Sự song hành giữa thương mại và truyền giáo trong quá trình hoạt động của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc được các học giả ví von như “đôi cánh của một con 1 Các hải cảng của Nhật Bản
Trang 1Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS LÊ VĂN ANH
2 PGS.TS ĐẶNG VĂN CHƯƠNG
HUẾ - NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Vĩnh Linh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Ký hiệu viết tắt
Danh mục các bảng
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của đề tài 12
7 Bố cục đề tài 13
B NỘI DUNG 13
CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA BỒ ĐÀO NHA TẠI ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - ĐẦU THẾ KỶ XIX) 14
1.1 Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX) 14
1.1.1 Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - giữa thế kỷ XVII) 14
1.1.2 Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (giữa thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX) 32
1.2 Thương mại Bồ Đào Nha tại Trung Quốc (nửa sau thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XIX) 42 1.2.1 Hoạt động bước đầu của thương nhân Bồ Đào Nha tại Trung Quốc (đầu thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVII) 42
1.2.2 Hoạt động thương mại của thương nhân Bồ Đào Nha Macao với Trung Quốc lục địa 49
1.2.3 Quá trình mở rộng thương mại của Bồ Đào Nha ở Macao với các khu vực khác (thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XIX) 55
1.2.4 Sự suy tàn của thương mại Bồ Đào Nha tại Macao (cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX) 61
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG TRUYỀN GIÁO CỦA CÁC GIÁO ĐOÀN BỒ ĐÀO NHA Ở ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - THẾ KỶ XIX) 65
2.1 Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ 65
2.1.1 Bước đầu xác lập ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo tại Ấn Độ (thế kỷ XVI) 65
2.1.2 Hoạt động của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vào thế kỷ XVII 77
2.1.3 Sự suy yếu của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vào thế kỷ XVIII 83
Trang 42.2 Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc 87 2.2.1 Quá trình truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Macao 87 2.2.2 Hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc lục địa 91
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI VÀ TRUYỀN GIÁO CỦA BỒ ĐÀO NHA TẠI ẤN ĐỘ, TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - THẾ KỶ XIX) 111
3.1 Cơ sở xác lập hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn
Độ, Trung Quốc 111 3.1.1 Chính sách hướng biển của Bồ Đào Nha 111 3.1.2 Sự thừa nhận của Giáo hội Rome đối với các vùng đất Bồ Đào Nha xâm chiếm 114 3.1.3 Sự tham gia của Bồ Đào Nha vào thương mại Đại Tây Dương trong thế kỷ XV 116 3.1.4 Vai trò của thương nhân Thiên Chúa giáo mới 117 3.2 Đặc điểm hoạt động thương mại, truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc 119 3.3 Thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ trong sự đối sánh với Trung Quốc 128 3.3.1 Vài đối sánh về hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc 128 3.3.2 Vài đối sánh về công cuộc truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Trung Quốc và Ấn Độ 133 3.4 Hệ quả quá trình hoạt động thương mại và truyền giáo của người Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc 138 3.4.1 Sự gắn kết thương mại Ấn Độ, Trung Quốc vào mạng lưới giao thương toàn cầu
và hậu quả của chính sách độc quyền nhà nước trong thương mại biển 138 3.4.2 Sự di cư, hình thành các tộc người mới và nạn kỳ thị chủng tộc 144 3.4.3 Sự tiếp biến ngôn ngữ Bồ Đào Nha trong cộng đồng cư dân châu Á 146 3.4.4 Sự tiếp biến, giao lưu văn hóa và hậu quả của chính sách cưỡng bức tôn giáo148 3.4.5 Bồ Đào Nha đặt nền tảng cho quá trình thay đổi cơ cấu động - thực vật trên phạm vi toàn thế giới 153
C KẾT LUẬN 156 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7THUẬT NGỮ
1 Agency House Hãng đại lý của các tư thương Bồ Đào Nha tại Ấn Độ
Về bản chất, đây là liên minh thương mại giữa các tư nhân để tăng cường khả năng cạnh tranh với Hoàng gia Bồ Đào Nha và các địch thủ người châu Âu khác
2 Arel Người đứng đầu một hải cảng tại ven biển Ấn Độ vào
đầu thế kỷ XVI
3 Armada Hạm đội tàu chiến
4 Armazem da India Thực chất là kho vũ khí được xây dựng đầu tiên tại
cảng Lisbon Bộ phận quản lý của Armazem bao gồm một giám đốc, một thủ quỹ và một vài thư ký, một số
ít thợ thủ công, công nhân, thợ mộc…Những kho chứa hàng của nó luôn có đại bác và số lượng lính canh gác thường xuyên Ribeira Armazem sản xuất rất nhiều thuyền carrack lớn và các thuyền nhỏ phục vụ cho thương mại hàng hải đến châu Á Văn phòng Armazem còn thiết lập quan hệ với thương nhân - những người cung ứng vũ khí, đồ sứ, rượu, bạc nén và những hàng hóa khác cho các chuyến hải hành đến Ấn
Độ Trụ sở của Armazem tại Ấn Độ là Goa
6 Bengalis Là nhóm dân tộc thiểu số bản địa sinh sống tại Bengal
(hiện nay về phương diện chính trị, khu vực này được phân chia nằm ở hai quốc gia Bangladesh và Ấn Độ)
Về chủng tộc, họ là sự hỗn huyết giữa người Aryan và người Mongoloid
7 Cafila Các đoàn thương nhân lữ hành vận chuyển hàng hóa
bằng đường bộ thông qua Con đường tơ lụa
8 Capitao- genal Chức vụ nắm quyền quản lý tối cao tại Macao với tư
cách là Tổng trấn hoàng gia và chỉ huy quân sự của thành phố từ năm 1623
9 Capitao - mor Là chức vụ cao nhất nhằm quản lý các chuyến tàu
được khởi hành từ Macao đến những hải cảng đã được
Trang 8chỉ định tại Nhật Bản
10 Casado Những người Bồ Đào Nha đã có gia đình đến định cư
tại châu Á
11 Casa dos contos Phòng tài chính thuộc Estado da India
12 Casa da matricula Phòng hộ tịch và hỗ trợ quân sự
13 Carrack Loại tàu lớn có 3 hoặc 4 cánh buồm vuông, được Bồ
Đào Nha sử dụng trong giao thương Á - Âu vào thế kỷ
XV, XVI
14 Carreira da India Là những hạm đội tàu được tổ chức bởi Hoàng gia Bồ
Đào Nha và khởi hành hàng năm từ Lisbon đến Ấn Độ (chủ yếu là Goa) theo tuyến thương mại qua mũi Hảo Vọng Theo ước tính, trong khoảng thời gian từ 1497 đến 1650, có khoảng 1.033 chuyến tàu khởi hành từ Lisbon đến Goa
15 Cartaz Đây là hình thức cấp phép trong thương mại đường
biển được thực hiện bởi người Bồ Đào Nha từ đầu thế
kỷ XVI đến nửa cuối thế kỷ XVIII Theo đó, các tàu muốn đến buôn bán với các vùng đất dưới sự kiểm soát của người Bồ Đào Nha phải được sự cho phép của Estado và phải đóng thuế theo quy định Nếu không sẽ bị tấn công, đánh đắm bởi lực lượng hải quân Bồ Đào Nha tại Ấn Độ dương
16 Cristãos novos Là những người gốc Do Thái sinh sống trên lãnh thổ
Bồ Đào Nha từ xa xưa trong lịch sử Năm 1496, để ngăn chặn khả năng liên minh giữa người Do Thái, vua Dom Manuel đã ra sắc lệnh cải đạo cưỡng bức đối với cộng đồng Do Thái giáo sống trên lãnh thổ Bồ Đào Nha Và từ đây, nhánh Thiên Chúa giáo mới của người Bồ Đào Nha ra đời
17 Chattin Những tư thương buôn bán tại Ấn Độ dương không
được sự cho phép của Hoàng gia Bồ Đào Nha
19 Chetty Bộ phận thương nhân hoạt động ở Nam Ấn Độ, đặc
biệt là bang Tamil Nadu
20 Chulia Chỉ các thương nhân Hồi giáo Tamil định cư tại duyên
Trang 9hải Coromandel ở Nam Ấn Độ
21 Compagnie Royale
des Indes Orientales
Công ty Hoàng gia Đông Ấn của Pháp
22 Companhia da Índia
Oriental
Công ty thương mại Ấn Độ của Bồ Đào Nha được thành lập vào năm 1628
23 Concession voyage Thuật ngữ này dùng để chỉ các chuyến tàu thương mại
dưới sự kiểm soát của hoàng gia Bồ Đào Nha được bán cho tư thương theo mức giá thỏa thuận Tư thương
sẽ là người trực tiếp thu mua hàng hóa và chở về Lisbon để phân phối lại trên thị trường châu Âu Hoàng gia Bồ Đào Nha chỉ đóng vai trò thu lợi nhuận theo đúng giá cả thỏa thuận
24 Conselho
Ultramarino
Hội đồng hải ngoại
Được thành lập vào năm 1642 tại Lisbon, phụ trách các vấn đề về tài chính trong hoạt động thương mại giữa Hoàng gia Bồ Đào Nha với các thuộc địa (đặc biệt là Ấn Độ)
25 Council of Trent Hội đồng thế giới lần thứ 19 của Giáo hội Rome (1545
– 1563), đề ra nội dung của việc tự cải cách và làm sáng tỏ những học thuyết gây tranh cãi với Tin Lành (Protestism) Hội đồng đóng vai trò quan trọng đem đến sự hồi sinh cho Nhà thờ Công giáo Rome ở nhiều khu vực khác nhau tại châu Âu
26 Cruzado Là một loại tiền xu bằng vàng của người Bồ Đào Nha
có khắc hình chữ thập chính giữa Đồng xu vàng này được sử dụng bởi Afonso V (1438-1481) khi tổ chức cuộc viễn chinh chữ thập chống lại việc xâm chiếm Constantinople của người Thổ vào năm 1453 Nó có giá trị khoảng 400 reis Ý nghĩa của chữ cruzado trong tiếng
Bồ Đào Nha có nghĩa là chữ thập - thập tự giá của vị thánh bảo trợ cho Bồ Đào Nha, St George
27 Ducat Là một loại tiền đồng đúc bằng vàng hoặc bạc được sử
dụng trong thương mại của châu Âu từ hậu kỳ trung đại đến thế kỷ XX Trong đó, ducat vàng của Venice được xem như tiền tệ trong giao thương quốc tế, tương
Trang 10tự như dollar Mỹ hiện nay
28 Dom Tước hiệu dành cho nam giới thuộc đẳng cấp quý tộc
ở Bồ Đào Nha
29 Estado da India Thuật ngữ Estado da India - liên bang Ấn Độ được
dùng để chỉ tất cả các thành phố, pháo đài và các vùng lãnh thổ mà người Bồ Đào Nha đã kiểm soát được ở châu Á và Đông Phi Tuy nhiên, đôi khi thuật ngữ Estado còn được sử dụng với ý nghĩa rộng hơn nhiều, bao gồm tất cả các vùng ven biển và các đảo thuộc phía Đông mũi Hảo Vọng giới hạn từ cực đông nam châu Phi đến vùng đất thấp ở cửa sông Dương Tử Trong thực tế, cũng có một số khu vực không nằm trong phạm vi quản lý của cơ quan này (ví dụ như Macao - Trung Quốc)
30 Foot (feet ) 1 foot = 0.3048 m
31 Fidalgo Cấp bậc thấp nhất trong hệ thống đẳng cấp quý tộc của
vương triều Bồ Đào Nha
32 Fishery Coast Vùng duyên hải phía Nam Ấn Độ trải rộng dọc theo
Coromandel từ Tuticorin đến Comorin
33 Foro da chao Tiền thuê đất mà người Bồ Đào Nha ở Maccao phải
trả cho chính quyền Trung Quốc
34 Gaunkar Thuật ngữ này có ý nghĩa lịch sử hết sức sâu sắc Đây
là tên gọi dành cho hậu duệ trực tiếp của những chủ sở hữu đất đai trong làng Thuật ngữ này bắt nguồn từ một tổ chức được gọi là công xã có nghĩa là Tổ chức kinh tế xã hội nông thôn Ấn Độ cổ đại được thành lập bởi các cư dân bản địa người Ấn Độ hàng ngàn năm trước khi Bồ Đào Nha xâm nhập Một công xã được xác định rõ ràng thông qua ranh giới đất đai giữa các làng, sự tương tác trong tôn giáo, xã hội và cách thức quản lý Trong mỗi công xã có nhiều Gaunkar Như vậy, ý nghĩa chính xác nhất của thuật ngữ này đó là những người đồng sở hữu đất đai và tài sản của công
xã Đất đai của công xã không được phép thế chấp, trả
nợ trong bất kỳ một tình huống nào, bởi bất kỳ một cơ
Trang 11quan hay cá nhân nào
35 Galleon Loại thuyền buồm lớn có tải trọng trên 1.000 tấn được
trang bị đại bác, thường được các nước châu Âu sử dụng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
36 Galiota Loại thuyền có tải trọng từ 300 đến 400 tấn
37 Go-shuin-sen Thương mại đường biển của người Nhật Bản được sự
cho phép của Tướng quân ở biển Nam Trung Quốc vào thế kỷ XVII
38 Guilder Là loại tiền tệ được lưu hành tại Hà Lan trước khi áp
dụng đồng Euro 1 guilder = 100 cent
39 Guangzhou co-hong Liên minh thương nhân Quảng Đông hoặc phường hội
quản lý hoạt động thương mại với các thương nhân phương Tây tại Quảng Đông trước chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhất (1839 - 1842)
40 Haijin Chính sách hải cấm của triều Minh thi hành ở Trung Quốc
41 Hong hoặc co-hong Phường hội hay liên minh thương nhân Trung Quốc
42 Hundi Một hình thức thanh toán bằng hối phiếu xuất hiện
trong thương mại giữa Bồ Đào Nha và Ấn Độ từ thế kỷ XVIII Hundi đầu tiên và cổ nhất còn được biết đến có
từ thế kỷ XII và sau đó được nhân rộng do sự đơn giản, chi phí thấp và tính hiệu quả của nó Từ hundi là một thuật ngữ chung có nguồn gốc từ tiếng Phạn (Sankrit)
có nghĩ là “tập trung”
44 Inter Caetera Ngày 03 và 04 tháng 5 năm 1493 Giáo hoàng
Alexandre VI đã ký sắc lệnh Inter Caetera phân chia thế giới truyền giáo cho hai nước mà đường ranh là kinh tuyến 300 từ Bắc xuống Nam cực - đi ngang qua quần đảo Azores thuộc Bồ Đào Nha - Tây kinh tuyến từ nay thuộc Tây Ban Nha bảo trợ truyền giáo, phần này gồm
cả tân thế giới (châu Mỹ) Đông kinh tuyến còn lại thuộc Bồ Đào Nha gồm châu Phi và châu Á Riêng ở vùng Viễn Đông thì Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản đều thuộc lĩnh vực truyền đạo của Bồ Đào Nha
45 Jansenism Là phong trào Thần học Ky tô giáo được tiến hành
Trang 12đầu tiên tại Pháp Phong trào bắt nguồn từ tác phẩm của nhà Thần học người Hà Lan Cornelius Jansen Trung tâm của phong trào là nhà nguyện Port-Royal thuộc Paris
46 Khandi Còn có tên gọi là Candil - một đơn vị dùng để tính
khối lượng thường được sử dụng tại phần Ấn Độ thuộc Anh, Afghanistan, Ba Tư và Arab cũng như đế quốc Mogul 1 candil = 20 maon (1 maon dao động từ
11 kg đến 721/2 kg)
47 Kallar và Maravar Đây là nhóm người thuộc cộng đồng Mukkulathor - cư
dân bản địa sinh sống ở Trung và Nam của bang Tamil Nadu, Ấn Độ Giai đoạn phát triển đỉnh cao của cộng đồng này là từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII khi họ nắm quyền thống trị trên toàn bộ khu vực Nam Ấn
48 Kilwa Là một hòn đảo thuộc duyên hải Đông Phi, ngày nay
là Tanzania Vào thế kỷ XII, dưới thời trị vì của vương triều Abu'-Mawahib, Kilwa trở thành thế lực hùng mạnh nhất vùng ven biển Đông Phi
49 Mappila Nhóm thương nhân Hồi giáo buôn bán tại Malabar
50 Marathas Người Ấn Độ giáo cư trú tại Maharashtra thuộc trung
tâm phía Tây Ấn Độ
51 Mendicant orders Là những giáo đoàn sinh sống bằng các hoạt động từ
thiện Về nguyên tắc những giáo đoàn này không có tài sản riêng hoặc chung Dòng Dominicains và Franciscains cũng thuộc vào nhóm này
52 Metizo Những người con lai mang trong mình hai dòng máu:
Á - Âu Phần lớn trong số họ có bố là người Bồ Đào Nha và mẹ là phụ nữ bản địa
53 Moor Là một thuật ngữ trong tiếng Anh để gọi những người
Hồi Giáo hiện nay đang sinh sống tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Nguồn gốc của cộng đồng này là sự hỗn huyết giữa người Arab, Tây Ban Nha và Amazigh (Berber) Người Moor đã tạo nên nền văn minh Arab Andalusian và định cư thường xuyên ở Bắc Phi từ giữa thế kỷ XI đến thế kỷ XVII Đôi khi thuật ngữ này còn
Trang 13được mở rộng để chỉ người Hồi giáo nói chung
54 Nayak Có nghĩa là người cai trị Đây là thuật ngữ được sử
dụng khi vương triều Keladi Nayaka lên cầm quyền trong giai đoạn 1499-1763 Vào 1565, các Nayak đã xác lập quyền lực trên phạm vi lãnh thổ của đế quốc Vijayanagar trước đây
55 Nayar Cộng đồng Hindu giáo sinh sống ở phía Nam Ấn Độ
thuộc bang Kerala
56 Nau Thuật ngữ dùng để chỉ các tàu có kích thước lớn được
sử dụng trong các chuyến hải hành vượt đại dương từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV
57 Naveta Loại tàu chở hàng hóa có tải trọng 300 tấn
58 Old Goa Là một thành phố có giá trị lịch sử quan trọng nằm ở
ngoại ô phía Bắc của Goa hiện nay Thành phố này được xây dựng bởi Hồi vương Bijapur vào thế kỷ XV
và trở thành kinh đô của Estado da India từ thế kỷ XVI đến XVIII Thành phố đã được UNESCO công nhận là
di sản văn hóa thế giới
59 Oriya Họ được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Odia,
Odri, Utkaliya, Kalingi, trong tiếng latin là Uri Đây là nhóm dân tộc ở phía đông Ấn Độ theo Hindu giáo và chiếm đa số trong các bang nằm ở duyên hải phía Đông Odisha, và chiếm số lượng nhỏ tại Andhra Pradesh, Tây Bengal, Karnataka, Jharkhand và Chhattisgarh
61 Outvidor Thẩm phán do tổng trấn người Bồ tại Estado da India
bổ nhiệm đến cư trú tại Macao trong 3 năm
62 Pagoda Một loại tiền tệ bằng vàng hoặc một nửa vàng được sử
dụng bởi các vương triều người Ấn (như Kadambas của Hangal, Kadambas của Goa, và đế quốc Vijaynagar) cũng như Anh, Pháp và Hà Lan sau này
63 Palaiyakkarar Là tước hiệu quý tộc của những người đứng đầu một
phần lãnh thổ hoặc lãnh đạo chiến dịch quân sự được
bổ nhiệm bởi người cai trị Nayaka ở Nam Ấn (thuộc
Trang 14vương quốc Vijayanagar, Madurai Nayakas và vương triều Kakatiya) trong suốt thế kỷ XVI-XVIII
64 Pancada Là những quy định về giá cả được sử dụng bởi các
daimyo tại Nagasaki (Nhật Bản) nhằm thu mua tơ lụa Trung Quốc theo tỷ lệ được điều chỉnh ở mức thấp nhất Hệ thống này còn được sử dụng tại Manila
65 Pardesi Nhóm thương nhân người nước ngoài tham gia buôn
bán tại duyên hải Ấn Độ gồm: người Arap, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Somali, Maghreb…
66 Pataxo Loại tàu có tải trọng 300 đến 400 tấn
67 Peso 1 peso = 0.8 tael
= 0.8 cruzado = 1.07 xerafines
68 Picol = 1331 /2 pounds
70 Propaganda Vào ngày 6/1/1622, Giáo hoàng Gregory XV quyết
định thành lập Phái bộ truyền giáo đức tin (Sacred Congregation for the Propagation of the Faith) Đối với Ấn Độ, Propaganda chính thức xuất hiện thông qua Matthew de Castro vào cuối năm 1633
71 Provedor-Mor dos
Defuntos e Ausentes
Đây là chức vụ mà Captain-mor nắm giữ cho đến
1589 với ý nghĩa “Người quản lý những tài sản của người chết và những người vắng mặt” Theo đó, khi một thương nhân Bồ Đào Nha tại Macao qua đời thì capitao-mor có trách nhiệm thực hiện các thủ tục pháp
lý và chuyển đến Estado da India ở Goa - nơi chúng được dàn xếp để phân chia cho những người thừa kế ở
Bồ Đào Nha hoặc các vùng đất khác theo di chúc
73 Raja Một thuật ngữ lịch sử xuất hiện trong kinh Vệ Đà
(Rigveda) của Ấn Độ dùng để gọi người đứng đầu một gia tộc Trước kia, các học giả thường gọi là
“vua” nhưng hiện nay được dịch là “trưởng tộc”
74 Real Một loại tiền đồng được đúc bằng bạc của người Tây
Ban Nha
Trang 1575 Relação Tòa án tối cao thuộc Estado da India
76 Renda Renda là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc bán
nguồn lợi của Estado da India cho người trả giá cao nhất Thời hạn của một renda là khoảng 3 năm Người có được renda phải có người bảo lãnh và nộp một số tiền đặt cọc trước khi ký hợp đồng
77 Ring Nhóm thương nhân đại diện cho các daimyo ở 5
thành phố Edo, Kyoto, Osaka, Sakai và Nagasaki nắm độc quyền trong nhập khẩu tơ lụa vào Nhật Bản
78 Sarraf Thuật ngữ dùng để chỉ những chủ ngân hàng người
Bồ Đào Nha đầu tiên tại Ấn Độ
79 Senado da Camara Hội đồng thành phố
80 Sephardim Các thế hệ sau của những người Do Thái ở Bồ Đào
Nha và Tây Ban Nha bị trục xuất theo sắc lệnh năm
1492
81 Sofala Hiện nay thuộc tỉnh Sofala ở Mozambique Vương
quốc Sofala được ra đời vào khoảng năm 700 Người Arab và Ba Tư bắt đầu đến đây giao thương vào thế kỷ
X Pêro da Covilhã là nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến vùng đất này vào năm 1489 Trong chuyến viễn chinh đến Ấn Độ, Da Gama đã cho tàu cập bến và tìm hiểu thông tin về địa điểm này
đồ Armenia
84 Tael Đơn vị thuộc hệ thống đo lường được áp dụng chủ yếu
ở vùng Viễn Đông thường được dịch là “lạng” hay
“lượng” trong tiếng Việt 1 tael ở Quảng Châu = 37.5 grams, 1 tael Thượng Hải = 33.9 g…
1 tael = 1 cruzado = 1.33 xerafines
Trang 1685 Taluka Là thuật ngữ Bồ Đào Nha sử dụng để chỉ 12 đơn vị
hành chính dưới Goa Trong thời kỳ cai trị của Bồ Đào Nha, Goa được chia làm 2 khu vực: Bắc Goa và Nam Goa với 12 taluka: Bardez, Bicholim, Pernem, Ponda, Sattari, Tiswadi, Dharbandora, Canacona, Mormugao, Salcette, Sanguem, Quepem
87 Treaty of Amiens Được ký kết vào ngày 27/3/1802 giữa Anh, Pháp, Tây
Ban Nha và Cộng hòa Batavia (Hà Lan), chấp nhận duy trì nền hòa bình tại châu Âu trong 14 tháng suốt cuộc chiến tranh Napoleon Theo đó, quyền lực và lãnh thổ của Bồ Đào Nha phải được tôn trọng, ngoại trừ việc Pháp tiếp nhận Guinea thuộc Bồ Đào Nha
88 Tordesillas Hòa ước này được ký kết vào ngày 7/6/1494 nhằm
giải quyết những tranh chấp giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha sau chuyến phát kiến địa lý của Christopher Columbus (1492) Theo hiệp ước này, thế giới được phân định bằng đường kinh tuyến tưởng tượng kéo dài
từ Nam đến Bắc cách quần đảo Cape Verde 370 hải lý (1.770 km) về phía Tây Như vậy, vương quốc Castille cùng quần đảo Canaries thuộc về triều đình Tây Ban Nha, còn các đảo Madeira, Porto Santo, quần đảo Azores, Cape Verde cũng như quyền chinh phục vương quốc Fez hoặc Fès (Maroc) và quyền đi lại bằng đường biển ở phía Nam đường vĩ tuyến chạy qua quần đảo Canaries thuộc về triều đình Bồ Đào Nha Vùng đất Brazil được khám phá trước khi hiệp ước này được ký kết, vì thế nó thuộc chủ quyền của Bồ Đào Nha
89 Xerafines Đồng bạc được sử dụng trong phần lãnh thổ Ấn Độ
thuộc Bồ Đào Nha 1 xerafim = 300 reis
90 Zamorin Là tước hiệu hoàng gia của những tiểu vương Hindu
giáo trong thời trung đại ở Calicut trên duyên hải Malabar (hiện nay là Kerala) Zamorin cai trị trong 6 thế kỷ (XII -XVIII) với kinh đô tại Calicut, một trung
Trang 17tâm thương mại quan trọng phía Nam Ấn Độ
91 Wako Cướp biển người Nhật Bản, hoạt động tại bờ biển Trung
Quốc và Nhật Bản từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVII Tuy nhiên, thành phần tham gia mạng lưới này còn có cả người Trung Quốc, Triều Tiên, Đông Nam Á
92 Vedoria da fazenda Ủy ban quản lý ngân khố thuộc Estado da India
93 Vedor da fazenda Nhân viên quản lý ngân khố thuộc Estado da India
Trang 18A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phát kiến địa lý là một những thành tựu vĩ đại trong lịch sử nhân loại, “một cuộc cách mạng thật sự” trong lĩnh vực giao thông và tri thức Với tư cách là quốc gia tiên phong của kỷ nguyên khám phá (Discovery Age), Bồ Đào Nha đã góp phần khai mở những trang sử đầu tiên của chủ nghĩa thực dân phương Tây khi thiết lập hệ thống thương điếm trải dài từ duyên hải Tây Phi đến tận vùng Viễn Đông xa xôi1 và kiến tạo
đế quốc mậu dịch hàng hải đầu tiên trong thời cận đại - Estado da India Như vậy, đây không chỉ là bước ngoặt trong lịch sử Bồ Đào Nha mà còn là thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ dẫn đến những thay đổi bản chất trong quan hệ giữa phương Đông và phương Tây
Trong mạng lưới nhượng địa của Bồ Đào Nha trên toàn châu Á, các thương điếm ven biển Ấn Độ và Trung Quốc đóng vai trò nổi bật, không thể thay thế Vốn xem
thương mại là trọng tâm và hoạt động với mục đích thiết lập nền thương mại “nhân
đôi” nên Bồ Đào Nha đã duy trì một lúc hai tuyến giao thương: ngoại tuyến và nội tuyến, với các mối quan hệ chồng chéo vô cùng phức tạp Thế nhưng, những thương
điếm như Cochin, Goa, Malacca và Macao lại được kết nối vô cùng linh hoạt, vận động nhịp nhàng trong một mạng lưới thương mại mang tính quốc tế đầu tiên của thời
kỳ cận đại Vì thế, thông qua việc phục dựng tương đối chân xác diện mạo của giai đoạn lịch sử nhiều dấu ấn này, luận án đi sâu phân tích để rút ra đặc điểm của đế quốc
Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc (trong sự đối sánh với một số đế quốc tư bản chủ nghĩa thời bấy giờ như Hà Lan, Anh)
Bên cạnh đó, mặc dù có cùng cơ chế quản lý và nhiều nét tương đồng trong quá trình phát triển nhưng hệ thống thương điếm của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc vẫn tồn tại ít nhiều dị biệt Khác với thương mại tại Ấn Độ, ở Trung Quốc, Bồ Đào Nha không dùng vũ lực để xâm chiếm đất đai, xây dựng pháo đài, kiểm soát thương mại mà một phương thức mềm mỏng hơn đã được lựa chọn để xâm nhập vùng đất này: chấp nhận
vị trí trung gian, kết nối tuyến giao thương giữa Trung Quốc và Nhật Bản Đặc trưng của thương nhân Bồ Đào Nha tại Macao là triển khai một phương thức thương mại biển tương đối ôn hòa, không chịu nhiều sự chi phối của Estado da India Sự tương đồng và dị biệt của hai mạng lưới thương điếm có cùng chủ sở hữu này không những
có ý nghĩa khoa học đầy lý thú mà còn để lại nhiều bài học quý giá cho lịch sử
Sự song hành giữa thương mại và truyền giáo trong quá trình hoạt động của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc được các học giả ví von như “đôi cánh của một con
1 Các hải cảng của Nhật Bản được xem là điểm cuối trong chuỗi hệ thống thương điếm của đế quốc mậu dịch Bồ Đào Nha
Trang 19chim” Nếu trong thương mại, lách qua “khe cửa hẹp” của thể chế độc quyền, các tư thương đã đóng vai trò quan trọng trong hầu hết các khâu của quá trình thu mua - vận chuyển - bán hàng hóa thì trong lĩnh vực truyền giáo, tất cả hoạt động của các giáo đoàn đều chịu sự chi phối của vua Bồ Đào Nha (theo những sắc chỉ được ký kết và ban hành bởi Giáo hoàng tại Rome) Trong gần một thế kỷ, ba giáo phận Goa, Malacca và Macao lần lượt ra đời đánh dấu thành tựu trong hoạt động truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha Nếu ở Ấn Độ, quá trình truyền giáo được tiến hành khá thuận lợi thông qua việc sử dụng vũ lực cưỡng ép người dân bản địa phải cải đạo thì các linh mục Dòng Tên phải rất vất vả để xâm nhập vào Trung Quốc Một nhà nước tập quyền vững mạnh với nền văn hóa chịu ảnh hưởng đậm nét của học thuyết Nho giáo đã buộc các linh mục Bồ Đào Nha phải thay đổi một phần cách thức truyền đạo Đây là vấn đề gây tranh cãi trong thời gian dài giữa các linh mục Dòng Tên Trung Quốc với Giáo hội Rome Vì vậy, tìm hiểu về hoạt động truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc còn cho chúng ta thấy sự thích ứng của tôn giáo đối với các nền văn hóa, các thể chế chính trị khác nhau như thế nào
Tuy nhiên, hiện nay nghiên cứu về đế quốc mậu dịch Bồ Đào Nha cũng như hoạt động thương mại và truyền giáo của nó ở Ấn Độ, Trung Quốc vẫn còn là mảng trống Trong các chương trình đào tạo cử nhân Lịch sử, thạc sĩ Lịch sử thế giới, nhận thức của sinh viên về quá trình xác lập quyền lực thương mại biển của Bồ Đào Nha còn khá chung chung Những hiểu biết về vai trò của các linh mục Bồ Đào Nha tại Trung Quốc và Ấn Độ cũng hết sức mờ nhạt
Từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Hoạt động thương mại và
truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)” làm đề
tài cho luận án Tiến sĩ, chuyên ngành Lịch sử thế giới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Thực trạng nghiên cứu vấn đề trong nước
Việc Bồ Đào Nha khai mở thành công con đường biển đến châu Á và thiết lập được hệ thống cứ điểm thương mại và truyền giáo tại Ấn Độ, Trung Quốc là một trong những bước ngoặt quan trọng của lịch sử nhân loại Thế nhưng cho đến nay, vấn
đề này vẫn chỉ được trình bày một cách sơ lược trong một số giáo trình cũng như trong những tác phẩm viết về lịch sử thế giới
Lịch sử các cuộc phát kiến địa lý đã được đề cập đến trong nhiều cuốn giáo trình
Lịch sử thế giới, như: Lương Ninh, Đặng Đức An (1976), Lịch sử thế giới trung đại
(quyển 2, tập 1, châu Âu thời hậu kỳ trung đại), NXB Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Gia
Phu, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn Là (2003), Lịch sử thế giới trung đại,
NXB Giáo dục, Hà Nội;…Các cuốn giáo trình này, trong khi phân tích những nguyên
Trang 20nhân và tiền đề thúc đẩy các quốc gia Tây Âu (trong đó có Bồ Đào Nha) tiến hành viễn chinh, tìm con đường hàng hải mới sang Ấn Độ, đã nhấn mạnh ưu thế đặc trưng của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha như vị trí địa lý nằm ven Đại Tây Dương, sử dụng la bàn, hải trình, tàu caravel và những thiết bị đo thiên văn cho các chuyến đi biển dài ngày
Quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha cũng được đề cập khái quát trong các cuốn sách chuyên khảo về lịch sử Ấn Độ, lịch sử Trung Quốc, như: Nguyễn
Thừa Hỷ (1986), “Ấn Độ qua các triều đại”, NXB Giáo dục; Vũ Dương Ninh (chủ biên, 1995), “Lịch sử Ấn Độ”, NXB Giáo dục, Hà Nội; Nguyễn Hiến Lê (1982),
“Sử Trung Quốc”, NXB Tổng hợp tp Hồ Chí Minh…Điểm chung của các tác phẩm
này là sự trình bày mang tính sơ lược về quá trình xác lập thương điếm của Bồ Đào Nha ven Ấn Độ Dương, vịnh Bengal và Trung Quốc Hoạt động giao thương giữa Bồ Đào Nha với Ấn Độ và Trung Quốc gần như không được nói đến
Lịch sử truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc cũng gần như là một mảng trống Chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu các sự kiện liên quan thông qua
những cuốn sách sau: Nguyễn Hồng (1959), “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam (quyển 1
- Các thừa sai dòng Tên (1615 - 1665)”, NXB Chân Lý, Sài Gòn; Bùi Đức Sinh
(1975), “Lịch sử giáo hội công giáo”, NXB Chân Lý, Sài Gòn; Phan Phát Huồn (1962),
Việt Nam giáo sử (quyển 1, 1533 - 1933), Cứu Thế Tùng Thư, Sài Gòn…Trong các tác
phẩm tuy không đề cập đến một cách trực tiếp hoạt động truyền giáo ở Ấn Độ hay Trung Quốc nhưng đã phác họa nguyên nhân thúc đẩy quá trình liên kết giữa “vương quyền”
Bồ Đào Nha với Giáo hội Rome để mở rộng quyền lực sang phương Đông Đặc biệt,
cuốn 'Việt Nam giáo sử” của Phan-Phát-Huồn (1962) cung cấp nguồn tư liệu đáng tin cậy
về quá trình truyền bá Thiên Chúa giáo của người Bồ Đào Nha tại châu Á, nhất là các sắc chỉ của Giáo hội Rome về việc thành lập 3 giáo phận Malacca, Goa (Ấn Độ) và Macao (Trung Quốc) Thông qua những sự kiện quan trọng trong lịch sử truyền giáo của Giáo hội Rome tại phương Đông, tác giả cũng trình bày một số hoạt động của các giáo sĩ dòng Dominicains (Đa Minh) ở Trung Quốc Trong Luận văn Thạc sĩ của Phạm Văn Thắng
(2001) tại Đại học Sư phạm Huế về “Quá trình Thiên Chúa giáo du nhập vào Trung
Quốc, Nhật Bản, Việt Nam thời cận đại”, tác giả cũng trình bày hoạt động của giáo sĩ
Matteo Ricci (Dòng Tên) ở Trung Quốc nửa sau thế kỉ XVI
Trên một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như: Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Tôn giáo, tạp chí Lịch
sử quân sự …cũng chỉ có những bài viết đề cập đến hoạt động truyền giáo của các
giáo sĩ tại châu Á: Bài “Hương liệu và linh hồn” của Trần Tam Tỉnh đăng trên tạp chí
Lịch sử Quân sự đi sâu tìm hiểu mục đích của các chuyến viễn chinh do người Bồ
Trang 21Đào Nha tổ chức đến châu Á, chỉ ra mối quan hệ giữa mục đích thương mại và tôn
giáo trong các chuyến viễn chinh này; các bài viết của Nguyễn Văn Kiệm như: “Sự du
nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, thực chất hậu quả và hệ luỵ” tạp chí
Nghiên cứu lịch sử, 9/1987; “Sự truyền bá đạo Thiên Chúa ra vùng đất ngoại từ phát
triển địa lý đến hết thế kỉ XIX “, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, 4/2001…đã phân tích
những tác động và vai trò của công cuộc phát kiến địa lý đối với hoạt động truyền giáo của Giáo hội Rome từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, trong đó chú ý đến hoạt động
truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Việt Nam Trong bài “Sự du nhập đạo Thiên Chúa
vào Việt Nam trong sự đối sánh với Trung Quốc và Nhật Bản “ của Nguyễn Văn Tận,
đăng trên Nghiên cứu Nhật Bản (2.2004), tác giả chủ yếu phân tích những nét tương đồng và dị biệt trong công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Trung Quốc và Nhật Bản Như vậy, vấn đề hoạt động thương mại, truyền giáo của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ và Trung Quốc vẫn chưa có một công trình chuyên khảo nào đề cập đến Những cuốn sách, những bài báo, những đề tài ở Việt Nam liên quan đến đề tài luận án được chia làm hai mảng chính:
+ Những nghiên cứu chung về lịch sử Ấn Độ, Trung Quốc còn khá ít ỏi Trong các công trình này, phần lớn tác giả chỉ đề cập đến quá trình tiếp xúc giữa Bồ Đào Nha với
Ấn Độ và Trung Quốc một cách sơ lược và khái quát
+ Vấn đề truyền giáo chỉ có những cuốn sách viết về Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, gần như không có một nguồn tài liệu nào bằng tiếng Việt mà chúng tôi tiếp cận được trình bày trực tiếp về Thiên Chúa giáo tại Ấn Độ hoặc Trung Hoa
Do vậy, cho đến nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào trình bày toàn diện và có hệ thống về các nội dung liên quan đến đề tài luận án
2.2 Thực trạng nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài
Nếu như ở Việt Nam số lượng các công trình nghiên cứu về hoạt động thương mại
và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc còn quá khiêm tốn thì vấn
đề này rất được các nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm
2.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào châu Á
Đây là vấn đề mang tính khoa học lý thú, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà
Sử học được thể hiện thông qua số lượng các công trình xuất bản liên quan đến nội
dung này Tiêu biểu như: B.W.Diffie và G.D.Winius (1977), “Foundations of the
Portuguese Empire, 1415-1580”, University of Minnesota, Mineapolis; M D D
Newitt (1986), “The First Portuguese Colonial Empire”, University of Exeter Press; A.R.Disney (2009), “A History of Portugal and the Portuguese Empire: From
Beginnings to 1807, volume 2: The Portuguese empire”, Cambridge University
Trang 22Press, London;…Mặc dù phần lớn các công trình trên đều trình bày một cách có hệ thống về quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha từ các cứ điểm ven biển Tây Phi đến Ấn Độ - Đông Nam Á - Viễn Đông nhưng cách thức chọn lựa sự kiện và quan
điểm đánh giá lại khác nhau Cụ thể: Trong tác phẩm “Foundations of the Portuguese
Empire, 1415-1580”, B.W.Diffie và G.D.Winius (1977) tìm hiểu về mối quan hệ giữa
Đông - Tây trong thời cổ đại, điểm vài nét sơ lược về quá trình hình thành đất nước
Bồ Đào Nha Trên cơ sở đó, tác giả đi sâu phân tích từng giai đoạn một trong quá trình xác lập quyền lực của Bồ Đào Nha tại châu Á từ các chuyến viễn chinh của Cabral đến A.Albuquerque và các tổng trấn sau này Ở chiều hướng khác, thông qua
tác phẩm “A History of Portugal and the Portuguese Empire: From Beginnings to
1807”, A.R.Disney đi sâu tìm hiểu quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào Ấn Độ
và tập trung phân tích cách thức hình thành, phát triển quyền lực thương mại của Bồ Đào Nha thông qua việc thiết lập Estado da India
Tuy nhiên, trình bày một cách toàn diện, ngắn gọn nhất về đế quốc Bồ Đào Nha là
tác phẩm “Portuguse Empire in Asia, 1500-1700, A Political and Economic History”
London and New York, được tái bản vào năm 2002 Công trình này là một trong những tư liệu tham khảo quan trọng của đề tài Điều khác biệt của công trình không chỉ dừng lại ở việc phân chia các giai đoạn và trình bày hết sức rõ nét những vấn đề kinh tế - chính trị của đế chế mà còn phân tích những luận điểm của cả các học giả châu Á và châu Âu về nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của đế quốc Bồ Đào Nha Trên
cơ sở trình bày một cách sơ lược quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào các vùng đất khác nhau ở châu Á, tác giả đã đi sâu làm nổi bật những nguyên nhân đặc trưng khiến cho Bồ Đào Nha phải thực hiện các chuyến viễn chinh đến châu Á bằng đường biển, đặc biệt là quá trình đấu tranh và thắng thế của chủ nghĩa trọng thương trong triều đình Bồ Đào Nha Không những thế, quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào
Ấn Độ, Trung Quốc cũng được tác giả chú ý đề cập đến trên cả hai bình diện thương mại và truyền giáo
Trong thời gian gần đây, nhiều cuốn sách viết về “thời đại khám phá” đã được dịch và
xuất bản bằng tiếng Việt, tiêu biểu như: Vũ Bội Tuyền (1997), “Mười nhà thám hiểm lừng
danh thế giới”, NXB Thanh Niên; Trương Quảng Trí (ch.b, 2003), Phong Đảo dịch, “10 nhà thám hiểm lớn thế giới”, NXB Văn hóa Thông tin; Văn Sính Nguyên, “Những câu chuyện về lịch sử phương Tây - phát hiện lục địa mới”, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội…
Các tác giả đã phân tích chuyến du hành của Marco Polo và tác động của cuốn sách
“Marco Polo du ký” đối với xã hội Tây Âu thời hậu kỳ trung đại Những chuyến viễn chinh của Christopher Colombus, Vasco da Gama hay chuyến đi vòng quanh thế giới của Ferdinand Magellan cũng được đề cập một cách chi tiết Trong đó, chuyến đi của da Gama
Trang 23đến Calicut, Cochin là nguồn tư liệu quý giá để tìm hiểu về phương thức xác lập thương điếm trong giai đoạn đầu tiên của Estado da India
Mặc dù vậy, những nghiên cứu phong phú về quá trình bành trướng của Bồ Đào Nha từ một nhà nước nhỏ bé ven bờ Đại Tây Dương đến một đế chế hùng mạnh được chúng tôi sử dụng như những tư liệu lịch sử quan trọng để phục vụ cho việc thực hiện
J.C.Boyajian (2007), “Portuguese Trade in Asia under the Habsburgs, 1580-1640”, JHU Press hoặc “Merchants, Companies and Trade: Europe and Asia in the Early
Modern Era” của Chaudhury Sushil & Morineau Michel (2007); F.C.Danvers (1988),
“The Portuguese in India: Being a History of the Rise and Decline of Their Eastern
Empire”, London: W.H.Allen & co, limited; Pius Malekandathil (2001), “Portuguese
Cochin and the Maritime Trade of India, 1500-1663”; “European Commercial Enterprise in Pre-Colonial India” của Om Prakash (2008); “Trade and Finance in Portuguese India: A Study of the Portuguese Country Trade, 1770-1840” của Celsa
Pinto …Thông qua những tác phẩm này, các tác giả tập trung khắc họa quá trình bành
trướng quyền lực của Bồ Đào Nha tại vùng duyên hải Ấn Độ Việc thiết lập độc quyền thương mại đối với một số mặt hàng, sự ra đời và áp dụng thể chế cartaz tại Ấn
Độ dương
Thế nhưng phần lớn các tác phẩm trên đều tập trung vào giai đoạn phát triển hưng thịnh của đế quốc Bồ Đào Nha, sự suy tàn quyền lực thương mại chỉ được đề cập đến
ở một số khía cạnh Điều đó đã được bổ khuyết trong Luận án Tiến sĩ Lịch sử tại
Đại học Goa với đề tài “History of Trade and commerce in Goa: 1878 - 1961” của
Murelle Maria Leonildes da Costa Mặc dù giai đoạn 1878 - 1961 mới là nội dung chính của luận án, tuy nhiên trong chương 2 và chương 3 của luận án, tác giả cũng trình bày những dữ liệu cần thiết về hoạt động của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vào cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX Tác giả đã đặt Bồ Đào Nha trong mối tương quan với Anh cũng như đi sâu phân tích sự thỏa hiệp giữa hai quốc gia này về việc chuyển nhượng các quyền lợi, các mặt hàng….Qua đó, cho thấy sự khôn khéo trong đường lối đối ngoại đã khiến Anh thu được rất nhiều lợi nhuận từ Bồ Đào Nha mà
Trang 24không cần sử dụng bạo lực Một Bồ Đào Nha yếu kém về chính trị, già cỗi và bảo thủ về đường lối đã đánh mất hoàn toàn vai trò của mình trong giao thương với Ấn
Độ vào nửa đầu thế kỷ XIX
Xu hướng nghiên cứu về một số thương điếm nổi bật của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ
như Goa, Cochin…được thể hiện qua các tác phẩm: “Portuguese in the Tamil
coast: historical explorations in commerce and culture, 1507-1749)” của Jeyaseela
Stephen; “Goa-Kanara Portuguese Relations, 1498-1763” của B.S.Shastry; “Goa
and Portugal: History and Development” của C.J.Borges, Oscar Guilherme
Pereira, Hannes Stubbe (2000)…
Như vậy, mặc dù không có một công trình chuyên khảo nào về thương mại Bồ Đào Nha tại châu Á từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, nhưng những tác phẩm vừa được chúng tôi đề cập đến cũng phần nào đã khái quát bức tranh thương mại của đế chế Bồ Đào Nha Việc móc nối, liên kết các giai đoạn, các sự kiện lịch sử từ những công trình khác nhau đã xuất bản là nền tảng quan trọng để chúng tôi đi sâu tìm hiểu vào một khía cạnh nhỏ của vấn đề
Nếu so sánh với Ấn Độ thì các nghiên cứu về hoạt động giao thương của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc (mà chúng tôi tiếp cận được) còn khá khiêm tốn Ngoại trừ một vài tác phẩm tập trung đi sâu vào ảnh hưởng của Bồ Đào Nha tại Macao, còn lại vẫn
là những công trình sơ khảo mang tính chất chung chung Dựa vào các tác phẩm viết
về lịch sử Trung Quốc, chúng tôi chọn lọc các sự kiện lịch sử liên quan đến người Bồ
Đào Nha, như: “The Cambridge History of China: Volume 8, The Ming Dynasty
(1368-1644)” của Denis C Twitchett, Frederick W Mote (1998); hay Willard J
Peterson (2002) với “The Cambridge History of China: Volume 9, Part 1, The Ch'ing
Empire to 1800”….Đây là hai cuốn nằm trong bộ sách viết về lịch sử Trung Quốc từ
thời nguyên thủy đến đương đại được Cambridge University xuất bản Trong Volume
8, từ trang 333 đến 353, tác giả đã trình bày quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào Trung Quốc từ 1514 đến 1524 cũng như thương mại giữa Macao vàs Nagasaki (1572
- 1640)
Vấn đề thương nhân Bồ Đào Nha đến buôn bán tại Trung Quốc được đề cập trong
những tác phẩm: Tianze Zhang (1933), “Sino-Portuguese Trade from 1514 to 1644: A
Synthesis of Portuguese and Chinese Sources”; G.B.Souza (2004), “The Survival of Empire: Portuguese Trade and Society in China and the South China sea 1630-1754”
…Nếu cuốn sách thứ nhất trình bày về thương mại giữa Bồ Đào Nha và Trung Quốc
từ khi khởi đầu đến 1644 thì cuốn sách thứ hai là sự tiếp nối về mặt thời gian đến
1754 Những sự kiện lịch sử trong cả hai cuốn sách đều xoay quanh quá trình xác lập vai trò trung gian của thương nhân Bồ Đào Nha trong tuyến thương mại đến Nhật Bản
Trang 25hoặc tuyến Macao - Đông Nam Á - Goa và Lisbon Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức, điều hành thương mại biển của người Bồ Đào Nha ở Macao cũng được dành một dung lượng phù hợp Dựa vào sự nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Estado da India với Macao, những đặc điểm khác biệt của thương điếm Macao trong hệ thống thương điếm của Bồ tại châu Á đã dần bộc lộ Đây là một trong những điểm đặc sắc của các tác phẩm này
Tóm lại, số lượng các tác phẩm nghiên cứu về thương mại của Bồ Đào Nha ở Ấn
Độ và Trung Quốc khá phong phú và đa dạng nhưng lại chia làm ba khuynh hướng nghiên cứu sau:
Thứ nhất, tìm hiểu về quá trình hình thành, phát triển và suy vong của đế quốc mậu dịch biển Bồ Đào Nha ở châu Á Trong đó, hoạt động thương mại diễn ra ở Ấn
Độ Dương, vịnh Bengal, duyên hải Nam Trung Quốc, Macao được trình bày một cách khái quát với những nét chung nhất
Thứ hai, các công trình chuyên khảo về thương mại biển của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ Chúng ta có thể thấy nổi lên hai xu hướng khá rõ nét: một số tác giả chú trọng vào tuyến giao thương nội Á; những tác giả còn lại đi sâu phân tích tuyến Cape và vai trò của các thương điếm Ấn Độ trong mạng lưới giao thương xuyên Á này
Thứ ba, các tác phẩm viết về thương mại biển của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc chủ yếu tập trung vào quan hệ giữa Macao với cứ điểm thương mại chủ yếu của Bồ Đào Nha ở Nhật Bản (trong thời kỳ đầu) cũng như quá trình cạnh tranh quyền lực thương mại giữa Bồ Đào Nha với Tây Ban Nha, Hà Lan…(ở giai đoạn suy tàn của Estado da India)
2.2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về hoạt động truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc
Về việc xác lập vị thế của Giáo hội Rome tại Ấn Độ vào đầu thế kỷ XVI cũng như quá trình hình thành các giáo xứ, giáo phận của Bồ Đào Nha tại quốc gia này được đề
cập trong các công trình: Stephen Neill (2002), “A History of Christianity in India,
1707-1858”, Cambridge University Press; Stephen Neill (2004), “A History of Christianity in India: The Beginnings to AD 1707”, Cambridge University Press;
J.Elisha (2004), “Francis Xavier and Portuguese Administration in India”; Md.S.Farid (2011), “Historical Sketch of the Christian Tradition in Bengal”… Trong
đó, hai tập sách về lịch sử Thiên Chúa giáo Ấn Độ của Stephen Neill được xem là công trình đầy đủ và hệ thống nhất về vấn đề này Cuốn thứ nhất viết về Thiên Chúa giáo ở Ấn Độ từ khởi thủy đến 1707 được chia làm hai phần: phần 1, tác giả trình bày những kiến thức cơ bản nhất về quá trình tiếp xúc giữa người Ấn Độ với Thiên Chúa giáo Phần 2, tác giả tập trung phân tích những hoạt động cụ thể của các giáo đoàn
Trang 26Franciscains, Dòng Tên qua từng giai đoạn Không những thế, mâu thuẫn và đấu tranh giữa Giáo hội phương Tây với Giáo hội chính thống Syria tại cộng đồng Ky tô hữu Thomas cũng được đề cập khá chi tiết Trong cuốn thứ hai viết về lịch sử truyền giáo tại Ấn Độ từ 1707 đến 1858, hoạt động của các giáo sĩ Bồ Đào Nha không đóng vai trò quyết định như giai đoạn trước đó Sự suy yếu về chính trị và thương mại đã khiến các giáo sĩ không nhận được sự hỗ trợ thích đáng từ chính quyền Tuy nhiên, họ vẫn duy trì được các trung tâm truyền giáo lớn mà đứng đầu là Goa Có lẽ đó cũng là một nỗ lực đáng ghi nhận của các nhà truyền giáo Bồ trong bối cảnh không có nhiều thuận lợi
Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo của các giáo đoàn với sự bảo trợ từ vương quyền Bồ Đào Nha tại Ấn Độ vẫn có khá nhiều thuận lợi so với việc xâm nhập vào xã hội Trung Quốc Nghiên cứu về khía cạnh này các học giả đi theo hai hướng: thứ nhất, hoạt động của linh mục Dòng Tên tại Trung Quốc lục địa Thứ hai, lịch sử truyền giáo ở Macao Những tác phẩm theo xu hướng thứ nhất gồm: N.Standaert
(2008), “Jesuits in China”, Cambridge University Press,169-185; I.Pina (2001), “The
Jesuits missions in Japan and in China: two distinct realities Cultural adaptation and
the assimilation of natives”, Bullettin of Portuguese/Japanese Studies, ano/vol2, 59 - 76; Anders Ljungstedt, “An historical sketch of the Portuguese settlements in China;
and of the Roman Catholic Church and mission in China”, 1836, Boston…Thông qua
những tác phẩm này, các giai đoạn truyền bá Thiên Chúa giáo được khắc họa rõ nét với sự đấu tranh giữa Dòng Tên Bồ Đào Nha với dòng Franciscains, dòng Dominicains (Tây Ban Nha), Dòng Tên Pháp Vai trò của các linh mục Dòng Tên Bồ Đào Nha không chỉ trong lĩnh vực tôn giáo mà cả trong khoa học (Thiên văn học, Toán học,…) cũng được đề cập khá chi tiết
Macao là vùng đất chịu ảnh hưởng đậm nét nhất của Thiên Chúa giáo Bồ Đào Nha, nhưng những công trình nghiên cứu riêng lẻ về khía cạnh này chúng tôi vẫn chưa có điều kiện tiếp cận Điều này, một phần xuất phát từ đặc điểm khu định cư Macao của Bồ Đào Nha Từ khi chính thức nâng lên địa vị Giáo phận (1576), Macao đã được xây dựng với
tư cách trung tâm đóng vai trò quản lý hoạt động truyền giáo vùng Viễn Đông, trung tâm đào tạo linh mục với sự ra đời của trường học Thiên Chúa giáo đầu tiên tại Đông Á Vì vậy, hầu hết các cuốn sách nghiên cứu về Thiên Chúa giáo tại Macao cũng đi theo xu
hướng trên Trong công trình mới xuất bản “Macao History and Society” (2011) của Hao
Zhidong, Hong Kong University Press, tác giả đã dành một mục nhỏ nói về lịch sử truyền
giáo của Bồ Đào Nha tại Macao Hay như cuốn sách “Christianity in Asia and
America: After A.D 1500” của John Francis Butler (1979), từ trang 15 tác giả đã đề cập
đến những thành tựu quan trọng của Thiên Chúa giáo tại Macao: việc xây dựng các
Trang 27trường đại học, các cơ sở từ thiện và vai trò của Macao đối với quá trình truyền giáo đến Nhật Bản
Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu nào về hoạt động truyền giáo của các giáo sĩ Bồ Đào Nha tại Trung Quốc, Macao Dựa trên nguồn tài liệu tiếng Anh, chúng tôi chọn lọc, đối sánh và đưa ra những sự kiện khái quát nhất về Thiên Chúa giáo tại Trung Quốc trong giai đoạn ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha
Tóm lại, có thể nói, trên bình diện quốc tế, hiện nay đề tài luận án của chúng tôi vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào trùng lặp về nội dung Những khía cạnh nhỏ của từng nội dung thì đã có nhiều công trình xuất bản Đó là thuận lợi nhưng cũng là bất lợi khi nguồn tư liệu bằng tiếng Anh là cơ sở duy nhất để chúng tôi hoàn thiện đề tài Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các công trình đi trước, chúng tôi
muốn đi sâu tìm hiểu đề tài: “Hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)”
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tái hiện một cách chân thực về hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Trung Quốc và Ấn Độ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX; phân tích cơ sở xác lập, đặc điểm, so sánh sự tương đồng và khác biệt trong hoạt động trên lĩnh vực thương mại
và tôn giáo của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ, Trung Quốc cũng như đánh giá tác động của các hoạt động này đối với các chủ thể: Bồ Đào Nha, Ấn Độ, Trung Quốc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu về quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào Ấn Độ, Trung Quốc và sự
xác lập hệ thống thương điếm của Bồ Đào Nha tại hai quốc gia này
Các phương thức hoạt động thương mại biển của Bồ tại những cứ điểm ven biển
Ấn Độ và Trung Quốc: việc áp dụng thể chế độc quyền tại các cứ điểm duyên hải Ấn
Độ Dương cũng như vai trò trung gian của thương nhân Bồ Đào Nha tại Macao trên tuyến giao thương Macao - Trung Quốc - Nhật Bản
Những cách thức truyền giáo của những giáo đoàn Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc (bao gồm cả Macao) Trong đó nhấn mạnh vai trò và tầm ảnh hưởng của Dòng Tên trong đời sống tinh thần cư dân bản địa
Phân tích cơ sở, đặc điểm và hệ quả hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 28Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian, luận án nghiên cứu ba chủ thể là: Bồ Đào Nha, Ấn Độ và Trung
Quốc
Về thời gian, luận án giới hạn nghiên cứu về hoạt động thương mại và truyền giáo của
Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX Sở dĩ lấy thế kỷ XVI làm thời gian khởi điểm cho việc nghiên cứu, bởi vì sau khi Vasco da Gama tiến hành chuyến phát kiến địa lý đến Ấn Độ (1497-1499) đã mở đầu cho quá trình xâm chiếm và thiết lập thuộc địa của Bồ Đào Nha ở châu Á Thế kỷ XIX được xem là thời gian kết thúc công trình nghiên cứu bởi đây là thời kỳ mà vai trò thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn
Độ, Trung Quốc gần như không còn, ngoại trừ việc buôn bán ít ỏi với Goa và Macao
Về nội dung, luận án tập trung nghiên cứu hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành luận án, tác giả đã tham khảo các nguồn tài liệu sau:
Các công trình nghiên cứu xuất bản ở nước ngoài bằng tiếng Anh về hoạt động của người
Bồ Đào Nha tại châu Á, Ấn Độ và Trung Quốc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX
Các công trình nghiên cứu về lịch sử Trung Quốc, lịch sử Ấn Độ Các công trình nghiên cứu về hoạt động của các giáo đoàn Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trong việc
mở rộng ảnh hưởng của Giáo hội Rome ra ngoài phạm vi châu Âu, về lịch sử Giáo hội Thiên Chúa giáo tại Trung Quốc, Ấn Độ
Các công trình chuyên khảo, các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Tôn giáo, Lịch sử quân sự…
Các website trên mạng Internet
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm coi hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại
Ấn Độ, Trung Quốc là một bộ phận không thể tách rời của đế quốc Bồ Đào Nha ở châu
Á nên phương pháp hệ thống - cấu trúc đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện đề
tài Trong đó, thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ luôn được đặt trong mối quan hệ tương hỗ, biện chứng với mạng lưới giao thương nội Á và xuyên Á cũng như sự kết nối giữa các thương điếm Ấn Độ với Trung Quốc thông qua hệ thống cứ điểm ở Đông Nam
Á Nghiên cứu một cách cụ thể sự chi phối của thương mại đến truyền giáo cũng như mối quan hệ qua lại, song hành giữa hai hoạt động này Từ đó, rút ra đặc điểm, so sánh những
Trang 29nét tương đồng và dị biệt giữa thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ và Trung Quốc
Bên cạnh đó, vì đề tài thuộc về khoa học lịch sử nên việc sử dụng phương pháp lịch
sử và phương pháp logic được xem là phương pháp chủ đạo trong nghiên cứu Mặt khác,
trong chừng mực nhất định, tác giả luận án còn sử dụng các phương pháp khoa học liên ngành như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, thống kê, dự báo… trong từng nội dung cụ thể của đề tài
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về phương diện khoa học
Phân tích nguyên nhân thúc đẩy Bồ Đào Nha khai phá thành công con đường hàng hải mới đến Ấn Độ, Trung Quốc và sự thiết lập của Estado da India - mô hình nhà nước thuộc địa đầu tiên của các quốc gia phương Tây tại châu Á
Tìm hiểu sự xác lập các thể chế thương mại biển của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc, tiêu biểu như: Carreira da India…Quá trình xác lập vị trí độc quyền trong thương mại biển của Hoàng gia Bồ Đào Nha thông qua chính sách cưỡng bức,
áp dụng Cartaz và nỗ lực trong việc thành lập công ty Đông Ấn Bồ vào thế kỷ XVII
Từ đó, đề tài rút ra cơ sở, đặc điểm, những nét dị biệt và ảnh hưởng của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc nói riêng cũng như trên toàn châu Á nói chung
Đưa ra những đánh giá có tính hệ thống và toàn diện về hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX; trên
cơ sở đó phân tích những đặc điểm, hệ quả và đặc biệt là sự đối sánh hoạt động của hai lĩnh vực này mà đế quốc Bồ Đào Nha thực thi ở Ấn Độ và Trung Quốc
6.2 Về phương diện thực tiễn
Luận án đã phân tích được vai trò của Bồ Đào Nha trong việc hình thành hệ thống thương mại biển đầu tiên trên toàn thế giới - đó là một trong những nguồn gốc của xu thế toàn cầu hóa hiện nay
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án sẽ được hoàn thiện thành chuyên đề để giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành Lịch sử thế giới
Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là tư liệu tham khảo cần thiết cho những ai quan tâm đến hoạt động của Bồ Đào Nha tại châu Á trong đó chủ yếu là ở Ấn Độ và Trung Quốc Và là cơ sở để mở ra hướng nghiên cứu mới về đế quốc Bồ Đào Nha tại châu Á
Thông qua quan hệ giữa Bồ Đào Nha - Ấn Độ, Bồ Đào Nha - Trung Quốc trên hai lĩnh vực thương mại và truyền giáo, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút
ra Ví dụ như: Trong quá trình tiếp xúc giữa các quốc gia có những khác biệt về văn hóa, lịch sử, thương mại đã trở thành chiếc cầu kết nối và mở ra thời kỳ giao lưu rộng
Trang 30khắp trên toàn thế giới Tuy nhiên, hoạt động thương mại lại được diễn ra tùy thuộc đặc điểm văn hóa, lịch sử và tính cách của từng dân tộc mà không thể có một mô hình chung áp dụng cho toàn bộ các quốc gia, dân tộc
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1 Hoạt động thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ và Trung Quốc (thế
kỷ XVI - đầu thế kỷ XIX)
Chương 2 Hoạt động truyền giáo của các giáo đoàn Bồ Đào Nha ở Ấn Độ và Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)
Chương 3 Một số nhận xét về hoạt động thương mại và truyền giáo của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ, Trung Quốc (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)
Trang 31B NỘI DUNG CHƯƠNG 1 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA BỒ ĐÀO NHA
TẠI ẤN ĐỘ VÀ TRUNG QUỐC (THẾ KỶ XVI - ĐẦU THẾ KỶ XIX)
1.1 Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - thế kỷ XIX)
1.1.1 Thương mại của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (thế kỷ XVI - giữa thế kỷ XVII)
1.1.1.1 Những thương điếm đầu tiên của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ (1502 - 1510)
* Vai trò của Ấn Độ trong tuyến thương mại biển nội Á trước 1500
Trước khi Vasco da Gama thực hiện chuyến viễn chinh đến Ấn Độ vào cuối thế kỷ
XV, xã hội châu Âu đang dần có những bước chuyển mình mạnh mẽ (nhất là trong thương mại biển) Nếu đầu thế kỷ XV, châu Âu vẫn còn những hiểu biết khá hạn chế về thế giới bên ngoài Đại Tây Dương, thì đến những năm 1480, họ đã khám phá thành công toàn bộ bờ biển Đại Tây dương châu Phi và tìm được hầu khắp các đảo quan trọng Trong khi mối quan hệ giao thương giữa châu Á và châu Âu trong thời kỳ này được duy trì chủ yếu thông qua hoạt động của các thương nhân Hồi giáo và Venice thì tuyến thương mại nội Á lại ghi dấu ấn đậm nét của thương nhân Ấn Độ
Chúng ta biết rằng đến khoảng thế kỷ IX, một mạng lưới thương mại biển tinh vi và rộng lớn đã hình thành ở châu Á “Mạng lưới này liên kết các hải cảng ở phía Tây Ấn
Độ Dương đến vịnh Bengal và thông qua eo Malacca đến Biển Đông Sự kết nối giữa Trung Đông, Đông Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á và Trung Quốc góp phần tạo nên một khu vực thương mại đầy sôi động Ấn Độ đóng vai trò trung tâm của mạng lưới này cả
về phương diện địa lý lẫn giá trị kinh tế” [55; 175] Dưới sự trị vì của vương triều Hồi giáo Dehli từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI, giao thương bằng đường biển của thương nhân Ấn Độ có nhiều biến chuyển mới Biển Arab, vịnh Bengal và Biển Đông trở thành
ba khu vực nổi bật nhất nằm trong mạng lưới thương mại Ấn Độ Dương Đặc trưng của mạng lưới thương mại này là hoạt động theo cơ chế gió mùa: “Sự hình thành dải khí áp thấp và cao mở rộng từ đường Xích đạo đến dãy Himalaya cùng với sự chuyển dịch thường xuyên của điều kiện thời tiết từ tốt đến mưa nặng hạt, từ gió nhẹ đến gió mạnh
đã góp phần hình thành nền mậu dịch biển phụ thuộc rất lớn vào kinh nghiệm của thủy thủ Gió mùa là thành phần của vòng tuần hoàn trong tự nhiên, năm dương lịch là giai đoạn của chu kỳ đơn lẻ mà trong đó hai điểm xuân phân, thu phân vào tháng 3 và tháng
9 đã góp phần tạo ra sự biệt lập giữa vùng có áp suất thấp với vùng áp suất cao kéo dài” [53; 23] Vì vậy, mạng lưới hải cảng Ấn Độ - với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trang 32thuận lợi2 đã trở thành các trạm dừng nghỉ tiếp tế lương thực trên tuyến thương mại giữa Tây Á và Trung Quốc với đầy đủ các yếu tố về cơ sở vật chất như khu vực neo đậu tàu thuyền, chỗ ở, ngân hàng, kho chứa hàng hóa…
Bên cạnh đó, vai trò chìa khóa của Ấn Độ trong thương mại nội Á còn được thể hiện qua hoạt động của các nhóm thương nhân người Ấn như Chetty3, Chulia4, tầng lớp tư thương định cư ở duyên hải Coromandel, Oriya5 và Bengali6 Nhưng, trong đó
“Gujarat mới là nhóm thương nhân quan trọng nhất trong tuyến thương mại liên hải cảng Họ không chỉ buôn bán vải sợi, cây chàm, thuốc phiện mà cả những chủng loại hàng hóa khác đặc biệt là tơ lụa” [86; 10] Đến thế kỷ XV, khi các đối thủ cạnh tranh
có những toan tính riêng7, thì thương nhân Ấn Độ chính thức trở thành thế lực thống trị Ấn Độ dương với hai khu vực chính là Tây Ấn Độ và vịnh Bengal8 Thương mại
Ấn Độ dương thời kỳ này có những đặc điểm nổi bật sau:
Thứ nhất, thương mại của khu vực còn mang tính chất tự nhiên, tuy có sử dụng tiền tệ nhưng chưa phổ biến Phần lớn các thị xã ven biển (bao gồm cả Đông Phi) vẫn
sử dụng tiền mệnh giá thấp (tạm gọi như vậy) như tiền vỏ ốc cho các cuộc giao dịch nhỏ Vàng và bạc nén cũng được giao thương nhưng chỉ đóng vai trò là hàng hóa xa
xỉ phẩm phục vụ cho giới quý tộc hơn là phương tiện giao dịch
Thứ hai, tính liên kết trong thương mại ở khu vực này còn chưa rõ nét mặc dù mức
độ tập trung hàng hóa của từng chủng loại đã hình thành Đến đầu thế kỷ XVI, người
Bồ Đào Nha khám phá một thực tế, tại Ấn Độ Dương, chất lượng từng nhóm mặt hàng phải gắn liền với một vùng đất hoặc một dân tộc nhất định Ví dụ, quế chỉ có ở
2 Vai trò quan trọng của mạng lưới hải cảng Ấn Độ đối với thương mại châu Á được lý giải một phần bởi vị trí nằm ở trung điểm trong tuyến đường biển đi từ Tây Á đến Đông - Đông Nam Á Nhưng quan trọng hơn là khả năng cung ứng của tiểu lục địa (Ấn Độ) cho thị trường nguồn tơ lụa với nhiều chủng loại như vải muslin Dhaka
và lụa ren của Gujarat, sợi bông thô Coromandel và Gujarat Nhu cầu của thị trường đối với hàng hóa trên là cực
kỳ cao cả ở phía Đông Indonesia, Malaya, Thailand và Myanmar (Miến Điện), cũng như tại Biển Đỏ, vịnh Ba Tư
và Đông Phi Ấn Độ được xem như “trung tâm tơ lụa” kết nối giao thương với cả Tây Á và Đông Nam Á Không
những thế, gạo, đường, dầu, ngũ cốc cũng là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của tiểu lục địa
Do điều kiện thời tiết, đất đai và tự nhiên, Ấn Độ cần những mặt hàng như: đinh hương, hạt và vỏ nhục đậu khấu từ Indonesia, ngựa và nước hoa hồng từ Tây Á, hồng ngọc và đá quý từ Miến Điện cũng như kim loại quý hiếm hoặc kim loại phổ biến Sự trao đổi qua lại các mặt hàng xuất và nhập khẩu tạo nên bức tranh sinh động, nhộn nhịp cho giao thương ven bờ Ấn Độ Dương.
3 Chetty hay Chettiar, là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ các đẳng cấp thương nhân khác nhau ở Nam Ấn
Độ, đặc biệt là ở bang Tamil Nadu
4 Chỉ các thương nhân Hồi giáo Tamil định cư tại duyên hải Coromandel ở Nam Ấn Độ
5 Họ được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Odia, Odri, Utkaliya, Kalingi, trong tiếng latin là Uri Đây là nhóm dân tộc ở phía đông Ấn Độ theo Hindu giáo và chiếm đa số trong các bang nằm ở duyên hải phía Đông Odisha, và chiếm số lượng nhỏ tại Andhra Pradesh, Tây Bengal, Karnataka, Jharkhand và Chhattisgarh
6 Là nhóm dân tộc thiểu số bản địa sinh sống tại Bengal (hiện nay về phương diện chính trị, khu vực này được phân chia nằm ở hai quốc gia Bangladesh và Ấn Độ) Về chủng tộc, họ là sự hỗn huyết giữa người Aryan và người Mongoloid
7 Thương nhân Trung Quốc quan tâm đến tuyến thương mại Trung Quốc - Malacca, thương nhân Indonesia và Malaysia không muốn mạo hiểm buôn bán ngoài khu vực quần đảo Indo và Malay
8 Phía Tây, liên kết thông qua Biển Đỏ và vịnh Ba Tư, theo đường bộ đến bờ biển phía Nam của Địa Trung Hải Vịnh Bengal thì mở rộng thông qua eo Malacca đến phía Nam Trung Quốc và sau đó lên đến Nhật Bản
Trang 33Sri Lanka, ngựa đến từ Arabia và vàng đến từ Sofala ở Đông Phi Đinh hương thì phát triển chủ yếu ở những hòn đảo nhỏ của Moluccas và đặc biệt hạt tiêu tập trung ở Malabar hoặc Sumatra Đồ sứ thì không nơi đâu đạt được chất lượng tuyệt hảo như Trung Quốc hoặc ở khu vực có người Trung Quốc sinh sống Thậm chí vải sợi thì phải được xuất phát từ Gujarat ở tây bắc Ấn Độ hoặc Coromandel Nguyên nhân dẫn đến sự tập trung hóa ở mức độ cao này có lẽ đến từ điều kiện thời tiết và các nhân tố thuộc về địa lý Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế khu vực cũng là nguyên nhân quan trọng Việc tập trung hóa ở mức độ cao sẽ cho ra sản phẩm có chất lượng, bán được giá và dễ dàng được chấp nhận trên thị trường thế giới
Thứ ba, tầng lớp thương nhân tham gia thương mại Ấn Độ Dương là thành viên của những cộng đồng mang tính chất tương đối biệt lập được kết nối với nhau thông qua quan hệ họ hàng, nguồn gốc xuất thân và đôi khi là tôn giáo Tại hầu hết hải cảng
ở phương Đông, cộng đồng Ấn Độ giáo, Jains, Do Thái giáo, Armenia, Hồi giáo thường sống ở những khu vực cách biệt nhau và tự chọn người lãnh đạo Mặc dù, họ phải đóng nhiều loại thuế cho người cai trị ở các hải cảng nhưng được tự do chọn lựa cách thức quản lý Tính chất đóng kín của các cộng đồng thương mại này khiến cho người bên ngoài rất khó để xâm nhập vào
Cuối cùng là sự tồn tại một cách tương đối độc lập của các tiểu quốc, thành phố thương mại (city-state, thị quốc) vùng duyên hải Ấn Độ Dương trong mối quan hệ với lực lượng thống trị nội địa Điều đó khiến cho quá trình phát triển của nó ít nhiều thiếu ổn định (khác với các cộng đồng thương nhân phía trên)
Bối cảnh trên đây có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xâm nhập của Bồ Đào Nha vào mạng lưới giao thương Ấn Độ Dương như Jan Glete nhận xét: “Thương mại tại Ấn Độ Dương rộng mở cho tất cả mọi người, những người có khả năng dùng tiền
tệ để thu mua hàng hóa, kết hợp với các thủ đoạn ngoại giao và nguồn tư bản (một phần đến từ các nhà đầu tư Genoe và Florence) Đặc tính của nền thương mại này cũng cho thấy nếu Bồ Đào Nha biết kiềm chế những hành động chống lại thương nhân Hồi giáo thì họ có thể tạo ra một nền thương mại biển hòa bình” [68; 77]
* Những thương điếm đầu tiên của Bồ Đào Nha ở Ấn Độ (1500-1510)
Trong bối cảnh thương mại Ấn Độ Dương như vậy, Bồ Đào Nha đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để thiết lập những đại lý thương mại đầu tiên nằm ven biển Ấn
Độ và vịnh Bengal
Sau chuyến viễn chinh của Vasco da Gama (1460-1524), Hoàng gia Bồ Đào Nha đẩy mạnh hơn nữa quá trình xâm chiếm và thiết lập thuộc địa tại Ấn Độ Dương Vào tháng 3/1500, một hạm đội lớn được phái đến Ấn Độ dưới sự chỉ huy của quý tộc
triều đình Bồ Đào Nha - Pedro Alvares Cabral (1468-1520) Sau khi khám phá Land
Trang 34of the True Cross (Brazil sau này), ghé qua Madagascar, Sofala9 và Kilwa10 - trung tâm thương mại vàng ở Đông Phi, cuối cùng hạm đội cập bến Calicut vào tháng 9/1500 Ban đầu, Raja11 Samudri cho phép Cabral xây dựng đại lý thương mại trên vùng đất của ông ấy Tuy nhiên, sau đó, do những hiểu lầm từ hai phía, Cabral đã tiến hành pháo kích Calicut trước khi cho thuyền đến Cochin và Cannanur Cochin là tiểu quốc đầu tiên của người Ấn đồng ý để Bồ Đào Nha thiết lập pháo đài cùng lực lượng đồn trú khoảng 30 người và 4 linh mục
Do vị trí quan trọng của Calicut trong thương mại hạt tiêu Ấn Độ dương, vua Bồ Đào Nha quyết tâm xâm chiếm cứ điểm này vào tháng 3/1502 “Một điều chắc chắn rằng Bồ Đào Nha đến Ấn Độ lần này với nhiều mục đích khác nhau Đầu tiên là để trả thù cho những nhân viên quản lý và thủy thủ bị giết chết ở Calicut một năm trước đó Sau đó là độc chiếm mạng lưới buôn bán gia vị ở duyên hải Malabar vào tay Hoàng gia Bồ Đào Nha” [60; 223] Ngay khi đến Calicut, da Gama đích thân chỉ huy 10 chiếc thuyền lớn tổ chức thành bộ phận chủ lực đánh thẳng vào cảng biển Bằng chiến thuật hải quân linh hoạt và kỹ thuật pháo binh tiên tiến, ngày 30/10/1502, hạm đội Bồ Đào Nha giành quyền kiểm soát thành phố Calicut trở thành thương điếm đầu tiên của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ Xuôi theo duyên hải phía Tây Ấn Độ, da Gama cho thuyền đến Cochin và Cannanur để củng cố mối quan hệ với các Raja địa phương Da Gama trở về Lisbon trên chiếc tàu “nặng trĩu gia vị và hàng hóa cướp bóc Ông để lại
5 tàu chiến cạnh Cannanur với mục đích tấn công các chuyến tàu của người Hồi giáo Lực lượng đồn trú nhỏ này không chỉ mở đầu cho sự hiện diện lâu dài của hải quân châu Âu tại Ấn Độ dương mà còn đánh dấu sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây trên toàn châu Á” [75; 25] Từ năm 1502 đến năm 1505, hạm đội này phải chống lại các cuộc tấn công liên tục của tiểu vương (Zamorin) Calicut Cuối cùng, sau chiến thắng quyết định trước lực lượng Calicut, Bồ Đào Nha quyết định xây dựng pháo đài bằng đá với lực lượng quân đội đồn trú được bổ sung hàng năm
Từ hai cứ điểm duyên hải Tây Ấn Độ, Bồ Đào Nha đẩy mạnh quá trình xâm nhập
Ấn Độ dương theo hai hướng Tại vịnh Bengal, năm 1505, Dom Lourenço de Almeida (1480-1508) chỉ huy một hạm đội bất ngờ đến bờ biển của một hòn đảo gần Galle (thuộc Ceylon), xây dựng một nhà nguyện và một đại lý thương mại tại
9 Hiện nay thuộc tỉnh Sofala ở Mozambique Vương quốc Sofala được ra đời vào khoảng năm 700 Người Arab và Ba Tư bắt đầu đến đây giao thương vào thế kỷ X Pêro da Covilhã là nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đầu tiên đặt chân đến vùng đất này vào năm 1489 Trong chuyến viễn chinh đến Ấn Độ, Da Gama đã cho tàu cập bến và tìm hiểu thông tin về địa điểm này
10 Kilwa: Là một hòn đảo thuộc duyên hải Đông Phi, ngày nay là Tanzania Vào thế kỷ XII, dưới thời trị vì của vương triều Abu'-Mawahib, Kilwa đã trở thành thế lực hùng mạnh nhất vùng ven Biển Đông Phi
11 Một thuật ngữ lịch sử xuất hiện trong kinh Vệ Đà (Rigveda) của Ấn Độ dùng để gọi người đứng đầu một gia tộc Trước kia, các học giả thường gọi là “vua” nhưng hiện nay được dịch là “trưởng tộc”
Trang 35Colombo Trong khi đó, ở hướng Biển Đỏ, sự bành trướng gặp khá nhiều khó khăn và thất bại do phản ứng mạnh mẽ của Hồi vương Ormuz Vì thế, sau khi đảm nhận chức
vụ Phó vương Estado da India, Dom Afonso de Albuquerque (1453-1515) quyết định đánh chiếm Goa - một vị trí chiến lược trên tuyến thương mại biển mới Việc xâm chiếm Goa (cũng như Malacca sau này) nằm trong kế hoạch của Albuquerque nhằm xây dựng đế chế thương mại hàng hải của Bồ Đào Nha tại châu Á Sự khác biệt trong quan điểm chiến lược giữa hai vị phó vương thể hiện khá rõ nét: mục đích của Francisco de Almeida (1450-1510) là giành quyền làm chủ nền thương mại tại bờ biển Malabar với quan điểm “nếu không có quyền làm chủ trên biển cả thì những pháo đài trong đất liền chỉ là hư danh” [75; 26] Trong khi đó, Phó vương Dom12Afonso de Albuquerque (1453 - 1515) lại cho rằng: “để giành được ưu thế về thương mại ở Ấn Độ Dương thì điều nhất thiết là phải chiếm và kiểm soát được các vị trí chiến lược chủ yếu và thúc đẩy hoạt động buôn bán có thể cung cấp thu nhập đủ để duy trì sức mạnh không gì cưỡng lại được” [7; 377] Sau quá trình kháng cự vô cùng mãnh liệt của Goa, vào ngày 25/11/1510, binh lính Bồ Đào Nha đã chính thức tiếp nhận thành, đánh dấu sự kiện mở đầu kỷ nguyên của đế quốc mậu dịch ven biển Bồ Đào Nha trong lịch sử
Như vậy, đến đầu thế kỷ XVI, Bồ Đào Nha đã xác lập được 2 thương điếm quan trọng nhất (Diu và Goa) trong số 4 mục tiêu chiến lược tại Ấn Độ và vịnh Ba Tư như vua Manuel (1469-1521) từng kỳ vọng “phải chiếm Aden để giành quyền thống trị tại
eo Mecca trước khi Hồi vương kịp ngăn cản, chiếm lấy Hormuz để kiểm soát hoàn toàn
eo Bacora, chiếm đóng Goa và Diu làm căn cứ để bành trướng đến các vùng đất khác ở
Ấn Độ” [58; 24] Đây là cơ sở quan trọng dẫn đến sự ra đời của Estado da India, nhà nước thuộc địa đầu tiên của Bồ Đào Nha tại phương Đông
1.1.1.2 Sự hình thành Casa da India và Estado da India
* Casa da India
Đây là thể chế quản lý hệ thống tàu thuyền trên tuyến thương mại qua mũi Hảo Vọng nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của vua Bồ Đào Nha Tiền thân của thể chế này
là Casa da Cueta được thành lập từ năm 1434 với nhiệm vụ quản lý các vấn đề của đại
lý Hoàng gia tại Elmina và vương quốc Kongo Trong Casa de Ceuta, Casa dos Escravos là bộ phận đặc biệt được tạo ra với nhiệm vụ: tiến hành buôn bán nô lệ dựa trên danh nghĩa Hoàng gia, cấp giấy phép cho tư thương buôn nô lệ và đánh thuế dựa trên số nô lệ họ mua Casa phát triển nhất là Casa de Mina e Guine ở Lagos - phía nam Bồ Đào Nha nằm dưới quyền sở hữu của hoàng tử Henry “nhà hàng hải” với
12 Được sử dụng như tước hiệu dành cho nam giới thuộc đẳng cấp quý tộc ở Bồ Đào Nha
Trang 36chức năng chính là đánh thuế các thương nhân buôn bán tại châu Phi Đến năm 1481, vua Joao II (1481-1495) nắm quyền kiểm soát Casa và chuyển trụ sở của nó đến Lisbon Sau chuyến viễn chinh của Vasco da Gama (1497-1499), tên của thể chế này được thay đổi một lần nữa thành Casa da India e Mina Đến đầu thế kỷ XVI (1501), khi các thương điếm của Bồ ở ven bờ Tây Ấn, vịnh Bengal được thành lập thì Casa được đặt tên mới là Casa da Índia e da Guiné Đến 1506, Casa lại bị phân chia thành hai đơn vị, trong đó Casa da India được tiếp nhận chính thức quản lý thương mại giữa Lisbon với các hải cảng châu Á nằm trong độc quyền thương mại của đế chế Bồ Đây được xem là một tổ chức quan trọng của nhà nước và là cánh tay đắc lực của chế độ quân chủ chuyên chế dưới triều đại Manuel (1469-1521) Casa có trách nhiệm cung ứng tiền và chi trả cho các hạm đội, thuê thủy thủ và giữ hồ sơ đăng ký của tất
cả cá nhân lên tàu đến phương Đông Bên cạnh đó, trách nhiệm của Casa được mở rộng trong lĩnh vực định giá hàng hóa, bán những hàng hóa được vận chuyển trở lại từ
Ấn Độ đến Lisbon và xử lý vấn đề tài chính Đây thực sự được xem là thể chế kinh
doanh mang tính chất toàn cầu đầu tiên trên thế giới
Cơ cấu tổ chức của Casa thời kỳ đầu tương đối đơn giản gồm 1 thủ quỹ, 3 thư ký và một số lượng lớn lực lượng bảo vệ, phu quân vác, người gác cổng và một vài nhân viên khác Đến cuối thế kỷ XVI, khi hàng hóa từ châu Á đến Lisbon tăng nhanh (đặc biệt là thực phẩm), quân số của Casa được mở rộng với một vài người có chuyên môn đặc biệt
để định giá đá quý, ngọc và thuốc Những người quản lý thay mặt nhà vua kiểm tra việc bán hạt tiêu, các gia vị khác và những mặt hàng gia dụng mua được ở châu Á, quản lý việc chuyên chở của carrack13, kiểm tra hàng lậu và việc trả lương cho thủy thủ Họ chịu trách nhiệm nhận, cất giữ trong kho, kiểm tra hàng nhập khẩu và hàng xuất khẩu từ châu
Á cho khách hàng và trả tiền công chuyên chở khối lượng hàng hóa đó Họ quản lý sổ sách của tất cả các chuyến tàu đến châu Á cũng như của từng cá nhân trên các thuyền buôn đến châu lục này.Vì vậy, mặc dù Casa da India không trực tiếp xuất hiện tại Ấn Độ nhưng là cơ quan cao cấp trong giao thương giữa các thương điếm ven biển Ấn Độ với
14 Là những hạm đội tàu được tổ chức bởi Hoàng gia Bồ Đào Nha và khởi hành hàng năm từ Lisbon đến Ấn
Độ (chủ yếu là Goa) theo tuyến thương mại qua mũi Hảo Vọng Theo ước tính, trong khoảng thời gian từ 1497 đến 1650, có khoảng 1.033 chuyến tàu khởi hành từ Lisbon đến Goa
Trang 37* Estado da India
Mặc dù lợi nhuận thu được từ thương mại biển không ít nhưng Hoàng gia Bồ luôn phải đối diện với cơn khủng hoảng tài chính Đầu năm 1500, Dom Manuel tuyên bố bất kỳ thương nhân nào gửi một chiếc tàu đến Ấn Độ sẽ nhận được 25% giá trị hàng hóa chuyên chở trên tàu trở về Lisbon Chính sách này thúc đẩy việc ra đời các syndicate của thương nhân Florentine và Genoe Sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ của thế lực tư nhân nước ngoài trong thương mại giữa Bồ Đào Nha và phương Đông khiến Manuel cảm thấy ngày càng khó chịu Đỉnh điểm là năm 1501 khi thương thuyền của tư nhân lại cập bến Lisbon trước hạm đội Hoàng gia do Nicolas Coelho chỉ huy Sự phụ thuộc của Hoàng gia Bồ Đào Nha vào nguồn tư bản bên ngoài được thể hiện rõ nét qua chuyến viễn chinh đến Ấn Độ do Francisco de Almeida (1450-1510)16 lãnh đạo vào năm 1505 Tổng chi phí cho chuyến đi này ước tính khoảng 250.000 cruzado17, chiếm ¾ thu nhập của nhà vua/năm Hơn ½ trong
số này phải huy động từ tư thương Đức và Italia
Tuy nhiên, phí tổn trong giao thương với Ấn Độ không chỉ nằm ở khía cạnh trang
bị cho các hạm đội mà còn cần bạc, đồng và chì để mua hạt tiêu Trong khi đó, lực lượng đồn trú Bồ Đào Nha tại Calicut phải thường xuyên chống chọi một cách bất lực trước những cuộc tấn công của Zamorin Điều này khiến vua Dom Manuel nhận thấy cần phải thiết lập sự hiện diện lâu dài của hải quân Bồ Đào Nha nhằm kiểm soát thương mại gia vị tại Ấn Độ dương Năm 1502, vua Manuel cho phép một hạm đội được ở lại Ấn Độ để bảo vệ các cứ điểm Nhưng quyết định này trong thực tế không mang lại hiệu quả do lực lượng quá mỏng lại dàn trải trên phạm vi không gian rộng lớn Vấn đề ngày càng nghiêm trọng khi thuyền viên không có bất kỳ căn cứ an toàn nào để nghỉ ngơi, mua lương thực tươi sống sau chuyến viễn chinh dài đến Ấn Độ Thậm chí việc liên lạc giữa các tàu, thanh toán cho thuyền viên, binh lính, duy trì lòng trung thành của họ cũng là vấn đề cấp bách Vì vậy, việc ra đời một cơ sở vĩnh viễn tại Ấn Độ là cần thiết cho sự mở rộng thương mại trên toàn châu Á
Quyết định thành lập Estado da India vào năm 1505 không những là phản ứng của vương triều Bồ Đào Nha trước sức ép đến từ các địch thủ thương mại mà còn là một
15 Thực chất là kho vũ khí được xây dựng đầu tiên tại cảng Lisbon Bộ phận quản lý của Armazem bao gồm một giám đốc, một thủ quỹ và một vài thư ký, một số ít thợ thủ công, công nhân, thợ mộc…Những kho chứa hàng của nó luôn có đại bác và số lượng lính canh gác thường xuyên Ribeira Armazem sản xuất rất nhiều thuyền carrack lớn và các thuyền nhỏ phục vụ cho thương mại hàng hải đến châu Á Văn phòng Armazem còn thiết lập quan hệ với thương nhân - những người cung ứng vũ khí, đồ sứ, rượu, bạc nén và những hàng hóa khác cho các chuyến hải hành đến Ấn Độ Trụ sở của Armazem tại Ấn Độ là Goa [ 48; 4]
16 Francisco de Almeida làm người phụ trách chung, tổng trấn, Phó vương đầu tiên của tổ chức này, Ông được vinh danh trong lịch sử là người Bồ Đào Nha đầu tiên nắm trong tay cả chính quyền dân sự và quân sự ở thuộc địa của đế quốc Bồ Đào Nha
17 Là một loại tiền xu bằng vàng của người Bồ Đào Nha có khắc hình chữ thập chính giữa Đồng xu vàng này được sử dụng bởi Afonso V (1438-1481) khi tổ chức một cuộc viễn chinh chữ thập chống lại việc xâm chiếm Constantinople của người Thổ vào năm 1453 Nó có giá trị khoảng 400 reis Ý nghĩa của chữ cruzado trong tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là chữ thập - thập tự giá của vị thánh bảo trợ cho Bồ Đào Nha, St George
Trang 38tiền lệ chưa từng có trong lịch sử Bồ Đào Nha Mục đích của vương triều Bồ Đào Nha
khi thành lập thể chế này là: “chiến tranh với người Moor18 và buôn bán với những kẻ ngoại đạo” [85; 67] Phân tích một cách cụ thể thì cấu trúc nhà nước độc đáo này ra đời để đảm bảo quyền kiểm soát thương mại hạt tiêu từ Malabar, dựa vào sức mạnh hải quân đẩy nhanh quá trình xâm nhập vào thị trường hạt tiêu thông qua việc kiểm soát thương mại vàng ở Đông Phi Về mặt lý thuyết: nhà vua bổ nhiệm quản lý tại các hải cảng để thu mua hạt tiêu theo giá cả thỏa thuận với người cai trị địa phương Hạt tiêu được trả bằng bạc và đồng nếu gửi đến châu Âu và bằng vàng từ Đông Phi Thương mại vàng, ngựa, đinh hương và quế lần lượt nằm trong danh sách hàng hóa độc quyền Mỗi con tàu ở Ấn Độ Dương phải mua một cartaz19 từ Bồ Đào Nha, công khai hàng hóa cũng như hành khách được vận chuyển Một số mặt hàng, chủ yếu là các mặt hàng quân sự, bị tuyên bố là hàng lậu và không được tự do mua bán Nguồn thuế thu được từ việc bán cartaz là cơ sở để Bồ Đào Nha trang trải các chi phí khổng
lồ của Estado da India20
Nền tảng pháp lý cho sự ra đời và hoạt động của Estado là các sắc lệnh mà Giáo hoàng đã ban hành và việc thừa nhận tước hiệu của vua Manuel “Vua của Bồ Đào Nha, Algarves và toàn bộ phần đại dương kéo dài đến tận châu Phi; lãnh chúa của Guinea, thủ lĩnh của công cuộc chinh phạt và hoạt động thương mại ở Ethiopia, Arabia, Persia, Ấn Độ” [85; 68] Đức vua Bồ Đào Nha tuyên bố ông là người nắm quyền tối cao trên biển cùng với đặc quyền như bất kỳ một quốc vương nào khác Nếu người cai trị Bijapur hoặc Vijayanagar có thể đánh thuế và quản lý vấn đề xuất nhập cảnh, duy trì quân đội, ký kết hiệp ước và thực thi pháp luật đối với cư dân của họ thì vua Bồ Đào Nha cũng có thể thực thi uy quyền của ông trên biển Vua Bồ Đào Nha với tư cách là ông chủ trên biển, có quyền cấp phép hoặc không cho phép những cá nhân mong muốn xâm nhập khu vực quản lý của Bồ Đào Nha Ông có quyền tối cao trong việc chỉ định đánh thuế hải quan, tuyên bố độc quyền thương mại và có quyền thực thi pháp luật thông qua hệ thống mang tính pháp lý đã được công nhận Đây là những quan niệm mới chưa xuất hiện ở bất kỳ một nhà nước thuộc địa nào trước đó
Cơ cấu chính của Estado da India gồm: Tòa án tối cao (Relac¸ao) ra đời năm
1544, Ủy ban quản lý ngân khố (Vedoria da fazenda), Phòng tài chính (Casa dos contos), Phòng hộ tịch và hỗ trợ quân sự (Casa da matricula) Tất cả các cơ quan
18 Là một thuật ngữ trong tiếng Anh để gọi những người Hồi Giáo hiện nay đang sinh sống tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha Nguồn gốc của cộng đồng này là sự hỗn huyết giữa người Arab, Tây Ban Nha và Amazigh (Berber) Người Moor đã tạo nên nền văn minh Arab Andalusian và định cư thường xuyên ở Bắc Phi từ giữa thế
kỷ XI đến thế kỷ XVII Đôi khi thuật ngữ này còn được mở rộng để chỉ người Hồi giáo nói chung
19 Đây là hình thức cấp phép trong thương mại đường biển được thực hiện bởi người Bồ Đào Nha từ đầu thế
kỷ XVI đến nửa cuối thế kỷ XVIII Theo đó, các tàu muốn đến buôn bán với các vùng đất dưới sự kiểm soát của người Bồ Đào Nha phải được sự cho phép của Estado và phải đóng thuế theo quy định nếu không sẽ bị tấn công, đánh đắm bởi lực lượng hải quân Bồ Đào Nha tại Ấn Độ Dương
20 Từ đây chúng tôi gọi ngắn gọn là Estado
Trang 39này đều nằm dưới sự chỉ đạo trực tiếp từ Phó vương21 với vị Phó vương đầu tiên là Francisco de Almeida Cùng với sự phát triển của Estado thì cơ cấu tổ chức phía bên dưới cũng dần hoàn thiện Thời kỳ đầu, để giúp việc cho Phó vương là một Hội đồng được tổ chức khá lỏng lẻo với thành viên không cố định (chủ yếu là fidalgo22) Đến năm 1563, Hội đồng phát triển thành thể chế nhà nước thật sự với
số lượng thành viên quy định gồm: tổng trấn (hoặc Phó vương) như là Chủ tịch, Tổng giám mục Goa, Trưởng Tòa án đạo, hai hoặc ba fidalgo có thời gian cư trú lâu đời tại Goa, người đứng đầu Tòa án tối cao, Đội trưởng của Goa, Giám đốc tài chính, Trưởng ban quản lý ngân khố Các vấn đề liên quan đến tôn giáo thì được
xử lý độc lập thuộc thẩm quyền của Tổng giám mục
Từ Goa, cơ cấu quản lý tại các thương điếm khác đều được tổ chức thống nhất với quyền chỉ huy thuộc về một đội trưởng Hỗ trợ cho viên chức này là Vedor da fazenda (nhân viên quản lý ngân khố), thư ký, nhân viên chịu trách nhiệm giám sát thương mại Hoàng gia, các giáo sĩ, một thẩm phán Tất cả nhân viên trong bộ máy chính quyền (từ Phó vương trở xuống) sẽ nhận lương và khoản thanh toán bằng hiện vật từ chính quyền Người quản lý và đội trưởng của những con tàu, pháo đài thì chịu trách nhiệm trực tiếp với nhà vua, thông qua đại diện cao cấp nhất - Phó vương Tất cả giao dịch kinh doanh và các khoản thanh toán phải hạch toán trực tiếp đến Lisbon (từ tiền phải trả cho từng cá nhân binh lính đến nguồn vốn thu mua hạt tiêu Ấn Độ) Hồ sơ chi tiết được giữ gìn cẩn thận, liệt kê tỉ mỉ đến từng khẩu pháo hay từng vật dụng cụ thể phục vụ cho các lễ nghi tôn giáo (kể cả quy trình cướp bóc các con tàu, việc phân chia chiến lợi phẩm phù hợp với từng chức vụ cũng thường xuyên được cập nhật)
Như vậy, thương mại là yếu tố chi phối mạnh mẽ nhất đến quá trình hình thành và phát triển của Estado Thông qua nhiều phương thức khác nhau như: sử dụng vũ lực trực tiếp chiếm đóng nhượng địa hoặc thuyết phục các thế lực địa phương tự nguyện làm chư hầu, Estado đã thực hiện một cách trọn vẹn vai trò quản lý và chi phối thương mại biển của Bồ Đào Nha tại châu Á Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của Estado chính là sự quản lý không tập trung về mặt lãnh thổ với hình dáng tương tự như một vành đai được đánh dấu bởi các pháo đài làm nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ thương thuyền của Bồ Đào Nha
1.1.1.3 Thương mại Hoàng gia Bồ Đào Nha từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII
Trong hơn một thế kỷ đầu tiên sau chuyến viễn chinh của Vasco da Gama, hoạt động giao thương của Hoàng gia Bồ Đào Nha tại Ấn Độ đạt đến mức độ phát triển
21 Qua hai thế kỷ, Estado da India có 60 tổng trấn, trong đó 35 người là Phó vương Sự phân biệt ở đây là biểu hiện tính đẳng cấp của xã hội Nếu người được bổ nhiệm có tước hiệu quý tộc là Dom hoặc cao hơn thì được xem là tổng trấn - Phó vương, còn nếu không thì chỉ là tổng trấn
22 Cấp bậc thấp nhất trong hệ thống đẳng cấp quý tộc của vương triều Bồ Đào Nha
Trang 40hưng thịnh nhất Tuy nhiên, do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, chủng loại mặt hàng chủ lực cũng như tỷ lệ của từng nhóm hàng hóa cũng có sự thay đổi trong từng giai đoạn:
Bảng 1.1 Hàng hóa nhập khẩu vào Lisbon từ châu Á (Ấn Độ) từ 1505 đến 1518
Mặt hàng 1505
21.826 quaintal
1518 38.196 quintal
1523-1531
Số lượng tàu = 17
Khối lượng hàng hóa/tàu=4.345 quaintal
1547-1548
Số lượng tàu = 10 Khối lượng hàng hóa/tàu=6.789 quaintal
1587-1588
Số lượng tàu =
12 Khối lượng hàng hóa/tàu=7.891 quaintal
1600-1603
Số lượng tàu =
3 Khối lượng hàng hóa/tàu=6.110 quaintal