1.3 Tính chất của sự phát triển Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể,
Trang 1BÀI THUYẾT TRÌNH
ĐỀ TÀI:
“Nguyên lý về sự phát triển và sự vận
dụng nguyên lý về sự phát triển trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam ”
Nhóm thực hiện: 6
Trang 301 LỜI MỞ ĐẦU
Trang 4“Chiến tranh đây chính là nguyên nhân tạo cho con người Việt Nam bản lĩnh kiên cường không chịu
khuất phục trước kẻ thù dù có lớn mạnh đến đâu”
Trang 501 LỜI MỞ ĐẦU
Trang 602 NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I- LÝ LUẬN CHUNG
1.1 Nguyên lý là gì?
Là những luận điểm về học thuyết lý luận
Tính chân lý là hiển nhiên.
Được xác định trong tư duy của con người.
Có chức năng lý giải mọi sự việc hiện tượng
Ví dụ: - Mặt trời mọc đằng đông lặn đằng tây
- Trái đất tự quay quanh trục của nó
Trang 71.2 Phát triển là gì?
“Phát
Triển”
Xem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, đối lập với nhau,
quan điểm “siêu hình” và quan điểm “biện chứng”
Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp
THEO QUAN ĐIỂM SIÊU HÌNH
Trang 81.2 Phát triển là gì?
“Phát
Triển”
Xem xét về sự phát triển cũng có những quan điểm khác nhau, đối lập với nhau,
quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật
THEO QUAN ĐIỂM BIỆN CHỨNG
Trang 91.2 Phát triển là gì?
Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau:
-> Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật
-> Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những
nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Tóm
Lại
Trang 101.3 Tính chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau:
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn con người
Tính khách quan của sự phát triển
“ tính chất phát triển”
Trang 111.3 Tính chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau:
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến của sự phát triển
“tính chất phát triển”
Trang 121.3 Tính chất của sự phát triển
Các quá trình phát triển đều có các tính chất cơ bản sau:
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian, không gian khác nhau có sự phát triển khác nhau
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển
“tính chất phát triển”
Trang 131.3 Tính chất của sự phát triển
Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử cụ thể, sự thay đổi của các yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của
sự vật
Trang 141.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về sự phát triển có thể rút ra phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo hiện thực
Vì bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các
sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng
Trang 151.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
Trang 161.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật,
chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Trang 171.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải cóquan điểm phát triển
Trang 181.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi
Trang 191.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật
Trang 201.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển
Trang 211.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào
sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó
sự vật sinh ra tồn tại và phát triển
Trang 221.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng xem xét hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ thống đó
Trang 23CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng của nước ta trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa
2.1.1 Tính tất yếu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- Ở nước ta lựa chọn con đường quá độ tiến thẳng lên CNXH bỏ qua chế độ Do những lý
4 Chúng ta quá độ đi lên CNXH trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp hiện đại trên thế giới đang phát triển hết sức mạnh mẽ làm cho lực lượng sản xuất mang tính quốc tế hóa ngày càng
cao và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các Quốc Gia trong quá trình phát triển ngày càng lớn
Trang 24Nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ
nghĩa
Đây chính là con đường phát triển "rút ngắn" lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
thượng tầng tư bản chủ nghĩa.
nghĩa, nhưng phải biết tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại
hoá lao động dựa trên nền tảng chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa Quá trình này đã diễn
ra một cách tự phát, tuần tự, kéo dài hàng thế kỷ cùng với những đau khổ đối với con người
Trang 25CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1.2 Mục tiêu
kim chỉ nam cho hành động
nhân
Trang 26CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2.2 Thành tựu
cao (bình quân 7,3%/năm từ năm 1990 - 2003 và năm 2004 là 7,6%) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế của mình mở
ra khả năng tiến cùng thời đại và đặc biệt tạo ra thế
và lực mới để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước
giảm tỷ trọng các nghành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng các nghành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Trang 27CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 2.2 Thành tựu
tạo, tỷ lệ nội địa hoá sản phẩm ngày một tăng lên, một số sản phẩm công nghiệp đã đứng vững và cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước
là tăng mạnh về nông sản và sản lượng cây trồng, vật nuôi, an ninh lương thực được đảm bảo vững chắc, một số nông sản xuất khẩu của ta chiếm lượng cao trên thị trường thế giới
khu vực và thế giới.
Trang 28CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.3 Hạn chế
khoảng thời gian 1975-1985, chúng ta đã phạm một số sai lầm, thực hiện quá lâu cơ chế tập trung quan liêu, hành chính bao cấp của Nhà nước; nhận thức chưa đúng quan điểm của V.I.Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Tính bền vững và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế chưa cao, sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ còn hạn chế
Trong công nghiệp, hạn chế lớn nhất là hiệu quả sản xuất chưa cao
Trong nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản thì hạn chế lớn nhất đó là sản xuất chưa gắn liền với thị trường trong và ngoài nước
Hoạt động dịch vụ tuy có tiến bộ nhưng chưa đều và chưa vững
Các vấn đề xã hội còn nhiều bất cập
Trang 29CHƯƠNG II- VẬN DỤNG NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.4 Giải pháp
Tiếp tục quá trình đổi mới, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cải biến quan
hệ sản xuất sao cho phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất ở nước ta.
Phải phát triển kinh tế gắn liền với các mục tiêu xã hội
Phải tập trung đào tạo con người để tạo ra lực lượng sản xuất phát triển
Việc bố trí sắp xếp bố trí lại lực lượng sản xuất của xã hội
Trang 30=> Đổi mới là sự Lựa chọn cách mạng nhằm mục tiêu phát triển của Việt Nam bắt đầu diễn ra từ năm 1986 Đây là bước ngoặt trong tiến trình phát triển Việt Nam Sau 20 đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế Nền kinh tế tăng trưởng cao qua các năm đời sống nhân dân được năng cao, chóng ta đã xây dựng được một cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội
=>
=> quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua thời kì tư bản chủ nghĩa là một sự lùa chọn sáng suốt của Đảng và
nhà nước ta đã đặt Việt Nam vào quỹ đạo phát triển mới về chất, phù hợp với xu thế thời đại và ý nguyện của nhân dân
=> Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hôm nay, niềm tin và sự đoàn kết,đồng thuận sẽ tiếp tục năng bước dân téc ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, để lập những thành tựu mới, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh.