 21

Thị trường xem xét là thị trường phân phối các sản phẩm thép với khối lượng tương đối nhỏ, thị trường dịch vụ và không phải là thị trường sản phẩm Thị trường này khác biệt với thị trường hoạt động của các nhà sản xuất các sản phẩm thép trong cả hai trường hợp, khi họ sản xuất các sản phẩm của mình và cạnh tranh với các nhà sản xuất khác hoặc khi

họ bán trực tiếp các sản phẩm này cho các khách hàng lớn

Trong thị trường phân phối sau, mức cung và cầu đều hướng tới số lượng lớn các sản phẩm thép, người bán (nhà sản xuất) và người mua (người mua số lượng lớn) rất khác với các đối tượng tại thị trường đang xem xét: với phương thức bán trực tiếp, quy mô thị trường có thể là châu Âu hoặc toàn cầu, quá trình giao kết và chậm trễ giao hàng rất khác biệt

Trên thị trường thực tế liên quan, có năm nhà phân phối chính, ba trong số đó chiếm từ 60% đến 75% thị phần cho mỗi nhóm sản phẩm cùng loại

Doanh thu toàn cầu của hoạt động này vào khoảng 1,5 tỷ Euro trong năm 2006

Hầu hết các doanh nghiệp trên thị trường là thành viên của một hiệp hội ngành nghề có nhiệm vụ đại diện và hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh của mình

b Thủ tục bắt đầu như thế nào?

Căn cứ vào các khiếu nại từ khách hàng của các nhóm doanh nghiệp thương mại thép về các nghi vấn trong khi bỏ thầu, Bộ Kinh tế Pháp đã tiến hành điều tra, bắt đầu từ việc yêu cầu cung cấp thông tin vào tháng 5 năm 2004 Kết quả này được chuyển cho Hội đồng Cạnh tranh của Pháp vào tháng 7 năm 2005 Vào tháng 10 năm 2006, một doanh nghiệp trong diện bị điều tra đã xin hưởng khoan hồng và cung cấp các thông tin mới cho cuộc điều tra

● Một cartel tinh vi

Thỏa thuận bất hợp pháp được che đậy dưới vỏ bọc của hiệp hội nghề nghiệp, theo sáng kiến của ba nhà nhà cung cấp chính: PUM/Arcelor (Tập đoàn Arcelor Mittal), KDI (doanh nghiệp con của Tập đoàn German Kloeckner) và Descours & Cabaud (Tập đoàn Thương mại tại Lyons)

Trang 22

Cartel này được tổ chức và điều hành đặc biệt tốt

Trước hết nó dựa trên các thông tin chi tiết và chính xác về tất cả các khách hàng, mức tiêu thụ bình quân của khách hàng cho từng loại sản phẩm thép, cách khách hàng phê chuẩn các đơn đặt hàng của mình (đấu thầu hoặc mua bán trực tiếp với nhà cung cấp) Bảng giá được thỏa thuận thống nhất nhưng có thể được thay đổi cho phù hợp với từng địa phương, có tính đến nhu cầu và điều kiện kinh doanh tại khu vực; mức chiết khấu đưa

ra cũng được xác định cụ thể theo từng nhóm khách hàng

Các đơn đặt hàng quan trọng được phân bổ tập trung hoặc theo khu vực cho thành viên của cartel và bản ghi chép chung về hàng hóa chuyển giao được giữ tại cơ quan điều hành cartel cấp địa phương, vùng và trung ương

Để hệ thống đó hoạt động bình thường, một mạng lưới thu thập thông tin từ khách hàng, tiểu sử của khách hàng và từng vụ chào thầu hoặc các câu hỏi gửi cho nhà cung cấp địa phương đã được thiết lập Các hoạt động này được thực hiện thông qua việc chỉ định các hoa tiêu cho mỗi khu vực trong tổng số 11 khu vực trên toàn lãnh thổ, những hoa tiêu này điều khiển mạng lưới “người cung cấp thông tin”

Rất nhiều các cuộc họp thường kỳ hoặc theo yêu cầu, với các cấp độ khác nhau được tổ chức, từ cấp quốc gia, vùng hoặc địa phương Các cuộc họp tập trung vào các sản phẩm

cụ thể và xem xét từng phân khúc thị trường Các biên bản cuộc họp được lưu hành và việc tuân thủ các quyết định đưa ra được giám sát thường xuyên Chế tài tạm thời buộc ra khỏi cartel được dành cho các doanh nghiệp “phá vỡ” các nguyên tắc thỏa thuận

Khi sự bất bình của khách hàng trở thành mối đe dọa cho cartel và sự tồn tại tuyệt mật của nó, các quy định tại thỏa thuận có thể tạm thời ngừng thực hiện để giảm bớt các phản ứng: trong một thời gian, các doanh nghiệp này khuyến khích và thực hiện một số hành vi cạnh tranh giả tạo

Cơ quan cạnh tranh của Pháp cho rằng các vi phạm này đặc biệt biệt nghiêm trọng, vì chúng không chỉ hủy hoại cạnh tranh về giá thông thường mà còn phân chia khách hàng

và các hợp đồng, do đó đã loại trừ cơ chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp liên quan Thỏa thuận này cũng nhằm mục đích ngăn cản các đối thủ cạnh tranh có được chỗ đứng trên thị trường

Hơn nữa, cartel này kiểm soát một địa bàn thị trường rất rộng lớn (khoảng 70% đến 90% khối lượng giao dịch bán ra của hầu hết các sản phẩm liên quan) Nó cũng là thỏa thuận của các cấp lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp liên quan, những người này hoàn toàn nhận thức được rằng họ đang thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, điều này được chứng minh tại các chỉ dẫn bằng văn bản trong số các tài liệu thu giữ (“không được đề cập đến các từ như thỏa thuận hay cartel”, “không được tiết lộ thông tin về các cuộc họp”, “tránh nói về các cộng sự”, v.v)

Trang 23

d Các chế tài, thiệt hại cho nền kinh tế và lợi ích cho người tiêu dùng

Quan điểm của cơ quan có thẩm quyền của Pháp là nền kinh tế đã phải chịu thiệt hại rất lớn Tổng doanh thu của các hoạt động này vào khoảng 1,5 tỷ Euro vào năm 2006 Thiệt hại trong các năm vừa qua lên đến hàng trăm triệu Euro, tác động đến các doanh nghiệp khác và khách hàng của họ tại thị trường liên quan và cả trong các thị trường thứ cấp Trong các trường hợp như vậy, việc tính giá cao tại điểm đầu của mạng lưới phân phối ít nhất đã chuyển tiếp một phần sang các doanh nghiệp thấp hơn trong mạng lưới phân phối, do đó nâng giá cuối cùng mà người tiêu dùng phải trả

Khi quyết định mức phạt, Hội đồng Cạnh tranh của Pháp đã cho một doanh nghiệp được miễn trừ một phần khoản phạt theo thủ tục khoan hồng

Tổng các khoản phạt áp dụng cho các thành viên của cartel lên đến 575.454.500 Euro Tại phiên điều trần trước Hội đồng Cạnh tranh của Pháp, một số doanh nghiệp bị phạt đã chỉ ra rằng họ sẽ phải đối mặt với khó khăn do khủng hoảng kinh tế vào giai đoạn sáu tháng cuối năm 2008 Hội đồng Cạnh tranh của Pháp đã cân nhắc bối cảnh có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các doanh nghiệp và quyết định nếu các doanh nghiệp có thể chứng minh khó khăn cụ thể khi chi trả các khoản phạt, thì các doanh nghiệp được quyền đề nghị một lịch thanh toán hoặc thời hạn thanh toán với văn phòng

kế toán công chịu trách nhiệm thu các khoản phạt này

+ Một cartel của các nhà sản xuất sáp

(Theo Quyết định của Ủy ban châu Âu ngày 1/10/2008)

a Ngành kinh tế và thị trường liên quan

Sáp (paraffin) được sử dụng trong rất nhiều sản phẩm như nến, giấy sáp, cốc và đĩa sáp, sáp bọc pho mát, dược phẩm, lốp và các phụ tùng ô tô cũng như trong các ngành công nghiệp cao su, chất dính, băng keo và kẹo cao su Thị trường châu Âu có giá trị gần 500 triệu Euro

b Tố tụng bắt đầu như thế nào?

Ủy ban bắt đầu điều tra bằng những cuộc kiểm tra bất ngờ vào tháng 4 năm 2005, ngay khi có đơn xin miễn trừ do Shell đệ trình theo Thông báo Khoan hồng 2002

c Những sự kiện và đánh giá

Từ năm 1992 cho đến năm 2005, các nhà sản xuất sáp và sáp lỏng vận hành một cartel theo đó họ ấn định giá sáp ExxonMobil, MOL, Repsol, Sasol, Shell và Total cũng tham gia phân chia thị trường sản phẩm này và ExxonMobil, Sasol, Shell, RWE và Total cũng

ấn định giá sáp lỏng bán cho khách hàng đầu cuối tại thị trường Đức Các doanh nghiệp này tổ chức các cuộc họp thường kỳ để trao đổi về giá, phân chia thị trường và/hoặc khách hàng và trao đổi các thông tin thương mại nhạy cảm

Trang 24

Tại tập đoàn Shell, cartel này được gọi là “mafia sáp” và tại tập đoàn Sasol, cartel được gọi là “Blauer Salon” (“quán xanh”), sau khi những cuộc họp đầu tiên của cartel này được tổ chức tại một quán bar khách sạn ở Đức Các cuộc họp sau đó diễn ra tại một loạt các khách sạn hàng đầu trên khắp châu Âu, gồm Milan, Vienna, Budapest, Paris, Munich

và Strasbourg

d Chế tài, thiệt hại cho nền kinh tế và lợi ích cho người tiêu dùng

Ủy ban châu Âu đã quyết định tổng tiền phạt là 676.011.400 Euro đối với 9 tập đoàn Shell cũng tham gia vào cartel nhưng không bị phạt do Shell đã tiết lộ sự tồn tại của cartel cho Ủy ban

Cao ủy Cạnh tranh Neelie Kroes cho biết “Hầu như không một hộ gia đình hoặc doanh nghiệp nào tại châu Âu mà không mua những sản phẩm bị chi phối bởi cartel ‘mafia sáp’ này, với những tác động như phải thanh toán cao hơn giá trị sản phẩm, chi phí cao hơn và

vì vậy cartel này gây thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế”

2 Một ví dụ về gian lận thầu cho chương trình cải tạo các trường cấp 2 vùng France

Ile-de-(Theo quyết định của Hội đồng Cạnh tranh Pháp ngày 9/5/2007)

a Ngành kinh tế và thị trường liên quan

Nói chung, trong trường hợp gian lận thầu, thị trường liên quan là thị trường sản phẩm hoặc dịch vụ là đối tượng mời thầu Theo tiêu chuẩn nêu trên, ngành kinh tế trong trường hợp này là ngành xây dựng

Nhưng đối với các giao dịch mua bán công, Luật Cạnh tranh của nhiều nước cho rằng mỗi vụ đấu thầu được xem là một thị trường liên quan “thực chất” để áp dụng Luật Cạnh tranh

Trong trường hợp cụ thể này, cơ quan quản lý cạnh tranh của Pháp cho rằng không chỉ mỗi vụ đấu thầu là thị trường liên quan mà toàn bộ chương trình cải tạo xây dựng, là đối tượng của thỏa thuận chung dẫn đến các gian lận thầu tại từng vụ đấu thầu riêng biệt, cũng là một thị trường liên quan

b Tố tụng đã bắt đầu như thế nào?

Vào năm 1990, các cơ quan công quyền vùng Ile-de France, một vùng rộng lớn xung quanh Paris, đã khởi động một chương trình lớn nhằm cải tạo các công trình trường học vốn đã rất cũ nát vào thời điểm đó Hơn 50 ngôi trường được đưa vào chương trình, được thực hiện trên 5 năm theo ba gói liên tiếp Cơ quan có thẩm quyền tại địa phương đã ký

241 hợp đồng công khai với tổng chi phí khoảng 4 tỷ Euro, là khoản tiền lớn nhất từng được thanh toán bởi cơ quan công quyền cho loại hoạt động đó 88 hợp đồng đối với các công trình công cộng là một phần của chương trình tổng thể được đưa ra điều tra xem xét

Trang 25

Rất nhiều vi phạm đã diễn ra trong suốt quá trình thực hiện chương trình và bắt đầu là một vụ hình sự được tòa hình sự xử lý Tòa án này đã thu thập chứng cứ và kết luận rằng

đã có rất nhiều vi phạm hình sự mà trong số đó có nhiều vi phạm thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh

Sau khi được thông báo thủ tục tố tụng hình sự nêu trên, cơ quan thẩm quyền Pháp đã quyết định tiến hành xử lý vụ việc và yêu cầu tòa hình sự chuyển giao cho cơ quan quản

lý cạnh tranh toàn bộ hồ sơ để cơ quan quản lý cạnh tranh áp dụng Luật Cạnh tranh vào các tình tiết vụ việc mà đã được xem là có bản chất tội phạm

c Những sự kiện và đánh giá

Trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 1996, có 14 doanh nghiệp tham gia vào một thỏa thuận chung nhằm mục đích phân chia 88 hợp đồng công khai với tổng giá trị lên đến 1,5 tỷ Euro Những bằng chứng thu thập được thông qua các cuộc khám xét bất ngờ chỉ ra rằng từ năm 1989, thậm chí là từ trước khi mời thầu gói đầu tiên, các doanh nghiệp đã tập hợp và thống nhất các nguyên tắc phân chia các hợp đồng trong tương lai

Các tài liệu được thu giữ chỉ ra rằng đối với từng gói thầu trong số 7 gói thầu công khai của vùng Ile-de-France, các thành viên của “khối” đã tổ chức các cuộc họp cho từng nhóm hợp đồng, cung cấp đầu mối liên lạc trực tiếp giữa các doanh nghiệp và trao đổi thông tin

Những thành viên tham dự cuộc họp tiến hành phân chia từng gói các hợp đồng cho các nhóm đã xúc tiến thỏa thuận chung và thống nhất về nguyên tắc

Thỏa thuận này được thực hiện trong suốt 7 năm dưới sự bảo hộ của Patrimoine Ingénierie, nhân viên trợ lý của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Cách thức hoạt động không thay đổi trong suốt giai đoạn thực hiện chương trình:

Trước tiên, các doanh nghiệp được lựa chọn trước bởi một hội đồng bí mật trong đó

Patrimoine Ingénierie đóng vai trò điều phối viên trong việc thi hành thỏa thuận phân chia thị trường Thỏa thuận phân chia thị trường cũng thực thi một điều khoản bất thường được hội đồng vùng Ile-de-France ủng hộ và chấp nhận bởi cartel, theo đó cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận 1/3 tổng số việc còn 2/3 tổng số việc còn lại sẽ thuộc về thành viên của các tập đoàn lớn

Thứ hai, theo kế hoạch phân chia đã thỏa thuận, mỗi doanh nghiệp được lựa chọn trước

sẽ chiếm thị phần được phân chia bằng cách tiết lộ cho “các đối thủ cạnh tranh” của mình thị trường của doanh nghiệp được lựa chọn và thông tin về giá của doanh nghiệp đó, hoặc

từ bỏ phần được chia bằng cách cố ý chào giá cao quá mức

Thỏa thuận phân chia thị trường chung vận hành trơn tru do được bảo đảm bởi Patrimoine Ingénierie, người đã cung cấp trước các thông tin cho các doanh nghiệp về

Trang 26

các hoạt động và sau đó bảo đảm rằng các doanh nghiệp được lựa chọn trước sẽ có được thị trường

d Chế tài, thiệt hại cho nền kinh tế và lợi ích cho người tiêu dùng

Trong khoảng thời gian từ năm 1989 đến năm 1996, có 14 doanh nghiệp tham gia vào một thỏa thuận chung nhằm mục đích phân chia 88 hợp đồng công khai với tổng giá trị lên đến 1,5 tỷ Euro

Theo tuyên bố của các doanh nghiệp liên quan, biên lợi nhuận trung bình của ngành xây dựng thường ở mức từ 3% đến 6% nhưng đối với các nhóm hợp đồng được ký kết trong giai đoạn thực hiện chương trình nêu trên, một vài doanh nghiệp thừa nhận đã vượt qua mức lợi nhuận thông thường, biên lợi nhuận thu được thay đổi từ 10% đến 18%

Thậm chí nếu một phần của các khoản phí tăng thêm dùng để tài trợ cho các đảng chính trị, lợi nhuận biên vẫn ở mức rất cao khi so sánh với lợi nhuận biên trung bình

10% của 10 tỷ đã là 1 tỷ!

Tổng mức phạt đưa ra cho 12 doanh nghiệp của cartel là 47,3 triệu Euro

3 Hai ví dụ về phân chia thị trường

+ Một cartel dịch vụ điện thoại di động

(Theo quyết định của Hội đồng Cạnh tranh Pháp ban hành ngày 30/11/2005)

a Ngành kinh tế và thị trường liên quan

Ngành kinh tế được xem xét là ngành dịch vụ điện thoại và thị trường liên quan là thị trường dịch vụ điện thoại di động, phân biệt với thị trường dịch vụ điện thoại cố định: các quy định pháp luật, số lượng các nhà cung cấp, thị phần của các nhà cung cấp, chi phí dịch vụ cao hơn nhiều

Thị trường được xem xét chỉ là thị trường Pháp do có những khác biệt về pháp luật và kỹ thuật giữa mạng của Pháp với mạng của các nước châu Âu khác

Tại thị trường này chỉ có 3 nhà cung cấp Orange, SFR và Bouygues với thị phần tương ứng là 40%, 40% và 20%

b Tố tụng bắt đầu như thế nào?

Do có các khiếu nại thường xuyên trên các phương tiện truyền thông về dịch vụ chuyển vùng điện thoại, Cơ quan cạnh tranh của Pháp đã quyết định theo thẩm quyền đưa ra các yêu cầu cung cấp thông tin vào tháng 8 năm 2001 Vào tháng 2 năm 2002, hiệp hội người tiêu dùng theo đuổi vụ kiện và nộp đơn khiếu nại chính thức về việc tính phí bằng cách

sử dụng các cụm 30 giây sau khi một phút tiêu chuẩn kết thúc Cơ quan có thẩm quyền

Trang 27

của Pháp đã kết hợp hai vụ nêu trên và đưa ra yêu cầu cung cấp thông tin bất ngờ (điều tra bất ngờ) đến 3 doanh nghiệp

Sau đó, một điều rất thú vị đã xảy ra: không có bằng chứng nào thu thập được hỗ trợ cho các nghi ngờ được đưa ra ban đầu nhưng rất nhiều tài liệu thu được đã chỉ ra nhiều hành

vi hạn chế cạnh tranh khác Cơ quan cạnh tranh của Pháp có thẩm quyền đánh giá tất cả các hành vi trên thị trường trong chừng mực các hành vi này diễn ra trên cùng một thị trường liên quan nơi Cơ quan cạnh tranh xem xét lúc đầu

c Những sự kiện và đánh giá

Tất cả các tháng trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2003, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động này đã trao đổi các thông tin chi tiết và bảo mật về các đăng ký thuê bao mới của tháng trước, và số lượng khách hàng chấm dứt thuê bao

Ủy ban cho rằng mặc dù quyết định chia sẻ thông tin của các nhà cung cấp dịch vụ không mang lại gì cho chiến lược giá tương lai của họ, nó vẫn có thể làm giảm cạnh tranh trong thị trường dịch vụ điện thoại di động vì một số lý do sau đây:

+ Thứ nhất, các nhà cung cấp dịch vụ không thể tiếp cận các loại dữ liệu này nếu họ không chia sẻ dữ liệu một cách có hệ thống, theo cách thức mà họ đã bảo mật rất cẩn thận Cơ quan Viễn thông Pháp chịu trách nhiệm điều hành ngành dịch vụ đã không biết được việc nắm giữ các thông tin chi tiết như vậy

+ Thứ hai, biên bản các cuộc họp giữa ban giám đốc của ba nhà cung cấp dịch vụ cho thấy rõ việc mở rộng các chỉ dẫn này là nguồn thông tin rất được mong đợi và được các nhà cung cấp dịch vụ xem xét khi quyết định các chiến lược thương mại

Trong một thị trường khó thâm nhập và chỉ gồm 3 nhà cung cấp dịch vụ, việc chia sẻ những thông tin như vậy sẽ tạo ra mức độ minh bạch rất cao dẫn đến bóp méo cạnh tranh, thông qua việc giảm các yếu tố không chắc chắn về chiến lược của các đối thủ cạnh tranh

và làm giảm tính độc lập thương mại của từng doanh nghiệp Điều này hoàn toàn đúng, như trường hợp của thị trường dịch vụ điện thoại di động kể từ năm 2000, khiến nhịp độ tăng trưởng bị giảm đáng kể

Ngoài ra, Hội đồng đã quan sát thấy việc chia sẻ thông tin giữa các nhà cung cấp dịch vụ

đã giúp họ rất nhiều trong việc điều hành hiệu quả các thỏa thuận mà các nhà cung cấp dịch vụ ký từ năm 2000 trở đi để bảo vệ thị phần tương ứng của họ

Thỏa thuận giữa ba nhà cung cấp dịch vụ (2000-2002) để bình ổn thị phần của các nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở các mục tiêu thống nhất chung

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2002, ba nhà cung cấp dịch vụ tham gia thỏa thuận nhằm bình ổn sự phát triển thị phần tương ứng của các nhà cung cấp dịch vụ

Trang 28

Bằng việc yêu cầu cung cấp thông tin, Hội đồng đã thu thập được một số tài liệu chứng minh về sự tồn tại của thỏa thuận đó Những chứng cứ này được ghi nhận tại các bản viết tay với những tham chiếu rõ ràng về một “thỏa thuận” giữa ba nhà cung cấp dịch vụ,

“bình ổn thị trường” và “Hội nghị I-an-ta (Yalta) về thị phần” Một số chứng cứ cũng được tìm thấy trong các chính sách thương mại của các nhà cung cấp dịch vụ thực hiện trong giai đoạn này, đặc biệt về các chi phí phát triển thuê bao mới và cước phí cuộc gọi Thỏa thuận ngầm này tỏ ra hữu hiệu trong việc duy trì ổn địn thị phần các đăng ký thuê bao mới của ba nhà cung cấp dịch vụ, và tạo điều kiện để ba nhà cung cấp dịch vụ thay đổi chiến lược từ năm 2000 trở đi Cho đến thời điểm đó, các nhà cung cấp dịch vụ di động dựa vào mức tăng trưởng thị phần của mình để phát triển vị trí, chính sách, là những công việc cần sự nỗ lực cao và đầu tư lớn để đưa ra các gói đổi mới Từ năm 2000 trở đi,

sự tăng trưởng nhanh của thị trường chậm lại và cả ba nhà cung cấp dịch vụ đồng thời phê chuẩn các chiến lược nhằm mục đích thống nhất các khách hàng hiện tại của họ thay

vì đầu tư mạnh mẽ cho tăng trưởng thị phần của mình Chiến lược này đi ngược lại lợi ích của người tiêu dùng, rõ ràng dẫn đến sụt giảm doanh số của các nhà cung cấp dịch vụ hoạt động độc lập Sự thông đồng nhằm mục đích tạo thuận lợi hơn cho các nhà cung cấp dịch vụ của cartel nói trên đưa ra chiến lược của mình, vì các nhà cung cấp dịch vụ được bảo đảm rằng họ cùng phê chuẩn một chính sách chung và thị phần của họ sẽ duy trì ổn định

Cuối cùng, Hội đồng Cạnh tranh Pháp đưa ra kết luận rằng ba nhà cung cấp dịch vụ nêu trên vi phạm Luật Cạnh tranh:

9 Do đã chia sẻ thông tin hàng tháng về các đăng ký thuê bao mới và các thuê bao chấm dứt trong giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2003 Khi xem xét bản chất của thị trường (chỉ có ba nhà cung cấp và rào cản gia nhập thị trường cao)

và thực tế là nhu cầu đang giảm đáng kể, những trao đổi thông tin như vậy sẽ bóp méo cạnh tranh bằng việc giảm bớt các yếu tố không chắc chắn trong chiến lược của các doanh nghiệp cạnh tranh và làm giảm tính độc lập thương mại của các doanh nghiệp

9 Do, từ năm 2000, đã ký các thỏa thuận nhằm bảo đảm thị phần tương ứng của mình dựa vào thông tin thường xuyên trao đổi

d Chế tài, thiệt hại kinh tế và lợi ích của người tiêu dùng

Thứ nhất, trong trường hợp này, cả ba doanh nghiệp bị xử phạt rất nặng với tổng khoản

phạt có giá trị 534 triệu Euro cho cả ba nhà cung cấp dịch vụ

Thứ hai, thiệt hại về kinh tế được đánh giá là rất lớn Thiệt hại được tính toán cho

khoảng thời gian 3 năm thực hiện hành vi phân chia thị trường, thời gian 6 đến 7 năm trao đổi thông tin và giá trị của thị trường dịch vụ điện thoại di động xác định cho năm

2000 là 10 tỉ Euro Hội đồng cũng cân nhắc cả tình tiết vào cuối thập niên 1990, điện thoại di động đã trở thành một phần quan trọng trong ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình vào khoảng 2,5% Một phần trăm của thị trường dịch vụ di động trong suốt ba năm

Trang 29

lên đến 500 triệu Euro đã chứng minh mức độ thiệt hại nghiêm trọng đối với lợi ích của người tiêu dùng

+ Cartel tấm thạch cao

(Theo quyết định của Ủy ban châu Âu ngày 27/11/2002)

a Ngành kinh tế và thị trường liên quan

Sản phẩm liên quan trong trường hợp này là tấm thạch cao Đây là loại sản phẩm chế tạo được sử dụng như vật liệu xây dựng đúc sẵn gồm thạch cao vữa kẹp giữa hai tấm bìa hoặc một số vật liệu khác Tấm thạch cao được cắt ra thành rất nhiều kích cỡ, độ dày và thường được sử dụng làm lớp phủ tường, tạo các tấm vách ngăn bên trong tòa nhà, lớp phủ trần và vật liệu tạo trần nhà cho các công trình dân dụng, thương mại và hành chính Tấm thạch cao là sản phẩm được quan tâm trong ngành công nghiệp xây dựng do tính ổn định, bền chắc, dễ lắp đặt, khả năng chịu lửa và giá thành thấp Tấm thạch cao cũng được người tiêu dùng quan tâm Nó được sử dụng rộng rãi trong xây dựng những ngôi nhà hiện đại và nhà tự xây Tấm thạch cao là sản phẩm được biết đến rộng rãi và các doanh nghiệp liên quan là các thương hiệu nổi tiếng tại một số nước

Doanh thu hàng năm tại thị trường Benelux, Pháp, Đức và Vương quốc Anh theo ghi nhận của Quyết định vào khoảng 1.210 triệu ECU (đồng tiền của Liên minh châu Âu trước khi ra đời Euro) vào năm 1997 và năm 1998 cho khối lượng hàng hóa vào khoảng

692 triệu mét vuông vào năm 1997 và khoảng 710 triệu mét vuông vào năm 1998 Các doanh nghiệp cartel đã cùng nhau chiếm gần như toàn bộ doanh số bán hàng tấm thạch cao trên cả bốn thị trường liên quan

b Tố tụng bắt đầu như thế nào?

Trên cơ sở các thông tin nhận được, Ủy ban đã tiến hành các cuộc kiểm tra tại cơ sở một

số doanh nghiệp trong giai đoạn từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 7 năm 1999 phù hợp với Các Quyết định Ủy ban theo Điều 14 của Quy tắc số 17 Tiếp theo các cuộc kiểm tra này, Ủy ban gửi yêu cầu cung cấp thông tin đến một số doanh nghiệp vào tháng 1, tháng

7 và tháng 9 năm 1999 và vào tháng 3 năm 2000

Ngày 18/4/2001, Ủy ban bắt đầu tiến hành các thủ tục điều tra sơ bộ đối với vụ việc và ban hành bản luận tội đối với năm doanh nghiệp, cụ thể: BPB, Knauf, Lafarge, Gyproc và Etex SA

c Sự kiện và đánh giá

BBP, Knauf, Lafarge và Gyproc đã ký kết và tham gia liên tục vào một thỏa thuận chung trái với Điều 81 của Hiệp ước được thể hiện bằng việc tạo lập các thỏa thuận và thực hiện các hành vi phối hợp sau:

Trang 30

Đại diện của BPB và Knauf gặp nhau tại London năm 1992 và trao đổi mong muốn chung là bình ổn thị trường tại Đức, Vương quốc Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ và Luxembourg Đại diện của BPB, Knauf và Lafarge trao đổi thông tin, vào rất nhiều thời điểm, trước khi tăng giá tại thị trường Vương quốc Anh

Khi xét thấy sự phát triển thị trường đặc thù tại Đức, các đại diện của BPB, Knauf, Lafarge và Gyproc đã gặp mặt tại Versailles vào năm 1996, tại Brussels vào năm 1997 và tại Hague vào năm 1998 để phân chia thị trường Đức

Đại diện của BPB, Knauf, Lafarge và Gyproc đã trao đổi thông tin vào rất nhiều thời điểm và phối hợp trong việc áp mức tăng giá tại thị trường Đức trong giai đoạn từ năm

1996 đến năm 1998

Các doanh nghiệp tham gia đã thực hiện các vi phạm từ ngày 31/3/1992 đến ngày 25/11/1998

d Chế tài, thiệt hại cho nền kinh tế và lợi ích của người tiêu dùng

Ủy ban đánh giá các vi phạm này là rất nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến thị trường tấm thạch cao và thực tế hành vi vi phạm bao trùm bốn thị trường chính tại châu Âu

Ủy ban trước đó đã ban hành các biện pháp nhằm áp các khoản phạt lên BPB De Eendracht NV (một thành viên của tập đoàn BPB) do đã tham gia vào thỏa thuận bất hợp pháp trong ngành bìa các tông và doanh nghiệp Lafarge SA (được biết đến như là Lafarge Coppée SA) do đã tham gia một thoả thuận bất hợp pháp trong ngành xi măng

Những dữ liệu thực tế được nêu trong Quyết định chỉ ra rằng BPB và Lafarge chủ động tiếp tục tham gia vào cartel trong ngành kinh doanh tấm thạch cao sau khi các Quyết định nêu trên được thông báo cho họ Điều này có nghĩa là các chế tài áp dụng trong vụ việc đầu tiên không khiến các doanh nghiệp này điều chỉnh hành vi của họ và do đó tạo thành tình tiết tăng nặng

4 Ví dụ về các hạn chế sản lượng và hạn ngạch

Ví dụ tốt nhất về cartel hạn chế sản lượng là cartel trong ngành dầu khí!

Đáng tiếc là cartel OPEC không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh

Các nước, là thành viên của cartel, không phải các chủ thể kinh doanh, do đó, không

“thuộc đối tượng điều chỉnh” của Luật Cạnh tranh

Các nước là các chủ thể có thẩm quyền, vì lợi ích của nền kinh tế và người tiêu dùng, quy định khung pháp lý cho hoạt động phát triển kinh tế Một nước có thể quyết định ban hành các nguyên tắc của nền kinh tế định hướng thị trường và quyết định các hành vi của các doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh Các nước cũng có thể không

Trang 31

đưa các hoạt động được xem là “lợi ích quốc gia” vào phạm vi của nền kinh tế thị trường

và không bắt buộc các hoạt động này phụ thuộc vào các nguyên tắc của thị trường tự do

Ngoài câu hỏi gây tranh cãi về tính pháp lý của việc thực hiện các hành vi như vậy từ một

số nước OPEC, sẽ không được thảo luận tại đây, nhiều điều được gợi mở khi đánh giá trường hợp thỏa thuận OPEC nếu coi thỏa thuận OPEC như là thỏa thuận giữa các tổ chức kinh doanh để minh họa cho những quan điểm xung đột khi điều hòa các lợi ích quốc gia và lợi ích của người tiêu dùng

Có một lưu ý thú vị là có một án lệ cụ thể của châu Âu quy định khi một nước thành viên hành xử như một tổ chức kinh doanh, nước đó sẽ không được hưởng quyền miễn trừ như đối với các hành động chủ quyền quốc gia: nước đó sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Cạnh tranh bất kể nguyên tắc áp dụng cho các quốc gia là gì…

Mặt khác, phải công nhận rằng Liên minh châu Âu đã tổ chức thị trường của một số sản phẩm nông nghiệp để chúng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc thị trường tự do và các quy định của Luật Cạnh tranh

Nhưng vấn đề “hạn chế sản lượng” không chỉ là vấn đề của các quốc gia Vụ việc sau đây

đề cập đến một cartel được thành lập bởi các doanh nghiệp điện lực tại Vương quốc Anh sau khi ngành này tự do hóa vào thập niên 1990

Để điều hành việc cung cấp điện cho mạng lưới toàn cầu, một nhóm các doanh nghiệp điện đã tập trung hoạt động và các lệnh chào hàng các nhà máy điện theo thứ tự phụ thuộc vào mức độ nhu cầu khác nhau

Vì giá điện trong suốt giai đoạn này được xác định là giá cao nhất, nghĩa là giá điện sản xuất bởi các nhà máy điện kém hiệu quả được đưa ra để cung cấp cho mạng lưới, các nhà sản xuất của Anh đã dàn xếp để các nhà máy điện hiệu quả không trả lời các yêu cầu cung cấp điện (lấy lý do cải tạo lại, bảo trì, vấn đề kỹ thuật ) và để cho các doanh nghiệp kém hiệu quả tham gia và đẩy giá cả leo thang

Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp điện lực là cần thiết nhưng khả năng dẫn đến việc hợp tác hạn chế cạnh tranh là rất cao và việc cơ quan quản lý cạnh tranh giám sát hoạt động của các nhà cung cấp dịch vụ phải thường xuyên và hợp lý để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng

Ngày đăng: 06/04/2013, 09:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w