1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

98 669 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã chính thức đánh dấu sự ra đời và phát triển khoảng trên 15 năm (từ 1990 đến nay). Trải qua chặng đường trên, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh. Bên cạnh những mặt tích cực Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn quá nhiều điểm yếu kém và tồn tại, trong đó nợ xấu cao, thanh khoản yếu và quản trị kém chính là những vấn đề cần chú ý trong Đề án Tái cấu trúc ngân hàng được Chính phủ phê duyệt tháng 032012, trong đó xử lý nợ xấu, nợ có vấn đề là một trong những ưu tiên hàng đấu phải thực hiện.Với bất cứ quốc gia nào, vấn đề xử lý nợ xấu, nợ có vấn đề của ngân hàng luôn khó khăn và phức tạp. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu toàn ngân hàng vào cuối quý I2012 khoảng 8,6%, trong khi Fitch Ratings ước lượng nợ xấu của Việt Nam khoảng 12 13% và theo một số nghiên cứu trong nước là khoảng 10%.Nếu chỉ dựa vào tỷ lệ nợ xấu 10% và tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản của toàn ngành ngân hàng là 60%, thì 10% nợ xấu đang tác động nghiêm trọng đến khoảng một nửa tổng vốn chủ sở hữu của toàn ngân hàng Việt Nam. Xuất phát từ thực tế đó, đặc biệt là tầm quan trọng của hoạt động xử lý nợ xấu trong quá trình tái cơ cấu tài chính của Ngân hàng, đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” thực sự mang tính cấp thiết và có tính thực tiễn cao nhằm giải quyết được thách thức mà các Ngân hàng thương mại đang phải đối mặt.

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã chính thức đánh dấu sự ra đời và phát triển khoảng trên 15 năm (từ 1990 đến nay) Trải qua chặng đường trên, các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã không ngừng phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh Bên cạnh những mặt tích cực Ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn quá nhiều điểm yếu kém và tồn tại, trong đó nợ xấu cao, thanh khoản yếu

và quản trị kém chính là những vấn đề cần chú ý trong Đề án Tái cấu trúc ngân hàng được Chính phủ phê duyệt tháng 03/2012, trong đó xử lý nợ xấu, nợ có vấn

đề là một trong những ưu tiên hàng đấu phải thực hiện

Với bất cứ quốc gia nào, vấn đề xử lý nợ xấu, nợ có vấn đề của ngân hàng luôn khó khăn và phức tạp Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ nợ xấu toàn ngân hàng vào cuối quý I/2012 khoảng 8,6%, trong khi Fitch Ratings ước lượng nợ xấu của Việt Nam khoảng 12 -13% và theo một số nghiên cứu trong nước là khoảng 10%

Nếu chỉ dựa vào tỷ lệ nợ xấu 10% và tỷ trọng tài sản cho vay trên tổng tài sản của toàn ngành ngân hàng là 60%, thì 10% nợ xấu đang tác động nghiêm trọng đến khoảng một nửa tổng vốn chủ sở hữu của toàn ngân hàng Việt Nam

Xuất phát từ thực tế đó, đặc biệt là tầm quan trọng của hoạt động xử lý nợ xấu

trong quá trình tái cơ cấu tài chính của Ngân hàng, đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” thực sự mang tính cấp thiết và có tính thực tiễn cao nhằm giải quyết được

thách thức mà các Ngân hàng thương mại đang phải đối mặt

2 Mục đích nghiên cứu luận văn

Luận văn nghiên cứu về nợ có vấn đề và các mô hình xử lý nợ xấu, nợ có vấn

đề trong công tác kinh doanh ngân hàng thương mại và kinh nghiệm xử lý nợ của các quốc gia trên thế giới đã và đang áp dụng

Sau khi tìm hiểu tổng quan về công tác xử lý nợ có vấn đề luận văn tập trung đi sâu tìm hiểu, phân tích, đánh giá hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề trong Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua, những mặt đạt được, những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Ngân hàng Ngoại thương)

Trang 2

Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra những giải pháp mang tính thực tiễn để góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác xử lý nợ có vấn đề trong bối cảnh nền kinh

tế đang thực hiện tái cấu trúc ngân hàng, mà xử lý nợ Có vấn đề là một yêu cầu cấp bách và được ưu tiên chú trọng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xử lý nợ Có vấn đề tại Ngân hàng Ngoại thương Luận văn tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ Có vấn đề tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Các số liệu mà luận văn sử dụng để phân tích, đánh giá là các số liệu thực tế của Ngân hàng Ngoại thương, được thống kê và cập nhật đến 30/06/2012

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng ưu điểm của từng phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm phương pháp thu thập số liệu, phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và so sánh số liệu; bên cạnh đó, các phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu và kinh nghiệm của bản thân cũng như các nhà nghiên cứu tài chính tiền tệ cũng được sử dụng trong đề tài này

Ngoài ra, cơ sở dữ liệu thứ cấp cũng được sử dụng có chọn lọc nhằm giúp luận văn có thể phân tích và đánh giá vấn đề một cách khách quan nhất Nguồn dữ liệu thứ cấp này chủ yếu được thu thập từ báo cáo phân loại nợ, báo cáo nợ có vấn đề, báo cáo thu hồi nợ đã sử dụng dự phòng rủi ro của toàn bộ 80 chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương trên toàn quốc cũng như báo cáo kết quả công tác kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian từ năm 2007 đến tháng 06/2012

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm ba chương chính:

- Chương 1: Tổng quan về nợ có vấn đề và xử lý nợ có vấn đề trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng

- Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý Nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ CÓ VẤN ĐỀ VÀ XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG1.1 Tổng quan về nợ có vấn đề

1.1.1 Khái niệm về nợ có vấn đề

Trong các sách giáo khoa về tài chính, các nhà kinh tế đã đưa ra một số dịnh nghĩa về nợ xấu (bad debt), nợ quá hạn (non-performing loan), nợ có vấn đề (doubtful debd) Đó là những khoản nợ mà khách hàng ít có khả năng trả lại cho chủ nợ, và do đó giá trị kỳ vọng thu hồi thấp hơn so với khoản nợ gốc ban đầu Theo tiêu chuẩn quốc tế, Nợ có vấn đề là các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng Nợ có vấn đề được hiểu theo nghĩa rộng không chỉ những khoản vay đã quá hạn thanh toán, thanh toán không đúng kỳ hạn (nợ quá hạn thông thường, nợ khó đòi, nợ chờ xử lý, nợ khoanh, nợ tồn đọng) mà bao gồm

cả những khoản vay trong hạn nhưng có những dấu hiệu không an toàn có thể dẫn tới rủi ro

Tại Ngân hàng Ngoại thương, theo Quyết định số 106/QĐ-NHNT.CSTD ngày 07/04/2009 của Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam quy định của ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam về quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề, nợ có vấn đề được định nghĩa như sau:

- Khách hàng có nợ xấu theo quy định về phân loại nợ, trích lập và xử lý dự phòng rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nhà nước và NHNT trong từng thời kỳ

- Khách hàng có nợ đã được xử lý DPRR chưa thu đang hạch toán ngoại bảng

- Khách hàng chưa bị phân loại thành nợ xấu, nhưng có một hoặc các dấu hiệu rủi ro sau đây:

• Hoạt động sản xuất, kinh doanh bị gián đoạn, ngừng trệ (do mất khách hàng, sản phẩm mất khả năng cạnh tranh, đình công, liên tục thua lỗ, ngành/lĩnh vực kinh doanh gặp rủi ro…)

• Gặp khó khăn trong đầu tư (dự án đầu tư bị ngừng trệ, dừng triển khai…)

Trang 4

• Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến mất cân đối tài chính (sử dụng vốn ngắn hạn để đầu tư trung dài hạn, sử dụng vốn vay sai mục đích…)

• Khách hàng không có thiện chí hợp tác (không cung cấp kịp thời báo cáo theo yêu cầu, trốn tránh hoặc có hành vi che dấu thông tin, không có thiện chí tận thu mọi nguồn để trả nợ…)

• Khách hàng hoặc người đại diện theo pháp luật, người điều hành của khách hàng bị khởi tố, khởi kiện có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng

• Khách hàng có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng khác

Các Ngân hàng lớn trên thế giới hiện nay phân loại nợ xấu gắn với nguyên nhân xảy ra để xác định mức độ rủi ro tương ứng Theo một số tiêu chí của NHTƯ Liên minh Châu Âu, có thể xác định nợ có vấn đề của các NHTM như sau:

+ Những khoản nợ không thể thu hồi được:

(i) Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc không có căn cứ đòi bồi thường; (ii) Người mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; (iii) Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ nhưng vẫn còn lại không thể đền bù, hoặc những khoản nợ được thanh toán bằng cách bán tài sản thế chấp nhưng vẫn chưa trang trải toàn bộ nợ;

(iv) Những khoản nợ mà người mắc nợ chấm dứt HĐKD hoặc thanh lý tài sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ

+ Những khoản nợ có thể không thanh toán toàn bộ cho NH:

(i) Những khoản nợ mà NH không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể

Trang 5

(iv) Những khoản nợ đến hạn thanh toán và hoàn cảnh cho thấy sự can thiệp của Tòa án phải được thực hiện đến cùng hoặc Tòa án can thiệp buộc việc trả nợ phải được thực hiện;

(v) Những khoản nợ mà Tòa án tuyên bố người mắc nợ bị phá sản và NH đã

yêu cầu trả nợ và cho rằng phần bồi hoàn sẽ ít hơn dư nợ

 Theo quan điểm của Việt Nam

Các khoản nợ phát sinh trong HĐKD của Ngân hàng bao gồm: (i) các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; (ii) các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; (iii) các khoản bao thanh toán và (iv) các hình thức tín dụng khác Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ mang đặc trưng: (i) Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng khi các cam kết này đến hạn;

(ii) Tình hình tài chính của khách hàng đang có chiều hướng xấu dẫn đến việc Ngân hàng có thể không thu hồi được cả vốn lẫn lãi;

(iii) TSBĐ (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh…) được đánh giá là giá trị phát mãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi;

(iv) Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày

1.1.2 Phân loại nợ có vấn đề

Người ta phân loại nợ có vấn đề chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi của các khoản vay Đối với các khoản nợ mà có các dấu hiệu như đến kỳ trả

nợ, trả lãi mà khách hàng trả chậm hay có những dấu hiệu chần chừ trong việc trả

nợ cho ngân hàng thì có thể xếp các khoản vay đó vào các khoản nợ có vấn đề Hiện nay, đối với các Ngân hàng Thương mại Việt Nam phân loại nợ đang thực hiện theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phạm vi phân loại nợ là các loại nợ tín dụng bao gồm: Cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, chiết khấu Các phương pháp phân loại nợ:

a) Phân loại nợ theo phương pháp định lượng Theo điều 6 Quy định

18/2007/QĐ-NHNN Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín

Trang 6

dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì Nợ được phân chia thành 5 nhóm như sau :

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn

- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc, lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày

- Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu)

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2

- Các khoản nợ khác được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

- Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn dưới 30 ngày

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2

- Các khoản nợ phải thực hiện nghĩa vụ theo cam kết quá hạn từ 30 đến 90 ngày

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

Trang 7

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2 quá hạn theo thời hạn trả

nợ được cơ cấu lại lần thứ 2

b) Phân loại nợ theo phương pháp định tính Theo điều 7 Quy định số

493/2005/Q§-NHNN về ban hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng , để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là

có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh

giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được

tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là

khả năng tổn thất cao

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng

đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn

Tuy nhiên, do nợ có vấn đề được xử lý và thu hồi được chủ yếu khi các khoản

nợ nhóm 1, 2 đã chuyển nhóm nợ xấu, vì vậy khái niệm Nợ Có vấn đề được phân tích trong luận văn chỉ bao gồm các khoản nợ Xấu thuộc các nhóm 3,4,5 trong báo cáo phân loại nợ theo quyết định 493 của NHNN và các khoản nợ đã được sử dụng DPRR

1.1.3 Nguyên nhân phát sinh các khoản nợ CVĐ trong hoạt động kinh doanh ngân

hàng

Về cơ bản, các khoản nợ được xem là nợ CVĐ là những khoản cho vay đã quá hạn, không thu hồi được hay các khoản nợ được xử lý DPRR để theo dõi ngoại bảng Mặc dù các khoản cho vay xấu và các tổn thất là kết quả của nhiều yếu tố nhưng nhìn chung, chúng là kết quả của sự không sẵn lòng hoàn trả nợ vay của

Trang 8

người vay, hay không có khả năng kiếm được lợi nhuận để giảm bớt dư nợ hoặc hoàn trả toàn bộ nợ, như đã thỏa thuận Có thể kể đến một vài nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh các khoản nợ CVĐ trong HĐKD Ngân hàng như sau:

 Nguyên nhân khách quan:

Trong hoạt động kinh doanh những tai hoạ và rủi ro do thiên tai, ví dụn như: đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi những khi gặp bão lụt hay dịch bệnh nhiều khi mất trắng Nhưng những biến động của thiên nhiên có tính chất chu kỳ hoặc theo mùa thì đối với nhà kinh doanh có sự quan tâm nghiên cứu dự báo đều

có thể tránh hoặc hạn chế thiệt hại

Bên cạnh đó, quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến nhiều rủi ro tất yếu Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, khiến nhiều khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn

sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút

- Nguyên nhân từ các chính sách vĩ mô của nhà nước

Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất nhiều đến sự ổn định

và phát triển của nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng cũng chịu sự điều tiết về pháp lý của nhà nước trong đó hoạt động tín dụng ngân hàng là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp Khi hành lang pháp lý chưa an toàn, môi trường kinh doanh kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ gây những ánh tắc, hệ luỵ nặng nề cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng Trong những năm gần đây, Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều Luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, Luật và các Văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng vẫn còn chậm và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập

- Do thông tin bất đối xứng: Thông tin không cân xứng trên thị trường tài

chính dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các NH trước nguy

Trang 9

cơ rủi ro cao Môi trường kinh tế cũng có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người đi vay và gây ra thiệt hại hoặc mang đến thành công đối với người cho vay.

- Nguyên nhân từ phía khách hàng: Nguyên nhân từ phía người đi vay là

một trong những nguyên nhân chính gây ra nợ có vấn đề Thông thường do khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra nếu việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù hợp Các thiệt hại doanh nghiệp phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp, thị trường tiêu thụ

Nhìn chung đối với các nguyên nhân này ngân hàng có thể xác định được thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững “tình hình sức khỏe của khách hàng” trýớc, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác thuộc về khách hàng vay như khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, hoặc khách hàng cố tình lừa đảo ngân hàng như lập

hồ sơ giả, làm giả giấy tờ tài sản thế chấp để vay tiền ngân hàng Nội bộ khách hàng không đoàn kết nhất trí, tồn tại mâu thuẫn trong công tác quản lý cũng khiến cho hoạt động bị ngừng trệ, sản xuất bị đình đốn, không có tiền trả nợ ngân hàng

 Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng

- Do sự yếu kém trong công tác điều hành quản trị

Yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong kinh doanh khi môi trường kinh doanh ngày càng được quốc tế hoá và cạnh tranh quyết liệt như ở nước ta hiện nay Nhiều nhà quản trị chưa đủ các điều kiện để điều hành ngân hàng, chưa được đào tạo một cách cơ bản, không nắm bắt nhanh kịp thời thông tin thay đổi, thiếu bản lĩnh trong điều hành, chưa am hiểu pháp luật, bố trí nhân sự không phù hợp với trách nhiệm, Một số ngân hàng áp dụng việc giải quyết cho vay theo kiểu “trực tuyến cá nhân” từ cán bộ tín dụng đến trưởng phòng tín dụng đến giám đốc Thực

tế, việc áp dụng tổ chức cho vay này thì quyền lực tập trung vào giám đốc còn trách

Trang 10

nhiệm của cá nhân bên dưới thường không rõ ràng, từ đó dẫn đến thiếu tinh thần trách nhiệm, dễ xảy ra rủi ro tín dụng

- Do cán bộ không thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ

Quy trình cho vay ở hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay là tương đối đầy đủ và phù hợp với cơ chế thị trường và quy định pháp luật nhằm đảm bảo an toàn vốn vay cho tổ chức tín dụng

Quy trình nghiệp vụ cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc:

- Vốn vay phải bảo đảm bằng giá trị vật tư, hàng hóa tương đương Cho vay phải hoàn trả vốn, trả lãi đúng hạn và sử dụng vốn vay đúng mục đích

- Cho vay phải tuân thủ các điều kiện: lập hồ sơ vay, có tài sản đảm bảo

- Phải tuân thủ chặt chẽ các bước kiểm tra, kiểm soát ở các công đoạn trước, trong và sau khi cho vay

Tuy nhiên, khi thực hiện cho vay vì nhiều lý do khác nhau mà cán bộ tín dụng

đã bỏ qua các quy trình nghiệp vụ, việc kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ ngân hàng còn bộc lộ nhiều hạn chế từ việc thẩm định cho vay đến việc bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh mở L/C

Các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Tuy nhiên, trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này do một phần yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh của các khách hàng quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu

- Do nhân viên ngân hàng thái hoá về đạo đức, biến chất, tư lợi:

Một số trường hợp cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo ngân hàng cấu kết với khách hàng, xảy ra những tiêu cực trong cho vay thì thì nguy cơ xảy ra rủi ro đối với món vay đó là rất cao Không phải do trình độ năng lực yếu kém, không đủ sức thẩm định độ tin cậy của dự án hay phương án xin vay mà do tư lợi, đạo đức phẩm chất

Trang 11

của một số cán bộ ngân hàng có chiều hướng thái hoá biến chất Mặc dù luật pháp, quy chế nghiệp vụ và những ràng buộc khác có chặt chẽ đến đâu họ vẫn tìm cách vi phạm và rủi ro xảy ra.

Tóm lại, các nguyên nhân gây ra nợ CVĐ rất đa dạng, có những nguyên nhân khách quan và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng Những nguyên nhân chủ quan, do các chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng

và ngân hàng có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp thích hợp

1.1.4 Vai trò của công tác xử lý Nợ có vấn đề trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng

Công tác xử lý nợ CVĐ là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu trong chương trình cải cách các công tác của ngân hàng Nó giữ vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại phát triển và uy tín của Ngân hàng bởi các lý do sau:

(i) Xử lý nợ CVĐ của NHTM là một trong những vấn đề quan trọng mà bất

kỳ quốc gia nào cũng quan tâm tới, kể cả các nước có nền kinh tế mới nổi hay các nước có nền kinh tế đã phát triển Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế và tự do hóa tài chính làm cho môi trường cạnh tranh khốc liệt và rủi ro hơn Các NHTM phải tự nâng cao năng lực tài chính của mình để có thể cạnh tranh được với các Ngân hàng bạn Do đó, hầu hết các Ngân hàng đều chú trọng đến công tác quản lý và xử lý các khoản nợ CVĐ phát sinh bởi chúng ảnh hưởng bất lợi đến thanh khoản của Ngân hàng và gia tăng thiệt hại trong hoạt động kinh doanh

(ii) Nợ CVĐ lớn sẽ dẫn đến vốn của Ngân hàng bị “đóng băng” không thu hồi được để tiếp tục quay vòng kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến HĐKD của Ngân hàng

(iii) Thêm vào đó, một khi nợ xấu lớn sẽ gây nguy cơ đổ vỡ NH, từ đó có thể kéo theo khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra Khi đó, chúng làm giảm số dự trữ và vốn, làm tổn thất sức mạnh tài chính của NH Hơn nữa, các khoản nợ có vấn đề tạo

ra gánh nặng chi phí cho các NH và làm NH suy giảm khả năng huy động vốn, khả năng cho vay đối với nền kinh tế Vì thế, lòng tin của dân chúng cũng như uy tín quốc tế đối với toàn Ngân hàng cũng suy giảm theo

Trang 12

Việc thu hồi nợ CVĐ không chỉ là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng mà còn có những đóng góp đáng kể đối với sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng, cụ thể:

(i) Với chức năng là tiếp nhận, quản lý các khoản nợ CVĐ trong HĐKD của NHTM để xử lý, bán, khai thác bằng nhiều biện pháp như: (i) bán TSBĐ nợ vay, (ii)

cơ cấu lại nợ (giãn nợ, miễn giảm lãi suất, đầu tư thêm, chuyển nợ thành vốn góp), (iii) khai thác các TSBĐ nợ vay để tận thu nợ trong quá trình chờ phát mãi tài sản, tối đa hóa tỷ lệ thu hồi vốn cho NHTM

(ii) Thực hiện xử lý các khoản nợ CVĐ phải thu và các tài sản thế chấp của

NH, công tác xử lý nợ đã góp phần lành mạnh hóa tình hình tài chính, làm tăng cường khả năng cạnh tranh của Ngân hàng

(iii) Ngoài ra, với chức năng được mua, bán nợ của các TCTD, NHTM khác,

xử lý nợ sẽ tác động làm cho dòng vốn của DN nói riêng và của nền kinh tế nói chung không những được khơi thông mà còn được bơm thêm một lượng vốn mới; góp phần thực hiện sắp xếp đổi mới DN thành công

1.2 Một số nguyên tắc trong xử lý Nợ có vấn đề

1.2.1 Nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ

Theo Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163

Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên; nếu không có thoả thuận thì tài sản được bán đấu gia theo quy định của pháp luật

Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật

Việc xử lý tài sản bảo đảm phải được thực hiện một cách khách quan, công khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia giao dịch

Trang 13

bảo đảm, cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định này.

Người xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi chung là người xử lý tài sản) là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợp các bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác

Người xử lý tài sản căn cứ nội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảo đảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử

lý tài sản của bên bảo đảm

Việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh tài sản của bên nhận bảo đảm

Trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở

1.2.2 Nguyên tắc xử lý các tổn thất bằng dự phòng rủi ro tại TCTD

TCTD được sử dụng DPRR để xử lý nợ xấu đối với các khoản nợ trong các trường hợp sau:

(i) Khách hàng là tổ chức, DN bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật;

cá nhân bị chết hoặc mất tích;

(ii) Các khoản nợ xấu thuộc nhóm nợ có khả năng mất vốn (theo cách phân loại như QĐ 493) Riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, TCTD được sử dụng dự phòng (nếu có) để xử lý RRTD

Việc TCTD sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu không phải là xóa nợ cho khách hàng TCTD và cá nhân có liên quan không được phép thông báo cho khách hàng biết về việc xử lý RRTD Và sau khi đã sử dụng DPRR để xử lý thì TCTD phải tiếp tục theo dõi và có các biện pháp để thu hồi nợ triệt để (như phát mại

Trang 14

TSBĐ theo thỏa thuận với khách hàng và theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ)

1.3 Phương thức Ngân hàng xử lý các khoản Nợ có vấn đề phát sinh

Nợ có vấn đề được phân chia thành 3 loại là Nợ có TSBĐ, Nợ không có TSBĐ và không còn đói tượng thu nợ và Nợ không có TSBĐ nhưng khách hàng còn tồn tại Khi xử lý một khoản nợ CVĐ, một trong những yếu tố được quan tâm nhất là TSBĐ của khoản vay, vì đây chính là nguồn các NHTM có thể tận dụng để thu hồi vốn Cơ chế xử lý nợ CVĐ được nêu cụ thể dưới đây:

 Xử lý Nợ có vấn đề có tài sản bảo đảm

NHTM được chủ động bán các TSBĐ nợ vay (tài sản thế chấp, cầm cố; tài sản gán nợ; tài sản tòa án giao cho NH) kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của NH bằng cách: (i) tự bán công khai trên thị trường; hoặc (ii) bán qua Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; hoặc (iii) bán cho Công ty mua bán nợ của Nhà nước

Đối với những TSBĐ nợ vay thuộc những vụ án đã được Tòa án phán quyết nhưng chưa giao tài sản cho NHTM thì NHTM có thể đề nghị các cơ quan Thi hành

án nhanh chóng giao cho NHTM để xử lý

Đối với những TSBĐ của các khoản nợ chưa đầy đủ thủ tục pháp lý và hiện không có tranh chấp, NHTM được đề nghị xem xét yêu cầu các cơ quan chức năng Nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện thủ tục pháp lý để NHTM xử lý bán thu hồi nợ Đối với những TSBĐ nợ vay chưa bán được thì NHTM có thể áp dụng các biện pháp như cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản để bán, cho thuê, khai thác kinh doanh, góp vốn, liên doanh bằng tài sản để thu hồi nợ

Đối với những tài sản NHTM nhận lại sử dụng cấn trừ nợ thì phải có nguồn vốn tương ứng theo quy định của pháp luật

 Xử lý Nợ có vấn đề không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng thu hồi nợ

Đối với những khoản nợ này, NHTM phải tập hợp trình NHNN xử lý xin xuất toán ngoại bảng khỏi bảng cân đối kế toán

Trang 15

 Xử lý Nợ có vấn đề không có tài sản bảo đảm nhưng khách nợ còn tồn tại, hoạt động

Đây là những khoản vay tín chấp, hoặc những khoản vay có tài sản thế chấp

để vay vốn tại NH nhưng đã được xử lý hết Việc xử lý những khoản nợ này không

có TSBĐ bao giờ cũng gặp nhiều khó khăn do khách hàng không còn nguồn để trả

nợ Đối với trường hợp này, các NHTM có thể áp dụng các biện pháp như:

(i) Bán nợ để thu hồi vốn theo quy chế mua bán nợ thông thường

(ii) Chuyển nợ thành vốn góp vào DN và được chuyển nhượng phần vốn góp này Trường hợp này, NHTM phải dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ tương ứng với phần nợ đã chuyển thành vốn góp vào DN và phải bảo đảm tỷ lệ vốn góp theo quy định của pháp luật

1.4 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề

Để đánh giá hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại các TCTD, người ta thường đánh giá chủ yếu dựa trên một số chỉ tiêu chính về xử lý những khoản nợ xấu như sau:

- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu

Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia Dư nợ xấu cho Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng an toàn là tỷ lệ nợ xấu dưới 3% Tại Việt Nam, các Ngân hàng, tổ chức tín dụng nếu có tỷ lệ nợ xấu từ 3% trở lên sẽ thuộc diện theo dõi, kiểm tra và phải báo cáo tình hình nợ xấu và xử

lý nợ thường xuyên theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, giám sát Ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước

- Chỉ tiêu Số tiền thu nợ đã sử dụng DPRR/Tổng dư nợ đã sử dụng DPRR

Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia Số tiền thu nợ đã sử dụng DPRR cho Tổng dư nợ đã sử dụng DPRR, chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả thu nợ đã sử dụng DPRR của Ngân hàng thương mại Chỉ tiêu này càng cao, hiệu quả thu nợ của tổ chức tín dụng càng cao Tại Ngân hàng Ngoại thương, số tiền thu nợ đã sử dụng DPRR được hạch toán vào lợi nhuận bất thường của Ngân hàng

- Chỉ tiêu Dư nợ xóa/Tổng dư nợ DPRR (hoặc cho Tổng dư nợ)

Trang 16

Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia Dư nợ xóa cho Tổng dư nợ DPRR hoặc cho Tổng dư nợ của NH, chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ các khoản nợ đã sử dụng DPRR nhưng không thu hồi được do khách hàng đã chết, mất tích hoặc không còn bất cứ nguồn nào để trả nợ NH Đây chính là những khoản nợ mà Ngân hàng không thể thu hồi được và xin xuất toán khỏi bảng cân đối kế toán Chỉ tiêu này càng cao thì số tiền mất vốn của khách hàng trong hoạt động cho vay càng lớn.

- Chỉ tiêu Số tiền xử lý nợ xấu/Tổng dư nợ xấu

Chỉ tiêu này được tính bằng cách chia Số tiền thu được từ việc xử lý nợ xấu cho Tổng dư nợ xấu Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ xấu được xử lý và thu hồi vốn về cho Ngân hàng theo các mốc và khoảng thời gian khác nhau, là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả xử lý nợ có vấn đề

- Thời gian xử lý nợ có vấn đề

Chỉ tiêu này được xác định dựa trên thời điểm bắt đầu xử lý nợ cho đến khi thu được hết hoặc thu được một phần nợ nhưng khách hàng không còn tài sản để có thể phát mại thu hồi nợ Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ có vấn đề là quá trình lâu dài,

do đặc điểm khác nhau về người vay vốn, tình trạng và tính chất đặc thù của TSBĐ, phụ thuộc vào tính thanh khoản của thị trường đối với tài sản thế chấp nên Chỉ tiêu thời gian này thường khó xác định và không có các mốc thời gian chung cho việc

xử lý các khoản nợ Tại Việt Nam, đối với các khoản nợ không có TSBĐ và đã được sử dụng DPRR, sau 5 năm các TCTD có thể làm hồ sơ xin xuất toán ngoại bảng Đối với các khoản nợ TCTD khởi kiện khách hàng và chuyển sang yêu cầu

cơ quan THA, thường thì phải mất ít nhất 02 năm mới có thể thu được nợ

Tại Việt Nam hiện nay, ngoài tỷ lệ nợ xấu để đánh giá hoạt động tín dụng, chỉ tiêu Số tiền thu nợ đã sử dụng DPRR/Tổng dư nợ DPRR là được dùng phổ biến để đánh giá hiệu quả của hoạt động xử lý nợ có vấn đề

Trang 17

1.5 Mô hình xử lý nợ của các ngân hàng thương mại trên thế giới và bài học kinh nghiệm

1.5.1 Mô hình xử lý nợ của các ngân hàng thương mại trên thế giới

1.5.1.1 Mô hình xử lý nợ tập trung

Đây là mô hình mà nhà nước sẽ đóng vai trò chính trong quá trình xử lý nợ bằng việc thành lập ra cơ quan xử lý nợ quốc gia (thường là công ty xử lý nợ quốc gia) Cơ quan này có trách nhiệm chính trong việc xử lý tất cả các khoản nợ CVĐ của nền kinh tế được chuyển giao từ các tổ chức tài chính

Ưu điểm của mô hình xử lý nợ tập trung là tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô; với khối lượng tài sản lớn nên có thể chứng khoán hoá một cách dễ dàng;

sở hữu tập trung các loại tài sản thế chấp tạo ra áp lực cho các con nợ và quản lý hiệu quả hơn; phá vỡ quan hệ ràng buộc giữa ngân hàng và các doanh nghiệp, điều này sẽ tạo ra những khoản vay mới hiệu quả hơn; cho phép các ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh; cải thiện các triển vọng cho việc cơ cấu lại các ngành kinh tế; cho phép áp dụng các chuẩn mực; có thể đưa ra những chính sách đặc biệt

để thu hồi nợ và cơ cấu lại ngân hàng

Tuy nhiên, mô hình tập trung cũng có những bất lợi như: Các ngân hàng sẽ có lợi thế hơn các AMC trong việc thu thập thông tin của các con nợ; để các khoản nợ tại các ngân hàng có thể cung cấp các ưu tiên tốt hơn cho việc thu hồi chúng và tránh thua lỗ trong tương lai bằng việc cải tiến quá trình xét duyệt cho vay và các thủ tục giám sát nợ vay; các ngân hàng có thể cung cấp các khoản tài trợ tăng thêm

mà nó có thể cần thiết trong quá trình cơ cấu lại; các tài sản chuyển giao cho các AMC không được quản lý một cách năng động và có thể tạo ra sự giảm sút giá trị; rất khó để có thể tách bạch hoạt động của một tổ chức công với những áp lực chính trị

 Công ty xử lý tài sản quốc gia Hoa Kỳ

Công ty xử lý tài sản quốc gia Hoa Kỳ (RTC) được thành lập như một cơ quan

xử lý nợ nhanh vào năm 1989 để xử lý các khoản nợ CVĐ của các hiệp hội tiết kiệm và cho vay Như một cơ quan nhà nước, RTC có rất nhiều mục tiêu, gồm: Tối

đa hoá thu nhập ròng từ việc bán các tài sản được chuyển nhượng; tối thiểu hoá tác

Trang 18

động lên các thị trường địa ốc và thị trường tài chính địa phương; tối đa hoá việc tạo

ra nhà ở cho các cá nhân có thu nhập thấp RTC thực hiện việc xử lý đối với cả hai loại nợ luân chuyển thông thường và nợ tồn đọng, khó xử lý Kết quả xử lý nợ của RTC là rất tốt Tổng số tài sản mà RTC đã xử lý được là 465 tỷ USD bằng 8,5% tổng tài sản trong khu vực tài chính, tương đương 8,5% GDP của Hoa Kỳ năm

1989 Nguyên nhân tạo ra thành công của RTC là do tổng khối lượng nợ CVĐ chỉ bằng 3% tổng tài sản tài chính trong giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất Hơn thế nữa, khoảng 50% tài sản là các khoản vay bất động sản và vay cầm cố, 35% là tiền mặt và các loại chứng khoán khác Vì vậy, nhiều tài sản được chuyển nhượng là rất tốt và dễ dàng bán thông qua việc đóng gói, chứng khoán hoá và đấu giá trên thị trường tài chính phát triển nhất thế giới Một trong những yếu tố hết sức quan trọng khác tạo ra sự thành công này là các nhân sự cao cấp của RTC được lấy từ Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (đây là cơ quan có sự hiểu biết rất rõ về vấn đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại trong hoạt động tài chính) và đội ngũ nhân viên của họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các tổ chức tài chính khó khăn, lâm vào tình trạng phá sản Mặt khác, RTC đã dựa vào những nhà thầu tư nhân để đánh giá, quản

lý và bán nhiều tài sản Một cấu trúc quản lý hiệu quả đã cho phép RTC thu hồi 1/3 tài sản được chuyển nhượng, giảm thiểu đáng kể khối lượng nợ phải bán

 Mô hình các nước Đông Á sau khủng hoảng 1997

Đối với những con rồng, con hổ châu Á, năm 1997 quả là một cơn ác mộng đối với họ, Vấn đề còn trầm trọng hơn đối với tài chính Sau cuộc khủng hoảng này, hàng loạt các tổ chức tài chính, các ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản Tỷ lệ

nợ CVĐ gia tăng đáng kể Để giải quyết vấn đề này, dù sớm hay muộn các nước Đông Á đều đã thành lập cơ quan xử lý nợ quốc gia như: Indonesia Bank Restructuring Agency (IBRA), Korea Asset Management Company (KAMCO), Thai Asset Management Company (TAMC), DANAHARTA của Malaysia Kết quả chỉ hơn 7 năm sau khủng hoảng, việc xử lý nợ CVĐ của các nước này đã cơ bản hoàn tất IBRA đã ngừng hoạt động, TAMC và DANAHARTA dự kiến sẽ chấm dứt hoạt động vào năm 2005, KAMCO đã tham gia xử lý 125 tỷ USD nợ CVĐ xuống còn 15 tỷ USD

Trang 19

Nguyên nhân dẫn đến thành công trong xử lý nợ của các nền kinh tế Đông Á

là do khủng hoảng xảy ra đột ngột, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất thanh khoản tạm thời nên chưa thể hoàn trả đúng hạn các khoản nợ và các ngân hàng phải chuyển nợ quá hạn làm cho tỷ lệ nợ CVĐ tăng cao, nhưng về mặt bản chất, chủ nợ của các các khoản nợ nêu trên vẫn còn khả năng phục hồi và hoạt động hiệu quả là rất cao Chính điều này làm cho việc xử lý nợ của các nền kinh tế Đông Á có tính khả thi cao Nói chung các nền kinh tế Đông Á xử lý nợ hiệu quả là các khoản nợ đều có con nợ và các con nợ này có nỗ lực trả nợ Từ mô hình xử lý nợ của Hoa Kỳ

và các nền kinh tế Đông Á cho thấy rằng, việc xử lý nợ CVĐ sẽ có tính khả thi cao nếu các khoản nợ được đảm bảo hoặc các khoản nợ vẫn còn con nợ và con nợ có nỗ lực trả nợ Đối với loại nợ này, sử dụng mô hình xử lý nợ tập trung sẽ mang lại thành công

 Mô hình các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu

Mô hình của Cộng hoà Séc (mô hình tập trung): Bắt đầu quá trình cải các ngân hàng vào đầu những năm 1990 Lúc này, tất cả vốn lưu động của các doanh nghiệp nhà nước được tài trợ bởi các khoản tín dụng ngắn hạn theo hạn mức với lãi suất thấp được xem là các khoản vay khó đòi (TOZ) Với mục tiêu tái cấu trúc các khoản vay này theo các điều kiện thương mại, Séc đã thành lập centralized hospital bank với tên gọi là Konsolidacni Banka (KnB) Tất cả các khoản vay khó đòi (TOZ) được chuyển nhượng cùng với một lượng tương ứng các khoản tiền gửi doanh nghiệp từ các ngân hàng khác Tuy nhiên, các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước vẫn duy trì quan hệ với các ngân hàng mà nó đang cung cấp các dịch vụ ngân hàng

và các khoản vay mới Qua nhiều thời kỳ, nhiều khoản vay khác được phân loại nợ CVĐ và chuyển từ các ngân hàng lớn nhất cộng hoà Séc cho KnB để xử lý và nhà nước tái cấp vốn cho các ngân hàng này Mặc dù được xem thời điểm cải cách là phù hợp, nhưng Séc đã thất bại trong việc tái cấu trúc tài chính với mục tiêu xây dựng 4 ngân hàng quốc doanh lớn nhất thành các trụ cột của và tách bạch các khoản cho vay chỉ định với các điều kiện ưu đãi sang một ngân hàng chuyên biệt Nguyên nhân thất bại là do nền tảng cho khu vực ngân hàng định hướng thị trường mạnh chưa được thiết lập Các ngân hàng lớn vẫn chưa có sự độc lập từ Chính phủ

Trang 20

Nhà nước vẫn chiếm cổ phần chi phối trong các ngân hàng sau khi chúng được cổ phần hoá Thứ hai, các ngân hàng không những vẫn giữ lại mối quan hệ với các khách hàng mà còn nắm giữ cổ phần của các khách hàng này trong quá trình cổ phần hoá Điều này đã làm nảy sinh vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích của chủ sở hữu

và chủ nợ Khi có một cuộc khủng hoảng tiền tệ nhỏ tác động, bảng cân đối của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng

1.5.1.2 Mô hình xử lý nợ phi tập trung

Mô hình xử lý nợ phi tập trung (điển hình là mô hình của Thuỵ Điển): Theo

mô hình này thì các ngân hàng sẽ tự xử lý các khoản nợ CVĐ của mình bằng việc thành lập ra AMC hoặc bộ phận xử lý nợ riêng hoặc là các tư nhân đứng ra thành lập các công ty xử lý nợ Và điều đương nhiên là các AMC tư nhân này hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận Những lợi thế và bất lợi của mô hình này ngược lại với mô hình

xử lý nợ tập trung

 Mô hình Hungary

Hungary theo đuổi chính sách cổ phần hoá các ngân hàng quốc doanh bằng việc bán cổ phần chi phối cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài càng nhanh càng tốt Việc bán như vậy đã yêu cầu tái cấp vốn của các ngân hàng tạo ra sự kết nối giữa giá trị ròng hiện tại và những giá trị đặc lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Hai đợt tái cấp vốn lớn và nhiều đợt tái cấp vốn bổ sung của các ngân hàng trong nước tạo cho Hungary có những ý niệm về vấn đề tâm lý ỷ lại mà trước đó nó gần như chưa được đề cập đến Đợt tái cấp vốn lần thứ nhất chưa đủ tác động mạnh

vì các công cụ được sử dụng chưa đủ thanh khoản và thu hút về phương diện tài chính và bởi vì các ngân hàng được tái cấp vốn vẫn cung ứng tín dụng và các dịch

vụ ngân hàng cho các khách hàng kém hiệu quả Đợt tái cấp vốn thứ hai sử dụng các công cụ có tính thị trường là sự thành công đáng kể vì việc cổ phần hoá thực sự nhắm đến các nhà đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài Việc kết hợp tái cấp vốn và chiến lược cổ phần hoá đưa Hungary trở thành nước có ngân hàng mạnh nhất trong các nền kinh tế chuyển đổi

Kinh nghiệm của Hungary chỉ ra tầm quan trọng của việc vận hành một cách độc lập và giảm thiểu các áp lực từ nhà nước và các khách hàng hoạt động kém hiệu

Trang 21

quả Quan trọng hơn những khoản nợ CVĐ được thừa hưởng tác động đến hoạt động sắp tới của ngân hàng là phải duy trì quan hệ với những khách hàng kém hiệu quả Ngân hàng Hungary có doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nhiều nhất là Magyar Hitel Bank (MHB).

Đầu tiên tìm kiếm một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, nhưng sau khi được tái cấp vốn, danh mục nợ của MHB được chia thành tài sản tốt và tài sản không tốt Những khoản nợ CVĐ cùng với các khoản tiền gửi của các khách hàng này được tách ra khỏi các khoản nợ tốt MHB đã thành lập bộ phận chuyên xử lý các khoản

mở rộng cho 3 khách hàng công nghiệp quốc phòng lớn trong chương trình đã vượt quá tổng khối lượng tái cấp vốn và đặt ngân hàng rơi vào tình thế khó khăn hơn với các khách hàng này sau khi cơ cấu lại Cũng như trường hợp của Cộng hoà Séc, chương trình của Ba Lan đã tạo ra sự ràng buộc lớn hơn giữa ngân hàng và các khách hàng kém hiệu quả Vì vậy, chương trình của Ba Lan tạo cho các doanh nghiệp yếu kém có điều kiện trì hoãn việc cơ cấu lại bằng những giải pháp quyết liệt hơn Điều này càng khó khăn hơn cho các ngân hàng trong việc loại bỏ các

Trang 22

khách hàng hoạt động kém hiệu quả nhằm lành mạnh hoá tình hình tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

Từ mô hình của các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu cho thấy, việc xử lý nợ

có thể được thực hiện tốt nếu giải quyết được những ràng buộc giữa ngân hàng và các doanh nghiệp mà ở đây chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, tránh được vấn

đề lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại do thông tin bất cân xứng xảy ra trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp Điều này có nghĩa là phải xác định rõ con nợ

và tạo ra nỗ lực trả nợ của con nợ thì mới có thể xử lý được

1.5.1.3 Mô hình kết hợp

Trung Quốc là một trường hợp riêng biệt trong việc lựa chọn mô hình xử lý nợ CVĐ do những đặc điểm riêng của họ Ngân hàng có quy mô rất lớn với tổng dư nợ cho vay toàn nền kinh tế lên đến gần 2.000 tỷ USD, gấp hơn 1,5 lần GDP Tổng khối lượng nợ CVĐ 480 tỷ USD bằng 36% GDP Nếu xét con số tuyệt đối thì khối lượng nợ này tương đương với khối lượng nợ CVĐ của Hoa Kỳ năm 1989, nhưng

tỷ lệ so với GDP lại gấp hơn 10 lần Trung Quốc đã lựa chọn mô hình cho riêng mình Nhà nước đã bỏ vốn để thành lập các AMC Nhưng thay vì thành lập công ty

xử lý nợ quốc gia, năm 1999, Trung Quốc đã thành lập bốn công ty quản lý tài sản với vốn điều lệ khoảng 5 tỷ USD Mỗi AMC có trách nhiệm xử lý nợ CVĐ cho một ngân hàng thương mại quốc doanh Các công ty này chịu sự quản lý và chỉ đạo đồng thời của Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa và có mối quan hệ ràng buộc rất lớn với các ngân hàng "mẹ" Trong thời gian này, một khối lượng nợ bằng 170 tỷ USD đã được chuyển giao cho các AMC Kết quả xử lý đến cuối năm

2003, các AMC chỉ thu hồi được 17 tỷ USD và chuyển nợ thành vốn cổ phần 45 tỷ USD Theo đánh giá thì hoạt động của các AMC tại Trung Quốc không đem lại kết quả như mong đợi

Bên cạnh khoản nợ chuyển giao cho các AMC, các ngân hàng thương mại quốc doanh Trung Quốc vẫn còn một khối lượng nợ CVĐ rất lớn (245 tỷ USD vào cuối năm 2002) Họ cũng đã có nỗ lực tự xử lý Năm 2003 đã xử lý nợ CVĐ giảm

13 tỷ USD (Còn 232 tỷ USD) Thực ra khoản nợ được xử lý chủ yếu là việc xoá các khoản nợ không còn khả năng thu hồi Dù thành lập các AMC và để cho các ngân

Trang 23

hàng tự xử, nhưng Trung Quốc vẫn đang gặp khó khăn trong việc xử lý các khoản

nợ CVĐ Vấn đề là ở chỗ Trung Quốc chưa xác định rõ được con nợ thực sự của các khoản nợ CVĐ này và chưa tạo ra nỗ lực trả nợ của các con nợ Với những đặc điểm trên, mô hình xử lý nợ của Trung Quốc được xem là một sự kết hợp của hai

mô hình xử lý nợ tập trung và phi tập trung

1.5.1.4 Xử lý Nợ có vấn đề tại các Ngân hàng thương mại trong nước

Trong nỗ lực xử lý các khoản nợ CVĐ, từ năm 2000, bốn ngân hàng thương mại quốc doanh (Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam) đã thành lập các công ty quản lý tài sản của mình với vốn điều lệ cho mỗi công ty là 30 tỷ đồng Sau đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn Thương Tín (Sacombank) cũng thành lập AMC cho riêng mình với số vốn điều lệ là 3 tỷ đồng Các công ty này thực hiện nhiệm vụ xử lý nợ CVĐ của ngân hàng mẹ Nhưng với mức vốn điều lệ như trên, nhiệm vụ chủ yếu của các AMC là xử lý nợ theo sự uỷ thác của ngân hàng mẹ Các khoản nợ CVĐ vẫn chưa được đưa ra khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng mẹ Kết quả hoạt động của các AMC là rất hạn chế Song song với việc xử lý nợ qua các AMC, năm 2001, Chính phủ đã phê duyệt đề án xử lý nợ CVĐ của các ngân hàng thương mại với tổng số nợ cần xử lý 21.280 tỷ đồng Phương thức xử lý các khoản nợ này chủ yếu

là các ngân hàng tự xử theo các cơ chế chỉ đạo của Chính phủ (Nghị định CP) Mặt khác, để thúc đẩy việc xử lý nợ của các doanh nghiệp nhà nước, đầu năm

149/NĐ-2004, Chính phủ đã quyết định thành lập Công ty xử lý tài sản doanh nghiệp nhà nước với vốn điều lệ là 2.000 tỷ đồng Đây là mô hình của một công ty xử lý nợ quốc gia Hoạt động của công ty này mới chỉ bắt đầu nên chưa thể đánh giá hiệu quả Đối với Việt nam cần có sự phân tích kỹ hơn, nhưng mô hình của Việt nam có

vẻ như là sự kết hợp của mô hình tập trung và phi tập trung

Đầu năm 2004, cùng với việc xử lý nợ thông qua các công ty AMC của NH, Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (gọi tắt là Công ty mua bán nợ - Debt and Assets Trading Company - DATC) với vốn điều lệ ban đầu 2000

tỷ đồng cũng đi vào công tác để xử lý các khoản nợ tồn đọng của các DNNN Vốn

Trang 24

điều lệ của DATC hiện tại là 2.481 tỷ đồng Trong tình hình nợ xấu tăng cao trong NHTM hiện nay, có nhiều ý kiến đề xuất xây dựng một công ty mua bán nợ quốc gia, như mô hình xử lý nợ tập trung của các nước Đông Âu để mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động mua bán nợ, tuy nhiên, trước khi những giải pháp mang tầm vĩ mô được thực hiện, từng NHTM cần phải tự mình xử lý nợ có vấn đề dựa trên cơ sở nắm rõ tình hình khách hàng vay vốn cũng như tài sản thế chấp hay các nguồn khác để trả nợ NH.

Các NHTMVN chủ yếu tập trung xử lý nợ CVĐ có TSBĐ, tuy nhiên, công tác

xử lý nợ CVĐ trong thời gian qua chưa hiệu quả do nhiều nguyên nhân Việc nghiên cứu các mô hình xử lý nợ của các NHTM nước ngoài có thể sẽ rút ra một số kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động này tại Việt Nam thời gian tới

1.5.2 Bài học kinh nghiệm

Qua kinh nghiệm xử lý nợ của các NHTM nước ngoài và thực tiễn xử lý nợ của các NHTMVN, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác xử lý

sự tham gia của các công ty định mức tín nhiệm, công ty bảo lãnh, các nhà tư vấn tài chính vào thị trường sẽ giảm bớt vấn đề thông tin bất đối xứng, làm cho khoản

nợ đáng tin cậy hơn với nhà đầu tư và nâng cao tính chuyên nghiệp của thị trường

- Tiềm lực và nỗ lực trả nợ của khách hàng Nếu như trong mô hình các nước NICs, các con nợ phục hồi sau cuộc khủng hoảng và trả nợ thì trong mô hình Trung Quốc, do con nợ chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả nên rất khó khăn trong việc xử lý nợ xấu Vì vậy, con đường nâng cao hiệu quả của hệ thống NH Việt Nam về lâu dài vẫn là cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước

Trang 25

- Sự độc lập và tự chủ của hệ thống Ngân hàng Sự phụ thuộc của Ngân hàng vào chính phủ sẽ làm giảm tính năng động của Ngân hàng, giảm khả năng cạnh tranh và sức chống đỡ đối với những rủi ro kinh tế vĩ mô.

- Trình độ chuyên môn của cán bộ trong công tác xử lý nợ xấu: Xử lý nợ là một qui trình phức tạp, liên quan đến nhiều kiến thức đa dạng như định giá tài sản, bán, quản lý và khai thác tài sản… Ta có thể thấy, một trong những yếu tố tiên quyết trong thành công của Công ty xử lý nợ quốc gia Hoa Kỳ là do họ có đội ngũ cán bộ chủ chốt với tŕnh độ và kinh nghiệm rất cao được thuyên chuyển từ Cục dự trữ liên bang

- Sự hỗ trợ của các yếu tố nước ngoài: Sự hỗ trợ ở đây được đề cập đến trên hai khía cạnh vốn và kinh nghiệm Điều này lại càng có ý nghĩa hơn đối với Việt Nam khi mà yếu tố nội lực và trình độ ngân hàng còn nhiều hạn chế, và hệ thống ngân hàng đang trong giai đoạn cải tổ một cách toàn diện

- Hệ thống pháp lý đồng bộ, trao những quyền hạn đặc biệt cho AMC trong những khoảng thời gian nhất định để đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu: Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Thuỵ Điển thành công trong vấn đề xử lý nợ xấu một phần cũng do hệ thống luật AMC, luật phá sản và phát mại tài sản ở nước này rất minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xử lý nợ

Trang 26

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ TẠI NGÂN HÀNG

NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về Ngân hàng Ngoại thương và hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Ngoại thương được thành lập trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý ngoại hối trực thuộc NHTƯ (nay là NHNNVN) vào năm 1962 Trong vai trò là NH chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó, công tác của Ngân hàng Ngoại thương chủ yếu ở lĩnh vực kinh tế đối ngoại như cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ tại các NHNNg, làm đại lý cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán, vay nợ, viện trợ với các nước

Ngày 01/04/1963, Ngân hàng Ngoại thương chính thức được thành lập Tính đến nay, trải qua gần 50 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương đã phát triển lớn mạnh theo mô hình tập đoàn tài chính đa năng với 80 chi nhánh, 01 Sở giao dịch, gần 100 phòng giao dịch và 04 công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 02 văn phòng đại diện và 01 công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán

bộ lên tới 12.000 người Ngoài ra, Ngân hàng Ngoại thương còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như bảo hiểm, bất động sản, Ngân hàng tài chính…

Sau 5 năm thực hiện đề án tái cơ cấu (2000 - 2005), Ngân hàng Ngoại thương

đã hoàn thành các mục tiêu đề ra như: (i) xử lý về cơ bản nợ CVĐ và từng bước nâng cao năng lực tài chính; (ii) đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mở rộng HĐKD nhằm tiến tới xây dựng tập đoàn tài chính đa năng; (iii) tạo dựng một nền tảng công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ quản lý toàn , phát triển các sản phẩm mới, mở rộng tiện ích cho khách hàng; (iv) xây dựng một nền móng vững chắc cho việc áp dụng các mô thức quản lý theo chuẩn mực quốc tế thông qua việc cơ cấu lại tổ chức, phát triển mạng lưới, ứng dụng các chuẩn mực quản lý tốt nhất

Trang 27

Với những thành tựu đó, Ngân hàng Ngoại thương đang trên con đường trở thành một tập đoàn tài chính đa năng đáp ứng tốt nhất những chuẩn mực về quản trị

và tài chính quốc tế, công tác sâu rộng có vị thế hơn nữa trên toàn cầu dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao đồng thời giữ vững vai trò tiên phong hàng đầu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

2.1.2 Sơ lược tình hình công tác kinh doanh tại Ngân hàng Ngoại thương

Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam trên các lĩnh vực đầu tư nước ngoài, sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nên tốc độ phát triển kinh tế chỉ được duy trì ở mức khiêm tốn Tuy vậy, cùng với những biện pháp tháo gỡ khó khăn linh hoạt của Chính phủ, NHNNVN và những nỗ lực lớn lao từ chính Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng đã duy trì được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định liên tiếp qua các năm Mặc dù môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn nhưng công tác tín dụng của Ngân hàng đã được cải tiến về nhiều mặt, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đảm bảo dịch vụ cung cấp đạt chất lượng cao Ngoài các công tác cho vay thông thường, Ngân hàng Ngoại thương đã tăng cường công tác qua thị trường liên Ngân hàng trong nước và quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần tăng trưởng lợi nhuận

Trong những năm qua, Ngân hàng Ngoại thương luôn phát huy vai trò là một Ngân hàng uy tín nhất trong các lĩnh vực tài trợ, thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại hối, bảo lãnh và các dịch vụ tài chính, Ngân hàng quốc tế – một trong những lý do chính giúp Ngân hàng Ngoại thương giữ vững thị phần ở mức cao và

ổn định Song song với các HĐKD, Ngân hàng Ngoại thương luôn chú trọng đến các công tác hỗ trợ kinh doanh khác như phát triển nguồn nhân lực, đầu tư chiều sâu vào công nghệ Ngân hàng Ngân hàng bán lẻ (VCB –2010) là một bộ phận chiến lược phát triển của Ngân hàng, được đưa vào sử dụng từ tháng 09/1999 tại Sở giao dịch và đến nay đã triển khai trong Ngân hàng Ngoại thương

Có thể khái quát vài nét về tình hình tài chính của Ngân hàng Ngoại thương qua các năm như sau:

Trang 28

Bảng 2.1: Tình hình tài chính Ngân hàng Ngoại thương giai đoạn 2007-2011

(Nguồn: Báo cáo tài chính thường niên NHNT giai đoạn 2007 – 2011)

Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) tăng trưởng bền vững qua các năm Vốn của Ngân hàng Ngoại thương cũng được bổ sung liên tục để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo quy định Năm 2010,

hệ số CAR (hệ số an toàn vốn) của Ngân hàng Ngoại thương đạt 8,37%, năm 2011

là khoảng 11,4%, và dự kiến năm 2012, hệ số này vào khoảng 11-12%, do trong năm 2012, Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện chuyển đổi thành công việc bán 15% cổ phần cho đối tác chiến lược là Ngân hàng Mizoho – Nhật Bản, nâng vốn chủ sở hữu thêm 15.000 tỷ đồng, điều này giúp cho Ngân hàng Ngoại thương có được hệ số an toàn vốn khá an toàn

Trang 29

Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản và lợi nhuận trước thuế qua các năm

(Nguồn: Báo cáo tài chính thường niên Ngân hàng Ngoại thương từ 2007 – 2011)

Tổng tài sản và lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương đã có sự tăng trưởng ổn định và bền vững qua các năm Nếu như giai đoạn năm 2007-2008 lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương đạt khoảng 3.000 tỷ đồng thì đến giai đoạn 2010-2011, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương đã tăng gấp 1,8 lần, vào khoảng 5.600 tỷ đồng Năm 2011, do ảnh hưởng của khó khăn chung của nền kinh tế, lợi nhuận trước thuế có giảm nhẹ so với năm 2010, tuy nhiên vẫn cao thứ 2 trên toàn ngân hàng Lợi nhuận trước thuế năm 2012 của Ngân hàng Ngoại thương ước đạt 6.590 tỷ đồng, tăng 15% so với năm 2011 Tính đến thời điểm 30/06/2012, lợi nhuận trước thuế của Ngân hàng Ngoại thương đạt 2.800 tỷ đồng, đạt 42,48 % so với kế hoạch cả năm

2.1.3 Hoạt động tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng

Ngoại thương

2.1.3.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương

Trang 30

Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn và dư nợ tín dụng Ngân hàng Ngoại thương

(Nguồn: Báo cáo tài chính thường niên Ngân hàng Ngoại thương từ 2008 – 2011)

Dư nợ tín dụng và huy động vốn của Ngân hàng Ngoại thương tăng đếu qua các năm, riêng năm 2011, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng có giảm so với các năm trước Hệ số dư nợ tín dụng/vốn huy động của Ngân hàng Ngoại thương luôn ở mức trên 70% và tăng dần qua các năm Điều này cho thấy Ngân hàng Ngoại thương đã cố gắng tận dụng nguồn vốn huy động được từ thị trường để cho vay nhằm tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng tuy nhiên, hệ số dư nợ tín dụng càng cao thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh cũng cao hơn Vì thế, bên cạnh việc tận dụng nguồn vốn huy động để kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương cũng cần tăng cường giám sát chặt chẽ hơn nghiệp vụ cho vay của mình để bảo đảm hạn chế tối đa tổn thất xảy ra

2.1.3.2 Chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương thời gian qua Bảng 2.3: Tình hình nợ quá hạn và trích lập DPRR toàn Ngân hàng Ngoại thương

(Nguồn: Báo cáo kết quả HĐKD Ngân hàng Ngoại thương 2008-2012)

Qua bảng số liệu trên ta thấy tỷ lệ nợ CVĐ của Ngân hàng Ngoại thương có nhiều biến động qua các năm Năm 2008, tỷ lệ nợ CVĐ ở mức cao là 7,06%, đây là năm nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, dẫn đến khó khăn chung cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ cho NH Sau giai đoạn nợ có vấn đề, nợ DPRR

Trang 31

cũng như tỷ lệ nợ CVĐ giảm nhanh, đến năm 2010, nợ CVĐ tại Ngân hàng Ngoại thương lại có chiều hướng gia tăng với số lượng lớn, cụ thể năm 2011, nợ DPRR là 3.473 tỷ đồng, tăng 2.089 tỷ đồng tức tăng 150,9 % so với năm 2010 Tính đến tháng 06/2012, tỷ lệ nợ CVĐ đã là 4,99%, trong đó nợ đã sử dụng DPRR là 2.039 tỷ đồng Như vậy có thể thấy chi phí trích lập và sử dụng DPRR tại Ngân hàng Ngoại thương đã tăng mạnh và ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương thời gian qua.

Trích lập và sử dụng DPRR: Ngân hàng Ngoại thương luôn thực hiện đầy đủ

DPRR theo qui định của Quyết định 493 của Ngân hàng Ngoại thương về việc phân loại và trích lập dự phòng Qua bảng trên, có thể nhận thấy số trích lập dự phòng của Ngân hàng Ngoại thương có nhiều biến động và đang có chiều hướng gia tăng Nếu như năm 2009, số trích lập chỉ là 788 tỷ đồng thì đến năm 2011, số trích lập đã lên đến 3.473 tỷ đồng, điều này ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu và kế hoạch lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương, đồng thời phản ảnh xu hướng nợ CVĐ đang tăng cao, không chỉ ở Ngân hàng Ngoại thương, mà là xu hướng chung của ca ngân hàng Việt Nam khi nền kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn

Lũy kế cho đến nay, Ngân hàng Ngoại thương đã thu nợ sau xử lý bằng dự phòng đạt 2.300 tỷ đồng, chỉ chiếm khoảng 30% so với các khoản nợ đã xử lý bằng

dự phòng

Nếu quy đổi kết quả phân loại nợ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN thì tổng số nợ CVĐ của Ngân hàng Ngoại thương tại thời điểm 30/06/2012 theo kết quả bảng dưới đây:

Bảng 2.4: Kết quả phân loại nợ theo Quyết định 493 tại thời điểm ngày

30/06/2012

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Nhóm nợ

Giá trị các khoản nợ

Dự phòng

cụ thể

Dự phòng chung

Tổng dự phòng

Giá trị các

khoản nợ

Trang 32

Nhóm 3 3.697 471 28 499 3.697

(Nguồn: Báo cáo Phân loại nợ NHNT tại thời điểm 30/06/2012)

2.2 Thực trạng công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng Ngoại thương trong thời gian qua

2.2.1 Tình hình chung về dư nợ CVĐ và đặc điểm các khoản nợ CVĐ tại Ngân

hàng Ngoại thương

2.2.1.1 Tình hình dư nợ CVĐ

a) Tình hình nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương

Nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương thời gian qua đã có sự tăng đột biến cả về

dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu Nếu như năm 2009, dư nợ xấu của Ngân hàng Ngoại thương là 3.498 tỷ đồng với tỷ lệ nợ xấu chỉ 2,47 % thì sang năm 2010, dư nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương là 5.147 tỷ đồng, tăng 47,1 % so với năm 2009 Năm

2011, dư nợ xấu giảm 17,3% so với năm 2010 từ 5.147 tỷ đồng xuống còn 4.257 tỷ đồng Tuy nhiên, năm 2012, do ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế, nợ xấu trong Ngân hàng Việt Nam nói chung và Ngân hàng Ngoại thương nói riêng tăng cao Tính đến ngày 30/06/2012, dư nợ xấu của Ngân hàng Ngoại thương là 8.706 tỷ đồng, tăng 104,5% so với năm 2011, với tỷ lệ nợ xấu ở mức 3,47% Các chỉ số này vẫn ở mức cao, mặc dù trong năm 2012, Ngân hàng Ngoại thương đã trích lập và sử dụng DPRR đến 3.000 tỷ đồng để xử lý nợ xấu Điều này cho thấy, nợ xấu tại Ngân hàng Ngoại thương đang có chiều hướng tăng mạnh trong thời gian qua và đang có

xu hướng tăng cao hơn nữa do những dự báo không mấy lạc quan về triển vọng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới

Biểu đồ 2.2: Dư nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2008-06/2012

Trang 33

(Nguồn: Báo cáo nợ có vấn đề NHNT giai đoạn 2008 - 06/2012)

b) Nợ DPRR được sử dụng tại Ngân hàng Ngoại thương thời gian qua

Để bảo đảm tỷ lệ nợ xấu theo kế hoạch kinh doanh đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua, Ngân hàng Ngoại thương đã sử dụng Quỹ DPRR để đưa các khoản nợ xấu theo dõi ngoại bảng, qua Biểu đồ 03, có thể nhận thấy rõ Ngân hàng Ngoại thương đang coi việc xử lý DPRR như một biện pháp hiệu quả để điều chỉnh tỷ lệ nợ xấu phù hợp với các kế hoạch kinh doanh Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng đây chỉ là biện pháp mang tính chất kỹ thuật, do việc đưa ra hạch ngoại bảng không phải là đã xử lý xong khoản nợ xấu, việc tính lãi quá hạn, lãi phạt vẫn được thực hiện bình thường, và việc theo dõi, thu nợ được tăng cường

áp dụng các biện pháp mạnh hơn

Trang 34

Biểu đồ 2.3: Dư nợ DPRR và tỷ lệ nợ DPRR/Tổng dư nợ giai đoạn

2008-06/2012

(Nguồn: Báo cáo nợ có vấn đề NHNT giai đoạn 2008 - 06/2012)

Giá trị nợ xấu được sử dụng DPRR hạch toán ra ngoại bảng liên tục tăng, đặc biệt trong thời gian 3 năm trở lại đây, khi khó khăn chung ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, và nợ xấu đã trở thành khái niệm quen thuộc và được thông tin đại chúng đưa tin cũng như trở thành đề tài được đề cập phổ biến và rộng rãi hơn Cụ thể, năm 2011, dư nợ được sử dụng DPRR là 3.474 tỷ đồng, tăng đột biến hơn 2.029

tỷ đồng (tức tăng đến 151%) so với năm 2010 Còn chỉ tính đến thời điểm tháng 06/2012, dư nợ sử dụng DPRR đã là 2.039 tỷ đồng, tức bằng 58% so với dư nợ DPRR cả năm 2011 Điều này cho thấy xu hướng tiếp tục sử dụng DPRR để xử lý

nợ xấu chưa dừng lại, và áp lực chỉ tiêu kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương phục thuộc rất nhiều vào việc thu hồi các khoản nợ đã được xử lý DPRR

c) Nợ CVĐ phân theo khu vực địa lý

Để thấy rõ hơn chất lượng tín dụng của Ngân hàng Ngoại thương trên từng địa bàn, khu vực khác nhau trong cả nước, chúng ta cùng xem xét tỷ trong nợ CVĐ phân theo khu vực:

Trang 35

Bảng 2.5: Số liệu cơ cấu dư nợ CVĐ theo vùng địa lý

(Nguồn: Báo cáo Nợ có vấn đề NHNT năm 2011 và tháng 06/2012)

Qua số liệu trên có thể thấy nợ CVĐ đã tăng mạnh trong năm 2008 và tăng đều trên tất cả các khu vực địa lý, đặc biệt ở cả những khu vực trước đây có tỷ lệ nợ CVĐ thấp như Hồ Chi Minh, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ…thực tế đó đã phản ánh

mô hình, chính sách quản trị rủi ro tín dụng cũng như các giải pháp xử lý nợ CVĐ, nợ có vấn để của Ngân hàng Ngoại thương tại khu vực Nam Bộ chưa thực

sự hiệu quả Thực tế cho thấy, nợ CVĐ của từng khu vực chịu ảnh hưởng bởi sự khó khăn của thị trường một số ngành nghề nhất định Nợ CVĐ của khu vực Nam Bộ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực thủy, hải sản, do ảnh hưởng của kinh tế khó khăn, đầu ra giảm sút, cộng thêm lượng hàng tồn kho lớn, thời gian lưu trữ ngắn, giá trị bị suy giảm nhanh chóng Nợ CVĐ của khu vực miền Trung, Tây Nguyên chủ yếu nằm ở các khoản vay tài trợ cho mặt hàng cà phê, do thị trường đầu ra suy giảm, dẫn đến kết quả kinh doanh thua lỗ, không có nguồn để trả nợ ngân hàng ở khu vực miền Bắc trừ Hà Nội, nợ CVĐ tập trung ở các khách hàng kinh doanh sắt thép và tài trợ cho hoạt động vận tải biển, nguyên nhân phát sinh

nợ CVĐ chủ yếu là do đầu tư quá nhiều ngành nghể, không tập trung, dàn trải vốn dẫn đến kinh doanh không hiệu quả

Việc xử lý nợ CVĐ tại nhiều khu vực với những đặc thù khoản vay và tài sản thế chấp khác nhau trên toàn là thách thức thật sự trong công tác xử lý nợ CVĐ của Ngân hàng Ngoại thương

Trang 36

d) Nợ CVĐ phân theo kỳ hạn và loại tiền vay

Phân theo kỳ hạn vay, dư nợ CVĐ ngắn hạn chiếm tỷ trọng trung bình khoảng 59% tổng dư nợ CVĐ, trong khi đó, dư nợ của các khoản vay trung, dài hạn chiếm 41% tổng dư nợ CVĐ

Bảng 2.6: Số liệu dư nợ CVĐ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay

(Nguồn: Báo cáo Nợ có vấn đề NHNT giai đoạn 2008-06/2012)

Phân theo loại tiền vay, nợ CVĐ các khoản cho vay bằng đồng Việt Nam cũng chiếm tỷ trọng cao hơn các khoản vay bẳng Đô la Mỹ hay các ngoại tệ khác Cụ thể, trong giai đoạn từ năm 2008-06/2012, dư nợ CVĐ bằng VND chiếm 54% tổng dư

nợ CVĐ, trong khi dư nợ CVĐ bằng USD và các ngoại tệ khác chiếm tỷ trọng trung bình lần lượt là 40% và 6% so với tổng dư nợ CVĐ

Biểu đồ 2.4: Dư nợ CVĐ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay

(Nguồn: Báo cáo Nợ có vấn đề NHNT giai đoạn 2008-06/2012)

2.2.1.2 Đặc điểm các khoản Nợ có vấn đề Ngân hàng Ngoại thương phải xử lý

Trang 37

a) Nợ CVĐ không có khả năng phục hồi chiếm tỷ trọng cao

Nợ CVĐ tại Ngân hàng Ngoại thương được phân thành 2 loại chính để xử lý, gồm Nợ có thể phục hồi và nợ không thể phục hồi Nợ có thể phục hồi là khoản vay của những khách hàng có uy tín, quan hệ lâu dài với Ngân hàng Ngoại thương và có tiềm lực tài chính cũng như lịch sử quan hệ tín dụng tốt, tuy nhiên đang gặp khó khăn tạm thời trong kinh doanh, ảnh hưởng đến dòng tiền và nguồn thu trả nợ ngân hàng trong ngắn hạn Đối với những khoản nợ này, Ngân hàng Ngoại thương có thể áp dụng các biện pháp phục hồi, tạo điều kiện cho khách hàng có thể vượt qua giai đoạn khó khăn tạm thời như: miễn, giảm lãi vay, cơ cấu lại thời gian trả nợ của các khoản vay đến hạn…

Nợ không thể phục hồi là những khoản nợ của khách hàng gặp khó khăn trong kinh doanh, hoạt động không hiệu quả, không có phương án sản xuất kinh doanh phục hồi nếu được ngân hàng tài trợ thêm vốn hay áp dụng các biện pháp hỗ trợ, và thường không có khả năng thanh toán hoàn toàn nợ gốc và lãi vay cho ngân hàng Đối với những khoản nợ này, Ngân hàng Ngoại thương sẽ áp dụng các biện pháp mạnh, chủ yếu tập trung xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, như: bán nợ, khởi kiện, phát mại tài sản…

Biểu đồ 2.5: Dư nợ CVĐ theo khả năng thu hồi

(Nguồn: Báo cáo Nợ có vấn đề NHNT đến tháng 06/2012)

Tính đến ngày 30/06/2012, nợ CVĐ có thể phục hồi tại Ngân hàng Ngoại thương chiếm 45% tổng nợ CVĐ (khoảng 4.835 tỷ đồng), và nợ không thể phục hồi, cần áp dụng các biện pháp mạnh chiểm 55% tổng nợ CVĐ (khoảng 5.910 tỷ

Trang 38

đồng) Trong số các khoản nợ không thể phục hồi cần áp dụng các biện pháp mạnh thì phát mại tài sản, khởi kiện là những biện pháp được áp dụng nhiều nhất

Biện pháp nhận tài sản để cấn trừ nợ trong khoảng 2 năm gần đây gần như không được áp dụng, biện pháp này phù hợp trong điều kiện ngân hàng đang trong quá trình mở rộng mạng lưới hoạt động kinh doanh, khi đó những tài sản là bất động sản có vị trí địa lý thuận lợi cho việc kinh doanh sẽ được nhận cấn trừ nợ cho khoản vay, và bất động sản nhận cấn trừ nợ trở thành tài sản của Ngân hàng

Biện pháp bán nợ chiếm tỷ trọng nhỏ (khoảng 3% tổng dư nợ CVĐ) không được

áp dụng nhiều, do việc tìm đối tác bán nợ rất khó khăn do những tài sản thế chấp của những khoản bán nợ mang tính đặc thù cao, chỉ phù hợp với một số ngành nghề kinh doanh nhất định, hơn nữa, trong giai đoanh kinh tế khó khăn, việc mua lại dây chuyền, máy móc thiết bị để mở rộng đầu tư sản xuất không phải là sự lựa chọn của các chủ doanh nghiệp hay nhà đầu tư Trong thời gian qua, Ngân hàng Ngoại thương chủ yếu thường thỏa thuận và đàm phán bán các khoản nợ cho DATC, tuy nhiên, giá mua DATC đặt ra thường rất thấp, chỉ khoảng 25-30% giá trị nợ gốc của khoản vay

b) Nợ CVĐ tập trung vào các ngành kinh tế có tỷ trọng cho vay cao

Cơ cấu mặt hàng cho vay của Ngân hàng Ngoại thương khá đa dạng, tuy nhiên vẫn còn tập trung vào một số ngành hàng như: sắt thép, các dự án điện, dầu khí… Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu phân tán rủi ro trong đầu tư tín dụng Dư nợ CVĐ và tỷ lệ nợ CVĐ của các ngành tài trợ vốn này cũng chiếm tỷ trọng cao trên tổng dư nợ CVĐ (chiếm tỷ trọng 46,83 %)

Bảng 2.7: Số liệu dư nợ CVĐ theo ngành kinh tế

Trang 39

Trong các ngành đầu tư có dư nợ CVĐ, sắt thép chiếm tỷ trọng cao nhất với tỷ trọng 8,37 % Sắt thép là ngành được tài trợ vốn lớn, chủ yếu là các khoản đầu tư dự

án lớn với thời gian vay trung, dài hạn Tuy nhiên, đặc thù của ngành này chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường và khó khăn chung của nền kinh tế Năm 2011-2012 kinh tế Việt Nam gặp khó khăn, đặc biệt thị trường bất động sản đóng băng, kéo theo các ngành sắt thép, xây dựng…gặp khó khăn Ngân hàng Ngoại thương cũng chịu ảnh hưởng một phần do đầu tư và tài trợ tín dụng lớn cho các ngành trên, thể hiện ở việc

nợ CVĐ tăng mạnh so với các năm trước

Ngành thủy sản cũng là một trong những ngành kinh doanh chịu nhiều rủi ro khi đầu tư do chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết và các yếu tố khách quan khác như thị trường đầu ra, các chính sách kinh tế hay hạn mức thuế quan Hiện tại, nợ CVĐ của ngành thủy sản chiếm khoảng 4,42 % tổng dư nợ CVĐ, tập trung chủ yếu ở khu vực Nam Bộ do đặc thù của vùng miền kinh tế Tuy nhiên, trong năm 2012, thị trường thủy sản gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho nhiều nhưng không bán được, do hàng thủy sản giảm giá trị nhanh, dẫn đến việc xử lý tài sản thế chấp gặp nhiều khó khăn và không hiệu quả

c) Tài sản bảo đảm đa dạng và khó xử lý

Để ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thất rủi ro tín dụng nếu xảy ra Ngân hàng Ngoại thương đã hạn chế đến mức cao nhất việc cấp tín dụng không có TSBĐ Theo

số liệu báo cáo tình hình dư nợ tín dụng tính đến ngày 31/12/2011, dư nợ vay tín chấp tại Ngân hàng Ngoại thương chiếm 29,75% tổng dư nợ; các khoản vay có TSBĐ chiếm 70,25 % tổng dư nợ Các khoản nợ vay không có TSBĐ chủ yếu là các khoản bảo lãnh cho các Tổng công ty, Công ty nhà nước có uy tín và có tiềm lực tài chính mạnh

- Việc xử lý nợ CVĐ tại Ngân hàng Ngoại thương hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào việc xử lý TSBĐ, chi tiết tỷ lệ các khoản mục TSBĐ của các khoản nợ CVĐ tại Ngân hàng Ngoại thương phân theo loại tài sản cụ thể như sau:

Trang 40

Biểu đồ 2.6: Tài sản bảo đảm các khoản nợ CVĐ

(Nguồn: Báo cáo Nợ có vấn đề NHNT đến tháng 06/2012)

Qua biểu đồ trên, có thể nhận thấy hầu hết TSBĐ cho khoản vay tại Ngân hàng Ngoại thương tồn tại rất nhiều loại hình khác nhau, có thể kể đến như đất đai, nhà cửa, biệt thự, khách sạn, máy móc, trang thiết bị… Đây là một khó khăn đối với Ngân hàng Ngoại thương khi phải giải quyết các tài sản này để thu nợ vì mỗi loại hình tài sản có khó khăn riêng, hình thức xử lý, biện pháp xử lý khác nhau Do đó, Ngân hàng Ngoại thương phải tốn rất nhiều thời gian và nhân lực cũng như chi phí cho việc phân loại tài sản và tiến hành xử lý thu nợ

Một đặc điểm nữa là TSBĐ phân bố ở nhiều vùng khác nhau (Ngân hàng Ngoại thương có 77/80 Chi nhánh phát sinh nợ CVĐ có TSBĐ tính đến thời điểm ngày 30/06/2012) Bên cạnh một số tài sản nằm cạnh các thành phố hay vị trí địa lý thuận lợi thì rất nhiều tài sản khác nằm ở những vùng khó khăn cả về giao thông cũng như vị trí địa lý không tốt Giá trị tài sản thế chấp qua thời gian bị giảm sút hao mòn vô hình cũng như hữu hình đã ít nhiều gây ra tổn thất cho NH Bên cạnh

đó, hầu hết các tài sản khi cho vay đều được định giá quá cao (tổng giá trị TSBĐ thế chấp cho các khoản nợ là 282.736.095 triệu đồng, đạt tỷ lệ 110%/ tổng dư nợ tín dụng) nhưng khi NH nhận để xử lý nợ thì tài sản đã bị hư hỏng, xuống cấp và giá trị TSBĐ được hội đồng định giá lại rất thấp

Ngày đăng: 07/05/2015, 11:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bản cáo bạch (2008-2011), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản cáo bạch (2008-2011)
2. Báo cáo thường niên (2008, 2009, 2010, 2011) Ngân hàng Ngoại thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên (2008, 2009, 2010, 2011)
6. Edward.W. Reed Ph.D, Edward.K. Gill Ph.D, Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, PGS.TS Lê Văn Tề và TS. Hồ Diệu biên dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Nhà XB: NXB Thống kê
7. Huỳnh Thế Du, Thành công và thất bại của các mô hình xử lý nợ CVĐ, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành công và thất bại của các mô hình xử lý nợ CVĐ
8. Nguyễn Văn Phương, Quyết định mới về bán đấu giá tài sản nhìn từ góc độ Ngân hàng, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định mới về bán đấu giá tài sản nhìn từ góc độ Ngân hàng
9. Tạp chí tài chính, Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của Doanh nghiệp, công cụ xử lý nợ của doanh nghiệp, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của Doanh nghiệp, công cụ xử lý nợ của doanh nghiệp
10. Thời báo Kinh tế Việt Nam (05/05/2004), Vướng mắc trong vấn đề định giá tài sản, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vướng mắc trong vấn đề định giá tài sản
11. Ths. Trầm Xuân Hương (06/2003), Các giải pháp góp phần xử lý tài sản thế chấp tồn đọng nhằm thu hồi nợ cho NHTM nước ta hiện nay, ĐHKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp góp phần xử lý tài sản thế chấp tồn đọng nhằm thu hồi nợ cho NHTM nước ta hiện nay
12. www. vneconomy.com.vn, Xử lý nợ xấu Ngân hàng: Cách nào?, bài viết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nợ xấu Ngân hàng: Cách nào

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình tài chính Ngân hàng Ngoại thương giai đoạn 2007-2011 - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.1 Tình hình tài chính Ngân hàng Ngoại thương giai đoạn 2007-2011 (Trang 28)
Bảng 2.4: Kết quả phân loại nợ theo Quyết định 493 tại thời điểm ngày - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.4 Kết quả phân loại nợ theo Quyết định 493 tại thời điểm ngày (Trang 31)
Bảng 2.5: Số liệu cơ cấu dư nợ CVĐ theo vùng địa lý - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.5 Số liệu cơ cấu dư nợ CVĐ theo vùng địa lý (Trang 35)
Bảng 2.6: Số liệu dư nợ CVĐ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.6 Số liệu dư nợ CVĐ theo kỳ hạn vay và loại tiền vay (Trang 36)
Bảng 2.7: Số liệu dư nợ CVĐ theo ngành kinh tế - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.7 Số liệu dư nợ CVĐ theo ngành kinh tế (Trang 38)
Bảng 2.8: Kết quả xử lý nợ theo các biện pháp tại Quyết định - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.8 Kết quả xử lý nợ theo các biện pháp tại Quyết định (Trang 51)
Bảng 2.9: Chi tiết kết quả xử lý nợ theo các biện pháp - Luận văn thạc sỹ: Nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Bảng 2.9 Chi tiết kết quả xử lý nợ theo các biện pháp (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w