1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đồ án kiến trúc cảnh quan di tích chùa Ngòi

40 939 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 6,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó cũng được lý giải trên cơ sở sáu căn đều diệu dụng lụccăn diệu dụng, tức là bất cứ một căn nào trong sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,ý cũng có thể thay thế tác dụng của các căn

Trang 1

I THÔNG TIN DI TÍCH

1 TấN DI TÍCH

Chựa Ngòi, tên hiệu là Chựa Phỳc Khờ Không biết rõ ngôi chùa do ai đặttên, chỉ biểt rằng nhân dân trong vùng đã quen với cái tên gọi này từ bao đờinày Phỳc Khờ nghĩa là nguồn hạnh phúc, thái bình, thịnh vượng Có lẽ tên gọicủa ngôi chùa cũng là sự mong muốn của người dân làng La Khê nói riêng vàtũan thể nhân dân thành phố Hà Đông- Hà Nội nói chung Hiện nay, chùa thuộcthôn La Khê, phường La Khê, thành phố Hà Đông, Hà Nội

Chựa cách trung tâm thành phố Hà Nội 11km dọc theo quốc lộ số 6 về phíaTây , qua cầu Ngòi rẽ phải là đến

2 QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ CÁC ĐỢT TRÙNG TU

Chựa Ngòi vốn có từ lâu đời, Chùa được hội Linh Cảm- hội của NhiếpChính Ỷ Lan đời Lý xây dựng, theo như 1 số thông tin thỡ chựa có thể xõy trờnnền móng cũ nhưng chính xác thì người ta xõy chựa vào trước thế kỉ 17

Hiện nay, chựa đó được trùng tu lại nhưng vẫn giữ được nét đẹp, cổ kính,trang nghiêm của chùa

Đây là một đọan trích trong văn bản về việc xây dựng và tu sửa chùa ( nguồn tư liệu này đuợc cung cấp bởi chính chủ trì và các sư thầy trong chùa):

Chựa Ngòi là ngôi chùa cổ được xây dựng từ đời Lý Trải hơn mấy trăm năm, chùa vẫn đứng ở làng La Khờ ãxó Văn Khê Người người cầu xin đều rất linh ứng Nhưng bởi năm dài dấu cũ, mưa dập giú vựi, khiến cảnh chùa mấy độ tang thương Để có thể chấn hưng, khôi phục được cảnh ấy, ắt phải nhờ bậc đại

từ bi xuất thế liền dùng của nhà, tìm thợ giỏi, vung rỡu giú, mỳa bỳa trăng, dựng lên hai toà thiêu hương, tiền đường Cột rường chạm trổ, ngói lợp long lân Những chỗ hỏng dột khỏc thỡ tu bổ thờn Đến tháng 2 năm đó, công việc

Trang 2

hoàn tất Đến lúc này, ngọc biếc tụ thành một lâu đài, bạc vàng ánh khắp ba ngàn thế giới Cột chạm kốo tụ lung linh nét vẻ; tuệ nhật từ vân rực rỡ huy hoàng Hình thế chùa vươn cao, quy mô chùa rộng lớn, đẹp hơn cảnh xưa rất nhiều Thế rồi chọn ngày lành, mời hòa thượng Đạo Long tới làm lễ khỏnh tỏn Đại pháp hội viên tròn, đại công đức theo đủ Công đức của Phật đã giác ngộ lòng người, khiến cho bậc quyền quý hâm mộ sẽ nhõn đú mà ngưỡng vọng ân đức, còn dân thường kớnh tớn sẽ nhõn đú mà đốt hương cầu khấn, cùng tán tụng phúc đức của hội chủ mênh mông như hà hải, cùng ca vịnh công lao hội chủ dồi dào như mưa móc Công ơn ấy sẽ được thập phương biết đến, sẽ được chư Phật chứng minh Tuổi thọ dài lâu, năm năm được hưởng phúc dày; lá ngọc cành vàng đời đời cháu con đông đúc Không chỉ ban cho bản thân người đó, cho gia đình, con cháu mà là cho cả làng xoỏm gần xa đều được sống trong cảnh bình yên Thật tốt đẹp thay! Bèn khắc vào đá để lưu truyền mãi mãi.

Đến giữa thế kỷ 17 chùa được trùng tu lại, đặc biệt từ khi có những quyluật bảo tồn di sản văn hóa, các nghị định về Tôn Giáo của Chính Phủ, các mụctiêu chống xuống cấp và tu sửa các Di Sản Văn Hóa, Chùa Ngòi cũng nầm trong

hệ thống di sản văn hóa cần được bảo vệ cả về vật thể và phi vật thể Trải quanăm tháng chiến tranh tàn phá, xong Chùa cũng còn lại nhiều di tích lịch sử cógiá trị tâm linh nh tượng A Di Đà, 3 pho tượng Tam Thế

Năm Bính Tý (1636) hưng công làm mới lại hai toà thiêu hương, tiền đường Đến năm Kỷ Mão (1639) lại làm lại tòa hậu đường, vật liệt được dùng toàn bằng gỗ tốt

Hội hủ hưng công:

Tín Hoạn người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, xứ Nghệ An Năm 1989 cùng với chùa Diên Khánh và Đình La Khê, chùa Ngòi được bộ văn hóa công nhận và được xếp hạng là di tích lịch sử.

Năm 1989 xây dựng ngôI Tam Quan

Năm 1990 ngôi Tổ Đường được khởi công xây dựng

Trang 3

Năm 1992 ngôi Điện Mẫu được xây dựng lần thứ nhất

Năm 1996 tu sửa hoành máI ở hậu cung và 4 cột chính ở Ngôi Tam Bảo.

Đến năm 2001 để cho hợp với cảnh quan khuôn viên di tích thì ngôi Tổ Đường được xây dựng lại lần 2 cho đến nay

Năm 2001 lại 1 lần nữa Ngôi Tam Quan lại được xây dựng lại.

Năm 2006 Ngôi Điện Mẫu được xây dựng lại lần thứ 2 cho đến bây giê.

Trang 4

II.KIẾN TRÚC

1 THẾ ĐẤT VÀ CẢNH QUAN

Toàn bộ diện tích khuôn viên Chùa là 2000m2 Hệ thống chùa được quyhoạch kết cấu một cách khoa học, mỹ quan Chùa được kết cấu chặt chẽ theohình chữ U đựợc tạo bởi ngôi Tam Bảo, ngôi Tố Đường và ngôi nhà thờ ĐiệnMẫu Chùa được xây dựng trên một khuôn viên rộng lớn, nằm hướng ra dòngsông Nhuệ, với rất nhiều cây xanh , tạo nên quang cảnh thúang đóng, êm đềmcho ngôi chùa mà bất cứ ai đã từng đặt chân đến đây đều cảm nhận được điều

đó

Tam quan chùa: tam quan chùa cũng chính là gác chuông với kiến trúc

hai tầng tỏm mỏi với đầu đao cong vút; tầng trên có lan can vây bọc, các bộphận bằng gỗ được chạm trổ rồng, phượng, hoa lá, chim thú, bên trong treo quảchuông lớn đúc năm 1801 Ở mọi thời đại, chuông được dùng để thức tỉnh vàgọi Tiếng chuông ngõn lờn rồi tắt lụi, có thể nghe được mà không bắt được Sự

vô thường của thế giới hiện hữu là một tư tưởng của Phật giáo Mọi thứ đều sẽtàn lụi, chúng hiện hữu trong cảm giác người quan sát nhưng lại không cóthực ) , đây là nơi chuẩn bị tiếp khách , các đồ cho ngày lễ hội Bởi vậy 2 giannày có chựa có và cú chựa khụng

.Bên trái Tam Quan là khu Lăng Tháp Tổ với 5 ngọn tháp thờ các vị Tổ Sư

Vì bị xuống cấp về mặt kiến trúc và diện tích quá eo hẹp nên đầu năm 2008 ngôiTam Bảo được sửa chữa lại Tổng diện tích ngôi Tam Bảo là 300m, gồm có 5 gian

và 2 dĩ Xung quanh chùa có mái hiên chạy quanh Chùa đựoc thiết kế theo kiến trúckiểu mới mà không mất đI vẻ cổ kính, trang nghiêm vốn có

Qua Tam Quan là một sân gạch rộng có hai hàng cây xanh hai bên làm chokhuôn viên chùa thân thiện hơn Đõy quả là nơi dừng chân lý tuởng với gốc cây

và ghế đá được bài trí rất đẹp Cả hai bên đều có vườn, vườn bên trái nhìn rađường thờ lăng tháp Tổ có thờ 5 ngọn tháp ( tháp này chứa xá lợi của các vị tổ

sư trước đây đã từng ở chùa)

3.TRANG TRÍ NỘI NGOẠI THẤT

Trang 5

MÁI BÁI ĐƯỜNG

Trên bờ nóc được lát bằng gạch hộp ,trổ hoa tranh, bên trong rỗng đểtrọng lượng mái không bị nặng 2 bên đầu bờ nóc cú 2 đầu rồng đăng đối nhau ,đõy chớnh là con trông

Trên bờ nóc phải có con trông , con xô , đầu đao, 3 điểm nối giao nhaubằng những hình tượng con vật như Rồng , Phượng

Mái được lợp ngói , gạch ngói ở đây có đầu nhô lên để rẽ nước tạo nênnhững đường nét rất đặc trưng

Thềm tòa tiền đường cú đụi rồng đá tạo vào thời Trần Rồng ở đây

mồm há to và có sừng ,cú nét gần gũi với rồng ở thời Lý Tuy nhiên , phải đếngiữa thế kỷ 13, sau kháng chiến chống Nguyờn Mụng thắng lợi , hình tượngrồng mới được thêm sừng và thêm tai, đây là điều mà trước đó thời Lý không hề

có Đây cũng chính là sự cách tân của hình tượng con rồng làm tăng thêm sứcmới mẻ, hấp dẫn hơn

Khúc uốn của con rồng ở đây không được mềm mại và mang nhiều tínhtrang trí như thời Lý mà cứng cáp hơn ,mang tính con vật , có xác thịt hơn và cótính hiện thực hơn Như vậy, càng về sau này, ta càng tiếp thu những gì nghiêng

về đời thực hơn

GIAN BÁI ĐƯỜNG

Kiến trúc ở đây là lối kiến trúc 4 hàng chân.

Trồng rường được chạm trổ nhiều chi tiết Vỡ chùa được xâu dựng vào

thế kỷ 17 nên những hình ảnh được chạm khắc mang tính dân gian , các hoavăn trang trí là ở thời Lê Sư nên hình ảnh mây lửa có tính mềm mại hơn, dcchạm rồng , lân

Chủ yếu là chạm nổi , chạm lộng, tuân theo đường nét của hình rồng ,Những hình ảnh chạm khắc như tiên nữ cưỡi rồng, chàng trai cưỡi hổ đánh rồngthể hiện sự kết hợp hài hòa giữa con người và những con vật trong dân gian

Trang 6

Nhà thờ Mẫu đối diện với Ngôi Tam Bảo và được bài trí rất linh thiêng vàhuyền ảo Bên trong có thờ một số pho tượng chính.

Phía trong cùng là dãy nhà tổ Tại đây treo câu đối Trên bệ thờ là tượngcác vị sư từng trụ trì ở chùa

Trong chùa Ngòi người ta còn phát hiện rất nhiều gạch vồ bằng đất nung

cỡ lớn, có niên đại từ thời Trần- Mạc- Lê sơ Đặc biệt, lần đầu tiên tìm thấy

những viên gạch có trang trí chữ Vạn, Chữ Vạn là biểu tượng của nhà Phật có lẽ

đây là dấu vết của thời kỳ đạo Phật được các triều đại phong kiến VN chọn làmquốc giáo Chùa Đậu vào các thời Lý- Trần đều được các vua chọn là nơi về làm

lễ C ó thể vì thế mà những viên gạch này được đóng dấu chữ Vạn như đóng dấuquốc hiệu?

Những viên gạch cổ cỡ lớn (20x40cm) xếp chồng chất ở chung quanh hốkhai quật Xám đanh như mầu đá, bề mặt những viên gạch được trang trí hìnhhoa cúc, hoa sen, hình linh thỳ, hỡnh chim rất sắc nét Chúng giống như nhữngbức phù điêu độc lập Nét vẽ tả thực tinh tế Đáng chú ý là những con báo (hoặcmốo) cú cỏi đuụi dài và lượn sóng Có ý kiến cho rằng đó là những con giáp(nhưng không đủ bộ 12 con

Căn cứ vào hoa văn có thể khẳng định hầu hết chúng thuộc thời Mạc (TK15), được làm bằng đất sét và được nung bằng rơm rạ Tuy nhiên có lẫn rấtnhiều gạch ở các thời kỳ khác nhau Gạch vồ thời Lê sơ có kích cỡ tương tựnhưng không có hoa văn Đặc biệt có khoảng chục viên gạch đỏ, cỡ nhỏ hơnnhiều khả năng là từ thời Trần còn sót lại Qua 7-8 thế kỷ, sắc gạch vẫn nổi lên

đỏ au, trên đó có cả hình rồng trang trí- một chi tiết thông thường chỉ gặp ởnhững công trình mang tính hoàng gia thôi

Trang 7

Kết cấu bộ khung gỗ

Trang 8

Biểu tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ tát thường được dângian hiểu là: cú nghỡn mắt, nghìn tay để nhìn thấu nỗi khổ của chúng sinh và ratay cứu giúp họ Điều đó cũng được lý giải trên cơ sở sáu căn đều diệu dụng (lụccăn diệu dụng), tức là bất cứ một căn nào trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,ý) cũng có thể thay thế tác dụng của các căn còn lại, thế nên không chỉ dùng mắtquán âm thanh mà còn có thể quán sắc, quán hương, quán vị, quỏn xỳc, quỏnphỏp.

Ở Việt Nam, hình tượng này có từ thời Lý, Trần và đạt tới đỉnh cao nghệthuật vào thế kỷ 17 với tượng Phật Quan Âm ở chùa Bút Tháp Theo kinh điểncủa phái Mật tông, trong quá khứ xa xôi, Quan Âm được nghe Thiên quanVướng Tĩnh Chú Như Lai giảng về Đại Bi Tâm Đà la Ni, sau đó đã xuất hiệntrên người nghìn mắt để thấy khắp thế gian và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh.Còn ở Việt Nam, câu truyện cổ tích "Bà chúa Ba" hay "Sự tích Phật Bà nghìnmắt nghìn tay chùa Hương Tích" đã giải thích cho lý do xuất hiện hình tượngQuan Âm này

Trang 9

tỏt Quán Thế Âm không có trong lịch sử thế giới này Ngài là vị tỏt hầu cạnh đức Phật A Di Đà ở thế giới Cực-lạc phương tây Có chỗ nói Ngàikhông cố định ở thế giới nào, tùy chỳng sanh ở đâu đau khổ thì Ngài thị hiệnđến cứu độ Quán Thế Âm là xem xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh ở đời.

Bồ-Vì thế, Ngài là hiện thân của từ bi Chỗ nào cú chỳng sanh khổ đau là có Ngàihiện thân đến đấy Ngài hằng tùy loại chúng sanh hóa thân độ họ Có nhiều lầnNgài hóa thân người nữ độ đời, nên người ta thường gọi Ngài là Phật Bà

Nghiên cứu về hình tượng Ngài, chúng ta thấy có lắm tượng Nhữngtượng y cứ theo giả sử, như: Quán Âm Hài Nhi (thể theo cốt truyện Quán ÂmThị Kính), Quán Âm Nam Hải, Quán Âm Tử Trúc Những tượng y cứ theo cáckinh phái Mật tông, như: Quán Âm Mã Đầu, Quán Âm Thiên Thủ Thiờn Nhón,Quỏn Âm Cữu Diện Có một pho tượng phổ thông nhất là Quán Âm thanh tịnhbình thùy dương liễu Tượng này Ngài Trí Khải hằng tán dương, chúng ta cốgắng tìm hiểu

Tượng Ngài hình người nữ đứng trên hoa sen, tay mặt cầm cành dương,tay trái cầm bình thanh tịnh, trong bình đựng nước cam lồ Chúng ta hằng lạymười hai câu nguyện sau khi tụng phẩm Phổ Mụn, cú cõu “Nam mô thanh tịnhbình thùy dương liễu, Quán Âm Như Lai cam lồ sỏi tõm nguyện” Câu nguyện

Trang 10

này đã diễn tả đúng hình tượng Ngài Giờ đây, chúng ta tìm hiểu chi tiết quahình tượng đó.

Tại sao Bồ-tỏt Quán Thế Âm lại là người nữ ? Theo kinh Di Đà nói:người sanh về cõi Cực-lạc tuy chưa chứng quả Thánh vẫn không có tướng nam,tướng nữ Kinh A-hàm nói: người nữ có năm chướng không thể thành Phật Thế mà, Bồ-tỏt Quán Thế Âm lại hiện thân người nữ ?

Bồ-tỏt Quán Thế Âm hiện thân của đức từ bi Muốn nói lên tình thươngchân thành tha thiết nhất trong con người, không tình thương nào qua tình mẹthương con Mẹ đối với con là tình thương chân thành thâm thúy bao la, khó lấycái gì có thể hình dung được Cho nên, đức Quán Thế Âm hiện thân là mộtngười mẹ hiền của nhân loại, hay của tất cả chúng sanh Người mẹ dầu bận công

ăn việc làm gì, một khi nghe tiếng con kêu khóc, mẹ buông bỏ tất cả vội vàngchạy lại vỗ về con Đức Quán Thế Âm cũng thế, dù bận việc giáo hóa ở đâu,một khi nghe tiếng kêu thương của chúng sanh, Ngài liền hiện thân đến an ủi Vìthế, gọi Ngài là Bồ-tỏt Quán Thế Âm Người mẹ hiền của tất cả chúng sanh,người mẹ lúc nào cũng lắng nghe tiếng nấc nở từ cõi lòng của đàn con dại đangđắm chìm trong bể khổ mênh mông, để đến xoa diệu, cứu thoát khiến mọi khổnão đều được tiêu tan

Tay mặt Ngài cầm cành dương liễu là tượng trưng cho đức nhẫn nhục.Tay trái cầm bình thanh tịnh đựng nước cam lồ là tượng trưng cho tâm từ bi Chỉ

có cành dương liễu mới có khả năng mang nước cam lồ rưới mỏt chỳng sanh

Dương liễu là loại cây vừa dẻo vừa mềm, gặp gió mạnh thì uốn mình theochiều giú, giú dừng là trở về vị trí cũ Nếu cứng như cành cây lim, cõy gừ thỡgiú không thể lay, một khi bị gió lay là phải gãy Nếu yếu như cành liễu thì chỉbuông rũ theo chiều gió Cứng quá, mếm quá đều không có sức chịu đựng lâudài Cành dương nhờ sức mềm dẻo nờn khộo tùy duyờn mà không mất vị trí.Tức là tuy chìu theo cảnh mà không bị cảnh chi phối Vì thế, cành dương đượctượng trưng cho đức nhẫn nhục Nhẫn nhục không có nghĩa ai làm sao cũng

Trang 11

được, ai bảo gì cũng nghe Chính bản chất của nó là khộo tùy thuận người, đểhướng dẫn họ, theo đường lối hay lập trường của mỡnh Tùy thuận mà không bị

họ chi phối, ngược lại chi phối được họ Người nhẫn nhục mới trông qua như rấtyếu hèn, kỳ thật họ có sức mạnh phi thường, đã tự chiến thắng được tình cảm,được phản ứng của bản năng Họ đã vượt ra ngoài phạm trù con người phàm tục,nếu lấy con mắt phàm tục nhìn họ thì không thể nào hiểu nổi Người chửi tagiận, người đánh ta đở, đó là bản năng tự vệ của tất cả mọi người Bị chửi màkhông giận, bị đánh mà không đở, ấy mới là việc khó làm, phi bậc thánh giả khóthể làm được Hằng ngày chúng ta sống theo tình cảm, theo bản năng, thấynhững phản ứng như vậy cho là phải lẽ, hợp lý Nếu thấy người bị chửi màkhông giận , chúng ta liền đâm ra bực tức, khi dể họ, cho là kẻ hèn yếu nhỏtnhúa Đõu ngờ, những kẻ ấy đã đứng trên đỉnh chúng ta, mà ở dưới này chúng tavẫn tự cao tự đại

Nước cam lồ là thứ nước rất trong, mát và thơm ngọt, do hứng ngoàisương mà được Chữ cam là ngọt Chữ lồ đọc trại chữ lộ, tức là sương hay móc.Khi người ta bị nóng bức khô khan, nếu được một giọt nước cam lồ thấm vào cổ

sẽ nghe ngọt ngào mát rượi Nước cam lồ tượng trưng cho lòng từ bi của Bồ-tỏt.Khi chúng sanh bị lửa phiền não thiêu đốt, thiết tha cầu cứu nơi Bồ-tỏt, Ngài sẽmang nước từ bi đến dập tắt và đem lại cho người sự mát mẻ an lành Chúng tađang sống trong nhà lửa tam giới, ngọn lửa phiền não của chúng ta nổi cháy rầnrần, nếu không có giọt nước từ bi của Bồ-tỏt, chắc hẳn tất cả chúng ta đều phảichết thiêu trong lò phiền não

Từ bi là lòng thương không vụ lợi, không phân biệt thân sơ, không thấy

có quý tiện, lòng thương chân thật bình đẳng Sự quý báu cao cả của nó, chỉ cónước cam lồ mới đủ tính cách tượng trưng Nước cam lồ chẳng những cứu ngườiqua cơn khát cháy cổ, mà còn đem lại cho người mùi thơm ngon ngọt dịu Từ bichẳng những cứu người trong cơn nguy khốn, mà còn đem lại cho người nguồn

an lạc vô biên Bởi tính chất quý báu vô thượng của nước cam lồ như vậy, nên

Trang 12

phải đựng nó trong một cái bình thanh tịnh Vì của quý bao giờ cũng đựng trongmón đồ quý.

Bình thanh tịnh là tượng trưng ba nghiệp trong sạch Chúng ta ôm ấp lòng

từ bi muốn ra cứu độ chúng sanh, nếu thân, miệng, ý chưa trong sạch thỡ khúmong thực hiện lòng từ bi Nếu cố gắng thực hiện, một thời gian cũng lạc vềdanh hay vì lợi Ví như người có khoa y dược, sẵn sàng chữa trị bệnh khổ chongười, khi những con bệnh được lành, đương nhiên phải có sự đền đáp hay khenngợi trên báo chí, nếu người ấy ý chưa trong sạch dễ nóng lòng danh lợi Do đó,dần dần làm hoen ố lòng từ bi Cho nên, muốn thực hiện lòng từ bi, điều kiệntiên quyết là ba nghiệp phải thanh tịnh

Muốn mang nước cam lồ ra rưới mỏt chỳng sanh, phải dùng cành dươnglàm phương tiện Bởi vì chúng sanh trong đời này nghiệp chướng quỏ sõu dày, ítkhi thấy lẽ phải Họ chỉ sống theo bản ngã, sống vì dục vọng của họ, khó ai làmcho họ hài lòng Dù người ấy sẵn sàng tiếp giúp họ trong khi khốn đốn, mà họvẫn không biết ơn, đôi khi còn phản bội Người sẵn lòng từ bi ra tế độ chúngsanh, nếu thiếu đức tánh nhẫn nhục thì sự tế độ khó được viên mãn Không phải

ai ai cũng sẵn sàng đưa tay cho ta dìu ra khỏi con đường nguy hiểm hết đõu, dự

họ là những kẻ mự Cú kẻ tin đưa tay cho ta dìu đi, song giữa đường vấp phảinhững hòn đá nhỏ, hay chạm những gốc cây, là họ sừng sộ với ta Có kẻ dìu điđược một đoạn, họ cho là nhọc nhằn khổ sở, không muốn đi nữa, rồi kiếmchuyện làm khó dễ ta Có kẻ không ưng đưa tay cho ta dìu, lại còn mắng nhiếc

ta thậm tệ Ở những trường hợp đú, dự ta có thiện chí muốn cứu giúp họ thếmấy, nếu thiếu đức nhẫn nhục, thử hỏi ta có thể làm được việc gì ? Bởi thế,người học đạo từ bi trước phải tập đức nhẫn nhục khi nhẫn nhục được thuần rồimới ra thực hiện từ bi Chưa tập được đức nhẫn nhục đã vội ra thực hành từ bi,chẳng những không làm được hạnh từ bi, mà lại phát sanh sân hận là khác Chonên, phải có cành dương rồi, sau mới nhúng nước cam lồ rưới mỏt chỳng sanh

THÍCH CA SƠ SINH

Trang 13

Truyền thuyờt rằng khi sinh ra , tũan thõn ngài phát sáng như vầng hàoquang và đó cú 9 con rồng phun nước tắm, có hai vị thiên đế là Đế Thích vàPhạm Thiên đến chào mừng, ngài đi 7 bước trên 7 bông hoa sen, tay phải Ngàichỉ lên trời, tay trái Ngài chỉ thẳng xuống đất mà nói ngay được rằng “Thiờnthượng, Thiên hạ, duy ngã độc tụn” (có nghĩa là trên rời, dưới đất, chỉ có “ta” làtôn quý) (Ta đây là “Đại ngó” bản tính Chân Như, không phải là Tiểu Ngã cánhân riêng của mình, truyền tâm ấn Ngài ở trong hoàng cung 28 năm thì trốnnhà lên núi Tuyết tu, năm 35 tuổi thì giác ngộ thành Phật tức bậc Giác Ngộ, sau

đó ngài đi khắp bốn phương để giáo hóa và cứu độ chúng sinh, đến năm 487trước công nguyên ngài nhập Niết bàn, thọ 77 tuổi

HAI VỊ HỘ PHÁP “ KHUYẾN THIỆN “và “TRỪNG ÁC “

Có trường hợp gọi là Thiện Hữu và Ác Hữu, lại cũng có những câuchuyện khác

Thiện Hữu là một vị hoàng tử, cũng là ứng thân trước của Phật, phátnguyện cứu giúp chúng sinh

Ác Hữu là Đề Bà Đạt Đa, (hay Đạt Điêu) là em họ của Phật Thích Ca,cũng là bậc tu hành, học giỏo phỏp của Phật, thu thập tăng đồ, tìm về chính đẳngchớnh giỏc Nhưng Đạt Đa không chịu tuân theo một số điều của Phật, và muốnlãnh đạo tăng đoàn theo cách riêng, muốn lập hệ phỏi riờng của mình ngay khiPhật còn tại thế Để củng cố vị trí của mình, Đạt Đa nhiều lần tìm cách làm hạiPhật, như sai người ám sát, thả thú dữ, , nhưng Phật đều hóa giải

Tăng đoàn mà Đạt Đa lãnh đạo - xét theo nghĩa nào đó - cũng vẫn là họctheo Phật pháp, nhưng có những giáo luật khác, và không nhận mình là từ Phật

Do đó, Đạt Đa tuy làm ác với Phật, nhưng vẫn có công trong việc giáo hóachúng sinh Hơn nữa, từ hành động của Đạt Đa, Phật mới đặt thêm những quyđịnh nhiều hơn để củng cố tăng đoàn của mình, làm cho bộ Luật thêm chặt chẽ

Cho nên xét về khía cạnh giới định, thì Đạt Đa cũng có công hộ pháp Vàtheo truyền thuyết thì Đạt Đa cũng vẫn được thác sinh vào hàng các vị Thiên

Trang 14

vương trờn cừi trời Giờ đây, Ác Hữu Đạt Đa trở thành người hộ vệ Phật pháptại chựa Cỏi Ác hay cái Thiện chung quy lại cũng không phải là thường trụ.

Cũng có thuyết nói: ông Thiện và ông Ác là con vua Ba La Nọi Ông

Thiện là con bà cả tên là Thiện Hữu, tính rất nhân từ, thương em và thươngngười Ông Ác là con bà bé tên là Ác Hữu, tính rất tàn ác, chỉ định giết anh tranhngôi vua Sau được anh cảm hoỏ, ụng hồi tâm hướng đạo nên ngày nay cùng anhđược thờ ở trên chùa

PHẬT A DI ĐÀ

Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trờn cừi Lạc Bang, oai đức khôngcùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bàđem về Tịnh độ

Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đạikiếp gọi là Thiện trỡ”.Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển LuõnThỏnh Vương, tờn Vụ Trỏnh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đôngthắng thần châu, hai là Nam thiệm bộ châu, ba là Tây ngưu hóa chõu, và bốn làBắc cu lụ chõu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuầnkhắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lũng ỏi kớnh

Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, condòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn

Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chânlên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu tốt

Khi con ông mới sanh ra, thỡ cú cỏc hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễvật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng

Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại

vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tuhành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ cácđạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp

Trang 15

các nơi mà hóa độ chúng sanh , có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả ThanhVăn, Duyờn Giỏc và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẳn lòng hoan nghinh.

Có một bữa kia, vua Vụ Trỏnh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúngđến giảng Đạo tại vườn Diờm Phự, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Tamuốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đôngnhư thế!”

Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bènđến vườn Diờm phự lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bênNgài mà nghe Pháp

Vua Vụ Trỏnh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồitrên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chungquanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa

Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử củaPhật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào làcung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nụng, cụng, thương, áo xiêm chỉnhđốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấycũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả

Vua Vụ Trỏnh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình,rồi trở lại ngó Phật, mắt sửng không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệmtín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đónh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồicũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy

Vua nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ cỏc Phỏp, thỡ lũng đó mởthông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuốngchấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ănuống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúngluôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”

Vua Vụ Trỏnh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủmọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi

Trang 16

Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dânrằng: “Cỏc ngươi có biết hay không?

Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đạichúng đến mà cúng dường trọn ba tháng Những đồ báu trọng ngon đẹp củaTrẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả Các ngươi cũng thể theo ýTrẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước bỏu”

Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúngPhật

Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai,nằm chiêm bao thấy vua Vụ Trỏnh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầuphước bỏu thỡ nhỏ Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõinhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử

Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm saocho vua phỏt tõm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúngsanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy

Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏđiềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vụ Trỏnh Niệm rằng: “Muụn tõu Đại Vương!Xin suy nghĩ đến việc này Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốtkhỏc, nờn khú đặng thân người Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặngvương thân, thiệt là quớ bỏu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên củachúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà

nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao!Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đạivương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vươngcúng dường Phật Tăng, dùng phước duyờn đú mà cầu nguyện những việc chi,xin cho ngu thần rõ

Trang 17

Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng

sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân,thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớchưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi

Thưa Đại Vương! Hai sự phước bỏu tụi đó trần tấu đó đều là tướng vôđịnh, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắcchắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thìcũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ Còn như sanh về cõi nhơn gian, thìlại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổtrạng ấy không thể kể xiết

Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng

sự tôn vinh như vầy Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báulớn hơn nữa: còn như tu học chỏnh phỏp, thỡ sẽ thành chưởng trí

Vậy xin Đại vương nờn phỏt tõm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừngcầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy

Vua Vụ Trỏnh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế,thỡ tõm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: “ Trẫm chẳng cầu những việcnhư khanh núi đú đõu! Trẫm muốn trãi khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí,trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúngsanh, do nhân duyên ấy mà phỏt tõm Bồ Đề”

Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt,rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả

hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực

Vả lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽđặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vụ ngó, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bấtthối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt

Trang 18

Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn.Vậy xin Đại vương nờn phỏt tõm mà cầu đạo ấy.

Vua Vụ Trỏnh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗingười sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứnghiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc cóngười đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõiNhơn Thiên Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành màĐức Như Lai chẳng núi Phỏp đoạn khổ

Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có cănlành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ nóo”

Nay Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại thừa, chứng phápmôn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh Trẫm muốncầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnhchúng sanh không còn có một chút khổ gì Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứngđạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chỏnh Giỏc

Vua Vụ Trỏnh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hảiđến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thầnthông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới củaChư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi,hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc cú cỏc cừi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạotràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thànhđạo và mới núi Phỏp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương cũn núi Phỏp,hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàngThinh Văn và Duyờn Giỏc, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn

và Duyờn Giỏc chi hết, hoặc có thế giới đủ năm mún ỏc trược, hoặc có thế giới

đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp

lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mànhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc

Trang 19

có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thếgiới đã thành tựu rồi.

Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bốn tõu với vua Vụ Trỏnh Niệm rằng: “NayĐại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới, vậyĐại vương phát Bồ đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào”

Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức ThếTôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trangnghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược

Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắnngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học”

Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vỡ bởi các vị Bồ Tát có sức thệnguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không cú cỏc điều ác trược, nên sau khithành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm

Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược

đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”

Vua Vụ Trỏnh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi imlìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốtđẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh

Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn!

Vỡ tụi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đạichúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm

Bạch đức Thế Tôn!

1- Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ

sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có nhữngđường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn Hết thảy chúng sanh nơicõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dử đónửa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp

Trang 20

2- Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươitốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệucủa người đàn bà nữa Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thaitrong bông sen, lỳc bụng nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kểxiết đặng.

3- Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không

có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng

4- Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươihai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trongmười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn

5- Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên,đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ

gỡ thỡ có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bờn mỡnh, không cần phải sắm sửa như trongcõi nhơn gian vậy

6- Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đờikiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đếnthời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chỏnh Giỏc, phúng hàoquang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danhhiệu của tôi

7- Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giớikhỏc, đó cú tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cừi tụi, đếnkhi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tộichê bai cỏc Phỏp Đại thừa và phá hư Chỏnh Phỏp mà thôi

8- Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà cú chỳng sanh ở các thế giới đóphỏt Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cừi tụi, thỡ đến khi mạng chung,tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn

9- Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữnhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ

Ngày đăng: 07/05/2015, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w