Nghiên cứu đề tài Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Hà Tây lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo giai đoạn 2001- 2005
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta là một Nhà nước nông nghiệp lạc hậu Hơn 80% dân số ở
nông thôn, lực lượng lao động chủ yếu vẫn là nông dân và canh tác nông
nghiệp với đặc trưng phổ biến của nền kinh tế thuần nông Do đó số hộ
nghèo và tình trạng nghèo đói chủ yếu là khu vực nông thôn, các hộ nông
dân cụ thể nước ta còn hơn 20% số hộ nghèo đói, hơn 90% hộ nghèo tập
trung ở nông thôn
Trước đổi mới, đời sống thu nhập giữa người giàu và người nghèo có
sự chênh lệch nhưng không lớn nền kinh tế thị trường càng phát triển, sự
phân chia giàu nghèo càng mạnh mẽ
Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã chủ trương xóa đói giảm nghèo và
tiếp tục được thực hiện đến Đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của
Đảng đã chính thức xác định xóa đói giảm nghèo là một trong chủ trương,
chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta Mặt khác nước ta đang bước vào
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì xóa đói giảm nghèo phải được
thực thi thường nhật Giải quyết đói nghèo trong toàn xã hội là một nhiệm
vụ khó khăn, lâu dài nhưng kết quả đạt được là thước đo sự phát triển kinh
tế - xã hội, thước đo việc thực hiện chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển thể hiện tính ưu việt của Nhà nước
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hòa cùng công cuộc đổi mới và phát triển nền
kinh tế thị trường Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Hà Tây lãnh đạo thực hiện
chương trình xóa đói giảm nghèo tại địa phương là một trong những chương
trình triển khai chủ trương trên của Đảng và Nhà nước
Mỹ Đức là một trong những huyện kém phát triển của tỉnh Hà Tây
Các hộ nông dân với nghề chính là nông nghiệp, thu nhập thấp, mức sống
quá thấp Tỉ lệ đói nghèo còn rất lớn làm cho bộ mặt kinh tế của huyện kém
phát triển Để đưa nền kinh tế của huyện sánh ngang với các huyện khác
trong tỉnh thì việc giải quyết đói nghèo là vấn đề bức xúc đang đặt ra cho
các ban ngành lãnh đạo huyện
Trang 2Và một người con của quê hương Mỹ Đức tôi tự hào về truyền thống
lịch sử của quê mình, song không khỏi băn khoăn trước thực trạng đói nghèo
của quê hương mình Xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề phát triển
kinh tế, thực trạng đói nghèo của huyện nhà Và nhờ được tiếp xúc với
nguồn tư liệu, được nghe, được thấy nhưng thành tựu phát triển kinh tế Xã
hội của quê mình Nhờ sự chỉ bảo hướng dẫn của thầy Nguyễn Quang Liêu
tôi chọn đề tài "Đảng bộ huyện Mỹ Đức - Hà Tây lãnh đạo công tác xóa đói
giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005" làm niên luận chuyên ngành lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam
Nghiên cứu đề tài này nhằm giới thiệu quá trình đảng bộ huyện Mỹ
Đức lãnh đạo xóa đói giảm nghèo nghèo tại địa phương và kết quả đạt được
trong quá trình thực hiện chương trình này trên địa bàn huyện Trên cơ sở đó
đánh giá thành tựu, hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra mục tiêu trong
chương trình xóa đói giảm nghèo của huyện
Nghiên cứu về đề tài hầu hết là các bản báo cáo, bài nói, bài viết của
các đồng chí lãnh đạo và các cơ quan, ban ngành trong huyện Những bài
báo báo cáo có tính chất tổng kết đánh giá khái quát và cung cấp các nguồn
tư liệu xung quanh vấn đề do đề tài đặt ra
Tôi sử dụng các tài liệu là các văn kiện, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc, các nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng bộ huyện, các bài báo cáo tạp
chí của UBND huyện, bản thống kê và phòng thống kê, phòng ban khác,
phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp phân
tích
Trang 3CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA
HUYỆN MỸ ĐỨC 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mỹ
Đức
1.1.1 Vài nét về vị trí địa lý
Mỹ Đức là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Hà Tây phía Đông địa bàn
huyện là dòng sông đáy, bên kia sông là địa phận huyện ứng Hòa, phía Tây
huyện Mỹ Đức là hai dãy núi Nương Ngái và Hương Sơn chạy suốt từ Miến
Môn xuống địa phận tỉnh Hà Nam, phía bên kia núi là con đường giao thông
chiến lược 21A là nơi giáp ranh với hai huyện Lương Sơn chạy suốt từ Miếu
Môn xuống địa phận tỉnh Hà Nam, phía bên kia núi là con đường giao thông
chiến lược 21A là nơi giáup ranh với hai huyện Lương Sơn và Kim Bôi của
Hòa Bình, phía Bắc Mỹ Đức là địa bàn huyện Chương Mỹ, phía Nam giáp
huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam
Toàn huyện có 21 xã và một thị trấn, trong đó có 1 xã miền núi là An
Phú Diện tích tự nhiên của huyện là 324,50km2, dân số 66.200 người Mật
độ dân số của huyện trung bình là 150 người/km2
1.1.2 Kinh tế
Nhờ có thiên nhiên ưu đãi về đất đai, khí hậu huyện có khả năng
phát triển một nền nông nghiệp toàn diện Ngoài nông nghiệp thì huyện
cũng đang phát triển nhiều nghề thủ công khác như dệt may ở Phùng Xá,
trồng dâu nuôi tằm ở Phù Lưu Tế, làm bánh kẹo ở Bột Xuyên, nghề trẻ tăm
hương ở Hợp Thanh, nghề thêu ở tế tiêu, Đại nghĩa nhờ có sự quan tâm lãnh
đạo của Đảng nền kinh tế của huyện đang dần phát triển và có nhiều đổi
mới
Trang 41.1.3 Văn hóa - xã hội của huyện
Thực hiện nghị quyết trung ương khóa IX của Đảng, phải luôn phấn
đấu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, tập trung phát triển văn hóa -
giáo dục - y tế - thể dục thể thao Để có thể theo kịp các huyện khác trong
tỉnh
1.1.4 Du lịch
Huyện có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, những quả núi trên
dãy Hương Sơn do thiên nhiên tạo hóa như đặt trong bức tranh "sơn thủy
hữu tình" có đủ các yếu tố bầu trời, cảnh vật, rừng núi, hang động, sông
suối, thung trằm và phía trước là đồng ruộng trồng cây của làng quê Đặc
biệt có động Hương tích là danh lam thắng cảnh nổi tiếng
1.2 Thực trạng đói nghèo ở Mỹ Đức
1.2.1 Định nghĩa đói nghèo
Theo đánh giá của hội nghị chống đói nghèo ở khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương tổ chức tại Băng Cốc Thái Lan tháng 9/1993 thì: Nghèo là tình
trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu
cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
1.2.2 Thực trạng đói nghèo ở Mỹ Đức
Mỹ Đức là huyện được xếp vào nhóm huyện nghèo nhất của tỉnh Hà
Tây Chỉ sau Ba Vì vào đầu năm 2001 số hộ đói ghèo là trên 200 hộ so với
tỉnh là rất cao
Bước vào năm 2002 toàn huyện có 5 nghìn lao động chưa có việc làm,
diện đói nghèo còn 29% trong đó số hộ đói chiếm 14% số hộ nghèo chiếm
15% so với 19,4% bình quân chung của cả tỉnh
1.2.3 Tình trạng đói nghèo ở Mỹ Đức do nhiều nguyên nhân
Trước hết là do huyện có xuất phát điểm thấp, phát triển kinh tế mà
bắt đầu từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém, kỹ
thuật canh tác nông nghiệp cũ kĩ, hạn chế Vì vậy năng suất lao động còn
thấp
Trang 5Trong công nghiệp: Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị thô sơ, lạc
hậu chậm đổi mới Vì vậy hiệu quả lao động không cao Mạng lưới thương
nghiệp và thị trường chủ yếu là giao lưu nội vùng thiên nhiên khắc nghiệt
tàn phá, kìm hãm sự phát triển kinh tế của vùng
Cơ cấu kinh tế của huyện chưa hợp lý nông nghiệp thuần túy và mang
đậm mô hình kinh tế bao cấp sản xuất mang tính tự cấp, tự túc khép kín
Những nguyên nhân này gây nên tình trạng đói nghèo của huyện, đây cũng
chính là hạn chế mà Đảng bộ Huyện và các cấp chính quyền phải quan tâm
và giải quyết
Bên cạnh hạn chế trên thì chương trình xóa đói giảm nghèo thu được
thành tựu đáng kể
Từ năm 2001-2005 Đảng bộ huyện Mỹ Đức phối hợp với các ban,
ngành chức năng các địa phương, cơ sơ sản xuất kinh doanh giải quyết việc
làm cho 1253 lao động Năm 2005 mở ba lớp dạy nghề: Mây tre đan, chẻ
tăm hương, khảm trai
Năm 2004 phối hợp với phòng giao dịch ngân hàng chính sách huyện
cho cơ sở sản xuất các hộ gia đình vay 1 tỷ 785 triệu đồng từ nguồn vốn quỹ
quốc gia giải quyết việc làm, đưa 160 lượt người đi lao động nước ngoài
Các ngành nông nghiệp, công nghiệp có bước phát triển đáng kể,
nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất mọc lên,
Sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hóa xã hội, thể thao hệ thống
trường lớp được tổ chức theo hướng đa dạng hóa, mở rộng hình thức dạy
nghề cho con em hộ nhà nghèo
Đạt được những thành tựu trên là do sự nỗ lực của đảng bộ, nhân dân
trong huyện tỉ lệ đói nghèo của huyện đã giảm đi rõ rệt, đời sống của nhân
dân được nâng cao bà con nông thôn không những đủ ăn mà còn sắm sửa
được các vật dụng có giá trị như ti vi, xe máy
Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Mỹ Đức từ 2001-2005 đã nhận được
sự giúp đỡ nhiều mặt của Nhà nước, đây là yếu tố quan trọng thúc đẩy công
tác xóa đói giảm nghèo
Trang 6Bằng sự quan tâm thiết thực của Đảng bộ huyện Mỹ Đức mặc dù còn
nhiều hạn chế nhưng kết quả đạt được trong giai đoạn 2001-2005 là cơ sở
tạo nên niềm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện toàn huyện bước
vào giai đoạn tiếp theo công tác xóa đói giảm nghèo có những chuyển biến
mới mạnh mẽ và có hiệu quả hơn
Trang 7CHƯƠNG 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN MỸ ĐỨC LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN THỰC HIỆN
CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2001-2005
Xóa đói giảm nghèo là một vấn đề mang tính chất toàn cầu Ngay từ khi
Việt Nam giành được độc lập (1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: Đói
nghèo là một thứ “giặc”, người đã chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm
làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng làm cho mọi người có công ăn
việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” Vì vậy, nếu ta giành được
độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do độc lập cũng không làm gì Chỉ
có không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tư tưởng cho nhân dân đó mới là
con đường đúng đắn nhất để nhân dân tin tưởng và đi theo Đảng Thể hiện bản
chất tốt đẹp của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Giảm đói nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản, được Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm Cùng với quá trình đổi mới tăng trưởng kinh tế, phải
tiến hành công tác xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội
Đại hội 8 của Đảng xác định: “Xoá đói giảm nghèo là một trong những
chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu
dài, và nhấn mạnh phải thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo ”
Những quan điểm và chủ chương này của Đảng được cụ thể hoá bằng
chính sách, chương trình, dự án nhằm tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp,
nông thôn, xây dựng chương trình thuỷ lợi để phục vụ sản xuất đời sống nhân
dân, đảm bảo an ninh lương thực
Để tiếp tục thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh phải thực hiện có hiệu
quả chính sách xoá đói giảm nghèo Chính phủ đã thông qua chiến lược phát
triển kinh tế xã hội 10 năm (2001 – 2010), định hướng phát triển kinh tế xã hội 5
năm (2001 – 2005) và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là chương trình
mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo như: Dự án hỗ trợ trực tiếp vay vốn sản
xuất kinh doanh, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ
làm công tác xoá đói giảm nghèo
Trang 82.1 Chủ trương và biện pháp của Đảng bộ huyện Mỹ Đức
Quán triệt chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta Đảng
bộ huyện Mỹ Đức - Hà Tây căn cứ vào Quyết định số 1254 – QĐ/UB ngày 05
tháng 10 năm 2001 của Uỷ ban nhân dân tỉnh là thực hiện chương trình xoá đói
giảm nghèo giai đoạn 2001 – 2005 và kế hoạch tập huấn bồi dưỡng nâng cao
năng lực cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo năm 2001 của Bộ lao động
thương binh xã hội là tích cực phát động phong trào xoá đói giảm nghèo trong
toàn dân nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân
Từ chủ trương chính sách này từ năm 2001 – 2005 Đảng bộ huyện đã cụ
thể hoá bằng các chính sách, cơ chế, chương trình, dự án và kế hoạch hàng năm
để phát triển nông nghiệp nông thôn Xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ
cấu cây trồng vật nuôi Sự quan tâm của tỉnh uỷ và Nhà nước là điều kiện thúc
đẩy mạnh mẽ phong trào xoá đói giảm nghèo ở Mỹ Đức Từ thực trạng đói
nghèo phát huy những kết quả đạt được của công cuộc vận động xoá đói giảm
nghèo triển khai từ năm 1996 đến 2000, huyện ủy, HĐND, UBND huyện đã đề
ra những giải pháp thích hợp đẩy mạnh công tác này với mục tiêu tạo ra điều
kiện thuận lợi, phù hợp để hỗ trợ người nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập,
giảm tỷ lệ đói nghèo xuống mức 10% vào năm 2005
2.2 Quá trình thực hiện
Xác định rõ tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo UBND
huyện có kế hoạch triển khai chương trình xoá đói giảm nghèo và thành lập ban
chỉ đạo xoá đói giảm nghèo từ huyện đến các xã, làng
Phòng Lao động và Thương binh xã hội phối hợp với Sở Khoa học công
nghệ tổ chức sản xuất, giải quyết việc làm cho người lao động, gắn xoá đói giảm
nghèo với việc phát triển kinh tế nông thôn
Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai ở hai xã Hợp Thanh và An
Phú đã thu được nhiều kết quả Năm 2005 phối hợp với Phòng Giao dịch Ngân
hàng Chính sách xã hội huỵên giải quyết cho vay 12 dự án cho các cơ sở sản
xuất, hộ gia đình, hội phụ nữ với số tiền là 1.785.000.000 đồng từ nguồn vốn
Quỹ Quốc gia giải quyết việc làm
Trang 9Thực hiện Quyết định số 1360QĐ/UB ngày 06 tháng 07 năm 2002 UBND
huyện về việc hỗ trợ kinh phí cho hộ quá nghèo để cải thiện nhà ở
Ngoài ra, Phòng Lao động và Thương binh xã hội còn mở lớp bồi dưỡng
cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo
2.3 Các biện pháp thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo giai đoạn
2001 – 2005
2.3.1 Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các xã nghèo
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cho người nghèo bao gồm công trình:
thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, điện nước, chợ, đổi mới cơ chế đầu tư phát
triển cơ sở hạ tầng cho những xã nghèo đảm bảo hầu hết các xã này có đủ cơ sở
hạ tầng thiết yếu để phát triển sản xuất thuận lợi Thu hút người nghèo tham gia
xây dựng công trình này coi đó là một hình thức tạo việc làm tăng thu nhập
Nâng cấp các công trình thuỷ lợi có quy mô nhỏ chuyển dịch cơ cấu nông
nghiệp Thực hiện kiên cố hoá hệ thống kênh mương
Chú trọng đầu tư xây dựng giao thông các xã, thay thế các loại cầu khỉ
bằng các loại cầu gạch và bê tông Tạo cơ hội nhiều hơn cho các xã nghèo chủ
động cho việc quản lý, xây dựng và bảo vệ hệ thống giao thông nông thôn
Mở rộng cung cấp điện lưới đến các xã hỗ trợ kinh phí xây dựng đường
trục hạ thế Hình thành các chợ nông thôn nhất là miền núi đảm bảo cung cấp
một số sản phẩm cần thiết phục vụ đời sống và sản xuất cho nhân dân
Trang 102.3.2 Phát triển kinh tế nông thôn coi đây là nền tảng chủ yếu tạo việc
làm tăng thu nhập trên diện rộng ở nông thôn
100% dân số Mỹ Đức làm nông nghiệp vì vậy phải xây dựng vùng sản
xuất lúa tập trung để nâng cao năng suất và chất lượng Mỹ Đức là huyện có thế
mạnh với điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho việc trồng lúa
và hoa màu Tích cực gia tăng mở rộng diện tích về những nơi hoang hoá, phân
bố lại dân cư lao động Có chính sách và biện pháp đảm bảo cho các hộ nghèo
có đủ đất canh tác ổn định đời sống tiến tới làm giàu Đảng bộ huyện và các cấp
chính quyền hướng dẫn nông dân ở các địa phương lựa chọn, xác định các loại
sản phẩm có thị trường tiêu thụ hiệu quả
Tích cực chuyển đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi để đảm bảo cho
các hộ nghèo có đủ đất canh tác để tăng thu nhập cho người dân
Phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn tạo các dịch vụ đầu tư vào,
để hỗ trợ nông dân về công nghệ tạo điều kiện để nông dân tự bỏ vốn đầu tư
kinh doanh hàng hoá nông sản theo nhu cầu của thị trường Tạo điều kiện cho
các hộ kinh doanh tham gia thị trường, khu công nghiệp nhỏ và nông thôn, phát
triển công nghiệp chế biến nhất là thức ăn chăn nuôi, các cơ sở chế biến thịt,
sữa… và các sản phẩm nông nghiệp tạo cơ hội để người nghèo có điều kiện tiếp
cận việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn
2.3.3 Phát triển giáo dục đào tạo, y tế
Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây lần thứ 13 đã xác định “Giáo dục là quốc
sách hàng đầu tạo sự chuyển biến cơ bản, nhanh chóng nâng cao dân trí của toàn
xã hội Củng cố và duy trì kết quả phổ cập tiểu học và xoá mù chữ theo chuẩn đề
ra Thực hiện chương trình giáo dục trung học cơ sở mở rộng quy mô đào tạo
bậc đại học một cách hợp lý, kết hợp đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục để phát triển
sự nghiệp giáo dục đào tạo” Phải đầu tư phát triển giáo dục ở các cấp, phòng, có
chính sách khen thưởng con em các hộ nghèo học giỏi bằng việc cấp học bổng
hàng năm ưu tiên ở ký túc xá không mất tiền… Ưu tiên đào tạo cán bộ giảng
dạy cho các xã khó khăn, duy trì hệ thống trường nội trú ở những xã miền núi
như An Phú
Trang 11Về y tế: Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em
thực hiện chế độ bảo hiểm y tế, phát triển các trạm y tế, đội y tế lưu động và các
chiến dịch về y tế Miễn viện phí cho các gia đình nghèo điều trị các bệnh như:
sốt rét, bướu cổ, phong lao, tâm thần và tiêm vác xin phòng bệnh cho trẻ
em
Giải quyết hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc đẩy mạnh công tác
“toàn dân xây dựng đời sống văn hoá, nếp sống văn minh, gia đình hạnh phúc”,
thực hiện phong trào “người tốt, việc tốt”, động viên toàn dân tham gia phát
triển kinh tế xã hội phát huy tài năng lao động sáng tạo xây dựng cuộc sống mới
thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu
Bảo vệ môi trường duy trì cuộc sống lành mạnh cho người nghèo kết hợp
hài hoà sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ cải thiện môi trường đảm bảo cho
mọi người sống trong một môi trường tốt Có kế hoạch cải tạo khắc phục sự ô
nhiễm trên các dòng sông, ao hồ, kênh mương Môi trường và nghèo đói có
quan hệ hai chiều, cải thiện tốt chất lượng môi trường cũng góp phần xoá đói
giảm nghèo Việc xây dựng hệ thống cấp nước sạch có thể nâng cao sức khoẻ và
làm giảm lượng thời gian tiêu phí vào việc lấy nước Gắn chính sách kinh tế với
chính sách môi trường
Tạo việc làm phi nông nghiệp trong khu vực nông thôn Giải quyết những
trở ngại về quan điểm cũng như nguồn vốn để tạo nhiều ngành, nghề phi nông
nghiệp xây dựng nhiều các xí nghiệp sản xuất tại vùng nông thôn giúp bà con
nông dân có nguồn thị trường tiêu thụ tại chỗ Có thể khai thác nguồn lao động
nông nhàn tối đa Phân bố hợp lý dân cư giữa các xã nâng cao chất lượng dân
số, chất lượng cuộc sống điều đó sẽ làm kinh tế xã hội của huyện ngày càng phát
triển
Xây dựng mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo Đảng uỷ, chính
quyền cấp huyện xã đưa nội dung mục tiêu hoạt động của phong trào “Ngày tiết
kiệm vì phụ nữ nghèo” trong chương trình xoá đói giảm nghèo của từng địa
phương, tạo điều kiện cho các hộ hoạt động Bổ sung một số chính sách về trợ
cấp đột suất và thường xuyên cho các xã nghèo như gạo, thực phẩm, quần áo
Trang 12Tổ chức chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện cứu trợ kịp thời, hướng dẫn người
nghèo chủ động cứu giúp lẫn nhau trong thiên tai Giúp đỡ khắc phục các thiệt
hại sau thiên tai nhanh chóng trở lại cuộc sống sản xuất bình thường Giải quyết
tình trạng môi trường sau thiên tai
Trong công tác xoá đói giảm nghèo của huyện Mỹ Đức đã được Đảng bộ
huyện và các cấp chính quyền quan tâm, hỗ trợ cho nên đã thu được nhiều kết
quả đáng kể như: vận động các cơ quan, doanh nghiệp và toàn dân tham gia
công tác cứu trợ, giúp đỡ trẻ em các gia đình nghèo có điều kiện học tập và tham
gia các hoạt động văn hoá thể thao
2.3.4 Khai thác tiềm năng lao động
Số lượng lao động trí óc của Mỹ Đức chiếm tỷ lệ khá cao so với cả tỉnh
Nguồn lao động trí óc xa quê đại đa số đều có trình độ nhất định Thường thì họ
học xong ở lại hoặc một số đi các nơi khác làm ăn sinh sống, nguôn nhân khiến
họ không về phục vụ quê hương có rất nhiều lý do mà bao trùm lên là vì Mỹ
Đức còn quá nghèo Là con người ai cũng có tấm lòng yêu quê hương nhưng
nếu về quê không xin được việc (do điều kiện kinh tế còn phát triển thấp, cả
huyện chỉ có một hai cơ quan nhà máy thì đã đủ người) buộc bỏ phí tiềm năng
lao động Vấn đề đặt ra là huyện phải có những biện pháp “chiêu hiền đại sĩ”
Mấy năm gần đây, huyện đã có chủ trương những sinh viên nào tốt nghiệp đại
học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp mà được xếp loại giỏi thì sẽ được huyện
nhận về làm việc ngay Thiết nghĩ đòi hỏi này là quá lớn bởi vì số sinh viên tốt
nghiệp loại giỏi là quá ít, mà đã giỏi thì chắc gì họ đã chịu về quê hương trong
khi nhiều cơ quan khác cần đến họ Do đó huỵên cần phải nới rộng hơn nữa
trong việc tạo công ăn việc làm cho con em mình để ai yêu quê hương cũng
được trở về để phục vụ cho chính quê mình
Năm 2002 cấp 100.000.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo với kinh
phí là 2 tỷ đồng trích từ ngân sách đảm bảo kinh tế xã hội Về cơ sở hạ tầng
kinh tế trong những năm gần đây huyện đã tập trung đầu tư để nâng cấp, xây
dựng bệnh viện và đến nay xã nào cũng có trạm y tế