Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội cùng với việc nước ta trở thành thành viên của nhiều tổ chức thương mại đã làm gia tăng nhanh chóng hoạt động thương mại xuất nhập khẩu, đặt ra cho ngành Hải quan yêu cầu cấp thiết là phải tạo điều kiện thông thoáng về thủ tục Hải quan, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Trong bối cảnh đó, chuyển từ phương pháp quản lý Hải quan truyền thống dựa trên hoạt động kiểm tra toàn bộ hàng hóa để thông quan sang phương pháp quản lý tiên tiến dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro, tức là trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lý thông tin để quyết định thông quan, cùng với việc sử dụng các giải pháp nghiệp vụ hỗ trợ như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, kiểm soát, thu thập thông tin… đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan. Một trong các mô hình nghiệp vụ hỗ trợ có hiệu quả nhất chính là nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan (KTSTQ).Trên bình diện quốc tế, cơ quan Hải quan các nước tiến tiến đều coi KTSTQ là một khâu nghiệp vụ trong công nghệ quản lý của Hải quan hiện đại. Hơn nữa, ứng dụng mô hình KTSTQ là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập. KTSTQ đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Đối với Hải quan Việt Nam, mô hình KTSTQ mới chỉ được triển khai thực hiện từ 01012002, thời điểm Luật Hải quan có hiệu lực. Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ ban đầu nhưng hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam vẫn còn rất nhiều bất cập, thiếu sót cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Trong quá trình triển khai hoạt động KTSTQ, hiện tại Hải quan Việt Nam đang gặp phải một số khó khăn như sau: Thứ nhất, là về nhận thức, bao gồm nhận thức trong nội bộ ngành Hải quan, nhận thức của các doanh nghiệp, của xã hội và của một số cơ quan nhà nước hữu quan về hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ. Thứ hai, là khối lượng công việc tăng nhanh, tạo áp lực lớn. Với mức độ tăng về số lượng các lô hàng XNK mỗi năm từ 20 đến 30%. Khối lượng khổng lồ như vậy tạo sức ép công việc rất lớn đến thông quan và KTSTQ. Thứ ba, là về hệ thống pháp luật, còn có những quy định không đồng bộ, do đó người thực thi gặp nhiều khó khăn. Thứ tư, là ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp cố tình vi phạm pháp luật, gian lận trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi KTSTQ. Thứ năm, mô hình KTSTQ chưa đồng bộ, đặc biệt là vấn đề tổ chức bộ máy, phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành, và vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ. Là một đơn vị trực thuộc Tổng Cục Hải quan, được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn có vị trí chiến lược cả về lĩnh vực kinh tế và an ninh quốc phòng ở vùng Đông bắc của Tổ quốc. Trong những năm qua, cùng với toàn Ngành Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đã tập trung và ưu tiên hàng đầu cho công tác cải cách, phát triển và hiện đại hoá với mục tiêu liên tục nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả các mặt công tác nhằm giải quyết được sự mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh hàng năm của khối lượng hàng hoá XNK, phương tiện vận tải và hành khách XNC với yêu cầu phải luôn đảm bảo và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về Hải quan. KTSTQ nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiện những gian lận, sai sót trong khai báo Hải quan và trong thực tế kinh doanh của doanh nghiệp đối với hàng hoá XNK, chống thất thu cho NSNN; và điều quan trọng là thông qua hoạt động KTSTQ quan để tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân hiểu rõ hơn về các quy định của Nhà nước trong hoạt động XNK. Vì vậy, hoạt động KTSTQ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giữ vị trí chủ đạo trong công tác quản lý Hải quan hiện đại.Để đáp ứng yêu cầu đó, Cục Hải quan Quảng Ninh là một trong những đơn vị đi đầu trong toàn ngành Hải quan thành lập và triển khai hoạt động KTSTQ; thực tế sau một thời gian thực hiện KTSTQ đã thu được những kết quả đáng khích lệ, phát hiện và xử lý nhiều vi phạm, gian lận trốn thuế… truy thu về cho NSNN hàng trăm tỷ đồng. Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng gặp những bất cập, khó khăn như đã nêu ở trên.Là một công chức Hải quan công tác tại Cục Hải quan Quảng Ninh, nhận thức được tầm quan trọng với tính cấp thiết được nêu ở trên chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh”.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp tên đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh” là bản nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở lý
thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bá Ngọc.
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh giá, kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm
Tác giả
Lương Ngọc Thành
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5
3.1 Mục đích 5
3.2 Nhiệm vụ 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 6
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn 6
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7.1 Ý nghĩa lý luận 6
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 6
8 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 8
1.1 HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan 8
1.1.2 Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan 15
1.1.3 Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan 18
1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan 20
1.2 NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 21
1.2.1 Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan 21
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan 30
1.3 KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH .37 1.3.1 Kinh nghiệm trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của một số địa phương .37
1.3.2 Bài học rút ra cho Cục Hải quan Quảng Ninh 42
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH 45
2.1 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH 45
2.1.1 Giới thiệu khái quát về Cục Hải quan Quảng Ninh và hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh 45
2.1.2 Những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh 49 2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2008-2013 VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.51
Trang 3kiểm tra và những kết quả đạt được 51
2.2.2 Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và những kết quả đạt được 66
2.2.3 Thực trạng công tác lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu 78
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦA CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH 82
2.3.1 Những mặt được trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh 82
2.3.2 Những tồn tại chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh 83
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan Quảng Ninh 83
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH 86
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI 86
3.1.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và của Ngành Hải quan trong việc phát triển Hải quan hiện đại 86
3.1.2 Xu hướng về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và khả năng xảy ra rủi ro trong quản lý Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 88
3.1.3 Phương hướng, mục tiêu hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh đến năm 2017 90
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN QUẢNG NINH TRONG THỜI GIAN TỚI 91 3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách về KTSTQ 91
3.2.2 Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng lực lượng kiểm tra sau thông quan theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu 95
3.2.3 Hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, đẩy mạnh áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động kiểm tra sau thông quan 99
3.2.4 Xây dựng chương trình và tăng cường công tác phối hợp với các tổ chức, cá nhân phục vụ kiểm tra sau thông quan 100
3.2.5 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về kiểm tra sau thông quan.102 3.3 KIẾN NGHỊ 103
3.3.1 Kiến nghị chung 103
3.3.2 Kiến nghị Quốc hội 103
3.3.3 Kiến nghị Chính phủ: 104
3.3.4 Kiến nghị Bộ Tài chính và Tổng Cục Hải quan: 104
3.3.4 Kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ninh: 105
3.3.5 Kiến nghị Cục Hải quan Quảng Ninh: 105
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Hệ thống mô tả hài hòa mã số hàng hóa Kiểm tra Sau thông quan
Chương trình Kế toán thuế Ngân sách Nhà nước Chương trình Số liệu xuất nhập khẩu Web Quản lý rủi ro
Chương trình Quản lý vi phạm Chương trình Quản lý doanh nghiệp phục vụ công tác kiểm tra Sau thông quan và quản lý rủi ro
Tổng cục Hải quan Chi phí xếp dỡ hàng hóa Thông quan điện tử
Tổ chức Hải quan Thế giới
Tổ chức Thương Mại Thế giới Xuất nhập khẩu
Xuất nhập cảnh
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
TrangBảng 1.1: Kết quả KTSQ tại Cục Hải quan Lạng Sơn 38Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai 40Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá 41
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan QuảngNinh 48Bảng 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013 56Bảng 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan QuảngNinh giai đoạn 2008-2013 58Bảng 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninhgiai đoạn 2008-2013 59Bảng 2.4: Thông tin do các Chi Cục Hải quan cửa khẩu cung cấp cho
hoạt động KTSTQ giai đoạn 2008-2013 61Bảng 2.5: Nguồn thông tin nhận được từ các cơ quan liên quangiai đoạn 2008-2013 62Bảng 2.6: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013 63
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Biểu 2.1: Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2013Biểu 2.2: Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh
giai đoạn 2008-2013Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh
giai đoạn 2008-2013Biểu 2.4: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013
Biểu 2.5: Số lượng doanh nghiệp được KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh giai đoạn 2008-2013Biểu 2.6: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực trị giá Hải quan qua KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013Biểu 2.7: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực mã số hàng hoá qua KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013Biểu 2.8: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư qua KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013Biểu 2.9: Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC, SXXK
qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế xã hội cùng với việc nước ta trởthành thành viên của nhiều tổ chức thương mại đã làm gia tăng nhanh chóng hoạt độngthương mại xuất nhập khẩu, đặt ra cho ngành Hải quan yêu cầu cấp thiết là phải tạođiều kiện thông thoáng về thủ tục Hải quan, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động xuấtnhập khẩu, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Trong bối cảnh đó, chuyển từphương pháp quản lý Hải quan truyền thống dựa trên hoạt động kiểm tra toàn bộ hànghóa để thông quan sang phương pháp quản lý tiên tiến dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro,tức là trên cơ sở thu thập, phân tích, xử lý thông tin để quyết định thông quan, cùng vớiviệc sử dụng các giải pháp nghiệp vụ hỗ trợ như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thôngquan, kiểm soát, thu thập thông tin… đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan Mộttrong các mô hình nghiệp vụ hỗ trợ có hiệu quả nhất chính là nghiệp vụ kiểm tra sauthông quan (KTSTQ)
Trên bình diện quốc tế, cơ quan Hải quan các nước tiến tiến đều coi KTSTQ làmột khâu nghiệp vụ trong công nghệ quản lý của Hải quan hiện đại Hơn nữa, ứngdụng mô hình KTSTQ là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của ViệtNam trong quá trình hội nhập KTSTQ đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi trêntoàn thế giới
Đối với Hải quan Việt Nam, mô hình KTSTQ mới chỉ được triển khai thực hiện
từ 01/01/2002, thời điểm Luật Hải quan có hiệu lực Mặc dù đã đạt được những kết quảđáng khích lệ ban đầu nhưng hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam vẫn còn rấtnhiều bất cập, thiếu sót cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp Trong quá trình triển khaihoạt động KTSTQ, hiện tại Hải quan Việt Nam đang gặp phải một số khó khăn nhưsau:
- Thứ nhất, là về nhận thức, bao gồm nhận thức trong nội bộ ngành Hải quan,
nhận thức của các doanh nghiệp, của xã hội và của một số cơ quan nhà nước hữu quan
về hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ
Trang 8về số lượng các lô hàng XNK mỗi năm từ 20 đến 30% Khối lượng khổng lồ như vậytạo sức ép công việc rất lớn đến thông quan và KTSTQ.
- Thứ ba, là về hệ thống pháp luật, còn có những quy định không đồng bộ, do
đó người thực thi gặp nhiều khó khăn
- Thứ tư, là ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp Một số doanh nghiệp
cố tình vi phạm pháp luật, gian lận trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khiKTSTQ
- Thứ năm, mô hình KTSTQ chưa đồng bộ, đặc biệt là vấn đề tổ chức bộ máy,
phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong và ngoài ngành, và vấn đề ứng dụng côngnghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ
Là một đơn vị trực thuộc Tổng Cục Hải quan, được giao thực hiện nhiệm vụquản lý nhà nước về Hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, một địa bàn có vị trí chiếnlược cả về lĩnh vực kinh tế và an ninh quốc phòng ở vùng Đông bắc của Tổ quốc.Trong những năm qua, cùng với toàn Ngành Hải quan, Cục Hải quan Quảng Ninh đãtập trung và ưu tiên hàng đầu cho công tác cải cách, phát triển và hiện đại hoá với mụctiêu liên tục nâng cao năng lực quản lý cả về chất lượng và hiệu quả các mặt công tácnhằm giải quyết được sự mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh hàng năm của khối lượng hànghoá XNK, phương tiện vận tải và hành khách XNC với yêu cầu phải luôn đảm bảo vànâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về Hải quan
KTSTQ nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, phát hiệnnhững gian lận, sai sót trong khai báo Hải quan và trong thực tế kinh doanh của doanhnghiệp đối với hàng hoá XNK, chống thất thu cho NSNN; và điều quan trọng là thôngqua hoạt động KTSTQ quan để tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng doanh nghiệp vànhân dân hiểu rõ hơn về các quy định của Nhà nước trong hoạt động XNK Vì vậy,hoạt động KTSTQ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giữ vị trí chủ đạo trong công tácquản lý Hải quan hiện đại
Để đáp ứng yêu cầu đó, Cục Hải quan Quảng Ninh là một trong những đơn vị điđầu trong toàn ngành Hải quan thành lập và triển khai hoạt động KTSTQ; thực tế saumột thời gian thực hiện KTSTQ đã thu được những kết quả đáng khích lệ, phát hiện và
Trang 9xử lý nhiều vi phạm, gian lận trốn thuế… truy thu về cho NSNN hàng trăm tỷ đồng.Tuy nhiên, hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh cũng gặp những bất cập,khó khăn như đã nêu ở trên.
Là một công chức Hải quan công tác tại Cục Hải quan Quảng Ninh, nhận thứcđược tầm quan trọng với tính cấp thiết được nêu ở trên chính là lý do tác giả lựa chọn
đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông
quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở các quốc gia trên thế giới, đã có nhiều tác giả, nhiều tổ chức quốc tế tiến hànhphân tích đánh giá hoạt động KTSTQ thông qua các bài viết, công trình nghiên cứu, ví
dụ như:
- Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit Manual - The Final Draft 2004, Jakarta.
- Igarashi K., P.R China Post - Clearance Audit, Seminar on Risk Management
and Post - Entry Audit Entry Audit, 7-10 June 2005 Shenzhen
- Kitaura M (2005), Outline of Valuation and PCA in Japan, Osaka Customs
- Tanaka M (2006), Computer Assisted Audit, Asean PCA Training on Trainer
20 February 2006
Các công trình này mới chỉ nghiên cứu về hoạt động KTSTQ ở nước ngoài,hơn nữa, tập trung vào mô tả các kỹ thuật KTSTQ nói chung, chưa gắn với điềukiện, đặc điểm của công tác quản lý Hải quan tại một quốc gia, một địa phương
Ở trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về KTSTQ, cụ thể là:
- Cục kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.
- Cục kiểm tra sau thông quan (2005), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế hoạch cải cách, phát triển
và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004 2006, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 09
-N2004
- Cục Hải quan thành phố Hải Phòng - Cục kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu
Trang 10(2002), Cơ sở lý luận, thực tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 10 - N2002.
- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2005), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2004 - 2006, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp ngành, mã số 08 - N2005
- Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng, Tổng Cục Hải quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
ngành, mã số 05 - N2006
- Phạm Ngọc Hữu (2003), Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, Tổng Cục Hải
quan - Tài liệu nghiệp vụ lưu hành nội bộ
Những bài viết, công trình nghiên cứu nêu trên, ở góc độ này hay góc độ khácmới chỉ đề cập đến chiến lược phát triển hoặc phân tích chi tiết nghiệp vụ KTSTQ Đây
là những tài liệu tham khảo hết sức bổ ích, đóng góp về lý luận chung và các cơ sởkhoa học để đề tài này kế thừa và tiếp tục phân tích nhằm đề xuất các giải pháp hoànthiện mô hình và các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hảiquan Quảng Ninh
Ở cả trong nước và trên bình diện quốc tế, chưa có công trình nào nghiên cứu cụthể về hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh Đây là đề tài mang tính độclập, không bị trùng lặp và cần được tiếp tục nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong tình hình có sự thay đổi của một loạt các văn bảnquy phạm pháp luật trong lĩnh vực Hải quan như: Thông tư số 128/2013/TT-BTC ngày10/9/2013 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày
06/12/2010 Hướng dẫn về thủ tục Hải quan; kiểm tra, giám sát Hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Thông
tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15/12/2010 mới được ban hành thay thế cho Thông tư số
40/2007/TT-BTC Hướng dẫn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Đang rà soát bổ sung, sửa đổi Luật Hải quan, Luật quản lý thuế… Đây là
các văn bản rất quan trọng đối với ngành Hải quan về mặt thủ tục cũng như về mặt
Trang 11quản lý thuế; nhằm đáp ứng đòi hỏi về một hệ thống văn bản thể hiện tính tập trunghoá cao, không dàn trải, giải quyết sự chồng chéo của một số các văn bản liên quan,…đáp ứng sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luậttương xứng với một Hải quan hiện đại mang tầm vóc khu vực và quốc tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hảiquan Quảng Ninh trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan QuảngNinh
- Về thời gian nghiên cứu: Luận văn giới hạn ở việc phân tích hoạt động
KTSTQ từ khi có Luật Hải quan năm 2001 đến 2013
Trang 12- Về không gian nghiên cứu: Nghiên cứu, đánh giá hoạt động KTSTQ trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để thực hiện luận văn, tác giả sẽ áp dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
và các phương pháp mang tính trải nghiệm thực tế như: Phương pháp thu thập thôngtin, phương pháp so sánh, phương pháp lý luận khoa học, phương pháp biện chứng,phương pháp suy luận, phương pháp logic,… Đồng thời có kế thừa những công trìnhnghiên cứu liên quan đến hoạt động KTSTQ
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung về hoạt động KTSTQ của các nước trênthế giới và Việt Nam
- Phân tích hoạt động KTSTQ thông qua 3 lĩnh vực nghiệp vụ cơ bản là: Hoạtđộng thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra; Hoạt độngKTSTQ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Hoạt động lập hồ sơ và ban hànhquyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.Bài học về hoạt động KTSTQ của Hải quan một số địa phương có cùng đặc thù, từ đórút ra các bài học kinh nghiệm cho Cục Hải quan Quảng Ninh
- Đánh giá khách quan thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan QuảngNinh Phân tích rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động KTSTQ tạiCục Hải quan Quảng Ninh
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạtđộng KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 13hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh, qua đó góp phần vào việc giúp chođơn vị sẽ luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan
và tỉnh Quảng Ninh giao cho
Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho Cục Hải quan Quảng Ninh trong hoạtđộng KTSTQ trên địa bàn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động KTSTQ
- Chương 2: Thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt độngKTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh
Trang 14Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1 HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và đối tượng của kiểm tra sau thông quan
1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra sau thông quan
Nghiệp vụ KTSTQ được hình thành và hoàn thiện dần cùng với việc hình thành
và hoàn thiện khoa học về quản lý rủi ro trong hoạt động của các cơ quan Hải quan trênthế giới Cho đến nay, cơ quan Hải quan nhiều nước đã áp dụng biện pháp KTSTQtrong công tác quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu Tuy nhiên, xác định lịch sử và nguồngốc hình thành nghiệp vụ KTSTQ một cách chính xác là rất khó khăn Từ những năm
60 của thế kỷ XIX, Hội đồng Hợp tác Hải quan thế giới (Customs CooperationCouncil) đã có những nghiên cứu đầu tiên về các biện pháp quản lý Hải quan hiện đại,trong đó nhấn mạnh việc kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan Cơ sở kiểmtra là các chứng từ Hải quan, sổ sách kế toán và các loại giấy tờ khác còn lưu giữ tại cơquan Hải quan, tại doanh nghiệp và các bên có liên quan
Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước Kyoto
1973, có hiệu lực từ 25/09/1974) cũng đã hình thành những quy định cơ sở vềKTSTQ Nhưng, phải một vài năm sau, hoạt động KTSTQ mới được Tổ chức Hảiquan thế giới - WCO công nhận trong quá trình nghiên cứu, áp dụng các biện phápquản lý mới tại một số nước Nội dung hoạt động nghiệp vụ này được quy định tạiPhần Phụ lục Tổng quát, Chương VI về kiểm tra Hải quan, Công ước Kyoto sửađổi, bổ sung năm 1999 [7]
Thực tế, trong quá trình cải cách về thủ tục Hải quan và hiện đại hóa các quytrình thủ tục Hải quan, nhiều quốc gia đã tiến hành áp dụng và thực hiện biện phápKTSTQ Cụ thể ở Nhật Bản, thực hiện thí điểm KTSTQ từ năm 1967 và chính thứctriển khai hệ thống nghiệp vụ này từ năm 1968; ở Indonesia hoạt động KTSTQ đượctriển khai áp dụng từ năm 1998 Cho đến nay, Indonesia là quốc gia có nhiều kinh
Trang 15viên về KTSTQ của chương trình hợp tác Hải quan ASEAN Ở Trung Quốc, bắt đầuthực hiện thí điểm nghiệp vụ KTSTQ tại 03 địa phương có hoạt động xuất nhập khẩuphức tạp từ tháng 04/1992 Điều lệ KTSTQ được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhândân Trung Hoa công bố ngày 01/03/1997 Ở khu vực ASEAN, hoạt động KTSTQ đã
có một khuôn mẫu chuẩn cho tất cả các thành viên thực hiện, tuy nhiên chưa được phêduyệt chính thức Hiện nay, ASEAN đã thống nhất xây dựng Sách hướng dẫn vềKTSTQ của ASEAN (được hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần 12 tại HàNội phê chuẩn) nhằm định hướng chiến lược và phương pháp áp dụng chung ở trongkhối Ở Việt Nam, hoạt động KTSTQ được chính thức triển khai thực hiện khi LuậtHải quan có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2002
Trên thế giới hiện đang tồn tại một số quan niệm về KTSTQ:
- Theo Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ướcKyoto sửa đổi, bổ sung vào tháng 9/1999) của Tổ chức Hải quan thế giới - WCO,KTSTQ được định nghĩa như sau: "Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện phápđược cơ quan Hải quan tiến hành nhằm xác định tính chính xác và trung thực củakhai báo Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinhdoanh và dữ liệu thương mại của các bên có liên quan" [7, tr.98]
- Theo Luật Hải quan Nhật Bản:
Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tínhchính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kếtoán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổchức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế [7]
- Theo Luật Hải quan Indonesia năm 1995:
Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát có tính hệ thống của cơquan Hải quan Bằng biện pháp này, cơ quan Hải quan kiểm tra tính chính xác và trungthực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các sổ sách kế toán, ghi chép kế toán,chứng từ thương mại và các dữ liệu kinh doanh có liên quan do các tổ chức, cá nhântham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế lưu giữ [7]
- Theo Điều 2, Điều lệ KTSTQ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997:
Trang 16Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hàng hóa xuất nhập khẩu được thông quanhoặc trong thời hạn giám sát Hải quan của hàng hóa bảo thuế, hàng hóa miễn giảmthuế nhập khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ, đơnchứng báo quan và các tài liệu liên quan khác cùng với hàng hóa xuất nhập khẩucủa đơn vị được kiểm tra để thẩm định tính hợp pháp và chân thực của hoạt độngxuất nhập khẩu [7].
- Theo Sách hướng dẫn về KTSTQ của Tổ chức Hải quan ASEAN (bản FinalDraft - 06/2004):
KTSTQ là một biện pháp kiểm soát Hải quan có hệ thống nhằm thẩm định tínhchính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra chứng từ, sổ sách kếtoán, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổchức, cá nhân tham gia trực tiếp và gián tiếp vào thương mại quốc tế [24]
Kết hợp các định nghĩa được áp dụng trên thế giới, có xem xét đến đặc thù củaViệt Nam, Điều 32 Luật Hải quan sửa đổi bổ sung 2005 quy định về KTSTQ nêu rõ:
KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan nhằm: (i) Thẩm định tínhchính xác, trung thực của nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng ủyquyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơquan Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan (ii) Thẩmđịnh việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu [18]
Từ các quan niệm trên đây, ta có thể xây dựng một khái niệm chung về KTSTQnhư sau:
KTSTQ quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan, diễn ra sau khi hànghóa đã được thông quan, nhằm kiểm tra tính chính xác và trung thực các nội dung khaibáo Hải quan trong quá trình thông quan
1.1.1.2 Đặc điểm kiểm tra sau thông quan
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ, nhưng các quan niệm này đềuthể hiện bảy đặc điểm cơ bản của hoạt động KTSTQ như sau:
- KTSTQ là một công đoạn trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan,
Trang 17cùng thực hiện trách nhiệm quản lý về mặt Hải quan trong mối quan hệ phối hợp vớicác đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ: đơn vị thông quan, đơn vị điều tra viphạm Hải quan và các đơn vị khác KTSTQ không phải là một hệ thống độc lập mà làmột chức năng của tổ chức Hải quan, đóng góp vai trò trong phạm vi hoạt động chiếnlược tổng thể ngành Hải quan.
- KTSTQ là hoạt động kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan do cơquan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định KTSTQ sẽ cóhiệu quả đáng kể nếu được thực hiện đối với những cá nhân, doanh nghiệp tiến hànhkhai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trước
hồ sơ lưu trữ của họ Mặt khác, phương pháp này sẽ không đạt hiệu quả cao, nếu ápdụng cho những đối tượng tiến hành XNK số lượng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phảinộp thấp
- Kết quả KTSTQ có liên quan đến quy định của pháp luật về nghĩa vụ lưu giữ
hồ sơ và các chế tài có liên quan Vì KTSTQ được thực hiện dựa trên việc kiểm tra sổsách giấy tờ là chủ yếu, nên để thực hiện có hiệu quả, cần quy định rõ nghĩa vụ và cácchế tài liên quan đến việc lưu giữ hồ sơ của đối tượng
- KTSTQ được tiến hành nhằm xác định việc khai Hải quan có tuân thủ các yêucầu của Luật Hải quan và các qui định liên quan hay không; đặc điểm này đòi hỏi côngchức KTSTQ phải tinh thông về nghiệp vụ Ngoài ra, đặc điểm này cũng gợi ý mộtđiểm quan trọng khác để tiến hành KTSTQ có hiệu quả, đó là khuyến khích các nhànhập khẩu, xuất khẩu hoặc bất kỳ đối tượng khai Hải quan nào tuân thủ các quy địnhpháp luật Hải quan thông qua phần tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về nội dung khaibáo của mình
- KTSTQ được tiến hành với sự hỗ trợ từ các nguồn thông tin liên quan, gồm cảcác dữ liệu điện tử được các cá nhân/tổ chức liên quan cung cấp Công chức KTSTQtập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, đánh giá chúng trên cơ sở quyđịnh pháp luật Hải quan và sau đó xác định tính chính xác và trung thực của khai báoHải quan
- KTSTQ không chỉ áp dụng với đối tượng khai Hải quan trực tiếp mà còn áp
Trang 18dụng với các cá nhân/tổ chức tham gia vào thương mại quốc tế Hoạt động thương mạiquốc tế ngày nay có rất nhiều đối tượng tham gia và thông tin từ các đối tượng đó cóthể rất hữu ích cho cơ quan Hải quan trong việc xác định tính chính xác và trung thựccủa khai báo Hải quan.
- KTSTQ được thực hiện với sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và đốitượng kiểm tra Cần lưu ý là KTSTQ không phải là biện pháp điều tra vi phạm Hảiquan ngay cả khi Luật Hải quan cho phép công chức KTSTQ vào các cơ sở của cánhân, tổ chức để kiểm tra hồ sơ của họ và tiến hành xử phạt những ai chống đối hoặcngăn cản công tác kiểm tra Thông qua quy trình KTSTQ, công chức KTSTQ tiếp cận,hợp tác với các cá nhân, tổ chức đang bị kiểm tra và tiến hành KTSTQ với sự hợp tác
và đồng ý của họ
Như vậy, các đặc điểm trên cho thấy, KTSTQ không phải là một lĩnh vực riêng
rẽ, mà là hoạt động nghiệp vụ bình thường gắn kết trong tổng thể mối quan hệ của toàn
bộ hoạt động kiểm tra giám sát Hải quan đối với hàng hóa XNK
1.1.1.3 Mục tiêu và lợi ích của kiểm tra sau thông quan
- Mục tiêu của KTSTQ:
Như trên đã đề cập, KTSTQ là một giải pháp quản lý Hải quan mang tính hệthống Theo đó, cơ quan Hải quan đánh giá sự chính xác và trung thực của việc khaibáo Hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ, hệ thống kinh doanh và các dữliệu do cá nhân/doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tếlưu giữ Vì vậy, mục tiêu của KTSTQ sẽ là:
+ Xác minh tính chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan trong mộtkhoảng thời gian xác định;
+ Khuyến nghị đối tượng kiểm tra thực hiện bổ sung, điều chỉnh những vấn đềchưa chính xác trong quá trình khai báo Hải quan;
+ Khuyến khích đối tượng kiểm tra nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật và quyđịnh về Hải quan [16].
- Lợi ích của KTSTQ:
+ Đối với cơ quan Hải quan, trong những thập kỷ gần đây cơ quan Hải quan
Trang 19các nước mới bắt đầu nhận thức rõ ràng lợi ích của KTSTQ, và đặt KTSTQ nằmtrong chương trình phát triển, hiện đại hóa của Hải quan Việc tiến hành hoạt độngKTSTQ một cách chuyên nghiệp, chuyên sâu đem lại cho cơ quan Hải quan rấtnhiều lợi ích như:
Quản lý các hoạt động của doanh nghiệp XNK trong mối quan hệ tổng thể,liên tục chứ không trên cơ sở từng lần làm thủ tục Hải quan Điều này dẫn đến hiệu quảcao trong đánh giá và phân loại đối tượng quản lý
Quản lý trên cơ sở lựa chọn, đánh giá từng doanh nghiệp XNK để tập trungkiểm tra có trọng điểm trên cơ sở nghi vấn (nếu có) nhằm tạo thuận lợi cho doanhnghiệp làm ăn chân chính, răn đe hạn chế thấp nhất các doanh nghiệp có khả năng
vi phạm pháp luật Hải quan, đồng thời tiết kiệm nguồn nhân lực, vật lực cho cơquan Hải quan
Khả năng đảm bảo nguồn thu thông qua việc thu nộp thuế đúng đủ, kịp thờivào ngân sách Đây là điểm đặc biệt quan trọng đối với những nước đang phát triển
mà ở đó nguồn thu từ Hải quan chiếm phần lớn trong ngân sách
+ Đối với cộng đồng doanh nghiệp, các lợi ích mà họ có được từ hoạt độngKTSTQ là:
Giảm chi phí, hưởng thuận lợi trong quá trình thông quan nếu tuân thủpháp luật tốt Cơ quan Hải quan các nước đều áp dụng cơ chế ưu tiên làm thủ tụcHải quan, mà cụ thể là miễn kiểm tra hàng hóa cho các doanh nghiệp chấp hành tốtpháp luật Hải quan Điều này giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quảcao trong kinh doanh
Khi được áp dụng các ưu đãi, thời gian thông quan cho một lô hàng sẽgiảm xuống Đây cũng là một nội dung tạo thuận lợi quan trọng trong quá trình hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.4 Đối tượng kiểm tra sau thông quan
Trong quá trình tiến hành KTSTQ, việc xác định rõ ràng đối tượng củaKTSTQ là vô cùng quan trọng Theo các quy định của pháp luật của các nước nóichung và của Việt Nam nói riêng thì hoạt động KTSTQ hướng tới việc kiểm tra
Trang 20xem xét các chứng từ thuộc hồ sơ Hải quan, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính,các dữ liệu điện tử và các giấy tờ khác có liên quan đến hàng hoá XNK Theo quanniệm này, một số nước cho rằng, đối tượng KTSTQ chỉ là các sổ sách, giấy tờ cóliên quan đến giao dịch XNK cần kiểm tra Tuy nhiên các chứng từ tài liệu nàyđược lưu giữ bởi các tổ chức, cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến giaodịch thương mại và trong hầu hết các trường hợp, thông tin từ nhóm đối tượng nàylại có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình KTSTQ Vì vậy, cần coi đối tượngcủa KTSTQ bao gồm cả sổ sách giấy tờ cần kiểm tra và các tổ chức, cá nhân liênquan đến hoạt động thương mại quốc tế.
- Trên quan điểm chung đó, các tổ chức/cá nhân bị kiểm tra bao gồm:
+ Người XNK (người khai Hải quan);
+ Người nhận ủy thác XNK;
+ Người chuyên chở hàng XNK;
+ Chủ sở hữu hàng hóa nhập khẩu;
+ Người mua hàng nhập khẩu;
+ Đại lý thông quan hàng nhập khẩu;
+ Các tổ chức/cá nhân khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến giaodịch XNK
Đối tượng đầu tiên cần hướng tới chính là người XNK (người khai Hảiquan), là đối tượng xuất trình tờ khai Hải quan cho cơ quan Hải quan để thực hiệnkhai báo Trong trường hợp cần thêm các bằng chứng bổ sung, cơ quan Hải quan cóthể tiến hành kiểm tra các đối tượng khác có liên quan
- Các loại sổ sách, chứng từ, bản ghi cần kiểm tra bao gồm:
+ Các chứng từ, sổ sách có liên quan đến giao dịch thương mại, ví dụ hợpđồng mua bán hàng hóa, hợp đồng trợ giúp kỹ thuật, hợp đồng đại lý, đơn đặt hàng,hướng dẫn sản xuất, báo cáo sản xuất, thư tín
+ Chứng từ và sổ sách kế toán: các loại sổ kế toán và mọi chứng từ có liênquan như L/C, bảng kê chi tiết, giấy yêu cầu chuyển tiền, sổ ghi nợ/có ;
+ Chứng từ có liên quan đến hồ sơ Hải quan (tờ khai Hải quan, hóa đơn
Trang 21thương mại, C/O, B/L, đơn bảo hiểm );
Việc xem xét cả hai nhóm đối tượng như trên có ý nghĩa thực tế quan trọngkhi tiến hành KTSTQ Kiểm tra tổng thể các đối tượng và sự kiện sẽ đem lại hiệuquả cao hơn là kiểm tra một đối tượng hoặc một giao dịch đơn lẻ
1.1.2 Phân biệt kiểm tra sau thông quan với một số nghiệp vụ có liên quan
1.1.2.1 Phân biệt với nghiệp vụ kiểm toán
Nghiệp vụ kiểm toán ứng dụng khoa học về kiểm toán tài chính doanhnghiệp Ở một số nước, người ta đồng nhất khái niệm về KTSTQ với kiểm toán Hảiquan (Post Clearance Audit) Ở nước ta hai lĩnh vực này có những điểm giống nhau
và khác nhau Nghiệp vụ kiểm toán rất đa dạng và phức tạp, trong phạm vi đề tàinày chỉ nêu một số nội dung cơ bản về kiểm toán Tùy theo cách thức phân loại cócác loại kiểm toán sau:
- Theo chức năng kiểm toán, bao gồm có 3 loại: kiểm toán hoạt động, kiểm
toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán hoạt động (Operationnal Audit): Là kiểm toán để xem xét và đánhgiá tính kinh tế, tính hiệu lực và tính hiệu quả trong hoạt động của một đơn vị
Kiểm toán tuân thủ (Compliance Audit): Là kiểm toán để xem xét bên đượckiểm toán có tuân thủ các thủ tục, các nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩmquyền cấp trên hoặc các cơ quan chức năng của Nhà nước đã đề ra hay không Vìthế, kiểm toán tuân thủ còn được gọi là kiểm toán tính quy tắc (Regularity Audit)
Kiểm toán báo cáo tài chính (Audit of Financial Statement): Là việc kiểm tra
và xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của báo cáo tài chính cũng như xem xétbáo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các yêu cầucủa pháp luật hay không Ở Các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, công việckiểm toán báo cáo tài chính do các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp thực hiện đểphục vụ cho các nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng và chủ đầu tư, cho ngườibán, khách hàng
- Theo chủ thể kiểm toán, gồm có 3 loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán Nhà
nước và kiểm toán độc lập
Trang 22Kiểm toán nội bộ (Internal Audit): Là kiểm toán do các kiểm toán viên nội
bộ của đơn vị tiến hành Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộcvào quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị.Tuy nhiên, thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong một hoặc vài lĩnh vựcsau: Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giámsát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng; kiểmtra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại cácphương tiện đã sử dụng để xác định, để tính toán, phân loại và báo cáo những thôngtin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các
số dư tài khoản ); kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt độngtrong đơn vị
Kiểm toán Nhà nước (State Audit): Là việc kiểm toán do các kiểm toán viêncủa cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện; là cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nướcđộc lập Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ kết hợpvới kiểm toán báo cáo tài chính, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ vàchế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước Ngoài
ra, Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế,tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên
Kiểm toán độc lập (Indepndent Audit): Là loại kiểm toán do các kiểm toánviên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (thường gọi là doanhnghiệp kiểm toán) tiến hành Thực chất, kiểm toán độc lập là loại dịch vụ, tư vấnđược pháp luật thừa nhận và bảo hộ
Xét ở góc độ chung nhất thì các phương pháp kiểm toán về cơ bản đều dựatrên cơ sở quản lý rủi ro, lựa chọn mẫu, áp dụng các phương pháp phân tích, đánhgiá đặc biệt là dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ Các nguyên tắc tiến hành kiểmtoán là đảm bảo chính trực, khách quan, độc lập, bí mật quy định rõ trách nhiệm củakiểm toán viên, nêu dẫn bằng chứng tài liệu [13]
KTSTQ thực chất là quá trình ứng dụng những kiến thức và kỹ năng cơ bảncủa kiểm toán để xem xét thẩm định tính chính xác, trung thực của các thông tin, tài
Trang 23liệu mà chủ hàng, người được chủ hàng ủy quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuấtkhẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan Hải quan Tuy nhiên, giữakiểm tra sau thông quan và kiểm toán có những điểm khác nhau cơ bản, đó là:
Nguồn luật điều chỉnh: Kiểm toán được điều chỉnh bởi Luật Kiểm toán và
các văn bản hướng dẫn, trong khi KTSTQ được điều chỉnh bởi Luật Hải quan vàcác văn bản hướng dẫn
Thẩm quyền xử lý: Điều khác biệt là cơ quan Hải quan thực hiện việc
KTSTQ, đồng thời là cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật Hải quantrong phạm vi quản lý của mình theo quy định của pháp luật Cơ quan, tổ chức kiểmtoán trong hoạt động nghiệp vụ của mình chỉ đưa ra nhận xét, kết luận, đánh giáhoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạmpháp luật được phát hiện trong quá trình kiểm toán
1.1.2.2 Phân biệt với hoạt động kiểm soát Hải quan
Kiểm soát Hải quan bao gồm các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết như:
- Cơ sở bí mật: Lực lượng kiểm soát Hải quan được tuyển chọn người không
thuộc biên chế ngành Hải quan, có khả năng, điều kiện tham gia thực hiện nhiệm vụkiểm soát Hải quan theo nguyên tắc bí mật
- Biện pháp sưu tra: Lực lượng kiểm soát Hải quan tiến hành lập danh sách
các tổ chức, cá nhân, mặt hàng, tuyến đường có liên quan đến hoạt động buôn lậu,vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới để chủ động áp dụng các biện phápphòng ngừa và quản lý theo trọng tâm, trọng điểm
- Tổ chức đấu tranh chuyên án: Lực lượng kiểm soát Hải quan sử dụng tập
trung và tổng hợp lực lượng, phương tiện, các biện pháp nghiệp vụ để ngăn chặnkịp thời, chính xác các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan; thu thập thông tin, tàiliệu, chứng cứ tạm giữ đối tượng vi phạm theo đúng nhiệm vụ và thẩm quyền màpháp luật đã quy định
- Trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật: Trong trường
hợp cần thiết lực lượng kiểm soát Hải quan được áp dụng các biện pháp nghiệp vụnày để phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Trang 24Kiểm soát Hải quan thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thươngmại, có thể diễn ra trước, trong và sau thông quan, còn KTSTQ là chống gian lậnthương mại sau khi hàng hóa đã thông quan [16].
1.1.2.3 Phân biệt với hoạt động thanh tra Hải quan và thanh tra chuyên ngành
Hiện nay, tổ chức và hoạt động thanh tra được thực hiện theo Luật thanh trangày 15/6/2004, với đối tượng và phạm vi điều chỉnh rộng
Trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan, nhiệm vụ của cơ quan Hảiquan trong công tác quản lý Hải quan đối với hàng hóa XNK rất lớn liên quan đếnnhiều loại hàng hóa, sản phẩm hoặc đối tượng quản lý chuyên ngành của nhiều bộngành khác nhau Do vậy, nghiệp vụ KTSTQ khi phát hiện ra vi phạm pháp luật Hảiquan có liên quan đến chức năng kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của các bộ ngànhkhác thì có sự phối hợp giải quyết xử lý Đây là hoạt động trùng hợp với thanh trachuyên ngành, đặc biệt là thanh tra vi phạm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, cácloại thuế khác:
- Đối tượng của thanh tra thuế XNK bao gồm việc chấp hành pháp luật vềthuế XNK của cả đối tượng nộp thuế và cơ quan được giao quyền thu thuế XNK
- Đối tượng KTSTQ là nội dung các chứng từ của cá nhân, tổ chức tham giacác hoạt động XNK đã khai, nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan
1.1.3 Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan
Việc phân loại KTSTQ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định cách thức
tổ chức tiến hành, quy trình nghiệp vụ cụ thể để tiến hành KTSTQ đạt hiệu quả.Trong phạm vi đề tài này chỉ giới thiệu một số tiêu chí phân loại cơ bản
1.1.3.1 Phân loại theo đơn vị được kiểm tra
Theo cách này, người ta phân loại KTSTQ thành kiểm tra theo kế hoạch vàkiểm tra ngẫu nhiên:
- Kiểm tra theo kế hoạch: về cơ bản, kiểm tra theo kế hoạch được thực hiệntrong khoảng thời gian nhất định đối với một doanh nghiệp cụ thể, trên cơ sở phântích các thông tin về doanh nghiệp đó
- Kiểm tra ngẫu nhiên: là việc kiểm tra đối với một mặt hàng XNK hoặc một
Trang 25doanh nghiệp cụ thể một cách ngẫu nhiên mà không dựa vào việc phân tích thôngtin từ đầu.
1.1.3.2 Phân loại theo mục đích
KTSTQ để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật: Là việc kiểm tra nhằm xácđịnh đơn vị được kiểm tra có chấp hành đúng các quy định của pháp luật Hải quan,pháp luật có liên quan đối với hàng hoá XNK hay không Thông qua việc KTSTQđánh giá được mức độ và quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp để làm cơ
sở xem xét mức độ ưu tiên trong việc làm thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hảiquan và xử lý vi phạm (nếu có) Nếu làm tốt việc KTSTQ sẽ nâng cao ý thức chấphành pháp luật của doanh nghiệp Điều này rất có ý nghĩa khi Việt Nam tham giavào WTO
KTSTQ khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hải quan hoặc xác định
có khả năng vi phạm pháp luật Hải quan dựa trên phân tích thông tin của cơ quanHải quan: Cơ quan Hải quan căn cứ vào hệ thống cơ sở dữ liệu phân tích đánh giá
để xác định dấu hiệu vi phạm pháp luật và khả năng vi phạm để tiến hành KTSTQđối với các mặt hàng XNK có dấu hiệu vi phạm pháp luật của doanh nghiệp
1.1.3.3 Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra
- Kiểm tra hồ sơ Hải quan tại trụ sở cơ quan Hải quan: là việc cơ quan Hảiquan tiến hành KTSTQ đối với hồ sơ Hải quan các lô hàng XNK đã được thôngquan, đây có thể được coi là bước tiền kiểm tra tại trụ sở của doanh nghiệp, đượctiến hành chủ yếu đối với hồ sơ Hải quan mà cơ quan Hải quan đang lưu giữ Trongmột số trường hợp cụ thể có thể tiến hành xác minh một số thông tin tài liệu có liênquan đến lô hàng XNK đã được thông quan tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan hoặc yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu hồ sơ, giải trình với cơ quan Hảiquan Việc KTSTQ tại cơ quan Hải quan nhằm hạn chế tối đa sự phiền hà, gây ảnhhưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp khi tiến hànhKTSTQ
- KTSTQ tại trụ sở của đơn vị được kiểm tra: là việc cơ quan Hải quan tiếnhành kiểm tra chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, dữ liệu điện từ và các
Trang 26hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông quan, tại trụ sởcủa doanh nghiệp hoặc những nơi lưu giữ các chứng từ, hồ sơ, tài liệu nêu trên.Trong trường hợp cần thiết có thể kiểm tra dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị
có liên quan đến sản xuất, chế biến hàng hóa XNK hoặc kiểm tra thực tế hàng hóanhập khẩu khi còn đủ điều kiện
1.1.4 Vai trò của kiểm tra sau thông quan
1.1.4.1 Nâng cao năng lực quản lý Hải quan
KTSTQ là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơquan Hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thôngquan nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môitrường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp
1.1.4.2 Đảm bảo tuân thủ pháp luật
Góp phần đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả pháp luật Hảiquan và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực XNK hàng hoá, đặcbiệt nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp
1.1.4.3 Tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro
Mặc dù thuế suất thuế nhập khẩu giảm dần theo tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, song số thu thuế đối với hàng hoá XNK của ngành Hải quan hàng năm vẫntăng cao, KTSTQ đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước,giảm chi phí quản lý về Hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vàoquan hệ pháp luật Hải quan
1.1.4.4 Mở rộng phạm vi kiểm tra
Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khicần thiết trong nhiều lĩnh vực khác, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, vềxuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá…
1.1.4.5 Là công cụ quản lý hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của Hải quan
Thông tin qua nghiệp vụ này cơ quan Hải quan có được khá đầy đủ cácthông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán vàbáo cáo tài chính của doanh nghiệp Tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý
Trang 27của cơ quan Hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệthống.
1.1.4.6 Đơn giản hoá trong giám sát, quản lý Hải quan
Cho phép cơ quan Hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát,quản lý trên cơ sở hiện đại hóa Hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhànước về Hải quan
1.2 NỘI DUNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN
1.2.1 Nội dung của hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.2.1.1 Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra
- Hoạt động thu thập thông tin về các đối tượng vi phạm:
Dấu hiệu vi phạm ở đây là dấu hiệu gây thất thu thuế hoặc khai sai trị giáhàng hóa góp vốn đầu tư (nộp thiếu thuế, gian lận, trốn thuế, lợi dụng ưu đãimiễn thuế, hoàn thuế, xuất xứ, khai tăng trị giá máy móc, thiết bị để tăng tỷ lệgóp vốn đầu tư…) và dấu hiệu xuất khẩu, nhập khẩu trái quy định, trái phép hànghóa (xuất khẩu, nhập khẩu hàng cấm, hàng XNK có điều kiện nhưng chưa có đủđiều kiện đó…)
Dấu hiệu vi phạm bao gồm dấu hiệu cụ thể của một đối tượng cụ thể, dấuhiệu cụ thể của nhóm đối tượng nhưng chưa xác định được tên đối tượng cụ thể,hoặc dấu hiệu mới chỉ là vấn đề đang nổi cộm (ví dụ: hiện tượng khai tỷ lệ chiếtkhấu giá do mua lượng hàng lớn, nhưng thực hiện bằng nhiều hợp đồng ), chưa rõnhững doanh nghiệp nào có dấu hiệu này Thông tin về dấu hiệu thường chưa đủ cụthể, chính xác nên diện phải xem xét thường rất rộng, khó đánh giá phạm vi, mức
độ rủi ro, xem xét tất cả sẽ lãng phí nguồn lực Do vậy, cần nhận dạng tương đốichính xác về dấu hiệu vi phạm làm cơ sở cho việc xác định quy mô của dấu hiệu
Sau khi nhận rõ dấu hiệu, nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm có thểgây thất thu đáng kể (ví dụ chênh lệch lớn về mức thuế suất…), hoặc vi phạm lớnchính sách quản lý xuất nhập khẩu, hoặc đây là thủ đoạn mới, nếu không ngăn chặnthì sẽ lan rộng, hoặc theo quy định của pháp luật sắp hết thời hạn KTSTQ… thì tiến
Trang 28hành các bước tiếp theo; nếu đó là dấu hiệu của một hành vi vi phạm, nhưng hậuquả có thể nhỏ (ví dụ sai mã số hàng hóa, nhưng không thay đổi thuế suất…), trongkhi tại thời điểm hiện tại đơn vị có những nhiệm vụ khác cần ưu tiên nguồn lực hơn,thì đề nghị tạm dừng, đưa vào diện theo dõi tiếp Quá trình thu thập thông tin chothấy dấu hiệu vi phạm, quy mô vi phạm còn được thể hiện ở các nguồn thông tinkhác thì tiến hành thu thập thêm thông tin từ các nguồn đó nhằm nhận dạng rõ hơn
về dấu hiệu vi phạm
Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin đối với trường hợp đã có dấuhiệu vi phạm là việc xác định được doanh nghiệp phải được tiến hành KTSTQ
+ Trường hợp đã xác định được tên doanh nghiệp cụ thể: Nếu dấu hiệu đã rõ,
quy mô dấu hiệu lớn đến mức phải ưu tiên kiểm tra thì đưa vào danh sách các doanhnghiệp phải KTSTQ; Nếu dấu hiệu chưa thật rõ, hoặc dấu hiệu rõ nhưng quy mônhỏ thì đề nghị đưa vào diện theo dõi tiếp, khi đơn vị bố trí được nguồn lực thì thựchiện kiểm tra
+ Trường hợp dấu hiệu liên quan đến một nhóm doanh nghiệp: Tùy theonguồn lực mà quyết định số lượng doanh nghiệp sẽ được kiểm tra và thứ tự ưu tiênkiểm tra trước Nếu nguồn lực hạn chế thì chọn doanh nghiệp có mức độ rủi ro caohơn so với các doanh nghiệp khác (dấu hiệu vi phạm rõ hơn, quy mô vi phạm lớnhơn, kim ngạch lớn hơn,…) tiến hành kiểm tra trước
- Hoạt động xử lý thông tin và xác định đối tượng phải KTSTQ:
Căn cứ xác định đối tượng thu thập thông tin là kế hoạch kiểm tra đã đượcxác định, chỉ đạo của lãnh đạo các cấp và nguồn lực hiện tại Đối tượng ở đây gồmdoanh nghiệp hoặc lĩnh vực cần thu thập thông tin Nguồn thông tin thu thập từ cơ
sở dữ liệu của ngành Hải quan (số liệu QLRR XNK, GT01, QLVP, KT559 ) vàthu thập thông tin từ các nguồn khác
Một doanh nghiệp có thể kinh doanh XNK nhiều loại hàng, nhiều loại hình;một lĩnh vực có thể có nhiều doanh nghiệp kinh doanh, nếu thu thập thông tin dàntrải vào tất cả các mặt hàng, loại hình, lĩnh vực đó thì sẽ lãng phí nguồn lực, khônghiệu quả và không phù hợp nguyên tắc quản lý rủi ro Vì vậy, việc thu thập thông
Trang 29tin phải được tập trung vào những vấn đề nhất định Phạm vi đó có thể là một doanhnghiệp (trường hợp có nhiều doanh nghiệp cùng XNK một mặt hàng, loại hình, lĩnhvực, có cùng một hiện tượng), có thể là một mặt hàng (trường hợp doanh nghiệpXNK nhiều mặt hàng), có thể là một chi tiết về mặt hàng (mã số, giá…).
Xác định phạm vi thu thập thông tin:
+ Trường hợp đối tượng là một doanh nghiệp cụ thể: Thu thập thông tin
tổng hợp về hoạt động XNK (mặt hàng, lĩnh vực, kim ngạch XNK, tình hình chấphành pháp luật…) trong thời gian từ thời điểm đang thu thập thông tin trở về 5 nămtrước Trong các hoạt động XNK trên thấy vấn đề gì nổi cộm, có dấu hiệu hoặc đốichiếu với tình hình chung của các doanh nghiệp khác để nhận định khả năng rủi rocao nằm trong phạm vi nào, từ đó xác định phạm vi thu thập thông tin sâu (tập trungvào mặt hàng nào? lĩnh vực nào?…)
+ Trường hợp đối tượng là một nhóm doanh nghiệp (xuất, nhập khẩu cùng
một mặt hàng, loại hình hoặc có cùng một hiện tượng): Tra cứu tìm tất cả các doanhnghiệp đó; Sắp xếp thứ tự từ lớn đến nhỏ theo kim ngạch; Căn cứ vào nguồn lựchiện tại để xác định thu thập thông tin theo thứ tự ưu tiên kim ngạch lớn kiểm tratrước, kim ngạch nhỏ kiểm tra sau
Kết thúc giai đoạn thu thập, xử lý thông tin là việc xác định được doanhnghiệp đưa vào kế hoạch KTSTQ [23]
1.2.1.2 Hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
- KTSTQ tại trụ sở Hải quan:
Xác định đối tượng kiểm tra, phạm vi kiểm tra theo nguyên tắc quản lý rủi
ro, căn cứ vào kết quả thu thập, xử lý thông tin, kế hoạch đã được xác định, dấuhiệu vi phạm mới phát hiện, tình hình nổi cộm từng thời gian hoặc chỉ đạo của cấptrên Phạm vi kiểm tra tùy thuộc vào hình thức cuộc kiểm tra:
+ Kiểm tra theo kế hoạch: Là kiểm tra đánh giá sự tuân thủ pháp luật củadoanh nghiệp, chưa có dấu hiệu vi phạm cụ thể Do vậy, phạm vi kiểm tra rộng hơn,thường là kiểm tra toàn diện hoạt động XNK của doanh nghiệp, trong một giai đoạn
Trang 30+ Kiểm tra chọn mẫu, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm:
Là kiểm tra khi đã có những thông tin vi phạm pháp luật hoặc đã có nhữngnghi ngờ nhất định Do vậy, phạm vi kiểm tra thường hẹp hơn, tập trung vào nhữngdấu hiệu, nghi ngờ đó (kiểm tra chuyên sâu)
Thực hiện rà soát, củng cố lại thông tin đã có bằng việc đối chiếu các thôngtin đó với các cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan (cơ sở dữ liệu quản lý tờ khai Hảiquan, cơ sở dữ liệu quản lý giá tính thuế, cơ sở dữ liệu về vi phạm hành chính vềHải quan và cơ sở dữ liệu quản lý hàng gia công, sản xuất - xuất khẩu ) Đối chiếucác thông tin đã được củng cố trên với hồ sơ Hải quan lưu tại đơn vị Hải quan làmthủ tục thông quan cho các lô hàng liên quan và tiến hành các công việc sau:
Đề nghị các đơn vị Hải quan làm thủ tục thông quan cung cấp bổ sung tàiliệu, thông tin, giải thích những vấn đề chưa rõ trên hồ sơ Hải quan
Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, chứng từ liên quan
Xác minh các vấn đề chưa rõ ở các tổ chức, cá nhân liên quan hoặc có khảnăng biết được vấn đề đó
Giám định các chứng từ nghi vấn, giám định hàng hóa nếu cần thiết và cònđiều kiện
Tổng hợp, hệ thống lại các thông tin trên, để làm rõ về đối tượng kiểm tra.Báo cáo các công việc, biện pháp đã làm, các thông tin đã thu thập được, phân tích
về các thông tin đó, những vấn đề đã kết luận được, những vấn đề chưa rõ, nhữngviệc cần làm tiếp, những đề xuất
Trường hợp các thông tin về hoạt động XNK của doanh nghiệp là đầy đủ,minh bạch, doanh nghiệp không vi phạm pháp luật thì đề nghị kết thúc kiểm tra, lập
“Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”, đưa doanh nghiệp vào diệnchấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụ việc theo quy định
Trường hợp phát hiện doanh nghiệp có dấu hiệu nộp thiếu tiền thuế hoặc có
vi phạm pháp luật, nhưng chưa đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp có vi phạm phápluật không thì yêu cầu doanh nghiệp giải trình
Trường hợp doanh nghiệp giải trình được rõ ràng các vấn đề nêu ra thì báo
Trang 31cáo đề xuất kết thúc kiểm tra, lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hảiquan”, đưa doanh nghiệp vào diện chấp hành tốt pháp luật, tổ chức lưu trữ hồ sơ vụviệc theo quy định.
Trường hợp có nghi vấn về giải trình của doanh nghiệp liên quan đến các tổchức, cá nhân khác thì tiến hành xác minh làm rõ
Trường hợp doanh nghiệp không giải trình hoặc không giải trình được thì:
Nếu đã có đủ căn cứ để ấn định thuế, căn cứ để xử lý vi phạm hành chínhthì lập “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan”
Nếu chưa đủ căn cứ để ấn định thuế thì đề nghị tiếp tục KTSTQ tại trụ sởdoanh nghiệp
- KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp:
+ Ban hành Quyết định thành lập đoàn KTSTQ tại doanh nghiệp, đoàn kiểmtra xác định phạm vi kiểm tra và lập kế hoạch kiểm tra Nội dung cơ bản của mộtbản kế hoạch KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp bao gồm: Phạm vi kiểm tra; nội dungkiểm tra; thời gian kiểm tra; dự kiến những công việc phải làm; phân công nhiệm vụcho các thành viên; dự kiến các tình huống và biện pháp xử lý tình huống; thông tinliên lạc; kế hoạch hậu cần, đảm bảo… Trưởng đoàn kiểm tra có trách nhiệm tổ chứcgửi quyết định kiểm tra với doanh nghiệp được kiểm tra trong thời hạn 3 ngày (trừtrường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm được thực hiện ngay sau khi ban hànhquyết định, không yêu cầu phải báo trước) Cùng với quyết định kiểm tra, Trưởngđoàn kiểm tra gửi cho doanh nghiệp bản thông báo sơ bộ những công việc sẽ làm,
sổ kế toán, chứng từ, tài liệu doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn
+ Thực hiện kiểm tra tại doanh nghiệp:
Công bố quyết định kiểm tra: Trưởng đoàn kiểm tra công bố quyết địnhkiểm tra, nói rõ lý do, mục đích, yêu cầu của cuộc kiểm tra; giải thích những vấn đềdoanh nghiệp chưa rõ; những công việc doanh nghiệp phải thực hiện; những sổ kếtoán, chứng từ, tài liệu, dữ liệu điện tử… doanh nghiệp phải chuẩn bị cung cấp;quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; yêu cầu doanhnghiệp cử lãnh đạo, kế toán và những người khác trực tiếp làm việc với đoàn và ký
Trang 32các biên bản trong quá trình kiểm tra; những đề nghị doanh nghiệp hợp tác,… Đạidiện doanh nghiệp thông báo với đoàn về những người được ủy quyền đại diệndoanh nghiệp làm việc với đoàn trong quá trình kiểm tra, những người được ủyquyền ký các biên bản Thông báo này được ghi vào biên bản làm việc (hoặc doanhnghiệp có văn bản chỉ định gửi đoàn kiểm tra Trong trường hợp này, vẫn phải ghivào biên bản làm việc), có giá trị thực hiện Ngoài ra, phía doanh nghiệp có thể yêucầu đoàn giải thích những vấn đề mà mình chưa rõ, những đề nghị…
Thực hiện kiểm tra: Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện các tình tiếtmới cần phải xác minh thì Trưởng đoàn phân công thành viên của đoàn đi xác minh.Nếu có những vấn đề cần doanh nghiệp phải giải trình bằng văn bản hoặc doanhnghiệp đề nghị được giải trình bằng văn bản thì yêu cầu hoặc đồng ý doanh nghiệpgiải trình bằng văn bản Văn bản giải trình được gắn liền với biên bản làm việc hàngngày ký giữa Trưởng đoàn và đại diện doanh nghiệp Trong quá trình kiểm tra pháthiện các chứng từ, sổ kế toán, tài liệu có nội dung phản ánh hành vi vi phạm phápluật của doanh nghiệp thì yêu cầu người có trách nhiệm của doanh nghiệp sao y bảnchính và ký xác nhận vào bản sao y để làm chứng cứ xử lý vi phạm sau này Kếtthúc mỗi ngày làm việc hoặc từng nội dung kiểm tra, Trưởng đoàn kiểm tra phảicùng đại diện được ủy quyền của doanh nghiệp lập biên bản làm việc ghi nhận nộidung công việc đã làm trong ngày hoặc lũy kế từ những ngày trước, kết luận nhữngnội dung đã kiểm tra xong, những yêu cầu, đề nghị của mỗi bên (nếu có)
Kết luận kiểm tra: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạnKTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp, Trưởng đoàn kiểm tra phải ký “Bản kết luậnKTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp” Nội dung cơ bản của Bản kết luận phải thể hiện rõđược các nhiệm vụ kiểm tra theo quyết định kiểm tra; những công việc đã làm, kếtquả, kết luận cụ thể về từng nội dung; những nội dung doanh nghiệp đã thực hiệnđúng, không sai phạm; những nội dung doanh nghiệp thực hiện chưa đúng hoặc cósai phạm (ghi cụ thể hành vi vi phạm), vi phạm quy định nào của pháp luật; số thuếnộp thiếu, nộp thừa (nếu có); trách nhiệm của doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhânkhác có liên quan; những nội dung chưa thực hiện được hoặc chưa hoàn thành,
Trang 33nguyên nhân; tinh thần, thái độ của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra; các kiếnnghị Bản kết luận, các bản số liệu tính toán, các biên bản của đoàn và của thànhviên, nhóm thành viên đoàn kiểm tra, các bản giải trình, tham gia ý kiến của doanhnghiệp, các bản xác minh tạo thành bộ hồ sơ KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp [23].
1.2.1.3 Hoạt động lập hồ sơ và ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
- Hoạt động lập hồ sơ trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu: Hoạt động này được thực hiện từ khi ban hành Quyết định KTSTQ tại
trụ sở doanh nghiệp tới khi ban hành “Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanhnghiệp” hoặc sau khi lập Biên bản vi phạm hành chính (nếu có)
Các hồ sơ được lập trong giai đoạn này gồm:
+ Biên bản làm việc giữa đoàn kiểm tra với giám đốc hoặc người được giámđốc ủy quyền của doanh nghiệp được kiểm tra (doanh nghiệp): Biên bản này có vịtrí đặc biệt quan trọng, để xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp, xác định rõnhững người có trách nhiệm tham gia trong quá trình kiểm tra, xác định phươngpháp làm việc, cách thức phối hợp hai bên Nội dung chính của biên bản là ghi lạiviệc công bố quyết định KTSTQ, sự thống nhất giữa hai bên về các công việc mỗibên phải làm, cách thức phối hợp để thực hiện các công việc đó, những người cótrách nhiệm chung và trong từng phần việc
+ Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đạidiện doanh nghiệp: Ghi lại kết quả kiểm tra, nội dung làm việc giữa thànhviên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại diện doanh nghiệp Biên bản này phảiphản ánh được đầy đủ, cụ thể, chính xác nội dung và kết quả kiểm tra; phải có kếtluận rõ ràng về từng vấn đề
+ Báo cáo kết quả kiểm tra hàng ngày của thành viên/nhóm thành viên vớiTrưởng đoàn kiểm tra: Báo cáo này giúp cho Trưởng đoàn kiểm tra nắm chắc tìnhhình, tiến độ công việc để có chỉ đạo, điều chỉnh phù hợp
+ Biên bản làm việc giữa Trưởng đoàn kiểm tra với đại diện có thẩm quyềncủa doanh nghiệp: Biên bản này là cơ sở để Trưởng đoàn lập “Bản kết luận KTSTQ
Trang 34tại trụ sở doanh nghiệp”, là cơ sở lập biên bản vi phạm hành chính và xử lý vi phạmsau này
+ Tài liệu xác minh trong quá trình kiểm tra (nếu có): Là một trong nhữngcăn cứ để xem xét kết luận về vấn đề còn nghi vấn, chưa rõ, còn ý kiến khác nhaugiữa đoàn kiểm tra và doanh nghiệp Tài liệu xác minh là bộ phận không tách rờicủa Biên bản làm việc của thành viên/nhóm thành viên, Bản kết luận của Trưởngđoàn kiểm tra; là hồ sơ xử lý sau này
+ Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp (Bản kết luận): Là cơ sở đểngười ban hành quyết định kiểm tra xem xét, kết luận vụ việc; là căn cứ để lập biênbản vi phạm hành chính; là cơ sở để người có thẩm quyền ban hành các quyết địnhhành chính Bản kết luận được lập trên cơ sở Biên bản làm việc giữa Trưởng đoànkiểm tra với đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp; Các tài liệu xác minh; Cácbản giải trình của doanh nghiệp trong quá trình kiểm tra
+ Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hải quan: Biên bản này đượclập sau Bản kết luận KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan hoặc tại trụ sở doanhnghiệp; hoặc sau kết luận của người ban hành quyết định kiểm tra (nếu có) Căn cứ
để lập Biên bản vi phạm hành chính là Bản kết luận Các loại biên bản làm việc củathành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra, của trưởng đoàn kiểm tra ký với đại diệndoanh nghiệp cũng được xem xét khi lập biên bản vi phạm
- Hoạt động ban hành quyết định hành chính trong lĩnh vực KTSTQ đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu:
+ Quyết định ấn định thuế:
Áp dụng trong trường hợp số thuế phải nộp do: người nộp thuế tự phát hiệnthiếu thuế, xin khai nộp bổ sung; cơ quan Hải quan xác định trên cơ sở kết quảKTSTQ tại trụ sở Hải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp sau khi doanh nghiệp đãgiải trình hoặc doanh nghiệp không thực hiện quyền giải trình Quyết định ấn địnhthuế được ban hành trên cơ sở nội dung khai bổ sung của người nộp thuế sau khi cơquan Hải quan đã rà soát, đối chiếu với hồ sơ Hải quan; Kết quả KTSTQ tại trụ sởHải quan hoặc tại trụ sở doanh nghiệp đã đủ căn cứ để kết luận doanh nghiệp nộp
Trang 35thiếu thuế và đã xác định được số thuế nộp thiếu Thẩm quyền ký ban hành Quyếtđịnh ấn định thuế là: Chi cục trưởng KTSTQ; Cục trưởng Cục Hải quan tỉnh, thànhphố; Tổng cục trưởng Tổng Cục Hải quan hoặc người được ủy quyền.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính:
Trong lĩnh vực KTSTQ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính gồm:Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan ngoài lĩnh vực thuế; Quyếtđịnh xử phạt vi phạm hành chính về Hải quan trong lĩnh vực thuế; Quyết định xửphạt VPHC trong lĩnh vực Hải quan bằng hình thức phạt cảnh cáo
Khi ban hành quyết định hành chính, phải đặc biệt chú ý thực hiện đúng quyđịnh của pháp luật nói chung, hình thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền Việc soạnthảo các quyết định hành chính sử dụng theo mẫu ấn chỉ quy định Phần căn cứpháp luật áp dụng để ban hành quyết định hành chính trước hết phải dẫn chiếu đếnvăn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, rồi đến các văn bản phápluật khác, về lĩnh vực đó, đang có hiệu lực thi hành Phải trích dẫn cụ thể chương,mục, điều, khoản, điểm cụ thể được áp dụng Ngoài các văn bản pháp luật, có thểdẫn chiếu thêm các văn bản cá biệt, các bản kết luận kiểm tra, các biên bản, nhưngkhông ghi là căn cứ vào văn bản đó Chú ý thực hiện đúng thẩm quyền của ngườiban hành quyết định hoặc thủ tục ủy quyền cho người ban hành quyết định hànhchính; thời hiệu, thời hạn khi ban hành các quyết định hành chính
+ Giải quyết khiếu nại (nếu có): Quyết định giải quyết khiếu nại phải gửi chongười khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trước đó (nếu là giải quyết lần hai),người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, người chuyển đơn đến trongthời hạn 05 ngày kể từ ngày ký quyết định Khi giải quyết khiếu nại về thuế, cóquyền yêu cầu người khiếu nại cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại;nếu người khiếu nại từ chối cung cấp hồ sơ, tài liệu thì có quyền từ chối xem xétgiải quyết khiếu nại Quyết định giải quyết khiếu nại (bao gồm quyết định giảiquyết khiếu nại lần đầu và lần hai) có hiệu lực pháp luật, nếu trong thời hạn do phápluật quy định, người khiếu nại không khiếu nại tiếp, không khởi kiện vụ án hànhchính tại tòa án
Trang 36+ Tham gia tố tụng tại tòa án (nếu có): Sau khi nhận được thông báo thụ lý
vụ án hành chính của tòa án mà đơn vị KTSTQ là bên bị kiện, phải đọc kỹ nội dungthông báo; đồng thời làm công văn giải trình gửi tòa án trong thời hạn 15 ngày tính
từ ngày nhận được thông báo của tòa; nếu không thể giải trình trong thời hạn trênthì làm đơn xin gia hạn gửi tòa án, nêu rõ lý do Cung cấp cho tòa án các tài liệu,văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn đã được sử dụng làm căn cứ ban hành quyếtđịnh hành chính bị khiếu kiện; lập bảng kê, ký tên, đóng dấu vào từng tài liệu cungcấp Sau khi có bản án, quyết định của tòa án, cần làm thủ tục xin cấp bản sao bản
án, quyết định của tòa án Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, nếu không đồng ý thì
có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tòa tuyên án hoặc ra quyếtđịnh Đơn kháng cáo được gửi đến tòa án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo phải nêu rõ:Nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm bị kháng cáo,yêu cầu kháng cáo, lý do kháng cáo Nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị màkhông có đương sự nào kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị thì bản án,quyết định sơ thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật [23]
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.2.2.1 Hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách về hoạt động KTSTQ
- Hệ thống pháp luật Hải quan về KTSTQ:
Hệ thống này có ý nghĩa quyết định đến hoạt động KTSTQ Hoạt độngKTSTQ chỉ thực hiện một cách có hiệu quả khi có một hệ thống pháp luật hoànchỉnh từ Luật, Nghị định, Thông tư và các văn bản pháp luật có liên quan điều chỉnhđầy đủ các quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động KTSTQ Theo đó, phải đềcập được đầy đủ các yếu tố: mục đích, yêu cầu của KTSTQ; đối tượng, phạm viđiều chỉnh; quyền và trách nhiệm của cơ quan Hải quan và đối tượng KTSTQ; quytrình thủ tục KTSTQ; xử lý vi phạm và trình tự giải quyết khiếu nại về KTSTQ.Những nội dung chủ yếu trên phải đặt trong tổng thể mối quan hệ với các quy địnhcủa Luật Hải quan nói chung
- Hệ thống pháp luật về thuế:
Nếu hệ thống pháp luật về thuế (Thuế xuất khẩu, nhập khẩu; thuế tiêu thụ
Trang 37đặc biệt; thuế giá trị gia tăng ) đối với hàng hóa XNK rõ ràng, minh bạch, thì sẽquản lý được nguồn thu của ngân sách nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp chủ động trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế thuận lợi, chính xác.Ngược lại, nếu các nội dung quy định trong từng Luật thuế không rõ ràng, minhbạch đảm bảo sự thống nhất, không quy định rõ quyền lợi, trách nhiệm của ngườinộp thuế, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan kiểm tra về thuế, thì sẽ gây thất thucho ngân sách nhà nước
- Hệ thống pháp luật có liên quan đến KTSTQ:
KTSTQ liên quan đến các đối tượng có hoạt động XNK Vì vậy, ngoài cácquy định liên quan đến hoạt động thương mại như Luật thương mại còn có các quyđịnh về tập quán thương mại quốc tế và pháp luật có liên quan đến việc thành lập vàhoạt động của doanh nghiệp Do KTSTQ trực tiếp liên quan đến kiểm tra chứng từ,
sổ kế toán, báo cáo tài chính, vì vậy, việc chấp hành nghiêm các quy định của phápluật về kế toán thống kê có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động KTSTQ
Các quy định trong hệ thống thanh toán quốc gia, đảm bảo tỷ lệ thấp nhấtthanh toán bằng tiền mặt, đặc biệt trong quan hệ mua bán hàng hóa XNK phải đượcthực hiện qua hệ thống ngân hàng, kiểm soát chặt chẽ các nguồn thanh toán ngoài
hệ thống ngân hàng Ở Việt Nam, cơ chế thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay dẫnđến tình trạng giá bán hàng ghi trên hóa đơn không phản ánh đúng giá thực tế.Doanh nghiệp dễ dàng lập hồ sơ chứng từ giả để gian lận về giá nhập khẩu nhằmtrốn thuế
- Cơ chế thực thi pháp luật Hải quan và pháp luật khác có liên quan:
Công tác kiểm tra, giám sát, quản lý của ngành Hải quan có liên quan đến rấtnhiều ngành, nhiều lĩnh vực; Ngành Hải quan bên cạnh việc chỉ đạo thực thi phápluật Hải quan còn phải chỉ đạo thực thi một khối lượng lớn văn bản pháp luật củacác ngành khác Vì vậy, cần phải có cơ chế thích hợp và hữu hiệu để thực thi côngtác này Điều này cũng chỉ ra rằng, chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước phảiphối hợp chặt chẽ, đồng bộ với cơ quan Hải quan để đảm bảo mục tiêu chung củaquốc gia
Trang 381.2.2.2 Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ
- Ảnh hưởng của tổ chức bộ máy đến hoạt động KTSTQ:
Tổ chức bộ máy cho hoạt động KTSTQ gồm hệ thống bộ máy từ trung ương(Tổng Cục Hải quan) đến các địa phương (Cục Hải quan tỉnh, thành phố) Tùy theonguồn lực hiện có, khối lượng công việc, quy mô địa bàn quản lý để bố trí số lượngcông chức KTSTQ ở từng cấp cho hợp lý, ưu tiên cấp trực tiếp KTSTQ Đối với cấpTổng Cục Hải quan: Chủ yếu làm chức năng tham mưu cho cấp có thẩm quyền banhành các văn bản pháp luật quy định về KTSTQ; xây dựng kế hoạch chiến lược vềKTSTQ; tổ chức và quản lý công tác KTSTQ trong toàn ngành, trực tiếp tiến hànhKTSTQ và thực hiện một số nhiệm vụ khác theo phân công, phân cấp của cấp cóthẩm quyền Đối với cấp Cục Hải quan tỉnh, thành phố: Chủ yếu thực hiện KTSTQtheo địa bàn quản lý; thực hiện các nhiệm vụ cụ thể của cấp Tổng cục giao Chứcnăng chủ yếu của đơn vị này là hoạt động thu thập, phân tích xử lý thông tin và tiếnhành hoạt động KTSTQ tại trụ sở của đối tượng KTSTQ
Nếu tổ chức bộ máy thống nhất, đồng bộ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động sẽ thông suốt và mang lại hiệu quả nhưmong muốn, đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra
Ngược lại, nếu tổ chức bộ máy không đồng bộ và không thống nhất về chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp thì hoạt động chồng chéo, gây ách tắc vàmang lại hiệu quả thấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý đề ra
- Ảnh hưởng của nguồn nhân lực Hải quan đến hoạt động KTSTQ:
+ Chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động KTSTQ có tính quyết định đếnhiệu quả hoạt động KTSTQ, bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:
Xây dựng tiêu chuẩn công chức KTSTQ, bao gồm các tiêu chuẩn về phẩmchất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng kiểm tra chotừng đối tượng (các cấp lãnh đạo, nhân viên ) trong toàn hệ thống KTSTQ
Quy trình tuyển dụng, bố trí sắp xếp công chức ở từng khâu công việc cụthể, đặc biệt ở các khâu trọng yếu cần ưu tiên bố trí công chức có kinh nghiệm,năng lực thực tế, phù hợp với chuyên môn được đào tạo
Trang 39 Công tác đánh giá cán bộ để phục vụ cho việc phân loại, khen thưởng kịp thờinhững nhân tố tích cực, đồng thời kỷ luật nghiêm những công chức có sai phạm.
Từ công tác đánh giá cán bộ cũng xác định được nhu cầu đào tạo trongtoàn hệ thống, qua đó xây dựng chương trình đào tạo, nội dung đào tạo, xây dựngđội ngũ giảng viên, tổ chức đào tạo và đánh giá công tác đào tạo
+ Nếu chất lượng nguồn nhân lực cao, phát hiện và xử lý kịp thời các hành visai phạm sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động KTSTQ, tăng cường hiệu lực, hiệuquả công tác quản lý Hải quan
+ Ngược lại, nếu chất lượng nguồn nhân lực thấp không đáp ứng được yêucầu nhiệm vụ sẽ dẫn đến công việc bị tồn đọng, hiệu quả của hoạt động KTSTQthấp, không đáp ứng được yêu cầu quản lý
1.2.2.3 Trang thiết bị và công tác đảm bảo cho hoạt động KTSTQ
- Về trang thiết bị:
+ Để đáp ứng yêu cầu công việc, lực lượng KTSTQ cần được trang bị cáctrang thiết bị phục vụ công việc gồm: Máy giám định tài liệu, máy tính nối mạng,máy ảnh, máy ghi âm; Phương tiện đi lại như xe máy, ô tô phục vụ công tác điềutra, xác minh… đồng thời công chức KTSTQ được phân quyền truy cập các chươngtrình quản lý nghiệp vụ trong cơ sở dữ liệu của ngành Hải quan để phục vụ công tácthu thập thông tin của đối tượng kiểm tra
+ Nếu được đáp ứng đầy đủ trang thiết bị, phương tiện và các nguồn thôngtin sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủ động, kịp thời và mang lại hiệu quả cao.Ngược lại, nếu không được đáp ứng, hoạt động KTSTQ luôn bị động, không pháthuy được vai trò của mình
- Công tác đảm bảo:
+ Trong hoạt động của mình, lực lượng KTSTQ được đảm bảo các chi phí
để hoạt động gồm: sử dụng kinh phí để chi mua tin, thu thập thông tin trong vàngoài ngành; được trích thưởng từ tiền phạt vi phạm hành chính thông qua công tácKTSTQ; được hưởng phụ cấp đặc thù Các hoạt động thường xuyên của lực lượngKTSTQ được thực hiện theo cơ chế khoán chi
Trang 40+ Nếu được đảm bảo các nguồn chi phí sẽ giúp cho hoạt động KTSTQ chủđộng, kịp thời; động viên công chức KTSTQ yên tâm công tác, phát huy nội lực,sáng tạo, say mê trong thực thi nhiệm vụ Ngược lại, nếu không đảm bảo các chiphí, nguồn thông tin cung cấp cho lực lượng KTSTQ sẽ hạn chế; không tạo được sựyên tâm công tác của đội ngũ công chức và không thu hút được nguồn nhân lực chấtlượng cao vào trong lực lượng KTSTQ.
1.2.2.4 Sự phối hợp hoạt động trong và ngoài ngành
- Phối hợp trong ngành:
+ Hoạt động phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các đơn vị nghiệp vụ trongngành như: Hải quan cửa khẩu; kiểm soát chống buôn lậu; thanh tra; quản lý thuế;giám sát quản lý được thực hiện thường xuyên; khi cần thiết lực lượng KTSTQ cóthể trưng dụng chuyên gia thuộc các lĩnh vực nghiệp vụ để phục vụ công tácKTSTQ Nguồn thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ cung cấp cho lực lượng KTSTQrất quan trọng trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra
+ Nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp vụ trongngành Hải quan được thực hiện chặt chẽ và kịp thời sẽ giúp cho lực lượng KTSTQ
có cơ sở trong việc đánh giá phân loại và lựa chọn đối tượng kiểm tra; kịp thời kiểmtra, phát hiện và ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm Mặt khác, kết quả KTSTQđược phản hồi sẽ giúp cho các đơn vị nghiệp vụ triển khai nhiệm vụ theo chức năngcủa mình đạt hiệu quả cao hơn
+ Ngược lại, nếu sự phối hợp giữa lực lượng KTSTQ và các đơn vị nghiệp
vụ trong ngành Hải quan thực hiện không tốt thì hiệu quả của hoạt động KTSTQ sẽ
bị ảnh hưởng đáng kể và không đáp ứng yêu cầu quản lý Hải quan
- Phối hợp ngoài ngành:
+ Trong hoạt động KTSTQ, việc phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhânngoài ngành được thực hiện thường xuyên theo yêu cầu nhiệm vụ, bao gồm: phốihợp công tác giữa 3 ngành trực thuộc Bộ tài chính là Hải quan, Thuế, Kho bạc đượctriển khai thực hiện ở cấp Trung ương và ở các địa phương, được kết nối qua mạng
và duy trì thường xuyên là một kênh thông tin quan trọng phục vụ công tác KTSTQ