Trong nghiên cứu này chúng tôi không giới hạn về độ tuổi vì theo y văn, khoảng tuổi càng rộng thì hiệu quả phát hiện càng triệt để; mặt khác, để vận động được mỗi PN chấp nhận đến khám v
Trang 1Chương 4 BÀN LUẬN
4.1 Phân bố các đối tượng đến xét nghiệm TBH ở cộng đồng
Trong khoảng thời gian ngắn từ tháng 1/2008 đến tháng 7/2008, chúng tôi đã tiến hành xét nghiệm sàng lọc TBH phụ khoa tại cộng đồng cho 1117 phụ nữ thuộc
9 xã, phường nội ngoại thành Hà Nội và đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm khuyến khích, động viên tối đa số phụ nữ trong diện sàng lọc đến khám và làm xét nghiệm như thuyết phục các cấp lãnh đạo xã, phường, hội phụ nữ, đồng thời phối hợp với cộng tác viên tại địa bàn trực tiếp gửi thư mời đến từng phụ nữ trong mỗi hộ gia đình Tại mỗi xã phường, trước khi tiến hành đợt khám và làm xét nghiệm chúng tôi
đã tổ chức gặp mặt trực tiếp những PN tại địa phương để tuyên truyền, giải thích lợi ích và tầm quan trọng của các phiến đồ CTC – ÂĐ trong việc phát hiện sớm, điều trị đúng và kịp thời các các bệnh lý phụ khoa, đặc biệt là các tổn thương tiền ung thư và ung thư CTC
Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển, xét nghiệm TBH CTC – ÂĐ đã
là công việc thường quy, định kỳ cho tất cả các phụ nữ trong diện sàng lọc, và những phụ nữ đó đã có ý thức khá đầy đủ về tầm quan trọng của việc sàng lọc TBH phụ khoa
Tại Việt Nam, chương trình sàng lọc có hệ thống và định kỳ cho tất cả phụ
nữ trên cả nước chưa thể thực hiện được mà chỉ mới thí điểm tại một số cộng đồng
và ngày càng được mở rộng hơn đến một số cơ quan, nhà máy, xí nghiệp [10], [42]
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành gửi thư mời đến 3555 PN thuộc diện sàng lọc; tuy nhiên, số PN đến khám, đủ tiêu chuẩn làm xét nghiệm và những phiến đồ đạt yêu cầu không được như mong đợi, chỉ có 1117 PN là đủ tiêu chuẩn, chiếm 31,42 % (Bảng 3.1) Điều này có thể do ý thức, sự hiểu biết của người dân còn hạn chế và kiến thức về TBH CTC – ÂĐ chưa được phổ biến đến người dân một cách đầy đủ Theo nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Lợi, Bùi Thị Hồng [32] về hành vi của PN đối với việc sàng lọc UTCTC trong cộng đồng đã đưa ra nhận xét: “Có 56,6% PN nghe nói về UTCTC, 54,8% biết bệnh này gây nguy hiểm
Trang 2chết người và cho rằng việc khám phụ khoa định kỳ có thể phát hiện sớm được bệnh
là 49,2%, tỷ lệ PN nghe nói về phết mỏng tế bào còn thấp chiếm 18,85% Qua đó cho thấy kiến thức của PN về UTCTC trong cộng đồng chưa cao, họ chưa hiểu biết
về mức độ nguy hiểm của bệnh cũng như tầm quan trọng của việc khám phụ khoa định kỳ” Dẫn chứng trên phần nào lý giải cho việc tham gia chưa tích cực của PN
ở nghiên cứu của chúng tôi
4.2 Phân bố các đối tượng theo nhóm tuổi
Độ tuổi của những PN đến làm xét nghiệm thể hiện ở bảng 3.2, chủ yếu tập trung vào độ tuổi 30 – 49 (chiếm 56,22%), cao nhất là nhóm 30 – 39 tuổi, chiếm 28,38%, trong đó tuổi nhỏ nhất là 19 và cao nhất 73 Trong nghiên cứu này chúng tôi không giới hạn về độ tuổi vì theo y văn, khoảng tuổi càng rộng thì hiệu quả phát hiện càng triệt để; mặt khác, để vận động được mỗi PN chấp nhận đến khám và làm xét nghiệm là rất khó
Theo TCYTTG (WHO), UTCTC có thể xuất hiện ngay từ những năm đầu của đời sống tình dục, việc sàng lọc chỉ nên tập trung quanh độ tuổi 40 đối với những quốc gia chưa đủ điều kiện Tuy nhiên, ở những quốc gia có đủ điều kiện, có thể triển khai phát hiện thêm trong khoảng tuổi 25 – 65 hoặc rộng hơn nữa [45] Do vậy, việc giới hạn độ tuổi có thể làm bỏ sót tổn thương, đặc biệt là ở những PN trẻ tuổi
Theo tác giả Trịnh Quang Diện, đối tượng đến làm xét nghiệm đông nhất trong khoảng tuổi 25 – 44 cũng tương tự như trong nghiên cứu của chúng tôi [10]
4.3 Kết quả xét nghiệm tế bào học CTC – ÂĐ
4.3.1 Đánh giá tỷ lệ phát hiện tổn thương nội biểu mô.
Qua sàng lọc TBH phụ khoa tại cộng đồng, chúng tôi phát hiện được 35 trường hợp tổn thương nội biểu trong số 1117 PN, chiếm tỷ lệ 3,13%; trong đó, LSIL chiếm 2,33%, HSIL chiếm 0,80% (bảng 3.3)
Trang 3Bảng 4.1 So sánh tỷ lệ SIL với các tác giả trong và ngoài nước.
lượng
SIL (%)
LSIL (%)
HSIL (%)
Trần Mậu Hóa [21 ] 1996 2481 2,71
Trịnh Quang Diện[14]
Trịnh Quang Diện [9] (Pháp) 2002 20.127 3,36 2,57 0,79 Nguyễn Văn Bằng [4 ] 2006 10.592 2,08 1,54 0,54
G.L Benedet [54] 1998 490.985 7,14 4,80 2,34
Nghiên cứu của chúng tôi 208 1117 3,13 2,33 0,81 (*): DeMay tập hợp số liệu từ 759 phòng xét nghiệm ở Mỹ
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ SIL nói chung và các độ SIL nói riêng phù hợp với nhiều tác giả trong nước như Nguyễn Vượng, Trịnh Quang Diện, Ngô Thu Thoa, đặc biệt phù hợp với kết quả của Trịnh Quang Diện khi nghiên cứu sàng lọc trên PN ở Pháp năm 2002 với tỷ lệ LSIL, HSIL và SIL nói chung như trình bày ở bảng 4.1 Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với số liệu của DeMay tập hợp
từ một cuộc điều tra lớn trên 759 phòng xét nghiệm ở Mỹ với tỷ lệ SIL là 3,27% [60] Kết quả của chúng tôi cao hơn cao hơn Trần Thị Lương, Trần Mậu Hóa, Nguyễn Văn Bằng, thấp hơn nhiều so với các tác giả nước ngoài như H.Engles H và G.L Benedet Điều này có thể được lý giải là ở các vùng địa lý khác nhau, tần suất xuất hiện các SIL không giống nhau, ngay cả trong cùng một nước Mặt khác, do tập quán, lối sống, tình trạng kinh tế xã hội, ý thức và mức độ tự do tình dục của mỗi vùng, mỗi quốc gia cũng khác nhau Thêm vào đó, tiêu chuẩn chẩn đoán ở mỗi giai đoạn khác nhau, trình độ kinh nghiệm của từng tác giả cũng không giống nhau Hơn nữa, phương pháp lấy bệnh phẩm có thể chưa thống nhất giữa các tác giả, thời điểm bắt đầu sàng lọc, khoảng cách và số lần sàng lọc ở mỗi nước cũng khác nhau Tất cả những yếu tố trên đã ảnh hưởng đến tỷ lệ phát hiện bệnh
Trang 4Tuy vậy, nhìn chung kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với đa số tác giả trong nước, đặc biệt là các tác giả nghiên cứu ở cộng đồng các tỉnh Miền Bắc Việt Nam [9], [14], [35], [48]
Trong 1117 PN được làm xét nghiệm, chúng tôi không gặp trường hợp nào UTCTC xâm nhập, có thể do một số nguyên nhân sau: Thứ nhất, thời gian nghiên cứu của chúng tôi còn hạn chế, cỡ mẫu chưa đủ lớn để có thể tầm soát được UTCTC xâm nhập Thứ hai, tỷ lệ UTCTC xâm nhập ở cộng đồng theo nghiên cứu của các giả trong nước thấp, theo tác giả Nguyễn Vượng là 0,029% ở cộng đồng Miền Bắc và 0,06% ở cộng đồng Miền Nam (Cần Thơ) [47] Theo tác giả Trịnh Quang Diện, tỷ lệ UTCTC xâm nhập từ 0,02% – 0,05% Do đó, với cỡ mẫu của chúng tôi là 1117 PN không phát hiện được trường hợp nào UTCTC xâm nhập là cũng phù hợp
4.3.2 Đánh giá tỷ lệ tế bào vảy không điển hình (ASC) và tế bào tuyến (AGC) không điển hình.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong bảng 3.3, đã phát hiện được 32 trường hợp tế bào vảy không điển hình (ASC) chiếm tỷ lệ 2,86% Ngoài ra, chúng tôi còn phát hiện 9 trường hợp tế bào tuyến không điển hình (AGC) chiếm 0,81%
Tác giả Trịnh Quang Diện nhận thấy tỷ lệ ASCUS trong nước 4,07 % -4,65%, ở Pháp là 2,57% - 3,45%, tỷ lệ AGUS là 0,1% [9] Theo tác giả Nguyễn Văn Bằng, tỷ lệ ASCUS là 3,44%, AGUS là 0,21% [4] Tỷ lệ ASCUS và AGUS theo Trần Thị Vân Anh lần lượt là 0,14% và 0,036% [2]
Meisle và Morin C tập hợp số liệu từ nhiều phòng TBH ở Mỹ thấy tỷ lệ ASCUS khoảng 2,8% – 9% [72]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ lệ ASC nằm trong khoảng kết quả của tác giả Meisle và Morin C và cũng tương đương với các tác giả trong nước [10], [4]
Về tỷ lệ tế bào tuyến không điển hình (AGC), tỷ lệ của chúng tôi cao hơn so với hầu hết các tác giả khác, có thể do cỡ mẫu của chúng tôi còn nhỏ, chưa đủ đại diện
Trang 54.4 Chẩn đoán mô bệnh học.
Mặc dù số bệnh nhân được sinh thiết chẩn đoán MBH là 77,14% trong tổng
số những bệnh nhân có SIL trên TBH Tuy nhiên, cũng cho thấy phần nào sự phân
bố các tân sản nội biểu mô (CIN) trong cộng đồng Tỷ lệ CIN giảm đáng kể theo mức độ tổn thương của nó, thứ tự phân bố CINI, II, III lần lượt là 70,37%, 18,52%, 11,11% (bảng 3.18)
So sánh tỷ lệ phân bố CIN với các tác giả trong và ngoài nước được thể hiện qua bảng 4.2 sau đây:
Bảng 4.2 So sánh tỷ lệ CIN với các tác giả khác
Bảng 4.2 cho thấy sự phân bố CIN chủ yếu là CINI, chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với các tổn thương nặng hơn, tỷ lệ của chúng tôi là 70,37%, tương tự so với hầu hết các tác giả trên, tỷ lệ CINII của chúng tôi là 18,52% cũng phù hợp so với hầu hết các tác giả khác, chỉ thấp hơn so với tác giả Benedet (24,37%) Với CINIII, số liệu của các tác giả khác có sự dao động từ 2,33% theo Engels [64] đến 10,26% theo Nguyễn Vượng [46] Kết quả của chúng tôi là 11,11%, tương tự với tác giả Nguyễn Vượng.
Như vậy, sự phân bố về tỷ lệ CIN trong nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp so với các tác giả trong và ngoài nước.
Từ kết quả của nghiên cứu này và kết quả nghiên cứu của các tác giả khác, có thể lý giải về tỷ lệ rất cao của CINI trong so với CINII và CINIII như sau: trong quá trình tiến triển đến tổn thương ở mức độ cao hơn, đa số các CINI đã tự thoái lui hoặc tồn tại, chỉ một số nhỏ tiến triển đến CINIII Về khả
Trang 6năng thoái triển, tồn tại và tiến triển đến CINIII và UTCTC xâm nhập của CIN được J.W Sellor dẫn kết quả của Ostor được thể hiện ở bảng 4.3 sau [69] Bảng 4.3 Khả năng tiến triển, tồn tại và tiến triển đến UTCTC xâm nhập của CIN
(%)
Tồn tại (%)
Tiến triển đến CINIII (%)
Tiến triển đến UT xâm nhập (%)
Qua bảng trên cho thấy, ở CINI có tới 57% thoái triển, chỉ 11% tiến triển đến CINIII Do vậy, kết quả và nhận định trong nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp
4.5 Mối liên quan giữa tổn thương nội biểu mô với một số yếu tố nguy cơ 4.5.1 Liên quan với nhóm tuổi.
Về phân bố các độ SIL theo nhóm tuổi, nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.4) cho thấy tỷ lệ LSIL gặp cao nhất ở nhóm tuổi 40 – 49, tiếp theo là nhóm 30 – 39 tuổi, chiếm tỷ lệ lần lượt là 3,54% và 3,15% Tuổi mắc SIL trung bình là 43,46 HSIL chỉ thấy ở tuổi trên 30, cao nhất ở nhóm 50 – 59 tuổi chiếm 1,26% Tỷ lệ SIL chung cao nhất ở nhóm 40 – 49 tuổi, chiếm 4,50% (bảng 3.5)
Theo nghiên cứu của các tác giả trong nước, độ tuổi gặp SIL cao nhất là nhóm 40 – 49 [10], các tổn thương LSIL và HSIL hay gặp nhất ở 41 – 50 tuổi [2]; tuổi trung bình của các tổn thương tiền UTCTC là 42 tuổi, đỉnh tuổi 31 – 40 tuổi [40] Một nghiên cứu khác cho thấy độ tuổi trung bình của các tổn biểu mô vảy CTC là 40,09 tuổi Qua đó cho thấy nhóm tuổi mắc SIL cao nhất và tuổi mắc SIL trung bình trong nghiên cứu chúng tôi là phù hợp với các tác giả trong nước
Tuy nhiên, theo các tác giả nước ngoài thì độ tuổi trung bình của các tổn thương loạn sản CTC vừa, nặng và UT tại chỗ lần lượt là 36,8 tuổi và 35,7 tuổi và 39,2 tuổi [86] Theo Benedet [54], các tân sản nội biểu mô (CIN) gặp nhiều nhất ở tuổi 20 – 40, còn theo DeMay, khoảng tuổi thường gặp SIL là 20 – 39 [78] Điều đó
Trang 7cho thấy nhóm tuổi thường mắc SIL và tuổi mắc SIL trung bình của chúng tôi cao hơn so với các tác giả này
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi về độ tuổi hay gặp các tổn thương nội biểu mô có phù hợp với kết quả của một số các tác giả trong nước nhưng lại cao hơn so với các tác giả nước ngoài Điều này có thể do các chương trình sàng lọc ở các nước trên thế giới được thực hiện rộng rãi và triệt để hơn nên đã phát hiện được các tổn thương ở độ tuổi trẻ hơn Mặc khác, cũng có thể do thói quen về mức độ tự
do trong hoạt động tình dục nên tổn thương xuất hiện ở độ tuổi sớm hơn
Về nguy cơ bị SIL với nhóm tuổi (bảng 3.5), trong nghiên cứu này, nguy cơ cao nhất thuộc nhóm 40 – 49 tuổi, gấp 1,76 lần so với nhóm dưới 30 tuổi, tuy nhiên
sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Nếu mở rộng nhóm tuổi nguy cơ từ 30 – 49 thì nhóm này gấp 2,3 lần so với các nhóm dưới 30 tuổi và từ 50 tuổi trở lên, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Theo Trịnh Quang Diện [10], nguy cơ bị SIL ở người trên 40 tuổi gấp 1,59 lần so với những người dưới 40 tuổi; những người trên 30 tuổi thì gấp 1,8 lần so với
PN dưới 30 tuổi Tác giả Nguyễn Quốc Trực lại thấy rằng tần suất bị SIL ở người dưới 35 tuổi gấp 2,6 lần so với trên 35 tuổi và lấy mốc dưới 35 tuổi là đối tượng nguy cơ [40] Như vậy, nhóm tuổi nguy cơ có sự khác nhau giữa các tác giả, kết quả của chúng tôi tương tự với Trịnh Quang Diện Tuy nhiên, so sánh về độ tuổi nguy
cơ với tác giả Nguyễn Quốc Trực thì kết quả của chúng tôi có sự khác biệt, gần như ngược lại Điều này có thể được lý giải là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là các PN thuộc cộng đồng Miền Bắc còn của Nguyễn Quốc Trực thuộc địa bàn các tỉnh miền Nam nên có thể có sự khác nhau về điều kiện kinh tế xã hội, lối sống và hành vi tình dục ở cả hai miền, điều này ảnh hưởng đến nguy cơ mắc SIL
4.5.2 Liên quan với nghề nghiệp và trình độ học vấn.
4.5.2.1 Với nghề nghiệp.
Từ bảng 3.6, chúng tôi thấy tỷ lệ xuất hiện SIL trên các nghề nghiệp là như nhau với p > 0,05 Trong số 35 trường hợp có SIL, thấy nghề nghiệp nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất 4,39%
Trang 8Theo Đặng Phương Loan, bệnh nhân UTCTC có nghề nghiệp là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất [30] Theo y văn, tổn thương nội biểu mô và UTCTC có cùng một số yếu tố dịch tễ học, nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả này
4.5.2.2 Liên quan với trình độ học vấn
Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ mắc SIL ở nhóm có trình độ học vấn từ phổ thông trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 3,51%, gấp 1,88 lần so với tỷ lệ SIL ở các nhóm còn lại, tuy nhiên sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05
Theo Đặng Phương Loan, UTCTC ở những bệnh nhân có trình độ văn hóa phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất [30], theo Nguyễn Quốc Trực thì trình độ văn hóa càng thấp, tỷ lệ tổn thương tiền ung thư và UT càng cao [40] Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với các tác giả trên Như vậy, khi trình độ học vấn chưa cao, ý thức của PN trong việc vệ sinh sinh dục chưa tốt là nguy cơ của viêm nhiễm tái diễn dẫn đến các biến đổi bất thường của tế bào biểu mô và UTCTC
4.5.3 Liên quan với độ tuổi lấy chồng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy tuổi lấy chồng càng muộn, tỷ lệ SIL giảm dần Nguy cơ bị SIL cao nhất ở nhóm PN lấy chồng sớm trước 20 tuổi, cao gấp 5,38 lần so với nhóm lấy chồng sau 24 tuổi và gấp 2,33 lần so với nhóm lấy chồng sau 20 tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (bảng 3.8)
Trong y văn, nhiều tác giả trong nước và trên thế giới đã đề cập đến mối liên quan của UTCTC với hành vi tình dục như tuổi quan hệ tình dục lần đầu sớm, trước
20 tuổi và đặc biệt trước 17 tuổi, quan hệ tình dục với nhiều người và có nhiều bạn tình [35], [46], [51], [75], [78], [84]
Tại Việt Nam, phỏng vấn về hành vi tình dục là một vấn đề còn tế nhị, có thể mang lại kết quả không mong đợi khi hỏi về tuổi quan hệ tình dục lần đầu Do vậy, chúng tôi chỉ có thể tìm hiểu mối liên quan giữa SIL với độ tuổi lấy chồng
Nghiên cứu của các tác giả trong nước thấy rằng, các tổn thương nội biểu mô
và UTCTC xâm nhập gặp nhiều ở nhóm PN lấy chồng trước 20 tuổi [10], [11], [15] Tác giả Bùi Sĩ Hùng nghiên cứu 786 trường hợp UTCTC cũng nhận thấy tuổi lấy
Trang 9chồng dưới 20 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (70,8%) [23] Như vậy, kết quả của chúng tôi phù hợp với các tác giả trong và ngoài nước
4.5.4 Liên quan với số lần mang thai và số con
* Với số lần mang thai.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SIL tăng dần theo số lần mang thai, nguy
cơ bị SIL cũng tăng theo, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Nguy cơ cao nhất thuộc nhóm mang thai từ 6 lần trở lên chiếm 6,52%, gấp 3,6 lần
so với nhóm mang thai dưới 3 lần và gấp 2,56 lần so với nhóm mang thai dưới 6 lần (bảng 3.9)
Tác giả Bùi Sĩ Hùng cho thấy tỷ lệ UTCTC cao nhất ở nhóm PN có 5 – 7 lần mang thai chiếm 77,2% [23] Một số tác giả trong và ngoài nước, nhận thấy càng mang thai nhiều lần thì tỷ lệ bị SIL càng cao, nguy cơ bị SIL ở PN mang thai trên 6 lần thì gấp 1,59 lần so với những PN mang thai dưới 6 lần [10], [15], [30], [40], [42], [78] Như vậy, kết quả của chúng tôi phù hợp với đa số các tác giả
* Với số con
Kết quả ở bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ SIL ở PN trên 2 con cao gấp 1,99 lần so với nhóm từ 2 con trở xuống, sự khác biệt này là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã chứng minh rằng tổn thương nội biểu mô và UTCTC có liên quan với số con, số con càng đông, tỷ lệ bị SIL càng tăng Nguy cơ bị CIN ở PN có trên 6 con cao gấp 2,16 lần so với PN có dưới 6 con [10], [15], [30], [42] Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả này
Qua nghiên cứu này, chúng tôi khẳng định thêm về mối liên quan giữa số lần mang thai và số con đối với sự xuất hiện các tổn thương nội biểu mô CTC
Mang thai nhiều lần và sinh nhiều con sẽ làm cho người PN trải qua nhiều lần biến đổi về nội tiết tố và chịu nhiều tác động của các chấn thương sinh dục trong khi đẻ và chấn thương khi quan hệ tình dục ở thời mang thai, cho con bú, vốn là thời điểm CTC dễ bị tổn thương viêm lộ tuyến và quá trình dị sản vảy diễn ra mạnh
mẽ, có thể dẫn đến các tổn thương nội biểu mô
Trang 104.5.5 Liên quan với chẩn đoán lâm sàng
Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy tỷ lệ SIL cao nhất ở nhóm có viêm CTC lộ tuyến, tiếp theo là viêm CTC kèm nang Naboth Nguy cơ bị SIL ở 2 nhóm này so với nhóm bình thường lần lượt gấp 2,32 và 3,56 lần
Nghiên cứu của các tác giả trong nước cho thấy tỷ lệ CIN cao nhất ở nhóm
có viêm CTC, nguy cơ bị CIN ở nhóm có viêm CTC kèm nang Naboth gấp 1,9 lần
so với nhóm bình thường [10], tỷ lệ viêm CTC ở PN có CIN là 81% [40] Như vậy, kết quả chúng tôi về nguy cơ bị SIL ở PN có viêm CTC lộ tuyến là phù hợp với các tác giả trong nước Nghiên cứu của chúng tôi lại một lần nữa khẳng định rằng viêm CTC làm tăng nguy cơ mắc SIL, điều này có thể được lý giải là sự lộ ra ngoài của các tuyến cổ trong CTC rất dễ bị viêm nhiễm do phải tiếp xúc với môi trường không thích hợp Quá trình viêm nhiễm tái diễn làm phù nề mô đệm, tắc nghẽn các ống tuyến đưa đến hình thành các nang Naboth, là biểu hiện của viêm mạn tính Để thích ứng với môi trường mới, các tuyến cổ trong CTC trải qua quá trình dị sản, đặc biệt là dị sản không thành thục, không điển hình là điểm khởi đầu cho những biến đổi tân sản nội biểu mô CTC
4.5.6 Liên quan với một số phương pháp tránh thai chủ yếu.
Kết quả nghiên cứu (bảng 3.12) cho thấy tỷ lệ SIL cao nhất ở những PN sử dụng vòng tránh thai, chiếm 4,75% Nguy cơ bị SIL cũng cao nhất ở nhóm này, gấp 4,04 lần so với nhóm PN không dùng biện pháp tránh thai nào và gấp 2,18 lần so với các nhóm khác Sự khác biệt về nguy cơ bị SIL giữa nhóm sử dụng vòng tránh thai với nhóm không dùng biện pháp tránh thai nào hoặc với nhóm không đặt vòng tránh thai là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Theo Richart DeMay [78], những PN dùng thuốc tránh thai bằng đường uống kéo dài tăng nguy cơ UTCTC lên gấp đôi
Daniel R.Mishell dẫn nghiên cứu của Ves-sey cho thấy nguy cơ tân sản nội biểu mô gia tăng ở những PN sử dụng dụng cụ tử cung Barel nghiên cứu 47.000
PN cho thấy sử dụng thuốc tránh thai làm tăng nguy cơ mắc CIN, đặc biệt là dùng kéo dài trên 5 – 10 năm [58]