Sự hình thành đường lối cách mạng Việt Nam nói chung và đường lối đối ngoại của Đảng nói riêng trong giai đoạn 1954-1960 tạo cơ sở vững chắc, đồng thời để lại những kinh nghiệm quý báu cho các giai đoạn sau này.
Trang 15 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu6
5.1 Nguồn tài liệu6
5.2 Phương pháp nghiên cứu6
6 Bố cục của luận văn6
1.2 Quá trình hình thành đường lối đối ngoại31
1.2.1.Những chủ trương mới của Đảng về đối ngoại (từ 7-1954 đến 7/1956) 31
1.2.2 Chủ trương đối ngoại của Đảng trong thời gian từ 7-1956 đến195839
Trang 21.2.3 Đường lối đối ngoại của Đảng hình thành về cơ bản 1960) 42
(1959-Chương 2: Quá trình thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước việt Nam51
giai đoạn 1954-196051
2.1.Đấu tranh đòi thi hành hiệp thương, thống nhất nước nhà51
2.1.1 Thời gian 300 ngày (từ 20-7-1954 đến 20-5-1955) 51
2.1.2 Tình hình thi hành hiệp định Giơnevơ về Việt Nam từ
2.3 Cải thiện quan hệ với Lào và Campuchia80
2.4 Mở rộng quan hệ với các nước độc lập dân tộc và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở Châu á, Châu Phi và khu vực Mỹ Latinh83
3.2 Một số kinh nghiệm95
3.2.1 Đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng phải được xây dựng trên cơ sở độc lập, tự chủ, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại 95
Trang 33.2.2 Tư tưởng ngoại giao hoà bình, hoà hiếu là truyền thống nhân văn Việt Nam97
3.2.3 Phải có những đối sách, hoạt động đối ngoại phù hợp với tìnhhình mới, đúng đắn, sáng tạo97
3.2.4 Xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước láng giềng; quan tâm xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn983.2.5 Ngoại giao nhân dân đóng vai trò quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng99
Kết luận101
Tài liệu tham khảo103
Phụ lục
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã giànhđược thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm
vi cả nước vẫn chưa hoàn thành Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền vớihai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc, hoàn toàn giải phóng, bước vào thời
kỳ quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp,
âm mưu chia cắt lâu dài nước Việt Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểumới và căn cứ quân sự
Lúc này, tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, đặc biệt là xu thếhoà hoãn đang tác động tiêu cực đến chiến lược của các nước đồng minh của ta.Tất cả các nước trên thế giới, kể cả Liên Xô và Trung Quốc đều chưa ủng hộViệt Nam dùng đấu tranh cách mạng thống nhất đất nước, mà đi vào xu thế hoàhoãn nhằm giữ nguyên trạng Châu Âu và nguyên trạng thế giới
Chính trong bối cảnh đó, Đảng đã phát huy cao độ tinh thần độc lập, tựchủ, sáng tạo trong việc phân tích tình hình, xác định đường lối chiến lược củacách mạng Việt Nam nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng Có thể nói, lịch
sử Việt Nam giai đoạn 1954-1960 đã chứng kiến quá trình nhận thức yêu cầucủa lịch sử, hình thành về cơ bản đường lối đối ngoại, đồng thời từng bước triểnkhai thực hiện đường lối đó, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế nhằm phục vụ sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ ởmiền Nam
Sự hình thành đường lối cách mạng Việt Nam nói chung và đường lối đốingoại của Đảng nói riêng trong giai đoạn 1954-1960 tạo cơ sở vững chắc, đồngthời để lại những kinh nghiệm quý báu cho các giai đoạn sau này
Với ý nghĩa trên, tôi chọn đề tài: “Đường lối, chính sách đối ngoại của
Đảng và Nhà nước Việt Nam giai đoạn 1954-1960” làm đề tài Luận văn của
mình
Trang 52 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đã có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến chính sách đối ngoại
của Đảng giai đoạn 1954-1960 như: “Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam” của Lưu Văn Lợi (Nhà xuất bản Công an nhân dân 1998); “Ngoại giao Việt Nam 1945-2000” của Nguyễn Dy Niên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia 2002);
“Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”, tập 1 (Nhà xuất bản Sự thật 1990) ; Ngoài ra, còn một số bài báo như: “Ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến cứu nước (1954-1975)” của Khắc Huỳnh (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4/2005); “Nhìn lại quan hệ Xô-Việt thời kỳ 1945-1975”
của Nguyễn Ngọc Mão, Vũ Thị Hồng Chuyên (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số3/1925)
Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu của nước ngoài về cuộc chiến
tranh của Mỹ ở Việt Nam cũng đa dạng và phong phú như: “Giải phẫu một cuộc chiến tranh” của Gabrien Côncô, (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội 1991); “Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày” của Maicơn Máclia,
(Nhà xuất bản Sự thật, 1990)
Những công trình trên đều đề cập đến đường lối đối ngoại của Đảng ởnhững khía cạnh khác nhau, song chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thểđường lối, chính sách đối ngoại của Đảng giai đoạn 1954-1960 một cách rõ nét
Trang 6- Phân đoạn lịch sử làm rõ tiến trình nhận thức cũng như sự hình thành vàphát triển đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ mới.
- Trình bày toàn bộ điều kiện lịch sử có tác động đến việc hình thànhchính sách đối ngoại của Đảng trong mỗi thời đoạn trên; những nội dung củađường lối đối ngoại cũng như biện pháp cụ thể nhằm thực hiện chủ trương đó
- Khái quát kết quả đạt được trong việc thực hiện đường lối đối ngoại củaĐảng, làm rõ những thành công và hạn chế của từng thời đoạn lịch sử đó
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng
- Quá trình nhận thức và xác định chính sách đối ngoại của Đảng từ
1954-1960, luận văn chỉ nghiên cứu vấn đề này trong giới hạn từ sau khi Hiệp địnhGiơnevơ được ký kết (7-1954) đến năm 1960
-Việc thực hiện chủ trương đối ngoại của Đảng trong giai đoạn này
- Kinh nghiệm lịch sử của Đảng trong việc xác định đường lối đối ngoại
và tổ chức triển khai thực hiện
5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Nguồn tài liệu
- Các Văn kiện Đảng giai đoạn 1954-1960
- Các tác phẩm của Hồ Chí Minh, tác phẩm của các đồng chí lãnh đạoĐảng và Nhà nước có liên quan đến đường lối đối ngoại của Đảng giai đoạnnày
- Các tác phẩm và công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoàinước, bao gồm các sách đã xuất bản, các bài đăng trên tạp chí khoa học
Trang 7- Tài liệu đang được lưu trữ trong cơ quan lưu trữ của Đảng và Nhà nước.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử nhằm sáng tỏ quá trình hìnhthành và phát triển đường lối đối ngoại của Đảng qua các thời đoạn khác nhau
- Đồng thời, sử dụng phương pháp logic nhằm làm rõ những vấn đề mangtính quy luật, nguyên tắc trong việc xác định và chỉ đạo thực hiện chính sách đốingoại
- Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như phươngpháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh để có cái nhìn tổng thể về quá trìnhhình thành chính sách đối ngoại của Đảng
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn được chialàm 3 chương:
Chương 1: Quá trình hình thành đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn 1954-1960.
Chương 2: Quá trình thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam giai đoạn 1954-1960
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1954-1960
Trang 8Đây là một thắng lợi lớn của nhân dân Việt Nam, Lào, Campuchia, nhândân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới Thắng lợi đó đã mởđường cho cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới, với nhữngđiều kiện thuận lợi mới, nhưng cũng đầy khó khăn, phức tạp Đất nước tạm thời
bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc, căn bảnhoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, bước vào thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội, trở thành cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiệnthống nhất nước nhà Ở miền Nam, chính quyền Aisenhao đã kiên quyết biếnmiền Nam Việt Nam thành một quốc gia riêng, là “thành trì chống chủ nghĩacộng sản”, là “cơ sở để chứng minh cho nền dân chủ ở châu Á của Mỹ” theotuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Đalet: Điều quan trọng nhất không phải là khócthan cho quá khứ mà phải nắm lấy cơ hội tương lai nhằm ngăn cản không để mấtmiền Nam Việt Nam, để cuối cùng dẫn đến chỗ chủ nghĩa cộng sản có ưu thếtrên toàn cõi Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương
Để thực hiện được âm mưu trên, Mỹ đã áp đặt ở miền Nam Việt Nam chủnghĩa thực dân kiểu mới mà đặc điểm của nó là ở chỗ “được thực hiện khôngphải bằng hệ thống cai trị trực tiếp của bọn đế quốc mà thông qua một chínhquyền tay sai đại biểu quyền lợi của giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản mạibản khoác áo “dân tộc dân chủ giả hiệu”[12;tr.18] Ngày 7-7-1954, Mỹ đưa NgôĐình Diệm lên làm Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, ngày 17-7-1955, theo sựchỉ đạo của Mỹ, Diệm tuyên bố không hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhấtđất nước Ngày 23-10-1955, với những biện pháp mua chuộc và lừa bịp, NgôĐình Diệm đã tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại và tự lên ngôi Tổngthống nguỵ quyền Hoàn cảnh mới của thế giới và tình hình Việt Nam lúc bấygiờ không cho phép đế quốc Mỹ cai trị miền Nam theo lối của thực dân Pháptrước đây Áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, đế quốc Mỹ lừa bịp nhân dânthế giới và nhân dân ta bằng cách dựng lên một chính quyền bản xứ có đủ hìnhthức thức cần thiết, mà chúng coi là độc lập Chỉ trong vòng gần một năm, Mỹ
đã hoàn thành việc thay thế chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp và áp đặt chủnghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Chính quyền mới ra đời là
Trang 9kết quả của sự đầu hàng của Pháp đối với Mỹ, khẳng định thất bại của đế quốcPháp về quân sự và chính trị trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Tuynhiên, tư cách pháp lý của chính quyền miền Nam không vì thế mà thay đổi:Ngô Đình Diệm kế nghiệp Bảo Đại, chính quyền miền Nam vẫn chỉ có nhiệm vụcùng với Pháp phụ trách việc quản lý hành chính ở miền Nam để chờ đợi tổngtuyển cử, đồng thời cùng với Pháp thi hành triệt để các điều khoản của Hiệpđịnh Giơnevơ Như vậy, đứng về mặt pháp lý cũng như thực tế lịch sử, không cómột cơ sở nào để bè lũ Ngô Đình Diệm thiết lập một nhà nước riêng biệt ở miềnNam Việt Nam Và cái “nhà nước” mà Mỹ – Diệm đã dựng lên ở miền Nam vàđặt tên là “nước Việt Nam cộng hoà” là kết quả trực tiếp của việc chúng pháhoại Hiệp định Giơnevơ Nhà nước đó hoàn toàn bất hợp pháp.
Để che đậy bản chất thuộc địa đã lỗi thời, lừa phỉnh nhân dân và dư luậnthế giới, Mỹ đã khoác cho chính quyền Ngô Đình Diệm một hình thức độc lậpquốc gia giả hiệu, có quốc hội, có hiến pháp, có quân đội nhưng thực tế, chínhquyền miền Nam lúc bấy giờ không phải là một chính quyền độc lập Đế quốc
Mỹ đặt cố vấn khắp nơi, nắm các ngành hoạt động quan trọng, liên tiếp đưa cácphái đoàn nhân viên quân sự và vũ khí nhằm lập căn cứ quân sự ở miền Nam
Mỹ lấy danh nghĩa là giúp đỡ Diệm những thực chất Mỹ dùng viện trợ để
“buộc” chặt chính quyền Ngô Đình Diệm vào Mỹ Chúng ra sức tuyên truyềnlừa bịp quần chúng nhân dân từng nơi, từng lúc với những thủ đoạn mị dân như
“chống tứ đổ tường", "diệt dốt", "phục hồi văn hoá Á Đông", "cộng đồng hươngthôn” Những luận điệu tuyên truyền của chúng trái ngược với thực tế của một
xã hội thối nát, vì vậy, Mỹ - Diệm không thể che giâú bộ mặt phản dân tộc củamột chính quyền ngoại lai bán nước, không thể tìm được chỗ dựa trong các tầnglớp nhân dân
Ngay sau khi lên nắm chính quyền, Mỹ - Diệm liên tiếp tiến hành nhữnghành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ ngày càng nghiêm trọng và có hệ thống.Ngô Đình Diệm công khai nhận viện trợ của Mỹ về vũ khí, dụng cụ chiến tranh
và nhân viên quân sự, để cho Mỹ lập căn cứ quân sự và gây chiến tranh trên lãnhthổ miền Nam Việt Nam Trái với những điều 16,17 của Hiệp định đình chiến,
Trang 10chúng đàn áp phong trào cách mạng, mở những cuộc hành quân càn quyét, cácchính sách tố cộng, diệt cộng với phương châm “đạp lên oán thù, thà giết nhầmcòn hơn bỏ sót” Theo thống kê chưa đầy đủ, trong thời gian từ 1954-1960, Mỹ-Diệm đã giết hại hơn 90.000 người yêu nước, bắt bớ, tra tấn, giam cầm hơn800.000 người khác trong hơn 1000 nhà tù Điều hết sức nghiêm trọng là chúngphá hoại các điều khoản chính trị của Hiệp nghị Giơnevơ không thực hiện thốngnhất nước nhà bằng tổng tuyển cử tự do trong cả nước (7-1956) Âm mưu vàbản chất xâm lược miền Nam Việt Nam của đế quốc Mỹ đã được bộc lộ rõ.
Chính trong thời gian này, Đa-lét và Ngô Đình Diệm đã hình thành mộtcương lĩnh hành động chung chống chủ nghĩa cộng sản Theo cương lĩnh đó,những nghị quyết của Hội nghị Giơnevơ nhằm tiến hành tổng tuyển cử ở ViệtNam vào tháng 7/1956 hoàn toàn không phù hợp với đường lối của họ nhằm duytrì sự chia cắt đất nước hoặc biến miền Nam thành một nước được Mỹ bảo hộ
hoàn toàn Tờ báo Anh Thế giới Phương Đông hồi đó có viết: Mỹ đang cố hết
sức biến miền Nam Việt Nam thành pháo đài chống cộng Chế độ Diệm là do
Mỹ dựng lên, tổ chức và trả lương để nhằm ngăn trở việc thi hành Hiệp định
Giơnevơ Các tác giả đăng tài liệu mật trên tờ Thời báo – Mặt trời Chi-ca-gô
những người lãnh đạo ở Oa-sinh-tơn đã hết sức thán phục việc Ngô Đình Diệmbiết cách đàn áp nhanh chóng và có hiệu quả đến như vậy Chính vì vậy màAisenhao và Đa-lét đã tìm mọi cách duy trì chế độ Ngô Đình Diệm mặc dù theonhận xét của Cục tình báo Trung ương Mỹ về tình hình miền Nam Việt Namcho biết triển vọng thiết lập một “chế độ vững chắc” “hết sức nhỏ” và điều chắcchắn hơn là tình hình hiện nay sẽ tiếp tục xấu dần trong năm tới
Chủ trương can thiệp và xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ không được
sự nhất trí ủng hộ ngay trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ Vì lý do này hay lý dokhác, nhiều người đã sớm nhận ra hậu quả của sự can thiệp này Ngày 23-10-
1954, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Uynxơn đã lên tiếng phản đối việc Mỹ canthiệp vào Việt Nam và cho rằng Mỹ nên rút khỏi khu vực này Đó là nhữngtiếng nói thức thời, có lương tri, biết cân nhắc đâu là lợi ích thực sự của nước
Mỹ Việc Mỹ quyết tâm biến miền Nam Việt Nam thành một phòng tuyến
Trang 11chống cộng bằng cách trực tiếp nắm lấy bộ máy nguỵ quyền, nguỵ quân từ cơ
sở, (do các cố vấn Mỹ quyết định mọi vấn đề), còn tạo ra mâu thuẫn ngày càngtăng giữa Mỹ và chính quyền tay sai Mặc dù, chính quyền Ngô Đình Diệm phảidựa vào Mỹ để tồn tại nhưng trong suốt một thời gian dài, tập đoàn Ngô ĐìnhDiệm vẫn tìm mọi cách đấu tranh, hạn chế sự lấn át của Mỹ để vớt lại một phầnquyền lực tương đối độc lập của mình
Như vậy, rõ ràng đế quốc Mỹ âm mưu phá hoại Hiệp định Giơnevơ từ khi
nó được ký kết như lời Tổng thống Aixenhao tuyên bố ngày 22-7-1954: Hoa Kỳkhông dự vào những quyết định của hội nghị và không bị ràng buộc vào nhữngquyết định ấy Cũng như Tổng thống của mình, khi còn là thượng nghị sĩ,Kennơdy đã nhấn mạnh “Việt Nam là hòn đá tảng của thế giới tự do ở ĐôngNam Á Đó là con đẻ của chúng ta, chúng ta không thể từ bỏ nó”[41; tr.43].Chính vì lẽ đó, trong học thuyết Đôminô của mình, Mỹ chọn Việt Nam làmtrọng điểm của chính sách xâm lược Nếu mất Việt Nam, Mỹ có thể mất nhiềunơi trên thế giới, trước hết là khu vực Đông Nam Á Đánh bại Việt Nam, Mỹ sẽđánh bại được phong trào giải phóng dân tộc, đánh bại được chủ nghĩa xã hội ởvùng này Và Mỹ chắc rằng với một lực lượng nguỵ quyền, nguỵ quân cùngkhối lượng vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại mà Mỹ đem đến ViệtNam, chiến thắng sẽ nhanh chóng thuộc về Mỹ Nhưng thực tế lịch sử đã chứngminh điều hoàn toàn ngược lại Một trong những nguyên nhân dẫn đến thất bại
bi thảm của Mỹ ở Việt Nam đó là Mỹ đã đánh giá thấp đất nước, xã hội và conngười Việt Nam, không hiểu biết lịch sử Việt Nam như lời nhận định của chính
Mc Namara “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩymột dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt Cộng) đấu tranh và
hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó Chúng ta đã đánh giá nhân dân và cácnhà lãnh đạo Nam Việt Nam theo kinh nghiệm của chính chúng ta Chúng ta đãnhìn thấy họ niềm khát khao và quyết tâm chiến đấu giành tự do và dân chủ.Chúng ta đã đánh giá hoàn toàn sai các lực lượng chính trị trongnước”[41;tr.316]
Trang 12Sau chín năm kháng chiến, miền Nam chưa có ngày hoà bình Một lầnnữa, cách mạng miền Nam lại đứng trước những thử thách tưởng chừng khóvượt qua Tình hình trên cho thấy đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việclập lại hoà bình ở Đông Dương và đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp củanhân dân Đông Dương
Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây chưa hoànthành Cuộc đấu tranh vì nước Việt Nam độc lập, hoà bình, dân chủ chưa kếtthúc Lúc này, trách nhiệm lịch sử lại một lần nữa đặt lên vai Đảng Lao độngViệt Nam Cách mạng Việt Nam đứng trước nhiều vấn đề phải giải quyết như:miền Bắc chờ miền Nam hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân hayquá độ đi lên chủ nghĩa xã hội? Nếu chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩathì biện pháp, hình thức, bước đi nên như thế nào? Miền Nam trường kỳ khángchiến, chịu chia cắt lâu dài hay tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đểgiải phóng hoàn toàn? Đưa cách mạng miền Nam tiến lên bằng con đường hoàbình hay bạo lực cách mạng? Con đường giải phóng miền Nam làm thế nào đểgiữ vững hòa bình ở miền Bắc, không để lan thành chiến tranh khu vực hoặcchiến tranh biên giới?
Trước tình hình đó, đường lối cách mạng của Đảng đề ra trong thời kỳnày được triển khai qua các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng và đượchoàn thiện tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 3 của Đảng (9-1960) Đại hội
đã xác định: “Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụchiến lược: Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Hai là,giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thựchiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cảnước”[21;tr.916] Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có mối quan hệ mật thiết và gắn
bó khăng khít với nhau Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là một nhiệm
vụ tất yếu sau khi đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, làm chomiền Bắc ngày càng vững mạnh về mọi mặt, tạo cơ sở cho cách mạng giảiphóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng cả nước Vì vậy, “tiến hànhcách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự
Trang 13phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nướcnhà”[21;tr.917] Trong sự nghiệp hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhândân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, “đồng bào ta ở miền Nam cónhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai củachúng để giải phóng miền Nam”[21;tr.917] Mặc dù nhiệm vụ cách mạng ở haimiền thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụthể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm thời bị chia cắt song đều hướngtới mục tiêu chung trước mắt là hoà bình thống nhất Tổ quốc Trong đó, nhiệm
vụ chung của cách mạng Việt Nam hiện nay là “tăng cường đoàn kết toàn dân,kiên quyết đấu tranh giữ vững hoà bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa
ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miềnNam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựngmột nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiếtthực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam
Á và thế giới”[21;tr.918]
Như vậy, có thể thấy rằng, sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết đặcđiểm tình hình mới của đất nước Việt Nam đã quy định hai chiến lược cáchmạng khác nhau giữa hai miền, đồng thời nó chi phối việc xác định chủ trươngchính sách đối ngoại trong thời kỳ mới Thực chất, chính sách đối ngoại là biểuhiện của chính sách đối nội trên phạm vi quốc tế, phản ánh quan điểm, lậptrường của Đảng và lợi ích của nhân dân
1.1.2 Bối cảnh quốc tế – một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng (1954-1960)
Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, mục tiêu chủ yếu của Mỹ là tìm cáchngăn chặn và tiêu diệt hệ thống chủ nghĩa xã hội nhưng âm mưu đó chưa thểthực hiện được khi hệ thống chủ nghĩa xã hội đang lan rộng từ châu Âu sangchâu Á và ngày càng phát triển mạnh Liên Xô - trụ cột, thành trì của chủ nghĩa
xã hội không bị suy yếu mà trái lại còn hùng mạnh và vững chắc hơn trước.Năm 1955, Liên Xô đã hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1950-1955)trước thời hạn Tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô năm 1955 tăng 85% so
Trang 14với năm 1950, nhiều gấp 3.2 lần so với trước chiến tranh Từ năm 1956 đến năm
1961, gần 6000 xí nghiệp được xây dựng và đi vào sản xuất Bên cạnh đó, ngànhnông nghiệp cũng có những bước phát triển đáng kể, mạng lưới giao thông được
mở rộng, những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trong việc phóng vệ tinh và hànhtinh nhân tạo lên vũ trụ làm cho uy tín của phe xã hội chủ nghĩa tăng rõ rệt Sứcmạnh về kinh tế và quốc phòng của Liên Xô đã làm đảo lộn chiến lược “trả đũa
ồ ạt” của đế quốc Mỹ Mùa hè năm 1955, Chính phủ các nước Liên Xô, Mỹ,Anh, Pháp họp ở Giơnevơ Liên Xô đã góp phần tích cực làm cho Hội nghị nhấttrí tuyên bố cùng nhau làm dịu đi tình hình thế giới, gạt bỏ mối đe doạ của chiếntranh Tình hữu nghị của Liên Xô và các nước Á - Phi ngày càng được củng cố,tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết chính sách đối ngoại hoà bình hữu nghị
và thiện chí của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác Đối với vấn đề anninh tập thể ở châu Âu và châu Á, Liên Xô chủ trương tạo ra ở Châu Âu nhữngđảm bảo vững chắc cho hoà bình và những điều kiện cần thiết cho sự hợp táckinh tế lâu dài giữa tất cả các nước ở lục địa này
Các nước Đông Âu là những nước bị tàn phá nặng nề trong cuộc Chiếntranh thế giới lần thứ hai Sau khi hoà bình được lập lại, với sự giúp đỡ của Liên
Xô, nhân dân lao động ở những nước này xây dựng lại đất nước, khôi phục vàphát triển nền kinh tế quốc dân với tốc độ khá nhanh
Cùng với Liên Xô, Trung Quốc cũng bước vào thời kỳ cách mạng xã hộichủ nghĩa, thực hiện nhiệm vụ đưa Trung Quốc từ một nước nông nghiệp nghèonàn, lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bảnchủ nghĩa Đến năm 1954, giá trị sản lượng công, nông nghiệp toàn quốc gấp 2,2lần năm 1949 Đời sống vật chất và văn hoá của mọi tầng lớp nhân dân đượcnâng cao rõ rệt Chính quyền nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đãđoàn kết được toàn dân hướng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ những thành quả cách mạng đã giành được Trong những năm 1954-1955,tình hữu nghị giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với các nước Á - Phi được
mở rộng và phát triển lên một bước mới Tại nhiều hội nghị quốc tế, nước Cộng
Trang 15hoà Nhân dân Trung Hoa có vai trò và tiếng nói quan trọng Uy tín quốc tế củaTrung Quốc trong thời kỳ này được nâng lên rõ rệt
Quan hệ hoà bình, hữu nghị, hợp tác Liên Xô, Trung Quốc và các nước xãhội chủ nghĩa Đông Âu trong những năm 50 đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triểncủa cách mạng thế giới Liên Xô, Trung Quốc đã cùng nắm tay nhau tích cựcủng hộ phong trào giải phóng dân tộc như cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam (1946-1954) Đặcbiệt, tháng 5 năm 1955, tổ chức Hiệp ước Vacxava ra đời nhằm đối phó với việcphục hồi chủ nghĩa quân phiệt Tây Đức và khối Bắc Đại Tây Dương (NATO) đãkhẳng định sức mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa Các nước tham gia Hộinghị Vacsava (từ ngày 11 đến 14-5-1955) đã quyết định ký Hiệp ước hữu nghị,hợp tác và tương trợ Vacxava với thời hạn 20 năm nhằm giữ gìn an ninh của cácnước hội viên (bao gồm Anbani, Bungari, Hungari, Cộng hoà Dân chủ Đức, BaLan, Rumani, Liên Xô và Tiệp Khắc), duy trì hoà bình ở châu Âu và củng cốhơn nữa tình hữu nghị và hợp tác vững bền giữa các nước
Mặc dù trong thời gian này có một số bất đồng, mâu thuẫn trong hệ thống
xã hội chủ nghĩa song nhìn chung các nước vẫn giữ được sự thống nhất Tại Hộinghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân tại Matxcova năm 1957 đã raTuyên bố kêu gọi các Đảng Cộng sản, các lực lượng dân chủ, tiến bộ, hợp tácvới các nước xã hội chủ nghĩa trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc,dân sinh, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, khẳng định sự trung thành với chủ nghĩaMác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, lên án những biểu hiện của chủ nghĩaxét lại trong một số Đảng ở một số nước Chỉ 3 năm sau Hội nghị Matxcova
1957 đã có nhiều biến động quan trọng diễn ra trên thế giới và trong phong tràocộng sản quốc tế Trong bối cảnh phức tạp đó, Hội nghị đại biểu của 81 ĐảngCộng sản và công nhân họp ở Matxcova (11-1960) đã xác định nhiệm vụ hàngđầu của các Đảng Cộng sản và công nhân là bảo vệ và củng cố hoà bình, ngănchặn bọn đế quốc hiếu chiến phát động chiến tranh thế giới mới, tăng cườngđoàn kết phong trào cộng sản đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xãhội
Trang 16Cùng với sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giảiphóng dân tộc có những bước phát triển mới, bao trùm các nước Trung Đông,lan nhanh sang Châu Phi và Mỹ Latinh, làm tan rã từng mảng hệ thống thuộcđịa, đưa nhiều quốc gia bước vào thời kỳ độc lập về chính trị, thoát khỏi tìnhtrạng lệ thuộc về kinh tế Tháng 4-1955, Hội nghị Băngđung được triệu tập với
sự tham gia của 29 nước Á, Phi Hội nghị đã đánh dấu việc các nước Á, Phiquyết định bước lên vũ đài lịch sử, đoàn kết với nhau từ những phong trào lẻ tẻ,tách rời, liên kết với nhau trong một mặt trận thống nhất của các dân tộc bị ápbức chống chủ nghĩa đế quốc thực dân Sau Hội nghị Băngđung, phong trào giảiphóng dân tộc phát triển mạnh mẽ như vũ bão, nhiều nước Á, Phi, Mỹ Latinhgiành độc lập ở mức độ khác nhau
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã gợi lên cho nhân dân, trước hết là các lựclượng cách mạng ở các nước châu Phi những suy nghĩ mới về đường lối vàphương pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân Tháng 8-1954, Đảng Cộngsản Marốc ra tuyên bố đòi chính phủ Pháp phải chấm dứt các hành động đàn áp,khủng bố những người yêu nước, phải thả tù chính trị Theo kinh nghiệm củanhân dân Việt Nam, nhân dân Marốc đã cầm vũ khí, kiên trì cuộc đấu tranhgiành độc lập dân tộc Ở các nước châu Phi khác như: Tuynidi, Angiêri, Mali phong trào đấu tranh giành độc lập cũng phát triển mạnh mẽ với khí thế sôi nổi.Điển hình là phong trào giải phóng ở Angiêri Mặt trận giải phóng dân tộcAngiêri ra đời được sự hưởng ứng của phần lớn các đảng phái và tổ chức yêunước, đại diện cho các giai cấp công nhân, nông dân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản,
và các tầng lớp khác trong xã hội Cuộc chiến đấu của nhân dân Angiêri bắt đầu
nổ ra ngày 1-11-1954 và được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thếgiới Tiếp đó, năm 1956, 3 nước Bắc Phi: Tuynidi, Marốc, Xuđăng giành độclập Tháng 3-1957, nước cộng hoà Gana ra đời, mở đầu thời kỳ vùng dậy củacác nước Tây Phi, để rồi đến năm 1960 - có 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập
và đi vào lịch sử với tên gọi “Năm Châu Phi”
Châu Á - đối tượng xâm lược của các đế quốc châu Âu và Bắc Mỹ từhàng trăm năm, cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc ở đây được tiếp thêm
Trang 17sức mạnh rõ rệt, đặc biệt là ở Đông Dương, sự đoàn kết gắn bó giữa nhân dân banước Việt Nam – Lào – Campuchia càng thêm chặt chẽ, để chuẩn bị đối phó vớinhững thủ đoạn xâm lược kiểu thực dân mới mà đế quốc Mỹ đang triển khai tíchcực.
Đặc biệt, ngày 1-1-1959, cách mạng Cuba giành thắng lợi và tháng5/1960, Chính phủ Cuba tuyên bố gia nhập hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa,bất chấp sự ngăn chặn thù địch của Mỹ Cách mạng Cuba thành công trên mộtđất nước nằm ngay ở cửa ngõ nước Mỹ đã xua tan ấn tượng về sức mạnh củabọn tư bản thống trị, củng cố lòng tin vào sức mạnh của quần chúng nhân dân,làm cho nhân dân các nước Mỹ Latinh càng giác ngộ về nhiệm vụ đấu tranhgiành quyền sống và độc lập tự do cho dân tộc mình Cuba đã trở thành ngọn cờđầu của phong trào giải phóng dân tộc ở Mỹ Latinh Bằng việc công nhận hàngloạt các nước Á, Phi, Mỹ Latinh giành độc lập, các nước đế quốc phương Tâyphải thừa nhận sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới
Thêm vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của phong trào vì hoà bình dân chủ
và tiến bộ của giai cấp công nhân ở các nước tư bản “Nếu phong trào giảiphóng dân tộc ở thuộc địa có tác dụng đánh phá các hậu phương của chủ nghĩa
đế quốc thì phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở chính quốc có tácdụng công phá vào sào huyệt của CNTB”[45;tr.24] Sau chiến thắng Điện BiênPhủ ở Việt Nam, cuộc đấu tranh giữa các lực lượng dân chủ với các lực lượngphản động ở các nước tư bản ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn, phongphú và linh hoạt Ở Pháp, Italia, nhiều cuộc đấu tranh để bảo vệ chế độ dân chủ,chống chế độ phản động của nền chuyên chế cá nhân cũng phát triển bằng nhiềuhình thức Ở nhiều nước Mỹ Latinh, giai cấp cầm quyền vẫn tiếp tục đi theo conđường cai trị của thực dân Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đã bị lật đổ, làm chođời sống nhân dân vẫn chịu cảnh cơ cực, xã hội càng suy thoái Lạm phát, nợnần, đói rách là những vấn đề nhức nhối kéo dài mà chính quyền không giảiquyết được Nhân dân đã nổi dậy lật đổ chính quyền ở nhiều nước Ở Châu Á,cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống sự hà khắc của chính quyền tư sảncũng không kém phần sôi nổi, quyết liệt Những cuộc biểu tình, mitting trong
Trang 18các tầng lớp nhân dân diễn ra mạnh mẽ ở Nhật Bản, Hàn Quốc Bên cạnh đó,hoà chung với phong trào chống đế quốc, chính phủ các nước Ấn Độ, MiếnĐiện, Nam Dương tích cực thực hiện chính sách ngoại giao độc lập, tự chủ, xoá
bỏ những ảnh hưởng của thực dân trên đất nước mình Tháng 6-1954, Chính phủ
Ấn Độ và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố về năm nguyên tắc cùngtồn tại hoà bình:
1 Tôn trọng chủ quyền và sự thống nhất lãnh thổ của nhau
2 Không xâm lược lẫn nhau;
3 Không can thiệp vào nội chính của nhau
4 Bình đẳng và có lợi cho hai bên;
5 Cùng tồn tại trong hoà bình
Bản tuyên bố này được chính phủ các nước ủng hộ và coi đó là nămnguyên tắc bất di bất dịch của mối quan hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới.Hội nghị Băngđung (4-1955) cũng nhấn mạnh hơn nữa năm nguyên tắc này
Như vậy, có thể thấy rằng, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, tìnhhình thế giới có những thuận lợi đáng kể: chủ nghĩa xã hội đã hình thành hệthống và phát triển mạnh mẽ khắp toàn cầu, phong trào giải phóng dân tộc vàphong trào dân chủ vì hoà bình, tiến bộ trên thế giới nổ ra rộng rãi, sôi nổi Sứcmạnh tổng hợp của ba yếu tố trên đã tạo nên thế tiến công toàn diện vào chủnghĩa đế quốc, cổ vũ phong trào cách mạng thế giới nói chung, phong trào cáchmạng ở Việt Nam thời kỳ 1956-1960 nói riêng
Cũng trong thời kỳ này, trong nội bộ của chủ nghĩa tư bản cũng có nhữngbiến động đáng kể Là cường quốc số 1 thế giới, mục tiêu nhất quán trong chínhsách đối ngoại của Mỹ là giành, giữ ảnh hưởng thị trường thế giới và trở thành
bá chủ thế giới Mục tiêu đó xuyên suốt mấy thế kỷ qua và được các nhà cầmquyền Mỹ đặt lên hàng đầu Để làm được điều đó, không phải chỉ có sức mạnhquân sự, kinh tế và chính trị, mà còn cần có một chiến lược toàn cầu phù hợp,một chính sách xâm nhập và bành trướng khôn khéo Sau Chiến tranh thế giới
II, Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu, ráo riết chạy đua vũ trang, can thiệp thôbạo vào công việc nội bộ của các nước, tổ chức đảo chính, dựng lên những
Trang 19chính quyền bù nhìn tay sai Chiến lược toàn cầu của Mỹ gồm có chiến lượcchung (chiến lược tổng quát) và chiến lược quân sự toàn cầu Chiến lược chungbao gồm những quan điểm, tư tưởng và phương hướng chỉ đạo chiến lược chotất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao và thường được mang tênhọc thuyết hoặc chủ nghĩa (Học thuyết Tơruman có chiến lược quân sự toàn cầu
là “chiến lược ngăn chặn”; Chủ nghĩa Aixenhao có chiến lược quân sự toàn cầu
là “trả đũa ồ ạt”’ Học thuyết Kennơdy có chiến lược quân sự toàn cầu là “phảnứng linh hoạt” ) Mỹ đã giương cao khẩu hiệu “Chống bành trướng của chủnghĩa cộng sản” làm ngọn cờ chủ đạo để tập hợp lực lượng trong suốt thời kỳchiến tranh lạnh với nhiều tên gọi khác nhau như “Ngăn chặn và đẩy lùi”, “Trảđũa ồ ạt”, “Bên miệng hố chiến tranh” Thực hiện âm mưu bá chủ thế giới, Mỹtập hợp các nước đế quốc trong các liên minh quân sự do Mỹ cầm đầu: Tổ chứchiệp ước Đông Nam Á (SEATO), khối CENTO ở Trung Cận Đông (1959), vànhiều hiệp định song phương khác Trong quá trình điều chỉnh chiến lược ngănchặn ở Châu Á, giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiện thấy lúc này hướng yếunhất trong chiến lược của Mỹ ở Châu Á là Đông – Nam Á, một khu vực rộnglớn tiếp xúc với Trung Quốc ở phía Nam Đông – Nam Á có tầm quan trọng vềchiến lược, nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biển Thái Bình Dương và Ấn
Độ Dương.Chiến lược ngăn chặn Đông Nam Á bắt đầu và Đông Dương trởthành trọng điểm của chiến lược này
Sau một thời gian dài tiến hành chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang,cuộc ganh đua giữa hai cường quốc Xô - Mỹ đã bắt đầu chững lại, thay vào đó
là xu thế hoà hoãn Xu thế này được khẳng định rõ hơn với Hiệp định Đìnhchiến ở Triều Tiên và Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương Từ sau Đại hội ĐảngCộng sản Liên Xô lần thứ XX (1956), N.Khơrútxôp chính thức lên nắm quyền,đưa ra kế hoạch nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩacộng sản trong vòng 20 năm Để thực hiện mục tiêu đó, Liên Xô đã đề nghị với
Mỹ giảm bớt chạy đua vũ trang, giữ nguyên trạng Châu Âu với khẩu hiệu “Thiđua hoà bình”, “Chung sống hoà bình, tập trung xây dựng kinh tế, ổn định tình
Trang 20hình chính trị” Đối với phong trào cách mạng thế giới, Liên Xô chủ trương đấutranh giành chính quyền bằng phương pháp hoà bình
Nhìn chung, lúc này Đông Nam Á nói chung và Đông Dương nói riêngkhông phải là mối quan tâm hàng đầu của Liên Xô Thời gian cuối thập niên 50,Liên Xô tập trung viện trợ cho một số nước Ở Châu Á có Ấn Độ, Inđônêxia; ởChâu Phi có Ai Cập; ở Châu Mỹ có Cuba Liên Xô coi những nước này là đồngminh chiến lược quan trọng Còn đối với Việt Nam, Liên Xô tự đặt vị trí củamình là quan sát viên, tránh đụng đầu với Mỹ Liên Xô thúc đẩy việc thi hànhcác điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về tập kết, chuyển quân, giải phóng miềnBắc, viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà khôi phục và xây dựng kinh tế.Coi miền Nam Việt Nam là một bộ phận của phong trào độc lập dân tộc, Liên
Xô muốn Việt Nam đấu tranh chính trị, pháp lý để từng bước giải quyết vấn đềmiền Nam Liên Xô đã phản ứng một cách dè dặt, không dứt khoát với việc Mỹ
- Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ Năm 1957, Liên Xô đề nghị kết nạp cảmiền Nam và Bắc Việt Nam vào Liên Hợp Quốc Điều đó chứng tỏ trên thực tếchủ trương hoà hoãn Xô - Mỹ buộc Liên Xô thừa nhận khu vực ảnh hưởng của
Mỹ ở Châu Á Thực tế lịch sử cho thấy, sự thay đổi quan điểm của Liên Xôtrong quan hệ với Việt Nam diễn ra một cách chậm chạp do gặp phải nhiều lựccản từ phía Mỹ
Sau khi hoà bình lập lại ở Đông Dương, Trung Quốc tăng cường quan hệvới các nước xã hội chủ nghĩa, duy trì và mở rộng quan hệ với Liên Xô, tỏ thái
độ hoà hoãn với Mỹ và tìm cách bình thường hoá với một số nước phương Tây.Trên con đường tập hợp lực lượng, Trung Quốc chủ trương lấy vấn đề ủng hộViệt Nam làm khẩu hiệu thu phục nhân tâm Trung Quốc xem Việt Nam là đốitác trung gian tốt nhất để có thể đưa ra đàm phán với Liên Xô và Mỹ khi cầnthiết Để khống chế được Việt Nam, Trung Quốc vận động Việt Nam thi hànhtốt Hiệp định Giơnevơ năm 1954, viện trợ cho Việt Nam hàn gắn vết thươngchiến tranh Riêng đối với miền Nam, Trung Quốc cho rằng ta nên trường kỳmai phục, không nên nóng vội phát động đấu tranh vũ trang Nhiệm vụ trướcmắt của cách mạng Việt Nam là tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Trang 21vững mạnh, trở thành cơ sở vững chắc cho cách mạng cả nước Thái độ này củaTrung Quốc là hoàn toàn dễ hiểu Một trong những nét nổi bật nhất của chínhsách ngoại giao của Trung Quốc đó là thường xuyên muốn duy trì hoà bình ởsườn phía Nam bằng cách thiết lập một sự cân bằng dựa trên sự kình địch giữacác quốc gia trong khu vực Ngay trong thời gian Hội nghị Giơnevơ diễn raTrung Quốc đã nhiều lần ngăn cản mục đích của Việt Minh bằng chính sách cổđiển đó của họ Lập trường của Trung Quốc là “Trung Quốc có thể chấp nhậnViệt Nam có hai chính quyền (Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chínhphủ Bảo Đại)”[50;tr.28] Những người lãnh đạo Trung Quốc muốn chấp dứtchiến tranh ở Việt Nam theo giải pháp kiểu Triều Tiên Với giải pháp có tínhchất thoả hiệp với thực dân Pháp như vậy, Trung Quốc hy vọng tạo một khuđệm ở Đông Nam Á, ngăn chặn Mỹ vào thay thế Pháp ở Đông Dương, bảo bảo
an ninh biên giới phía Nam của Trung Quốc
Nước Pháp sau thất bại ở Việt Nam đã rơi vào tình trạng suy thoái kéo dàitrong nhiều năm Những cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước khác trong hệthống thuộc địa của Pháp, việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và ổn định tình hìnhnội bộ, cũng như giải quyết những mối quan hệ phức tạp giữa các nước Tây Âulúc đó, đặt chính phủ Pháp trước tình cảnh vô cùng bê bối Nền tài chính kiệtquệ, lạm phát tăng nhanh, mức sống của nhân dân giảm sút, làm cho vai trò củanước Pháp trên trường quốc tế giảm sút nghiêm trọng Tình hình trên làm choPháp càng bị ràng buộc vào viện trợ và chính sách của Mỹ trong các vấn đềquốc tế Thái độ của Pháp sau Hiệp định Giơnevơ là biểu hiện của sự ràng buộc
đó Chính phủ Pháp vừa muốn thiết lập các quan hệ kinh tế – văn hoá với miềnBắc Việt Nam, để tạo ra những thuận lợi trong tương lai, vừa muốn không làmphật ý Mỹ để tiếp tục được Mỹ viện trợ Chính sách đó đã hoàn toàn bị phá sảnkhi Mỹ độc chiếm miền Nam Việt Nam và tiếp tục cuộc chiến tranh mà Phápkhông theo đuổi được Pháp đã không làm hết trách nhiệm thi hành Hiệp địnhGiơnevơ mà họ đã ký kết
Cùng với Pháp, là một nước thắng trận trong cuộc chiến tranh thế giới lầnthứ 2 nhưng vào những năm 50, nước Anh không còn giữ được vai trò quốc tế
Trang 22của mình như trước nữa Hệ thống thuộc địa của Anh tan rã không thể cứu vãnnổi, nền tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng đã làm cho những người cầmquyền nước Anh phải nhượng bộ Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế Chính bởi nhưvậy, việc Anh làm ngơ trước những hành động ngang nhiên của Mỹ ở ĐôngDương cũng là lẽ đương nhiên, trong khi đáng lẽ với vai trò là một trong haiChủ tịch Hội nghị Giơnevơ, Anh phải có trách nhiệm lên tiếng về vấn đề này
Thực ra, cần phải thấy một thực tế rằng chủ nghĩa đế quốc đã có ý đồ vềmột giải pháp chia cắt Việt Nam từ lâu Anh đã vận động Pháp và Mỹ tán thànhgiải pháp này Ngày 29-3-1954, ngoại trưởng Đalét nhấn mạnh: Việc Liên Xô vàTrung Quốc áp đặt chế độ thống trị cộng sản đối với khu vực Đông Nam Á bằngbất cứ biện pháp nào, là nguy cơ nguy hiểm cho toàn bộ thế giới tự do Cần phảichống lại nguy cơ đó bằng hành động chung Làm như thế sẽ rất nguy hiểm,nhưng còn ít nguy hiểm hơn là tình hình sau đây vài năm nữa, nếu bây giờkhông dám đánh trả quyết liệt Và người Mỹ đã đến Giơnevơ với những kếhoạch của họ Tuy nhiên, có một điều người Mỹ không hiểu rằng: Họ không thểnào mua được bằng đôla Mỹ một dân tộc đã từng không tiếc máu xương vì độclập, thống nhất Mỹ không thể nào duy trì được miền Nam – ngay cả bằng việntrợ của Mỹ – một chính phủ công khai chống lại sự thống nhất của đất nước
Song song với xu thế hoà hoãn Xô-Mỹ, trong thời gian này, lịch sử thếgiới đã chứng kiến những bất đồng nảy sinh trong phe xã hội chủ nghĩa, đặc biệt
là mâu thuẫn Xô - Trung Thực ra, mâu thuẫn này đã xuất hiện từ năm 1945 saukhi Hội nghị Ianta diễn ra, Mao Trạch Đông đã không tán thành việc đi theođường lối của Liên Xô, ông chủ trương dựa vào Mỹ để tiến lên Quan hệ Liên
Xô - Trung Quốc dịu đi sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) và ngàycàng tốt đẹp, đánh dấu bằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nướcnhư: Chủ tịch Mao Trạch Đông thăm Matxcơva và ký Hiệp ước Xô - Trung 14-2-1950; Khơrutxôp thăm Trung Quốc (tháng 10-1954) Kết quả của mối quan
hệ tốt đẹp này là một bản tuyên bố giữa các đảng cộng sản đã được công bố.Tuy nhiên, sau Hội nghị Matxcơva năm 1957, quan hệ Xô - Trung lại dần trởnên nguội lạnh và ngày càng có nhiều bất đồng gay gắt giữa 2 Đảng, 2 nước
Trang 23xung quanh những vấn đề lý luận, đường lối chung của phong trào cộng sảnquốc tế như lời tuyên bố của Khơrutxôp: Cuộc xung đột với Trung Quốc làkhông thể tránh khỏi Mâu thuẫn Xô - Trung đã làm cho tình hình thế giới phứctạp, từ một trụ cột của các nước xã hội chủ nghĩa, Trung Quốc đã xem Liên Xô
là kẻ thù thứ nhất của phong trào cách mạng thế giới Mối quan hệ Liên Xô Trung Quốc và Mỹ đã có những tác động mạnh mẽ tới Việt Nam nói riêng, cácnước thuộc địa nói chung thời kỳ này Cả Liên Xô và Trung Quốc trong xu thếhoà hoãn với Mỹ và mâu thuẫn với nhau như vậy đều muốn sử dụng Việt Namnhư một lá bài trong các cuộc thương thuyết vì quyền lợi của họ Trong hoàncảnh như vậy, Việt Nam chịu sức ép rất lớn từ cả hai phía Liên Xô, Trung Quốc
-và Việt Nam sẽ phải có chính sách chiến lược như thế nào trong một tổng thểquan hệ Việt Nam - Trung Quốc - Liên Xô - Mỹ chồng chéo, đan xen nhau.Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam thời kỳ này phải trên cơ
sở phân tích một cách hợp lý, phù hợp với từng nước, dựa trên nguyên tắc đốingoại chung làm sao vừa thu hẹp được những bất đồng giữa các nước đồngminh vừa giữ vững được đường lối độc lập, tự chủ của mình
1.1.3 Truyền thống ngoại giao của dân tộc, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh
và kinh nghiệm đối ngoại của Đảng
Ngoại giao truyền thống Việt Nam bắt nguồn từ truyền thống văn hoá củadân tộc Việt Nam, đồng thời là kết quả của hoạt động giao lưu quốc tế của nướcViệt Nam từ ngàn xưa với các nước láng giềng trong quá trình đấu tranh bảo vệnền độc lập, chủ quyền của dân tộc và phát triển, xây dựng đất nước
Có lẽ trên thế giới này không có một quốc gia nào phải trải qua nhiềucuộc đấu tranh như đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam Có phải đó là nguyênnhân, là nguồn gốc hun đúc cho con người Việt Nam một tinh thần luôn có ýthức bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Yêu chuộng hoà bình là bảnchất ngoại giao của Việt Nam Chính vì vậy, trong khi kiên trì lập trường, giữvững nguyên tắc độc lập, chủ quyền, Việt Nam luôn xem trọng việc giữ gìn hoàkhí với nước lớn, hữu nghị hoà bình trong quan hệ ngoại giao với các nước lánggiềng Lịch sử đã chứng minh điều đó khi quân Tống tiến công sang Đại Việt,
Trang 24khi vua Trần cử sứ thần sang hoà giải với quân Nguyên Mông sau khi đánh bạicuộc xâm lược lần thứ nhất của Nguyên Mông (1258) Tư tưởng ấy còn đượckhẳng định trong 30 năm kháng chiến chống Nguyên Mông, hầu như cứ 2 năm 1lần, Đại Việt cử sứ thần sang Yên Kinh thăm viếng, xây dựng quan hệ ngoạigiao thân thiện Cùng với thắng lợi trên các mặt trận, việc thực hiện nhất quán tưtưởng ngoại giao hoà hiếu là nhân tố quan trọng làm nền tảng của dân tộc ViệtNam qua các cuộc chiến tranh xâm lược, bành trướng từ phương Bắc xuống, từphương Nam lên.
Ngoại giao truyền thống Việt Nam thấm nhuần tinh thần nhân đạo và chủnghĩa nhân văn sâu sắc Điều đó xuất phát từ lý tưởng nhân nghĩa của dân tộc
“đem đại nghĩa để thắng hung tàn”, "lấy chí nhân thay cường bạo”, đồng thời
nó còn bắt nguồn từ tầm nhìn sâu xa trong quan hệ ngoại giao với các nước lánggiềng có chung biên giới, xem trọng sự hoà mục “Hoà ở trong nước thì ít dụngbinh; hoà ở ngoài biên thì không sợ có báo động” Và khi phải đương đầu vớinhững thế lực ngoại xâm hung bạo, Việt Nam luôn thể hiện sự nhún nhường đểgiữ độc lập Mặc dù kiên quyết đứng lên để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyềnlãnh thổ song trong tư tưởng của người Việt Nam vẫn luôn hết sức chú ý vấn đềthể diện nước lớn và giữ gìn hoà hiếu dân tộc Đó chính là một đặc trưng nổi bậtcủa ngoại giao truyền thống Việt Nam “trong đế ngoài vương”, thể hiện tinhthần tự tôn dân tộc một cách cao độ của con người Việt Nam
Tiếp thu những truyền thống ngoại giao của dân tộc, Hồ Chí Minh - mộtnhà ngoại giao kiệt xuất đã hình thành, phát triển và đề xuất quan điểm, luậnđiểm về thời đại và đường lối quốc tế, chính sách đối ngoại và ngoại giao ViệtNam thời hiện đại
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các quyền dân tộc cơ bản có một vị trí đặcbiệt quan trọng Các quyền đó bao gồm độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia,toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước Và trong toàn bộ cuộc đời hoạt độngcủa mình, Người đã đấu tranh không mệt mỏi để giành lại những quyền ấy chodân tộc Việt Nam - những quyền mà cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Pháp
và ở Mỹ đã khẳng định: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo
Trang 25hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy
có quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc; và: Người ta sinh ra tự
do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyềnlợi Đó là những lý lẽ không ai chối cãi được Vậy mà, ngày 2-9-1945, Việt Namtuyên bố độc lập, không một nước nào trên thế giới công nhận Việt Nam về mặtngoại giao Nền độc lập dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng bởi “thù trong giặcngoài” Hoạt động đối ngoại thời kỳ này phải nhằm vào mục tiêu hàng đầu làlàm cho nước Việt Nam độc lập vĩnh viễn, cô lập Pháp và Tưởng, xây dựngquan hệ thân thiết với tất cả các nước tôn trọng nền độc lập của Việt Nam, trướchết là hữu nghị với nhân dân tiến bộ Pháp, nhân dân Trung Quốc, Lào vàCampuchia; liên lạc mật thiết với nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, các dântộc thuộc địa và nửa thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủnghĩa thực dân giành độc lập, tự do Các cuộc thương lượng ngoại giao từngbước, từng bước, từ thấp đến cao buộc đối phương phải công nhận quyền tựquyết của dân tộc Việt Nam Đặc biệt trong cuộc kháng chiến chống thực dânPháp (1946-1954), hoạt động đối ngoại tập trung vào việc xây dựng, củng cốquan hệ hữu nghị với nhân dân các nước xa gần, nhất là nhân dân Pháp,Campuchia, Liên Xô và Trung Quốc, góp phần phá âm mưu của thực dân Pháp,
cô lập hòng đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân ta, vận động sự đoàn kết, ủng
hộ của nhân dân thế giới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của 1951) đã khẳng định: Chính sách ngoại giao của ta là chính sách ngoại giao cótính dân tộc và dân chủ Nguyên tắc cơ bản của chính sách đó là: bảo vệ toànvẹn độc lập, dân chủ, chủ quyền lãnh thổ và thống nhất quốc gia, ủng hộ phongtrào giải phóng dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa Với ngọn cờ độc lập dân tộc
Đảng(2-và tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, Đảng Đảng(2-và Chủ tịch Hồ ChíMinh luôn ý thức về các quyền dân tộc cơ bản; yêu chuộng hoà bình, nhưngkiên quyết chống chiến tranh xâm lược; phát huy cao độ tinh thần độc lập, tựchủ, đồng thời coi trọng tình đoàn kết quốc tế; hữu nghị với các nước lánggiềng, khéo léo trong quan hệ với các nước lớn; cứng rắn về nguyên tắc, mềmdẻo về sách lược; biết lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù Những năm
Trang 26đầu kháng chiến, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử nhiều phái viên, cán bộ
đi một số nước Châu Á, Châu Âu, Liên Xô, Trung Quốc vận động xây dựngquan hệ với các tổ chức quần chúng nhân dân các nước, với các tổ chức dân chủquốc tế và dự một số hội nghị quốc tế Tháng 3-1951, liên minh nhân dân ViệtNam - Lào - Campuchia đã ra đời trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tương trợ vàhợp tác, tôn trọng quyền tự quyết, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau.Bên cạnh đó, hoạt động hữu nghị với nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa ngàycàng có điều kiện mở rộng và phát huy hiệu quả sau khi Liên Xô, Trung Quốc
và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.Quan hệ ấy được đánh dấu với sự ra đời của Hội hữu nghị Việt Nam-TrungQuốc (2-1950), Hội hữu nghị Việt Nam-Liên Xô (5-1950), tăng cường quan hệgiữa Việt Nam với hai nước anh em có vị trí quan trọng trong hệ thống chủnghĩa xã hội nói riêng, trên toàn thế giới nói chung Cũng từ đây, cuộc khángchiến của nhân dân ta nhận được sự ủng hộ to lớn về vật chất và tinh thần củacác nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc
Ngoài ra, phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ Pháp đòi Chính phủPháp chấm dứt cuộc chiến tranh ở Việt Nam diễn ra liên tục, mạnh mẽ cũng làmột minh chứng cho tình đoàn kết hữu nghị với nhân dân Việt Nam như Tổng
Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Tore đã từng khẳng định “Chính với danh nghĩa lànhững người Pháp yêu nước và là những người vô sản quốc tế chủ nghĩa màchúng tôi phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu ở Việt Nam Chính lúc này, chúng
ta càng thấy những lời nói sau đây của Mac là đúng và thiết thực: “Một dân tộc
đi áp bức dân tộc khác thì dân tộc đó không có tự do” Tại sao không ủng hộnhân dân Việt Nam đang đấu tranh giành độc lập khi mà chính chúng ta cũngđang đấu tranh chống ách nô lệ trong nước chúng ta”[31;tr.407] Nhân dân tiến
bộ Pháp đứng về phía Việt Nam không chỉ vì thấy rõ độc lập của Việt Nam làchính đáng mà còn muốn cùng xây dựng tình hữu nghị và quan hệ thân thiệngiữa hai dân tộc Việt Pháp Trên thực tế đã hình thành được phong trào rộng lớncủa các nước XHCN, các dân tộc đấu tranh giành độc lập và các lực lượng hoàbình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới nhiệt tình hoạt động hữu nghị và ủng hộ
Trang 27nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp Và cũng chính sức mạnh của mặttrận đoàn kết đã góp phần tạo nên thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, chấmdứt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954).
Đáp lại sự ủng hộ nhiệt tình của phong trào nhân dân thế giới, trong quan
hệ quốc tế, Hồ Chí Minh luôn xây dựng mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa làanh em”, tìm những điểm tương đồng để khơi dậy tình hữu nghị hai bên Hồ ChíMinh luôn chú trọng tình nghĩa và tín nghĩa trong quan hệ đối ngoại, Người chorằng: Đảng phải giáo dục nhân dân ta yêu mến, biết ơn chân thành và phấn đấucho đoàn kết giữa các nước anh em, xem đó là điều “thiên kinh địa nghĩa (điều
vô cùng chính xác, không thể nghi ngờ)
Đường lối đối ngoại luôn xuất phát từ đường lối chính trị, phục vụ chođường lối chính trị Sức mạnh của ngoại giao cũng tuỳ thuộc vào nội lực củaquốc gia “thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to tiếngmới lớn”[27;tr.126] Trong chiến tranh, ngoại giao có mối liên hệ chặt chẽ vớiquân sự, mặc dù ngoại giao là rất quan trọng, nhưng cái vốn chính là mình phảiđánh thắng và mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng Tuy nhiên, thực tếcho thấy đấu tranh ngoại giao không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc đấu tranh trênchiến trường mà đấu tranh ngoại giao có vai trò chủ động, linh hoạt, tích cực.Một trong những yếu tố làm nên điều đó là tính nhân dân sâu sắc trong ngoạigiao Bởi sự nghiệp cách mạng Việt Nam là sự nghiệp của nhân dân, mở rộngcác mối liên hệ với nhân dân thế giới Ngoại giao nhân dân là lực lượng quantrọng của mặt trận ngoại giao Đó chính là lòng yêu hoà bình, độc lập, tự do và
sự nghiệp chính nghĩa, các mục tiêu đấu tranh mà nhân dân Việt Nam phấn đấuthực hiện trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng hoà bình Hoạtđộng ngoại giao hiện đại của Việt Nam luôn có sự hiện diện của nhân dân trongnước và nhân dân thế giới Ngoại giao không còn là công việc của riêng các nhàngoại giao mà còn có sự tham gia của các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị,
xã hội, trung ương và địa phương Ngoại giao không chỉ là những cuộc gặp gỡ,những cuộc thương lượng trên bàn đàm phán, mà trong cuộc chiến tranh nhândân, những người dân bình thường cũng đã tham gia vào những hoạt động mang
Trang 28tính ngoại giao, những hành vi ứng xử phân minh, nhân đạo của nhân dân sẵn cótrong truyền thống dân tộc và văn hoá dân tộc trở thành tâm thức trong ngườiViệt Nam Ngoại giao nhân dân cùng với ngoại giao nhà nước đã phá huy tínhđúng đắn, sáng tạo đóng vai trò tích cực chủ động, làm rõ thiện chí hoà bình củanhân dân Việt Nam, làm cho quốc tế công nhận cuộc chiến tranh chính nghĩacủa nhân dân Việt Nam, góp phần vào những thắng lợi của dân tộcViệt Nam Tưtưởng về ngoại giao phát huy vai trò tích cực, chủ động đã được Đảng ta trongquá trình lãnh đạo cách mạng tổng kết nâng lên thành lý luận chỉ đạo hoạt độngđối ngoại trong các thời kỳ tiếp theo
Như vậy, chính sách đối ngoại của Đảng không chỉ xuất phát từ yêu cầucủa nhiệm vụ cách mạng trong nước, mà còn xuất phát từ tình hình quốc tế, chịu
sự chi phối của quan hệ quốc tế và thái độ của các nước, nhất là các nước lớn.Điều đó có nghĩa là chính sách đối ngoại không chỉ phản ánh lưọi ích của cáchmạng Việt Nam, mà còn phản ánh lợi ích của cách mạng thế giới, kết hợp mụctiêu đấu tranh của nhân dân Việt Nam với nhân dân tiến bộ trên thế giới
Đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trongthời kỳ 1954-1960 được hình thành trên cơ sở bối cảnh thế giới, tình hình trongnước thay đổi và truyền thống ngoại giao của dân tộc cùng những quan điểmngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ 1954-1960 là quá trình mà đường lốichiến lược của cách mạng Việt Nam nói chung và đường lối đối ngoại nói riêngđược xác lập trong thời kỳ mới, trở thành nhân tố quyết định thắng lợi của sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và kháng chiến chống Mỹ cứunước
1.2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI
1.2.1.Những chủ trương mới của Đảng về đối ngoại (từ 7-1954 đến
7/1956)
Từ ngày 15 đến ngày 18-7-1954 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đãhọp hội nghị lần thứ 6 đánh giá sự chuyển biến tình hình và vạch ra nhiệm vụmới, quyết định chủ trương, phương châm, sách lược đấu tranh của cách mạngViệt Nam Tại hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định “Đế quốc Mỹ là kẻ thù
Trang 29chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thùtrực tiếp của nhân dân Đông Dương”[15;tr.225] Trên cơ sở phân tích và đánhgiá tình hình trong nước và thế giới, hội nghị nhận định “Chĩa mũi nhọn đấutranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạtđược mà phấn đấu để thực hiện hoà bình ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đếquốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương củng cố hoà bình và thựchiện thống nhất, hoà bình độc lập và dân chủ trong toàn quốc"[15;tr.225] vớikhẩu hiệu đấu tranh “Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ” Những chuyểnhướng của hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 tuy mới vạch ranhững nét chung nhất song nó có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng ViệtNam trong giai đoạn mới.
Với thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ, đồng bào miền Nam được sốngtrong hoà bình; cán bộ, chiến sỹ, đồng bào miền Nam đã dày dạn trong chín nămkháng chiến, có nhiều kinh nghiệm và quyết tâm đấu tranh; các cơ sở Đảng vàquần chúng phát triển mạnh và trưởng thành trong kháng chiến Tuy vậy nhưnglúc này, đế quốc Mỹ, thực dân Pháp và bọn thân Mỹ không để cho ta kiến thiếthoà bình và thống nhất toàn quốc bằng tổng tuyển cử tự do một cách thuận lợi.Việc chúng bắt hàng chục vạn dân miền Bắc và Nam và dự định bắt từ 50 vạnđến 1 triệu dân, chính là nhằm mục đích cướp sức người, sức của để có nhâncông rẻ mạt, xây dựng thêm nguỵ quân và có thêm một số phiếu sau này trongtổng tuyển cử Không những một số điều khoản nào đó của Hiệp định đình chiến
có thể bị phá hoại, đối với việc chíên tranh có thể trở lại, đối với việc chia cắt cóthể trường kỳ, ta cũng cần cảnh giác và chuẩn bị đầy đủ
Sau 2 tháng, ngày 5-9-1954, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họpHội nghị bổ sung và cụ thể hoá Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 của Ban chấphành Trung ương Đảng Hội nghị chỉ rõ 5 đặc điểm của cách mạng Việt Nam từsau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trong đó, 2 đặc điểm lớn ảnh hưởng đếnđường lối, chủ trương cách mạng của nước ta là Việt Nam đang trong giai đoạn
“từ chiến tranh chuyển sang hoà bình” và “Nam Bắc tạm thời phân làm 2 vùng”
Vì vậy, nhiệm vụ chung của Đảng là “đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh
Trang 30thực hiện Hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hoạiHiệp định đình chiến để củng cố hoà bình, ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất,phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng
cố miền Bắc, giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miềnNam, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc,dân chủ trong toàn quốc”[15;tr.287] Hội nghị xác định nhiệm vụ cụ thể củacách mạng miền Nam “lãnh đạo nhân dân miền Nam thực hiện Hiệp định đìnhchiến, củng cố hoà bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hộihọp, tự do tổ chức, tự do đi lại ), cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất vàtranh thủ độc lập Đồng thời, phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống hoạt độngkhủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng,chống những hoạt động tiến công của địch, nguỵ, giữ lấy quyền lợi quần chúng
đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứ địa vàvùng du kích cũ của ta”[15;tr.308] với phương châm đấu tranh: Kết hợp côngtác hợp pháp và công tác không hợp pháp, lợi dụng các hình thức tổ chức hoạtđộng hợp pháp để tập hợp và lãnh đạo quần chúng đấu tranh
Như vậy, lúc này chúng ta phải chủ trương tạm thời giữ cách mạng miềnNam ở thế giữ gìn lực lượng Điều đó có nghĩa là: Trong hoàn cảnh hiện tại cầnphải hết sức bình tĩnh để phân tích tình hình, trên cơ sở những phân tích khoahọc trước yêu cầu của thực tiễn mới có thể có được đối sách thích hợp Cuộcđấu tranh ở Việt Nam đến thời điểm đó đã không còn mang ý nghĩa đơn thuầncủa một cuộc chiến tranh cục bộ nữa mà ngày càng có ý nghĩa của sự đối đầumang tính chất quốc tế Chính vì vậy mà Việt Nam đã và đang trở thành điểmnhạy cảm trong quan hệ của các nước, đặc biệt là của các cường quốc Nhữngkhó khăn trong nước cùng với những điều kiện bất lợi khác của tình hình cáchmạng trên thế giới lúc này chưa thể cho phép Đảng ta phát động một cuộc chiếntranh mới để thống nhất đất nước Tuy nhiên, giữ gìn lực lượng không có nghĩa
là thủ tiêu đấu tranh, mà vẫn tiến hành đấu tranh liên tục trong khuôn khổ củaHiệp định Giơnevơ đã được ký kết Theo đó thì hình thức đấu tranh chính trị làchủ yếu nhằm duy trì và củng cố lực lượng cách mạng
Trang 31Hội nghị Giơnevơ đã làm cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà có thêmnhững khả năng mới để mở rộng quan hệ với nước ngoài Để cụ thể hoá nhữngnhiệm vụ chung đó, Bộ Chính trị ra bản chỉ thị về tình hình và nhiệm vụ côngtác mới cho Đảng bộ miền Nam (9-1954), trong đó có công tác ngoại giao vàchính sách đối ngoại Chỉ thị khẳng định “Chính sách ngoại giao của ta là xâydựng và phát triển quan hệ ngoại giao với bất cứ nước nào dựa theo nguyên tắcbình đẳng, hai bên đều có lợi và tôn trọng lãnh thổ, chủ quyền của nhau Phươngchâm chính sách ngoại giao của ta là chống chính sách chiến tranh của đế quốc
Mỹ, chống Mỹ tổ chức khối xâm lược Đông Nam Á, củng cố hoà bình ở ĐôngDương và bảo vệ hoà bình Đông Nam Á và toàn thế giới” [15;tr.304]
Trên cơ sở phương châm đó, “mối quan hệ giữa Việt Nam dân chủ Cộnghoà với nước Pháp cần tiếp tục dùng hình thức thương lượng và đàm phán đểđiều chỉnh, tránh quá găng để đến nỗi tan vỡ Tranh thủ đôi bên cử đại diện đóng
ở kinh thành của nhau”[15;tr.304] Đồng thời, nên “mở rộng quan hệ kinh tế,mậu dịch với nước Pháp trên cở sở bình đẳng và cùng có lợi Quan hệ với nhândân nước Pháp cần được tăng cường Làm cho nhân dân hai nước Việt và Phápliên hợp chặt chẽ hơn nữa để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất đất nước,phản đối và ngăn ngừa sự gây hấn của Mỹ và phe thân Mỹ”[15;tr.304]
Bên cạnh đó, cần phải tranh thủ mở rộng quan hệ với những nước ĐôngNam Á như Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện “làm cho Chính phủ những nước
đó đồng tình với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hoặc ít nhất cũng giữ trunglập, có thiện cảm đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và có thái độ khinh
bỉ chính quyền Bảo Đại, Ngô Đình Diệm”[15;tr.304]
Trong khi tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á, cần đặc biệtchú trọng quan hệ giữa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với Lào và Cao Miên
“Mối quan hệ với họ nên đặt trên 5 nguyên tắc lớn là “tôn trọng chủ quyền vàlãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, sống chung trong hoà bình”[15;tr.305] Chính phủ Việt Nam nên tìm mọi cách tăng cường tình hữu nghịgiữa nước ta và hai nước Lào, Cao Miên; tăng cường đoàn kết giữa nhân dânViệt Nam, Lào và Cao Miên Xây dựng mối quan hệ hoà hoãn với Lào, Cao
Trang 32Miên cùng với việc tiếp tục phát triển và củng cố tình hữu nghị với Liên Xô,Trung Quốc và tất cả các nước XHCN trên thế giới là điều kiện quan trọng đểcủng cố hoà bình ở Đông Dương và tranh thủ độc lập, thống nhất của nước ta.
Bên cạnh đó, đối với Uỷ ban quốc tế, chủ trương của ta nói chung là tranhthủ cảm tình, không để xảy ra những việc đáng tiếc, bất lợi cho ta Đối với BaLan, mặc dù Ba Lan là bạn của ta song trong thái độ giao tiếp, Đảng chủ trươngkhông nên vồn vã hơn các đại biểu khác, để các đồng chí Ba Lan có thể giữ địa
vị trung lập mà làm việc Đối với Ấn Độ, chúng ta có thể và cần tranh thủ cảmtình của Ấn Độ vì Ấn Độ luôn có thái độ tán thành hoà bình ở Đông Dương,chống Mỹ dùng vũ lực làm bá chủ Châu Á Còn với Gia Nã Đại (Canađa), taphải cẩn thận song phải giữ quan hệ ngoại giao tốt với các đại biểu Gia Nã Đại
Trước tình hình đế quốc Mỹ ngày càng bộc lộ rõ âm mưu và bản chất rasức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, xây dựng chính quyền thực dân mới ở miềnNam, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7(8/1955) chủ trươngđẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam Hội nghị khẳng định
kẻ thù cụ thể trước mắt của nhân dân ta hiện nay là “đế quốc Mỹ, phái thực dânPháp phản hiệp định và bọn Ngô Đình Diệm, đế quốc Mỹ là kẻ thù đầu sỏ vànguy hại nhất” [16;tr.208] Vì vậy, mục tiêu đấu tranh trước mắt của cách mạngvẫn không thay đổi “chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ; triệt để lợi dụngmâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp, giữa phái thựcdân Pháp thân Mỹ và những phần tử thực dân Pháp chống Mỹ Đoàn kết bất cứngười nào ta có thể đoàn kết được, tranh thủ bất cứ người nào ta có thể tranh thủđược, trung lập bất cứ người nào ta có thể trung lập được, cốt nhằm phân hoá kẻthù đến cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn cả trong nước vàngoài nước”[16;tr.207] Trên cơ sở đó, Hội nghị chủ trương: “Đẩy mạnh côngtác ngoại giao, tăng cường đoàn kết hữu nghị với các nước bạn, tranh thủ sựđồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới” và coi đó là “một trong những công táclớn”[16;tr.216] Phương châm chính sách ngoại giao của ta là “Củng cố khôngngừng tình đoàn kết hữu nghị với Liên Xô, Trung Quốc và các nước Dân chủnhân dân; thực hiện việc phối hợp chặt chẽ giữa các nước anh em trong hoạt
Trang 33động quốc tế và trong đấu tranh ngoại giao; giao hảo với bất cứ nước nào cùng
ta công nhận năm nguyên tắc chung hoà bình; kiên quyết và bền bỉ dùng cáchthương lượng để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp quốc tế (đồng thời ra sứccủng cố quốc phòng để sẵn sàng đập tan mọi kế hoạch gây chiến của đế quốc
Mỹ và phe lũ hiếu chiến)” [16;tr.216]
Để thực hiện phương châm, chính sách trên, cần chuẩn bị cử đại sứ hayđại biểu đi các nước anh em mà ta chưa cử đến, chú trọng đặt quan hệ ngoạigiao bình thường với hai chính phủ nhà vua Lào và Cao Miên, với nước Pháp vàcác nước Đông Nam Á Đồng thời xúc tiến công tác tuyên truyền quốc tế, nhằmtranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranhchính nghĩa của nhân dân ta, làm cho nhân dân thế giới nhận rõ lập trường của ta
là đứng về phe dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo
Kế thừa và phát triển những chủ trương ngoại giao của Hội nghị Ban chấphành Trung ương Đảng lần thứ 7, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lầnthứ 8 (8-1955) đã họp, phân tích diễn biến hoạt động ngoại giao trên thế giới.Trong thời gian này, thế giới đứng trước những đặc điểm nổi bật sau đây:
1 Phe xã hội chủ nghã kiên quyết và bền bỉ đấu tranh bảo vệ hoà bình.Một mặt, ta cố gắng dùng phương pháp thương lượng làm cho tình hình thế giớibớt căng thẳng, nhưng mặt khác, phải củng cố quốc phòng và sẵn sàng đối phóvới mọi tình thế
2 Do cố gắng của Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủnghĩa, do lực lượng đấu tranh bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới, khu vựchoà bình, trung lập đang được mở rộng trên nguyên tắc chung sống hoà bình.Một số nước trong hệ thống tư bản chủ nghĩa bị đế quốc Mỹ lôi kéo đã và đangnhận rõ chính sách hoà bình của phe xã hội chủ nghĩa nên dần trở thành nướchoà bình, trung lập Phe hoà bình dân chủ và xã hội chủ nghĩa ngày càng mạnh.Phe đế quốc ngày càng suy yếu
3 Tình hình thế giới nói chung dịu đi phần nào nhưng tình hình ĐôngDương vẫn căng thẳng vì đế quốc Mỹ vẫn trực tiếp can thiệp một cách trắngtrợn vào miền Nam Việt Nam, Lào và Cao Miên Nhân dân Đông Dương cần
Trang 34phải nêu cao cảnh giác và đoàn kết đấu tranh chống đế quốc Mỹ và các chínhphủ bù nhìn, tay sai của chúng Cuộc đấu tranh ấy là một bộ phận khăng khít củaphong trào bảo vệ hoà bình ở Đông Nam á và thế giới.
Ở trong nước, với việc hoàn toàn giải phóng miền Bắc là một thắng lợilớn của cách mạng Việt Nam Đó là kết quả của hơn 80 năm đấu tranh giảiphóng dân tộc, của 9 năm kháng chiến gian khổ và của 10 tháng đấu tranh chínhtrị gay go, phức tạp của nhân dân ta Thắng lợi đó đã cổ vũ và mang lại cho tanhững điều kiện thuận lợi mới để tiếp tục đấu tranh thực hiện một nước ViệtNam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh Việc kết thúc thời kỳtập kết, chuyển quân và việc hoàn toàn giải phóng miền Bắc đặt ra cho toànĐảng, toàn dân hai nhiệm vụ lớn: một mặt phải ra sức củng cố miền Bắc, khôiphục kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết miềnBắc Mặt khác, phải kiên quyết đấy tranh để củng cố hoà bình, tiến tới thốngnhất nước nhà bằng tổng tuyển cử, hoàn thành độc lập, dân chủ trong cả nước
Tình hình miền Nam có nhiều thay đổi quan trọng Đế quốc Mỹ và bè lũtay sai ngày càng can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam Chúng cố bám lấymiền Nam Việt Nam, Lào và Cao Miên để bố trí thành căn cứ chiến lược, chuẩn
bị gây lại chiến tranh Đông Dương nhằm tấn công miền Bắc nước ta và TrungQuốc Chúng phá hiệp thương, phá tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc, pháviệc thống nhất nước Việt Nam Trong hoàn cảnh đó, ta cần nhận định rõ kẻthù trước mắt của ta là “đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng, bao gồm cả bạn
bù nhìn thân Mỹ và những phần tử thực dân Pháp thân Mỹ, làm tay sai cho đếquốc Mỹ”[16;tr.483]
Thời kỳ mới của cuộc đấu tranh chính trị đã đặt trước nhân dân ta mộtnhiệm vụ quan trọng là “đấu tranh kiên quyết và bền bỉ để thực hiện thống nhấtnước nhà bằng tổng tuyển cử tự do trong toàn quốc, đồng thời ngăn ngừa chiếntranh trở lại Đông Dương”[16;tr.484]
Về vấn đề này, lập trường, quan điểm của Đảng, Nhà nước và nhân dânViệt Nam là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Việt Nam phải được thực sựthống nhất, vì có thống nhất mới có điều kiện hoàn thành độc lập và dân chủ
Trang 35trong cả nước Vì vậy, chủ trương của chúng ta hiện nay là đấu tranh để hoàbình, thống nhất nước nhà Tuy nhiên, cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà bằngphương pháp hoà bình lại là một cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ và phức tạp.Trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt với hai chế độ chính trị, hai chế độ xã hộikhác nhau, muốn giành thắng lợi, việc cấp thiết là mở rộng và củng cố Mặt trậnDân tộc thống nhất trong cả nước, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, đảng phái, cácdân tộc, các tôn giáo quyết tâm đè bẹp âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam của đếquốc Mỹ Vì vậy “Mặt trận dân tộc thống nhất cần có một bản cương lĩnh chungphù hợp với tình hình thực tế của hai miền, làm cơ sở tập hợp mọi lực lượng dântộc, dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bọnthân Mỹ, bọn chia rẽ, bọn ngoan cố, đặng củng cố hoà bình, thực hiện thốngnhất nước nhà, trên cở sở độc lập và dân chủ, tiến tới xây dựng một nước ViệtNam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”[16;tr.487].
Theo Cương lĩnh chung của Mặt trận Dân tộc thống nhất, nước Việt Namsau khi tổng tuyển cử mới thống nhất bước đầu hoặc thống nhất một phần, chưahoàn toàn thống nhất Vì vậy, phương châm chung là thống nhất dần từng bước,thống nhất một phần còn hơn không thống nhất, thống nhất dần từng bước cònhơn là chia cắt trường kỳ Cần tuyệt đối khắc phục quan điểm sai lầm cho rằngnước Việt Nam phải hoàn toàn thống nhất về mọi mặt ngay sau khi tổng tuyểncử; hoặc là nước Việt Nam phải thống nhất trên cơ sở hoàn toàn dân chủ mớingay từ đầu Bản Cương lĩnh chung đề ra chính sách của nước Việt Nam trên tất
cả các lĩnh vực và chính sách về ngoại giao: “Chính phủ Trung ương sẽ theođuổi một chính sách ngoại giao dựa trên năm nguyên tắc chung sống hoà bình,một mặt đảm bảo độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước nhà,một mặt phát triển quan hệ kinh tế và văn hoá với các quốc gia trên nguyên tắcbình đẳng và hai bên cùng có lợi, đồng thời kiên quyết bảo vệ hoà bình ở ĐôngNam Á và thế giới”[16;tr.489], bản Cương lĩnh chung giúp chúng ta khôngnhững tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ tích cực của nhân dân Pháp và nhân dânyêu chuộng hoà bình trên thế giới mà còn tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ
Trang 36của chính phủ một số nước, cô lập đế quốc Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi ở ngoàinước cho sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.
1.2.2 Chủ trương đối ngoại của Đảng trong thời gian từ 7-1956 đến 1958
Đến giữa năm 1956, Mỹ - Diệm bộc lộ rõ âm mưu chiếm đóng và chia cắtlầu dài miền Nam Việt Nam Tất cả mọi hoạt động chính trị, quân sự, kinh tế,văn hoá của chúng ở miền Nam từ trước đến nay và sau này đều nhằm thực hiện
âm mưu thâm độc đó Để lừa bịp dư luận, chính quyền miền Nam đã tuyên bốnhững điều xảo trá về "hoà bình, thống nhất, tổng tuyển cử tự do " song bảnchất của chúng vẫn là không công nhận Hiệp định Giơnevơ; cơ sở pháp lý củaHiệp định Giơnevơ bị Mỹ - Diệm phá hoại thêm một bước nữa, làm cho tìnhhình thêm nghiêm trọng Mỹ - Diệm ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, khủng
bố trả thù những người kháng chiến, bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ gây khochiến tranh, chuyển vũ khí vào miền Nam, cắt đứt quan hệ Bắc - Nam Mỹ -Diệm thúc ép Pháp rút quân khỏi miền Nam, đồng thời tìm mọi cách chèn ép vànắm dần cơ sở kinh tế của Pháp Chúng liên tiếp tiến hành chính sách "tố cộng,diệt cộng", đàn áp các phong trào cách mạng, đặc biệt là trong chiến dịch tốcộng, diệt cộng đợt 2,3, Mỹ - Diệm khủng bố vô cùng dã man nhằm phân hoágiữa Đảng và quần chúng, buộc những người lưng chừng phải có thái độ dứtkhoát, buộc những người đầu hàng phải thật sự làm tay sai cho chúng Mỹ -Diệm đã đẩy cách mạng miền Nam vào thời kỳ khó khăn chưa từng có
Một mặt Mỹ - Diệm xúc tiến việc hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam nhưngmặt khác do sức đấu tranh của nhân dân ta và dư luận thế giới, chúng phải ra vẻmềm dẻo, khéo léo để lừa gạt dư luận Về phía Pháp, lúc này Pháp đã hoàn toànbất lực, chấp nhận rút quân nhằm cứu vãn một chút quyền lợi kinh tế còn lại ởmiền Nam và giữ các quyền lợi hiện có ở Cao Miên và Lào Đế quốc Anh tuymâu thuẫn với Mỹ nhưng vẫn thống nhất ở chỗ chống phá cách mạng Việt Nam,không muốn có cuộc tổng tuyển cử tháng 7-1956 và đồng tình với Mỹ trong việcPháp rút quân Như vậy, giữa Anh, Mỹ, Pháp lúc này đã có sự thoả hiệp vớinhau nhằm mục tiêu phá hoại Hiệp định Giơnevơ, phá hoại cuộc tổng tuyển cử
Trang 371956 Tình hình trên đây cũng cho ta thấy rõ, cuộc đấu tranh thực hiện Hiệpđịnh Giơnevơ thống nhất nước nhà là cuộc đấu tranh gian khổ, phức tạp, phảihết sức dẻo dai, bền bỉ.
Song bên cạnh đó, lúc này cách mạng miền Nam cũng đứng trước nhiềuthuận lợi căn bản: đó là cuộc đấu tranh của ta thực hiện thống nhất nước nhà trên
cơ sở độc lập, dân chủ và bằng phương pháp hoà bình ngày càng được nhân dântrong nước tham gia tích cực, được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ Hơnnữa, trong hai năm đấu tranh thi hành Hiệp định Giơnevơ, lực lượng cách mạngmiền Nam ngày càng lớn mạnh trên cơ sở bản Cương lĩnh Mặt trận Tổ quốcViệt Nam Mặt khác, bọn đế quốc Mỹ, Anh, Pháp tuy tạm thời thoả thuận vớinhau để chống cách mạng Việt Nam nhưng mâu thuẫn trong nội bộ các nước đếquốc với nhau về căn bản không giải quyết được Các nước xã hội chủ nghĩa vàdân chủ nhân dân tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân ta, nhất là nhữngthắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nướcXHCN khác đã làm tăng thêm lòng tin và sự phấn khởi của nhân dân ta vào sựnghiệp đấu tranh của cả nước
` Trung ương Đảng nhấn mạnh những nhiệm vụ quan trọng lúc này là rasức củng cố miền Bắc, giữ vững và phát triển cuộc đấu tranh miền Nam, tăngcường đấu tranh ngoại giao, và trước mắt là phải hết sức tăng cường cuộc đấutranh để khôi phục và phát triển quan hệ bình thường giữa miền Nam và miềnBắc Trong đó, việc tăng cường đấu tranh ngoại giao được đặc biệt chú trọng.Cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất của nhân dân ta là một
bộ phận của cuộc đấu tranh cho hoà bình thế giới Do đó, Việt Nam phải phốihợp và tranh thủ sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, làmcho Mỹ - Diệm ngày càng bị cô lập Vì vậy, "ta phải tăng cường việc tuyêntruyền ra ngoài nước, vạch trần âm mưu của Mỹ - Diệm ở miền Nam phá hoạihoà bình, thống nhất và vi phạm Hiệp định Giơnevơ; nêu cao ý chí hoà bình của
ta và chính sách tôn trọng Hiệp định Giơnevơ của ta"[17;tr.593] Công tác ngoạigiao của ta phải "ra sức tranh thủ sự đồng tình của các nước yêu chuộng hoàbình trên thế giới đối với cuộc đấu tranh thống nhất, cuộc đấu tranh đòi thi hành
Trang 38Hiệp định Giơnevơ của nhân dân ta Ngoài việc tăng cường đoàn kết với cácnước anh em là việc ta phải thường xuyên chú trọng, chúng ta cần hết sức phấnđấu để đặt quan hệ tốt với hai nước láng giềng Lào, Miên, tăng cường và pháttriển quan hệ với các nước Đông Nam Á, với nước Pháp" [17;tr.593].
Có thể nói, những chính sách ngoại giao được thông qua Hội nghị BanChấp hành Trung ương Đảng lần thứ 10 mở rộng (9/1956) là sự bổ sung quantrọng trong quá trình hình thành đường lối đối ngoại của Đảng trong thời kỳ1954-1960 Yêu cầu thực tiễn lúc này cho thấy làm thế nào để vừa phát huyđược sức mạnh của quần chúng nhân dân, vừa tranh thủ tối đa sự giúp đỡ, ủng
hộ của các nước bạn; vừa kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạonên sức mạnh tổng hợp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù Trước tình hình địchthẳng tay khủng bố, tàn sát phong trào cách mạng, nhiều vấn đề xuất hiện trongthực tiễn đấu tranh của nhân dân miền Nam, cuối 1956 - đầu 1957, đồng chí LêDuẩn trong bản Dự thảo đề cương cách mạng miền Nam, trong đó khẳng định:
Ba nhiệm vụ quan trọng nhất làm đường lối chung cho toàn bộ công tác cáchmạng hiện nay của toàn quốc là: 1 Củng cố thật vững chắc miền Bắc; 2 Đẩymạnh phong trào cách mạng miền Nam; 3 Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ củanhân dân yêu chuộng hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc trên thế giới" Ba nhiệm
vụ ấy không thể tách rời, có mối liên quan mật thiết với nhau Có làm tròn banhiệm vụ ấy, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta mới đi đến thànhcông Nội dung của Đề cương Cách mạng miền Nam đã làm rõ một số vấn đề lýluận và thực tiễn cách mạng miền Nam, là cơ sở quan trọng góp phần xây dựngnội dung cơ bản của Nghị quyết 15 và Đại hội lần thứ III của Đảng sau này
1.2.3 Đường lối đối ngoại của Đảng hình thành về cơ bản (1959-1960)
Bước sang năm 1959, Mỹ - Diệm đặc biệt chú trọng tăng cường khủng bốđàn áp ở Nam Bộ, đem kinh nghiệm tàn sát khủng bố ở trung châu liên khu V ápdụng ở Nam Bộ, tập trung lực lượng phản động càn quét ở từng nơi, gây chonhân dân và cơ sở ta nhiều thiệt hại ở những vùng có cơ sở phản động, chúngchú trọng dùng mật thám đi sâu tìm cơ sở ta để đánh cho trúng đích Ở các vùng
cơ sở phản động địa phương của chúng kém, Mỹ - Diệm vẫn mở những chiến
Trang 39dịch bình định hàng trung đoàn đi càn quét Mặc dù Mỹ - Diệm đã đưa ra mộthiến pháp phản dân chủ theo kiểu Mỹ, tập trung quyền bính vào tay tổng thống,nhưng chúng vẫn không dám làm theo đúng hiến pháp đó Chúng phải dùngnhững biện pháp đặc biệt như dụ số 6 về trại tập trung, dụ số 13 về trừng trị báochí, chúng thông qua luật "đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật" Mỹ - Diệmdùng cách lừa bịp, mị dân để tạo cho chúng một cơ sở chính trị trong quầnchúng, dùng chính trị để lãnh đạo quần chúng Mỹ - Diệm không thể tách rờiđược phương pháp căn bản của chúng là dựa vào khủng bố, dùng công an, mậtthám uy hiếp quần chúng nhằm làm cho quần chúng khiếp sợ, bị động, phảikhuất phục theo chế độ thống trị của chúng Mặc dù vậy, chúng không nhữngkhông đàn áp được ý chí hoà bình thống nhất, độc lập và dân chủ của nhân dân
ta mà trái lại, các lực lượng yêu nước ngày càng lớn mạnh Ảnh hưởng của Đảngnói chung không bị giảm sút mà nhiều nơi ở Nam Bộ còn vững vàng hơn Dướicon mắt của quần chúng, rõ ràng chúng là kẻ thù địch "sống và làm giàu trêncăm hờn của hàng triệu nhân dân lao động, trên sự bực tức, sự bất bình của cáctầng lớp nhân dân"[20;tr.26] Đó chính là điểm yếu của Mỹ - Diệm, chúngkhông thể che giấu được, vì "đó là một sự phồn vinh giả tạo chứa đầy mâu thuẫntrong bản thân của nó để rồi suy sụp nặng nề hơn không thể tránhkhỏi"[20;tr.26] Đánh giá, so sánh thực lực của đế quốc Mỹ - Diệm ở miền Namhiện nay với thực lực của đế quốc và phong kiến Pháp - Bảo Đại trong lúc khángchiến ta thấy "Một mặt đế quốc Mỹ là tên trùm đế quốc nhiều lần mạnh hơn đếquốc Pháp, có khả năng xâm lược hơn Pháp, nhưng mặt khác trong tình hìnhhiện nay chúng không thể trắng trợn đưa quân đội Mỹ đến chiếm đóng miềnNam mà phải dùng một số cố vấn nắm quân đội miền Nam Cho nên thực lựccủa Mỹ - Diệm ở miền Nam không mạnh hơn Pháp, Bảo Đại trước đây vì quânđội viễn chinh Pháp là một quân đội xây dựng với một ý thức quân đội của mộtcường quốc đi xâm lược, còn quân đội miền Nam mặc dù Mỹ ráo riết huấnluyện kỹ thuật, cố gắng "tác động tinh thần" nhằm biến nó thành một quân độihiếu chiến có ý thức xâm lược nhưng trong hoàn cảnh lịch sử nước ta ngày nay,với thành phần binh lính là người Việt Nam, quân đội đó không thể trở thành
Trang 40một công cụ đắc lực của đế quốc Mỹ "[20;tr.26] Mỹ - Diệm lấy lực lượngquân sự là chủ yếu để tấn công, đàn áp và tiêu diệt cách mạng miền Nam Trongkhi đó, Đảng ta lại chủ trương chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chínhtrị Điều đó cũng có nghĩa là ta đã hạ thấp hình thức đấu tranh khi so sánh lựclượng không có lợi cho ta Lực lượng chính trị của ta không đủ sức đánh đổchúng Đó là nguyên nhân giải thích vì sao mặc dù chính quyền Mỹ - Diệm ởmiền Nam về mặt chính trị căn bản là yếu nhưng vẫn tồn tại ở miền Nam trongmấy năm qua.
Trong hoàn cảnh như vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lầnthứ 15 (1/1959) đã họp và nêu rõ hai mâu thuẫn cơ bản mà hiện nay cách mạngViệt Nam đang phải giải quyết: 1 Mâu thuẫn giữa một bên là chủ nghĩa đế quốcxâm lược, giai cấp địa chủ phong kiến và bọn tư sản mại bản quan liêu thống trị
ở miền Nam với một bên là dân tộc Việt Nam và nhân dân cả nước Việt Nam,bao gồm nhân dân miền Bắc và nhân dân miền Nam; 2 Mâu thuẫn giữa conđường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền Bắc Đó là haimâu thuẫn tính chất khác nhau, quan hệ biện chứng và tác động mạnh mẽ lẫnnhau Căn cứ vào đó, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảngnhận định nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là
"tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hoà bình; thựchiện thống nhất nước nhà trên cở sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; ra sức củng cố miền Bắc vàđưa miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình,thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh; tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ởĐông Nam Á và trên thế giới"[20;tr.63] Trong đó, cách mạng miền Nam hiệnnay "tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chủ nghĩa đế quốc
và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà"[20;tr.65] với
"con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là conđường bạo lực, lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị củaquần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống