Để trả lời những câu hỏi trên, nhóm làm đề tài về vấn đềngoại tác - tác động ngoại vi của giáo dục đại học Việt Nam... Cân bằng thị trường diễn ra tại E, với số lượng QE được thực hiệnbở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC VIỆT NAM.
Trang 2ĐT1
Trang 3Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2009
MỤC LỤC
I Đặt vấn đề Trang 1
II Nội dung Trang 2
1 Vấn đề cơ bản về ngoại tác Trang 2
1.1 Khái niệm Trang 2
1.2 Đặc điểm Trang 2
2 Ảnh hưởng ngoại tác tích cực và tình trạng không hiểu quả của
Trang 4thị trường Trang 3
2.1 Hiệu quả thị trường Trang 3
2.2 Ảnh hưởng của ngoại tác tích cực Trang 4
3 Ngoại tác tích cực giáo dục đại học ở Việt Nam Trang 5
III Kết quả và thảo luận Trang 8
Tài liệu tham khảo Trang 11
I Đặt vấn đề:
Trong cuộc sống, mọi người đều chịu tác động qua lại củanhau và không ai có thể nói rằng mình sống mà không chịu ảnh
Trang 5hưởng bởi các tác động nào đó Tác động có thể là tốt hoặc cóthể là xấu và sự ảnh hưởng đó tác động như thế nào đến lợi ích
xã hội?
Đối với một thị trường, nó không chỉ ảnh hưởng đếnngười mua, người bán trên thị trường, mà bao gồm phúc lợi củanhững người ngoài cuộc chịu ảnh hưởng
Với nền kinh tế tri thức như hiện nay thì giáo dục được đặtlên hàng đầu bởi vì giáo dục là hoạt động thuộc lĩnh vực pháttriển nguồn nhân lực - nguồn tài nguyên quý nhất của mọi quốcgia Giáo dục là 1 lĩnh vực đầu tư cho tương lai nên nó khôngthể tạo thành quả để hưởng thụ ngay Như chủ tịch Hồ ChíMinh đã nói “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm nămtrồng người” Theo Adam Smith, nhà kinh tế học trường phái cổđiển về “vốn con người” Ông cho rằng vốn con người bao hàmnhững gì do giáo dục mang lại Muốn có, gia đình xã hội phảiđầu tư, vốn đó sẽ giúp con người kiếm sống suốt đời và góp
Trang 6phần làm xã hội giàu có Vậy ảnh hưởng của giáo dục tác độngtích cực đối với xã hội như thế nào?
Nó có ảnh hưởng to lớn đối với đời sống kinh tế -xã hội–văn hóa.Những ảnh hưởng đó đã làm cho thị trường đạt hiệuquả chưa?
Để trả lời những câu hỏi trên, nhóm làm đề tài về vấn đềngoại tác - tác động ngoại vi của giáo dục đại học Việt Nam
Trang 7II NỘI DUNG:
1 VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGOẠI TÁC:
1.1 Khái niệm: Khi hành động của 1 đối tượng có ảnh
hưởng đến 1 đối tượng khác nhưng những ảnh hưởng đó lạikhông được phản ánh trong giá cả thị trường thì những ảnhhưởng đó gọi là ngoại tác
Khi xuất hiện ngoại tác, mối quan tâm xã hội về kết cụcthị trường không chỉ dừng ở phúc lợi người mua và người bán,
nó còn bao gồm phúc lợi của những người ngoài cuộc chịu ảnhhưởng Ngoại tác có thể là tiêu cực cũng có thể là tích cực
Ngoại tác tiêu cực: là khoảng chi phí áp đặt lên đối tượng
thứ ba nhưng chi phí đó không phản ánh lên giá cả thị trường
Trang 8Ví dụ: Khí thải xe máy gây ra ngoại tác tiêu cực vì nó tạo
ra khói bụi mà những người khác phải hít thở
Ngoại tác tích cực: là những lợi ích mang lại cho đối
tượng thứ ba nhưng lợi ích đó không phản ánh lên giá cả thịtrường
Ví dụ: Những khu di tích lịch sử được trùng tu mang đếnnhững ngoại tác tích cực, bởi vì những người đi ngang qua cóthể chiêm ngưỡng vẻ đẹp và ý nghĩa lịch sử của chúng
1.2 Đặc điểm:
Dù là ngoại tác tiêu cực hay tích cực chúng đều có đặcđiểm:
Chúng có thể do sản xuất hoặc tiêu dùng gây ra
VD: 1 nhà máy gây ô nhiễm là ngoại tác tiêu cực do sảnxuất
Doanh nghiệp cạnh tranh nhau để sản xuất thiết kế vàcải tiến công nghệ xe hơi Nó không chỉ có lợi cho doanh
Trang 9nghiệp mà còn cho toàn xã hội Bởi vì nó nằm trong khốikiến thức công nghệ của toàn xã hội.
Một cá nhân hút thuốc lá làm ảnh hưởng đến sức khỏengười xung quanh là ngoại tác tiêu cực do người tiêu dunggây ra
Trong ngoại tác, việc ai gây tác hại (lợi ích) cho ai nhiềukhi chỉ mang tính tương đối
VD: Xét ví dụ nhà máy xả chất thải xuống dòng sông,ngoại tác không chỉ có thể nhìn dưới góc độ nhà máy gâythiệt hại cho ngư dân mà trái lại có thể phân tích dưới góc
độ ngư trường của ngư dân đã thu hẹp hoạt động của nhàmáy
Sự phân biệt tính chất tích cực và tiêu cực của ngoại tácchỉ là tương đối: cùng 1 hoạt động ngoại tác nhưng nóđược đánh giá là tốt hay xấu tùy thuộc vào quan điểm củangười chịu ảnh hưởng
Trang 10VD: một lò nướng bánh có thể tạo ra ngoại tác tích cựccho hàng xóm, nếu người bên cạnh có thể lợi dụng hơinóng để phục vụ cho hoạt động kinh doanh hấp tẩy quần
áo của mình Nhưng nó cũng có thể là ngoại tác tiêu cựcnếu nhà bên kinh doanh hàng đông lạnh
Tất cả ngoại tác đều phi hiệu quả nếu xét dưới quan điểm
xã hội
2 ẢNH HƯỞNG YẾU TỐ NGOẠI VI TÍCH CỰC VÀ TÌNH TRẠNG KHÔNG HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƯỜNG: 2.1 Hiệu quả thị trường:
Trang 11Khi không có ngoại tác và sự can thiệp của chính phủ, giá cảđiều chỉnh để cân bằng cung và cầu Lượng sản xuất và tiêudùng ở trạng thái cân bằng thị trường QE là hiệu quả MC=MB.(lợi ích biên = chi phí biên)
Q
Chi phí biên tư nhân
MB Lợi ích biên tư nhân
O
QEE
Trang 122.2 Ảnh hưởng của yếu tố ngoại vi tích cực
Chi phí biên tư nhân:MC Đó cũng là chi phí biên xã hội MSC (MC=MSC)
Lợi ích biên tư nhân :MB
B
Trang 13Cân bằng thị trường diễn ra tại E, với số lượng QE được thực hiệnbởi vì tại đó MB=MC (lợi ích biên tư nhân = chi phí biên tư nhân).Hoạt động tiêu dùng đã gây ra 1 ngoại tác tích cực MEB
Do hoạt động tiêu dùng mang lại ngoại tác tích cực cho xã hội nênxét trên góc độ xã hội thì lợi ích biên xã hội (MSB) phải làMB+MEB.Vậy mức hiệu quả xã hội là QE’ đạt tại điểm E ’ khiMSB=MC
Tóm lại, khi xuất hiện ngoại tác tích cực thì thị trường luôn tạo
ra một mức sản lượng thấp hơn mức tối ưu xã hội
Khi không có sự điều chỉnh của chính phủ thì xã hội sẽ tổn
thất kinh tế do sản xuất dưới mức hiệu quả chung của xã hội
-một khoản phúc lợi bằng diện tích tam giác EBE’
Vậy làm thế nào có thể đẩy mức sản lượng của thị trường lênngang bằng mức tối ưu xã hội Cách thông dụng nhất là tiến hànhtrợ cấp Đây là mức trợ cấp Pigou, sao cho trợ cấp đúng bằng lợiích biên tại mức sản lượng tối ưu (s = MEB)
Trang 143 NGOẠI TÁC TÍCH CỰC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Giáo dục được xác định là một dịch vụ, không phải là mộthàng hóa Dịch vụ vì sản phẩm của giáo dục là kiến thức và kỹnăng, mà kiến thức và kỹ năng thì không sờ mó được
Giáo dục được xác định như là một “dịch vụ tư” vì dịch vụnày bao hàm hai đặc điểm: có tính loại trừ và có tính cạnh tranhtrong sử dụng Có tính loại trừ trong sử dụng vì sinh viên khôngthể tham gia hưởng thụ dịch vụ đó mà không có điều kiện, họ phảithi đầu vào, phải đóng học phí, vv Nếu sinh viên không thỏa mãnnhững điều kiện đó sẽ bị lọai trừ ra khỏi việc hưởng thụ dịch vụgiáo dục Dịch vụ giáo dục có tính cạnh tranh trong sử dụng vì việchọc của một sinh viên này sẽ ảnh hưởng đến việc học của ngườikhác Vì số lượng sinh viên trong một lớp học là hạn chế và sốlượng lớp học trong một trường cũng bị hạn chế, nên sinh viên nàyđược học thì một người khác không được học, hay là nếu thêm một
Trang 15sinh viên vào một lớp học quá đông sẽ ảnh hưởng đến việc học củacác sinh viên khác.
Tương tự hàng hoá và dịch vụ khác, thị trường dịch vụ giáodục, nói tắt là thị trường giáo dục, có hai khía cạnh, cung và cầu.Trong một lý thuyết căn bản của kinh tế học, quy luật cầu muốnnói rằng cầu và giá có quan hệ nghịch biến, tức là đường cầu dốcxuống Nếu giá càng cao thì cầu càng thấp và ngược lại Khi chiphí cho việc học tăng lên thì số người đi học sẽ giảm Hơn nữa,quy luật cung thì ngược lại, cung và giá có quan hệ đồng biến,đường cung dốc lên, nếu học phí thu được từ sinh viên càng cao thì
số số lượng sinh viên mà nhà trường nhận đào tạo càng cao Ngượclại, nếu sinh viên học phí càng thấp thì số lượng sinh viên nhàtrường nhận đào tạo sẽ giảm
Phân tích ngoại tác tích cực trong giáo dục
Lợi ích tư nhân (MB) là lợi ích của bản thân sinh viên saukhi học, sau khi học có được kiến thức và kỹ năng làm việc, sẽ tìmđược việc làm tốt hơn và có thu nhập cao hơn, không chỉ một, hai
Trang 16năm mà lợi ích cho cả cuộc đời còn lại Do đó, cá nhân người đihọc phải đầu tư Tuy nhiên, lợi ích xã hội của giáo dục là rất lớn,
nó bao gồm lợi ích tư nhân như nói trên và lợi ích ngoại tác
Lợi ích ngoại tác (MEB) có nghĩa là người đi học đem lợi íchcho người khác và xã hội Việc học sẽ giảm bớt tệ nan xã hội, dễdàng hơn cho nhà nước trong việc phổ biến và thực hiện các chínhsách kinh tế văn hóa và xã hội Hơn nữa, các doanh nghiệp và cơquan tuyển dụng cũng có lợi nhuận trong viêc học của các cá nhân.Sinh viên học xong sẽ có lợi ích trong việc học, sẽ làm việc chocác doanh nghiệp chẳng hạn, doanh nghiệp phải trả lương cho sinhviên tốt nghiệp, nhưng mức lương bao giờ cũng thấp hơn năng suấtlao động mà sinh viên đem lại cho doanh nghiệp, sự chênh lệch đó
là lợi nhuận mà doanh nghiệp có được do việc học của sinh viên.Hơn nữa nếu dân số có trình độ tốt nghiệp đại học cao thường bầu
ra một chính phủ có năng lực hơn và nhiều người được lợi hơn.Như vậy, tồn tại lợi ích ngoại tác mà người đi học không nhậnđược, nên người đi học không đầu tư đúng mức cho việc đi học vì
Trang 17họ quyết định đầu tư cho việc học phụ thuộc vào sự so sánh giữachi phí tư nhân và lợi ích tư nhân thay vì lợi ích xã hội, họ khôngquan tâm đến lợi ích xã hội.
Do đó lợi ích tư nhân của việc học luôn nhỏ hơn lợi ích xã hội
do tồn tại lợi ích ngoại tác của việc đi học
Như vậy để đạt hiệu quả thì lợi ích biên xã hội MSB phảibằng với chi phí biên tương ứng với mức QE’ Rõ ràng lượng sinhviên thấp hơn so với mức hiệu quả nên gây ra tổn thất cho xã hội
Vấn đề: Người có thu nhập thấp không có khả năng tiếp cận giáo dục
Vì chi phí cho việc học khá cao và đầu tư cho việc học là
đầu tư lâu dài, thời gian học đại học trung bình là 4 năm, trong thờigian đi học phần lớn chỉ có chi không có thu, do đó những gia đình
có thu nhập thấp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận giáo dụcnếu tất cả các trường học theo cơ chế thị trường, học phí bù đắpđầy đủ chi phí giáo dục của trường Việc hỗ trợ cho người nghèo đihọc là rất cần thiết
Trang 18Giải pháp nhà nước
Vì tồn tại lơi ích ngoại tác nên nhà nước cần phải đầu tư chogiáo dục, không thể để 100% chi phí cho người đi học phải gánhchịu… Hơn nữa, vì người nghèo không có khả năng tham gia việchọc theo cơ chế thị trường, nhà nước cần phát triển thị trường vốn
để cho sinh viên vay vốn hoặc có các học bổng cho các sinh viênnghèo học giỏi
Trang 19Giá dịch vụ giáo dục
Lượng dịch vụ giáo dục
Lợi ích của
Chi phí của việc đi học(MC)
MB+s lợi ích mà xã hội nhận được(MSB=MB+MEB)
Trang 20III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Ngày 27/9/2007, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn SinhHùng đã ký Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg về tín dụng cho vayđối với học sinh, sinh viên Theo quyết định mới, mức vay vốn tối
đa dành cho học sinh - sinh viên là 800.000 đồng/tháng Lãi suấtcho vay hết sức ưu đãi chỉ 0,5%/tháng và lãi suất quá hạn cũng
không quá 130% lãi suất vay
Trang 21Chính phủ sẽ vẫn bố trí đủ nguồn vốn (khoảng 8.000 tỷ đồngtrong năm 2009) để học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn
được vay để học tập với lãi suất thấp
Năm 2009 ngân hàng dành 8.000 tỷ đồng cho sinh viên vayvốn Mức cho vay của chương trình vẫn giữ 800.000đ/tháng
Trước câu hỏi tại sao không điều chỉnh mức cho vay khi cuộcsống của nhiều gia đình bị tác động bởi những khó khăn do ảnhhưởng của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, ông Nguyễn Văn Lýgiải thích, mức vay này (800.000 đồng/tháng với lãi suất 6%/năm)chỉ mang tính hỗ trợ trong bối cảnh mức học phí vẫn giữ nguyên,lạm phát đã được kiềm chế Điều quan trọng, HSSV và gia đình họphải tự lực vươn lên, nỗ lực vượt qua khó khăn
Nhìn lại 2 năm qua, theo đánh giá của nhiều chuyên gia vềgiáo dục, của xã hội, gia đình HSSV, những gì chương trình đạtđược gần như vượt qua cả mong đợi, đã tác động tích cực đến toànthể xã hội, tạo điều kiện cho HSSV có hoàn cảnh khó khăn được
có cơ hội học tập, giảm tỷ lệ HSSV bỏ học vì không có khả năng
Trang 22trang trải chi phí học tập, giảm bớt thời gian đi làm thêm củaHSSV để tập trung cho học tập.
Theo báo cáo tại phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày12/6 /2009 của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạoNguyễn Thiện Nhân:
“chúng ta đã cho vay được 1,3 triệu học sinh, sinh viên với tổngkinh phí là 13.700 tỷ đồng, số hộ được vay 1,2 triệu hộ Trong đó,những người hộ nghèo chiếm hơn 35%, cận nghèo 50%
Và trong tổng số 1,3 triệu người vay, chỉ có 913 người làkhông đúng đối tượng chiếm 0,04 % Chương trình đã được triểnkhai thực hiện trên diện rộng tại hơn 9.000 xã, phường trong cảnước
Với diện đối tượng rộng và đa dạng, yêu cầu cho vay đúng,
đủ, đến tận tay đối tượng gần như đã được đảm bảo tuyệt đối
Dễ dàng và nhanh chóng là nhận xét chung của nhiều sinhviên về quy trình, thủ tục vay tín dụng đào tạo được thực hiện 2năm nay
Trang 231,3 triệu HSSV đã nhận được khoản vay này với mức vay tối đa là800.000 đồng/tháng, lãi suất 6%/năm
Với mức lãi suất thấp như vậy, đây là một giải pháp tài chínhhữu hiệu không chỉ với các em, mà còn với cả các gia đình Ngoài
ra, trong thời gian học, HSSV không phải trả gốc hay lãi
Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế như lạm phát tăngcao năm 2008 hay suy thoái kinh tế năm 2009, nguồn vốn choHSSV vay học tập không những vẫn được đảm bảo mà còn tăngthêm
Tính đến hết năm 2008, theo Ngân hàng Chính sách xã hội,đơn vị thực hiện chương trình, đã giải ngân được 9.535 tỷ đồngvốn vay học tập Theo kế hoạch năm 2009, có thêm khoảng 8.000
tỷ đồng cho HSSV vay
Tuy vậy, chương trình cũng gặp một số bất cập hạn chế cầnkhắc phục Hiện tỷ lệ HSSV vay vốn theo học các trường caođẳng, đại học chiếm chủ yếu, trong khi cho vay đối với khối trung
Trang 24học, học nghề còn rất hạn chế Số HSSV vay vốn đi học cácchương trình đào tạo trên dưới 1 năm còn rất thấp.
Thực tế cho thấy còn những kẽ hở trong quản lý và thực hiện.Cần có những giải pháp hữu hiệu về mặt thiết kế chính sách cũngnhư thực thi từ các đơn vị cơ sở Từ đó, cần làm rõ và phân loạicác đối tượng có nhu cầu một cách thiết thực, tạo hiệu quả caotrong việc sử dụng đồng vốn
Sắp tới, chương trình sẽ có một số thay đổi để đáp ứng tìnhhình mới, đòi hỏi hạn chế các bất cập càng trở nên cấp bách.”
Theo Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục 2009-2014,chính sách tín dụng cho học sinh học nghề và sinh viên thuộc diệngia đình nghèo, cận nghèo và có hoàn cảnh khó khăn vay tiền đểhọc tập sẽ được tăng thêm mức cho vay để phù hợp với mức điềuchỉnh học phí
Trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày 12/6 vừa qua, Phó Thủtướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân nhấnmạnh: “Nhà nước cam kết mức vay được điều chỉnh để luôn đảm
Trang 25bảo cơ hội học tập cho HSSV Không để HSSV nào phải nghỉhọc…”
Trong hoàn cảnh nào, “không để HSSV nào phải nghỉ học”cũng là mục tiêu, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mọi hoạt động củachương trình tín dụng cho HSSV vay để học tập suốt 2 năm qua và
cả thời gian tới
Làm vơi nỗi lo về gánh nặng tài chính đối với gia đìnhnghèo, những người xây dựng, triển khai chương trình đều mongmỏi, mỗi HSSV có thể thấu hiểu, sử dụng đúng nguồn vốn hỗ trợ,
nỗ lực học tập, cố gắng tự lực vươn lên hoàn trả vốn vay để các thế
hệ tiếp theo tiếp tục được thụ hưởng chính sách này Như thế,những đồng vốn hỗ trợ mới thực sự đạt được hiệu quả đích thực
Tóm lại:
Trang 26Ảnh hưởng của giáo dục đại học (ngoại tác tích cực) tác động
to lớn đến đời sống - kinh tế - văn hóa - xã hội Giáo dục đại họcmang lại lợi ích không chỉ cho những người được đào tạo mà cònmang lại lợi ích rất lớn cho xã hội Những lợi ích đó có thể đánhgiá được và có những lợi ích không thể đánh giá về mặt kinh tế Vànhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy giáo dục đạihọc Việt Nam vươn lên không chỉ về mặt số lượng mà còn về mặtchất lượng để nhằm làm giảm tổn thất xã hội mà còn đưa xã hộiphát triển Mục tiêu lớn là: đưa Việt Nam “sánh vai cùng cáccường quốc năm châu”