T Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH mỹ thuật Hà Thái, tôi đã nghiêncứu về thực trạng hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động Marketing của công tycùng với thực trạng của ngành qu
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
hực tập tại các công ty là một giai đoạn quan trọng trong quá trình đào tạonhằm giúp sinh viên gắn lý thuyết với thực hành, làm quen với môi trườngthực tế, tăng cường hiểu biết về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt độngmarketing và các hoạt động quảng cáo tại cơ sở thực tập
T
Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH mỹ thuật Hà Thái, tôi đã nghiêncứu về thực trạng hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động Marketing của công tycùng với thực trạng của ngành quảng cáo nói chung và lĩnh vực quảng cáo ngoàitrời nói riêng ở Việt Nam để có một số cơ sở để hoàn thành bản báo cáo thực tậptổng hợp này
Mục đích của báo cáo thực tập tổng hợp
Tôi muốn nhìn nhận lại một cách tổng quan thực trạng của ngành quảng cáođặc biệt là quảng cáo ngoài trời ở Việt Nam cùng với thực trạng hoạt động kinhdoanh và hoạt động Marketing của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái trong bốicảnh thị trường quảng cáo hiện nay
Phạm vi báo cáo
Báo cáo thực tập tổng hợp tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động kinhdoanh và hoạt động Marketing của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái từ các số liệuthống kê trong 3 năm gần đây (2006 - 2008)
Phương pháp báo cáo
Phương pháp luận tư duy: duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Các phương pháp tổng hợp, phân tích, thực chứng, diễn giải, kết hợp với quynạp và diễn dịch
Phương pháp thu thập thông tin thông qua thông tin thứ cấp từ các cuộc nghiêncứu trước đây và được công bố rộng rãi trên tạp chí và sách chuyên ngành vềMarketing
1
Trang 2Kết cấu của báo cáo
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung của báo cáo thực tập tổng hợp gồm 3phần lớn:
Phần I: Tổng quan về đơn vị thực tập – công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái Phần II: Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà
Thái trong thời gian 3 năm gần đây (2006 - 2008)
Phần III: Hoạt động marketing mix của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái.
2
Trang 3Phần I:
TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP
1 Những nét chính của công ty TNHH mỹ thuật Hà Thái
Được thành lập vào năm 2000, công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái là một trongnhững công ty có bề dày hoạt động về lĩnh vực quảng cáo đặc biệt là lĩnh vực quảngcáo ngoài trời (cung cấp bảng biển quảng cáo chất lượng, vị trí tốt) ngoài ra công tycòn cung cấp các sản phẩm về in ấn (như tờ rơi, brochure (cuốn sách mỏng),cardvisit, …), tổ chức sự kiện, tư vấn thiết kế (logo, gian hàng triển lãm, nội thất),trang trí nột thất
Là một thành viên của Hiệp hội quảng cáo quốc tế IAA - một tổ chức đa quốcgia về lĩnh vực quảng cáo, luôn cung cấp kịp thời những thông tin về ngành quảngcáo trên thế giới và giúp đỡ các thành viên của mình nâng cao kiến thức về nghềquảng cáo
Là công ty quảng cáo đầu tiên tại Việt Nam áp dụng hệ thống tiêu chuẩn chấtlượng ISO 9001: 2000 - bộ tiêu chuẩn quốc tế về hệ thống quản lý chất lượng do tổchức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) ban hành lần đầu vào năm 1987, đã được sửađổi hai lần vào năm 1994 và 2000
ISO 9001 đưa ra các chuẩn mực cho hệ thống Quản lý Chất lượng, khôngphải là tiêu chuẩn cho sản phẩm Lợi ích của nó là:
Tạo nền móng cho sản phẩm có chất lượng
Tăng năng suất và giảm giá thành
Tăng năng lực cạnh tranh
Tăng uy tín của công ty về chất lượng
Công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái là một công ty tư nhân có nguồn trí tuệ vàkhả năng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ chất lượng cao
Địa chỉ công ty: Tầng 7, Toà nhà Seaprodex, Số 20 Lỏng Hạ, Quận Đống
Trang 4 Thành viên ban lãnh đạo:
Ông Hà Huy Mạnh - GĐ Phát triển kinh doanh
Ông Đỗ ngọc Khương - GĐTtruyền thông
Ông Phạm Văn Anh - GĐ Sáng tạo
Số lượng nhân viên: 45 người
Phân xưởng: Hiện tại, công ty có hai phân xưởng
Xưởng sản xuất biển quảng cáo: Số 26A đường Đặng Tiến Đông, quận
Ba Đình, Hà Nội
Xưởng sản xuất nội thất: Số 445 đường Lạc Long quân, Quận Tây Hồ,
Hà Nội
2 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh và các sản phẩm
Công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo,chuyên cung cấp các dịch vụ sau:
Quảng cáo ngoài trời
In ấn
Trang trí nội thất, ngoại thất
Với sự hiểu biết sâu sắc về hành vi người tiêu dùng cũng như quá trình raquyết định của họ, công ty tin rằng có thể mang tới những sản phẩm và dịch vụ đểđáp ứng cho từng kiểu thị trường ở Việt Nam
Quảng cáo ngoài trời
Hiện nay, các loại hình quảng cáo ngoài trời xuất hiện rất đa dạng Tùy theotính chất sản phẩm, dịch vụ cần quảng cáo, khách hàng chọn lựa hình thức quảngcáo thích hợp
Quảng cáo tấm lớn - billboard là quảng cáo tầm cao, thích hợp cho quảng cáonguyên vật liệu, hàng hóa công nghiệp, xây dựng, bưu chính viễn thông hoặc cácsản phẩm tiêu dùng lâu năm như ti vi, tủ lạnh, xe hơi…
Quảng cáo ở tầm thấp như nhà chờ xe buýt, kiốt hoặc các loại banner trênđường phố, thích hợp với những sản phẩm tiêu dùng gần gũi hàng ngày như các loạithực phẩm ăn nhanh, hóa mỹ phẩm…
Quảng cáo di động (transit) trên các phương tiện vận tải và các hình thứcquảng cáo dưới dạng trưng bày hình ảnh, truyền tải thông điệp ở những khu vực
4
Trang 5thương mại dịch vụ đông người, thể hiện qua các poster, tờ rơi (leaflet) …được gọichung là POSM (points of sale materials).
Là một lĩnh vực hoạt động lâu năm của công ty, công ty tự tin trong việc cungcấp cho khách hàng những biển quảng cáo có chất lượng, màu sắc chuẩn xác và vịtrí phù hợp nhất để đáp ứng tốt nhất mục tiêu truyền thông
• In ấn
Công ty nhận in ấn tờ rơi, catalogue, poster, brochure (cuốn sách mỏng)… vớinhững thiết kế đẹp, cách thức thể hiện nội dung độc đáo
Các biểu mẫu in ấn công ty cung cấp:
* Hệ thống mẫu in cho văn phòng
5
Trang 6* Hệ thống mẫu in quảng cáo
Tờ rơi ( Tờ đơn, gấp đôi, gấp ba…)
Áp phích - quảng cáo
Banner
Trang trí nội thất, ngoại thất
Công ty đã tham gia và hoàn thành nhiều công trình nội thất có tầm cỡ trongkhu vực bởi vậy công ty có nhiều kinh nghiệm trong trang trí và thiết kế đảm bảocung cấp cho khách hàng sản phẩm bền, đẹp và một không gian kiến trúc hợp lýTrong thời gian hoạt động, công ty đã thực hiện thành công nhiều dự án,dưới đây là một số dự án công ty Hà Thái đã thực hiện trong thời gian qua
Bảng 1: Một số dự án công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái đã thực hiện
1 Lắp đặt hệ thống trang trí nội thất công ty
Thiết kế, trang trí nội thất
5 Trang trí nội thất Parkson – Hải Phòng
6 Nội thất và ngoại thất Trung tâm điện tử điện
máy NANO
7 Lắp đặt showroom Sena
8 Nội thất và ngoại thất Siêu thị HC
9 Nội thất và ngoại thất Trung tâm điện tử,
điện máy Việt Long
Trang 710 In phong bì+card công ty Doosung Việt Nam
In ấn
11 In catalogue Sena, Selton – Công ty Sena
12 Biển quảng cáo Elextrolux các cửa hàng
Quảng cáo ngoài trời
13 Biển quảng cáo Intel – Mễ Tân
14 Biển quảng cáo Toshiba – Tây Sơn
15 Biển hộp đèn – công ty Coldengate
16 Biển Intel Starbow Phạm Ngọc Thạch
17 Biển quảng cáo công ty Shinil Todimax
18 Cho thuê vị trí Sfone – công ty Anh Em
19 Cho thuê vị trí Big C – công ty Samsung
20 Cho thuê vị trí Big C – công ty Sanyo
Nguồn: Công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
3 Sơ đồ tổ chức của công ty
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Xưởng quảng
cáo
Xưởng nội thất
Phòng hành chính –
tổ chức
Trang 8Nguồn: công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Phần II:
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
THỜI GIAN QUA
1.1 Thực trạng ngành quảng cáo tại Việt Nam
Quảng cáo là một ngành dịch vụ, có tính chất đặc thù Sản phẩm của nóbiến đổi lớn theo ngành nghề kinh doanh có nhu cầu quảng bá, theo thị trường,môi trường pháp lý, văn hóa và cấu trúc cạnh tranh các ngành công nghiệp sửdụng dịch vụ quảng cáo
Tại Việt Nam, ngành công nghiệp này ra đời được khoảng 15 năm So vớicác nước trong khu vực và trên thế giới, ngành quảng cáo Việt Nam tương đốinon trẻ về tuổi đời tuy vậy ngành quảng cáo nước ta cũng có những bước tiếnđáng kể Tổng chi phí cho ngành truyền thông tiếp thị tại Việt Nam – bao gồm cảquảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, tiếp thị trực tiếp…- hiện đã vượtquá con số 1 tỷ USD
Trang 9Hiện nay, việc cụ thể hóa bằng các quy định của pháp luật về hoạt độngquảng cáo trên mỗi loại phương tiện quảng cáo đã tạo thành hành lang pháp lýthuận lợi cho hoạt động quảng cáo phát triển
Vào tháng 11/2001, Hiệp Hội Quảng Cáo Việt Nam (VAA) được thành lập
và bắt đầu hoạt động có hiệu quả Tiêu biểu là từ ngày 2 - 5/11/2006, tạiTP.HCM diễn ra triển lãm “Quảng cáo Việt Nam đổi mới và phát triển” do BộVăn hóa – Thông tin tổ chức
Cũng vào cùng thời điểm này, lần đầu tiên ngành quảng cáo Việt Nam cómột giải thưởng cho riêng mình và sẽ được tổ chức thường niên Giải thưởngQuảng cáo sáng tạo Việt Nam mang tên “Quả chuông vàng” do VAA tổ chức,dưới sự bảo trợ của Bộ Văn hóa – Thông tin
Thêm nữa, ngày 15/6/2007, Chủ tịch Hiệp hội đã kí quyết định thành lậpViện Nghiên cứu – Đào tạo Quảng cáo Việt Nam, đơn vị trực thuộc Hiệp hội, và
bổ nhiệm ông Đỗ Kim Dũng, Phó Chủ tịch Hiệp hội làm Chủ tịch Hội đông quảntrị kiêm Viện trưởng
Trên đây là một số nét cơ bản của thị trường quảng cáo tại Việt Nam trongthời gian gần đây Để hiểu rõ hơn về thị trường ngành dịch vụ này tác giả đi sâuphân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của thị trường ngành đốivới các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo
1.2 Điểm mạnh của ngành quảng cáo Việt Nam
Một thế mạnh không thể phủ nhận của các công ty quảng cáo trong nước làcác hoạt động quan hệ công chúng và tổ chức sự kiện Xu hướng cho thấy một sốnhãn hiệu quốc tế đang muốn chuyển toàn bộ hoặc một phần hoạt động quảngcáo sang các đại lý nội địa như Mercedes-Benz, Honda, DeBon…
Bên cạnh đó với sự hiểu biết về luật pháp và văn hóa dân tộc là một lợi thếlớn Không một chiến lược marketing nào có thể thành công mà bỏ qua quá trìnhnghiên cứu hành vi người tiêu dùng Và rất nhiều doanh nghiệp đã thất bại chỉ vìmột lỗi về văn hóa
Cuối cùng, tiềm năng của thị trường quảng cáo Việt Nam là rất cao
Bảng 2: Số doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại thị trường Viêt Nam
Trang 10Nguồn: Tổng cục thống kê Việt Nam
Hiện nay, mỗi năm trung bình có khoảng 10.000 doanh nghiệp mới đượcthành lập, tầm quan trọng của quảng cáo lại ngày càng được biết tới rộng rãi do
đó cầu về quảng cáo có xu hướng tăng lên tạo nên một thị trường đầy tiềm năngthu hút rất nhiều công ty quảng cáo nước ngoài Hiện nay, tất cả những “đại gia”quảng cáo hiện đã có mặt tại Việt Nam và họ sẽ còn đến nhiều hơn nữa tạo nênmột thị trường sôi động và sẽ không tránh khỏi sẽ có những cạnh tranh cam go.Nhiều doanh nghiệp đang đầu tư để sẵn sàng cho làn sóng quảng cáo đang lên tạiViệt Nam Các doanh nghiệp trong nước cũng cần tập trung mọi nguồn lực để cóthể cạnh tranh với các doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài hơn chúng ta rấtnhiều về tuổi nghề và nguồn lực
1.3 Điểm yếu của ngành quảng cáo Việt Nam
Ngành quảng cáo Việt Nam đang bị chi phối bởi công ty quảng cáo nướcngoài
Có khoảng 78% công ty quảng cáo của Việt Nam nhưng chỉ chiếm được20% doanh thu toàn ngành, còn lại 80% doanh thu là do các công ty quảngcáo nước ngoài, các văn phòng đại diện thu được Phần lớn các doanhnghiệp quảng cáo Việt Nam vẫn chỉ thực thi những công đoạn hết sức cụthể hoặc thuần túy kỹ thuật, còn phần lợi nhuận lớn nhất là hoạch địnhchiến lược và sáng tạo nắm gọn trong tay các doanh nghiệp quảng cáo cóyếu tố nước ngoài hoặc của nước ngoài
Chất xám của các công ty nội địa lại không được đánh giá cao như cáccông ty nước ngoài
Chúng ta không có một quy trình làm việc chuyên nghiệp Tại công tyquảng cáo đa quốc gia, những ý tưởng sáng tạo luôn là kết quả của cả mộtquy trình làm việc chuyên nghiệp dựa trên những phân tích, nghiên cứu và
xử lý thong tin rất khoa học, mà đôi khi rất tốn kém, nhằm đảm bảo tạo rađược những quảng cáo mang lại hiệu quả bán hàng thực sự, chứ không chỉđơn giản là các mẫu quảng cáo đẹp Tất cả các bước thực hiện đều cónhững tiêu chí cụ thể và rõ ràng
Sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty quảng cáo trong nước,dẫn đến sự sụt giảm một cách đáng sợ về giá cả dịch vụ Ngay lợi thế nổitrội của các công ty quảng cáo trong nước là xin phép đặt bảng quảng cáo
Trang 11ngoài trời, hoặc treo băng-rĩn quảng cáo sản phẩm cũng có nhiều vấn đềkhuất tất
Vấn đề nguồn nhân lực, ngành quảng cáo Việt Nam đang khó khăn trongviệc đào tạo và sở hữu nguồn nhân lực có chất lượng
Không chiêu mộ được nhân tài, khả năng tư vấn, hoạch định các chiếnlược tổng thể (fullservice) kém, các khách hàng lớn “ra đi” và tìm đến tậpđoàn quảng cáo nước ngoài là điều hiển nhiên
Người nước ngoài đang là những chuyên gia có ảnh hưởng và thành côngtrong lĩnh vực quảng cáo tại Việt Nam, họ đến từ những nước có nềnquảng cáo tiên tiến Trong ngành quảng cáo, do là ngành dịch vụ thiên vềchất xám nên việc quản trị và đầu tư vào con người là điều quan trọng
Một yếu kém khác là ngành truyền thông Việt Nam Quảng cáo Việt Namvẫn tập trung vào các kênh truyền thông lâu đời và có sức ảnh hưởng côngchúng mạnh Hầu hết các kênh này là do quản lý trực tiếp nhà nước,chính sách quản lý nhà nước và chất lượng chương trình kém làm cho việckhai thác kinh doanh về quảng cáo còn thấp
Một rào cản lớn cho sự phát triển của ngành quảng cáo Việt Nam chính là
cơ chế chính sách Tuy đã có Pháp lệnh quảng cáo Số UBTVQH10, nhưng phải nói rằng các chính sách, quy định về quảng cáothay đổi liên tục, gây khó khăn cho các nhà đầu tư chân chính, lâu dài.Thêm nữa, quy định về việc giới hạn tỉ lệ chi phí quảng cáo không caohơn 10% doanh số cũng gây khó khăn không nhỏ cho các công ty sản xuấtkinh doanh và các công ty quảng cáo
39/2001/PL- Cuối cùng, rào cản về văn hóa Đây là một vấn đề lớn và gây nhiều bứcxúc bởi mọi người có thể thấy quảng cáo ở khắp mọi nơi Mỗi ngày, mỗingười có thể nhận tới 3000 thông điệp quảng cáo, do đó, quảng cáo thiếuvăn hóa sẽ gây ảnh hưởng xấu tới hành vi người tiêu dùng Có lẽ văn hóaảnh hưởng mạnh nhất tới lĩnh vực quảng cáo trên truyền hình
Quảng cáo ở Việt Nam bị phàn nàn nhiều vì các vi phạm còn phổ biếnnhư phát một số sản phẩm quảng cáo có nội dung, hình thức không phùhợp với phong tục, tập quán Việt Nam; số trang của phụ trang quảng cáocòn vượt quá số trang báo chính; quảng cáo lẫn trong tin bài…tờ rơi baykhắp đường phố, biển quảng cáo tấm lớn thường được dựng bừa bãi, cáisau đố cái trước, làm cản trở tầm nhìn giao thông, bất chấp nguy hiểm vàqui định về kích cỡ làm mất mỹ quan
Trang 12Quảng cáo trên truyền hình thường xuyên gây phản cảm khi quảng cáonhững sản phẩm nhạy cảm không đúng thời điểm mà lại quảng cáo quánhiều, lặp đi lặp lại cả tháng Ngoài ra, có nhiều những clip quảng cáo củanước ngoài không phù hợp với văn hóa người Việt.
Chính những vi phạm hay sự lơ là, thiếu chăm chút kể trên cho thấy tìnhtrạng đáng buồn trong văn hóa quảng cáo, xâm phạm mỹ quan đô thị vàlàm giảm cả hiệu quả truyền thông Đáng nói là không chỉ những ngườilàm quảng cáo mà cả những người tiếp nhận quảng cáo đều coi nhẹ vấn đềnày
1.4 Cơ hội của ngành quảng cáo Việt Nam
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã khẳng định quátrình đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nền kinh tế tăng tốc Việcvào WTO sẽ mang lại những cơ hội mới cho nước ta như
Mở rộng thị trường: Khi gia nhập WTO, theo nguyên tắc tối huệ quốc,nước ta sẽ được tiếp cận mức độ tự do hoá này mà không phải đàm phánhiệp định thương mại song phương với từng nước
Môi trường pháp lý trong sạch: Gia nhập WTO cũng là thông điệp hếtsức rõ ràng về quyết tâm cải cách của nước ta VN hình thành tư duyquản lý mới và chuẩn mực kinh doanh mới thực thi các cam kết về mởcửa thị trường, minh bạch các cơ chế chính sách, không phân biệt đối
xử, chỉnh sửa luật, cải cách hành chính, xóa bỏ bao cấp, bảo hộ quyền sởhữu trí tuệ…
Nâng cao tính hiệu quả và sức cạnh tranh cho nền kinh tế
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, mở cửa thị trường dịch vụ
sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng cạnh tranh hơn vàcũng sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp cận các yếu tố đầu vào với chi phíhợp lý hơn, từ đó có thêm cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh
Các công ty quảng cáo Việt Nam ngày một hiểu rõ tầm quan trọng cũng nhưsức mạnh của quảng cáo đã tạo nên một cơ hội rất lớn cho các công ty quảng cáo.Hàng năm, số lượng doanh nghiệp mới ra đời là hơn 10.000 doanh nghiệp, cùngvới những doanh nghiệp đang hoat động kinh doanh trên thị trường đã tạo nênmột thị trường đông đảo khách hàng cho ngành quảng cáo Quảng cáo không cònđơn thuần là chi phí mà nó còn là một khoản đầu tư Với mức độ cạnh tranh nhưhiện nay, cùng với sự đổi mới trong quan điểm về quảng cáo, thị trường quảngcáo được dự đoán là thị trường mang lại lợi nhuận cao, có khả năng trở thànhmột ngành công nghiệp không khói của nước nhà
Trang 131.5 Thách thức của ngành quảng cáo Việt Nam
Khủng hoảng kinh tế đang là vấn đề nóng của cả thế giới
Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, các doanh nghiệp đangcẩn trọng hơn với những chiến dịch quảng cáo rầm rộ được đầu tư kỹlưỡng Và xu hướng thu nhỏ quy mô các chiến dịch quảng cáo đangngày càng phổ biến Việc đầu tư tiền quảng cáo trong tình hình nền kinh
tế thế giới ảm đạm như lúc này là điều không hề dễ dàng
Gia nhập WTO tạo ra một số thách thức lớn đối với nền kinh tế nóichung và các doanh nghiệp nói riêng
Môi trường kinh doanh ở nước ta cạnh tranh ngày càng gay gắt với sựtham gia của ngày một nhiều công ty nước ngoài, thị trường không cònnhiều lợi thế cho doanh nghiệp trong nước
Khó khăn trong việc đào tạo và sở hữu nguồn nhân lực có chất lượng Hiện chỉ có một số rất ít công ty quảng cáo có được những chuyên viênquảng cáo giỏi Tuy nhiên, họ không thể bù đắp được vào lỗ hỏng lớn
mà các công ty quảng cáo của Việt Nam luôn thiếu: Một “Hệ thốngQuản lý” chuẩn mực với các quy trình làm quảng cáo chuyên nghiệp.Chúng ta cũng chưa có hẳn một trường hay một trung tâm đào tạo vềquảng cáo Các khóa ngắn hạn vẫn được mở ra khá rầm rộ và thườngxuyên, nhất là ở TP.HCM, nhưng không mang tính chuyên nghiệp
2.1 Tình hình quảng cáo ngoài trời tại Việt Nam
2.2.1 Những vấn đề chính về thị trường quảng cáo ngoài trời tại Việt NamQuảng cáo ngoài trời đang là xu hướng quảng cáo phát triển, tiềm năngcủa ngành có thể dễ dàng nhận thấy được
Theo kết quả điều tra của công ty nghiên cứu thị trường TNS, năm 2006,riêng quảng cáo ngoài trời đã chiếm gần 20% doanh số chung của ngànhquảng cáo, đạt khoảng 1 tỉ USD " Chiếm tới 20% doanh số chung củangành quảng cáo, quảng cáo ngoài trời vẫn được đánh giá là còn nhiềutiềm năng phát triển
Ngày nay, cùng với sự phát triển của ngành quảng cáo, để tạo ra nhữnghình thức quảng cáo ngoài trời mới lạ, đáp ứng được yêu cầu của kếhoạch marketig, các nhà làm quảng cáo đã sáng tạo nhiều hình thứcquảng cáo ngoài trời
Trang 14Các loại hình quảng cáo ngoài trời xuất hiện rất đa dạng Tùy theo tínhchất sản phẩm, dịch vụ cần quảng cáo, khách hàng chọn lựa hình thứcquảng cáo thích hợp trong bốn loại hình cơ bản : “billboard” là quảngcáo tầm cao, thích hợp cho quảng cáo nguyên vật liệu, hàng hóa côngnghiệp, xây dựng, bưu chính viễn thông hoặc các sản phẩm tiêu dùng lâunăm như ti vi, tủ lạnh, xe hơi… Trong khi đó, loại hình “street furniture”quảng cáo ở tầm thấp như nhà chờ xe buýt, các loại banner trên đườngphố, thích hợp với những sản phẩm tiêu dùng gần gũi hàng ngày như cácloại thực phẩm ăn nhanh, hóa mỹ phẩm…
Ngoài ra còn có loại hình quảng cáo di động (transit) trên các phươngtiện vận tải và các hình thức quảng cáo dưới dạng trưng bày hình ảnh,truyền tải thông điệp ở những khu vực thương mại dịch vụ đông người,thể hiện qua các poster, brochure, leaflet…được gọi chung là POSM(points of sale materials) Ngoài những hình thức quảng cáo truyềnthống như bảng vẽ, hộp đèn, bảng chiếu điện tử…, nhiều công ty quảngcáo đang khai thác những loại hình quảng cáo công nghệ cao
- Quảng cáo ngoài trời được nhìn nhận là có tiềm năng phát triển Tuy
nhiên, do chưa có các quy định cụ thể về cấp phép cũng như xây dựng,lắp đặt nên xảy ra tình trạng lộn xộn và tùy tiện
Một số cụm quảng cáo ngoài trời chưa hiệu quả, hoặc xâm phạm an toànhành lang đường bộ, việc xây dựng pa nô quảng cáo ngoài trời còn tùytiện về kiểu dáng, kích thước, thiếu thẩm mỹ
Nguồn cung vẫn chưa theo kịp cầu “Đất đai” dành cho quảng cáo ngoàitrời hiện rất hạn hẹp Hạn hẹp hiểu ở hai góc độ: thứ nhất, chính sáchthắt chặt quảng cáo ngoài trời của cơ quan quản lý làm hạn chế khônggian quảng cáo Thứ hai, quy hoạch quảng cáo không ổn định nên thiếuđất cho nhu cầu quảng cáo lâu dài
Bên cạng đó, sự không ổn định trong quy hoạch quảng cáo làm hạn chếsức phát triển của các loại hình quảng cáo ngoài trời chất lượng cao, cần
sự đầu tư vốn lớn Bởi chi phí công ty quảng cáo bỏ ra rất lớn trong khithời gian được phép quảng cáo ở một vị trí nào đó luôn là ẩn số
Tình hình quảng cáo ngoài trời nhìn chung tuy không thiếu về loại hìnhnhưng công nghệ tụt hậu và quy hoạch thiếu nề nếp, không dài hạn.Vấn đề cuối cùng: việc xin giấy phép quảng cáo ngoài trời đang là vấn
đề bức xúc và làm nản lòng nhiều doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệpquảng cáo ngoài trời Theo quy định của Pháp lệnh Quảng cáo và Nghị
Trang 15định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này, hiện nay các doanh nghiệpquảng cáo phải có 2 loại giấy phép
Sau khi Pháp lệnh Quảng cáo và Nghị định của Chính phủ đã quy địnhnhững điều kiện cần thiết thì các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Vănhoá thông tin cũng ban hành ngay những thông tư hoặc thông tư liên tịchhướng dẫn chi tiết các điều kiện cấp phép Trong các thông tư hướngdẫn này có nhiều điều kiện đưa ra không khả thi
Không chỉ có vậy, một số tỉnh, thành phố lấy lý do là theo đặc thù, đặcđiểm của địa phương, lại tuỳ ý cụ thể hoá thêm các quy định đã có theoquan điểm chủ quan của mình để làm phức tạp thêm điều kiện cấp phép.Chưa kể, các ngành như xây dựng, giao thông công chính, thương mạicũng đã cụ thể hóa các điều kiện cấp phép quảng cáo cho riêng ngànhmình, khiến các doanh nghiệp phải trải qua rất nhiều cửa, nhiều rào cảnvới thời gian và chi phí không hề nhỏ mới "vượt qua" được
2.2.2 Đối thủ chính của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Để xác định đối thủ của một công ty là một việc rất phức tạp, có thể nhậndiện thông qua công dụng sản phẩm, nhận diện đối thủ cạnh tranh trong phạm vingành, nhận diện theo quan điểm thị trường Cần phải có sự nhạy bén cùng khảnăng nắm bắt tổng thể những vấn đề diễn ra xung quanh mới có cái nhìn chínhxác về đối thủ, vì đôi khi cuộc cạnh tranh thật sự có thể đánh bại công ty lạikhông đến từ những gì đã định hình mà từ một nguồn nào đó không được dự báotrước
Công ty xác định đối thủ cạnh tranh chính:
Công ty Cổ phần Quảng cáo và Hội chợ Thương mại – VINEXADCông ty Quảng cáo và Truyền Thông Sao Mai
Công Ty Cổ Phần Du Lịch Thương Mại Quảng Cáo Hà Việt (Ha VietAdvertisement Co.Ltd)
Công ty TNHH quảng cáo ngoài trời Việt Nam (Vietnam OutdoorAdvertising, Company Limited)
Việc xác định này dựa trên các cơ sở sau:
Các doanh nghiệp cùng cung ứng một loại hay chủng loại sản phẩmPhạm vi hoạt động kinh doanh giống nhau
Có cùng nhà cung cấp
Trang 16Tuy nhiên, công ty luôn chú ý tới hoạt động của các công ty cung cấp dịch
vụ quảng cáo trực tuyến lớn (đối thủ cạnh tranh trong ngành) như
- Vnexpress ( www.vnexpress.net )
- Vietnam Net ( www.vnn.vn )
Vì hiện nay thị trường quảng cáo trực tuyến đan nóng dần lên sẽ khiến cáccông ty chuyển đổi phương tiện quảng cáo, công ty có thể sẽ mất đi một lượngkhách hàng
Bất cứ một chương trình marketing nào cũng sẽ trở nên thiếu hoàn chỉnhnếu không có những phân tích kỹ lưỡng về đối thủ cạnh tranh và thị trườngngành Công ty có thể sử dụng ma trận SWOT để nghiên cứu điểm mạnh, điểmyếu của công ty và từng đối thủ để tìm ra hướng đi đơng đắn của mình trong kinhdoanh, tìm ra cách ứng xử thích hợp, cân đối quan điểm định hướng theo kháchhàng và định hướng theo đối thủ cạnh tranh Nếu lấy hành động và phản ứng củađối thủ làm căn cứ của mọi giải pháp đề xuất thì không hợp lý bởi xác định đốithủ rất khó khăn, và công ty sẽ thụ động, phụ thuộc vào các hành vi của đối thủ,các giải pháp không có chiến lược dài hạn Còn nếu lấy khách hàng là trọng tâmcông ty sẽ dễ mất phương hướng khi chạy theo nhu cầu của khách hàng Vì vậy,cân bằng định hướng theo đối thủ và theo khách hàng mới đảm bảo phát triển bềnvững, kinh doanh có hiệu qủa
Mẫu ma trận SWOT trong việc phân tích đối thủ cạnh tranh
Công ty Đối thủ 1 Đối thủ 2 Đối thủ 3 Điểm mạnh
Lợi thế của doanh nghiệp?
Khả năng cốt lõi của doanh
nghiệp?
Lĩnh vực doanh nghiệp thu
được lợi nhuận lớn nhất?
Thiếu nguồn lực nào?
Doanh nghiệp làm không tốt
công việc nào?
Trang 17Doanh nghiệp mất tiền vào
Doanhthuhàngnăm
Doanh thuthuần
Lợinhuận Tài sản
Nợ phảitrảCông ty
Đối thủ 1
Đối thủ 2
Đối thủ 3
Nguồn: phòng kinh doanh công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
2.2.3 Khách hàng của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Khách hàng mục tiêu của công ty là các doanh nghiệp kinh doanh và sảnxuất hàng điện tử, công nghệ Với khách hàng lớn như Toyota, Cửu Long motor,
LG, … Đây là những loại hình sản phẩm thích hợp với quảng cáo tấm lớn
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho các khách hàng tập trung tại Hà Nội vàcác tỉnh lân cận như Hải Phòng, Hà Tây, Hà Nam, …
Ngoài ra, còn một dạng khách hàng nữa mà công ty không thể bỏ qua, đso
là các công ty dịch vụ khác là các công ty quảng cáo hoạt động cùng ngành đặc
Trang 18biệt là các công ty quảng cáo nước ngoài Họ không được phép ký các hợp đồngquảng cáo mà phải thông qua các công ty quảng cáo trong nước Họ phải chia sẻhoa hồng cho đối tác Việt Nam hoặc các công ty quảng cáo trong nước đảm nhậnmột số khâu trong quá trình thực hiện quảng cáo
2.3 Phân tích kết quả kinh doanh của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Bảng 3: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái trong 3 năm (2006 - 2008) Đơn vị tính: VNĐ
Doanh số 6.499.548.296 3.579.634.800 8.834.577.985Lợi nhuận thuần 1.182.187.268 376.505.432 1.326.546.400
Nguồn: công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Doanh số năm 2007 giảm đi so với năm 2006 khoảng 55% và lợi nhuận thuầngiảm đi hơn 31%
Doanh số năm 2008 tăng hơn 135% so với năm 2006 và tăng hơn 246% so vớinăm 2007
Lợi nhuận năm 2008 tăng hơn 112% so với năm 2006 và hơn 353% so với năm2007
Nguyên nhân:
- Năm 2006 số lượng công ty quảng cáo ít hơn và đang tăng dần lên, các công ty
ra đời tập trung vào phát triển công nghệ
- Năm 2007 sau khi VN gia nhập WTO, sự cọ xát trong cạnh tranh của các doanhnghiệp VN và của cả nền kinh tế ngày càng khốc liệt hơn Các công ty bắt đầuchú trọng nhiều hơn tới quảng do vậy các công ty quảng cáo ra đời nhiều và pháttriển mạnh Thực tế cho thấy, dịch vụ quảng cáo mà các công ty mới mở ngàycàng đa dạng và hoàn hảo được thiết kế tỉ mỉ và nội dung sâu sắc, sử dụng phầnmềm chuyên nghiệp thu hút được nhiểu doanh nghiệp muốn sử dụng dịch vụ này
Trang 19Điều này gây áp lực cho các công ty quảng cáo cũ với chiều hướng đường lối lạchậu đã mất dần KH
Cuối năm 2007 chỉ còn lại khách hàng truyền thống, số lượng hợp đồng giảmmạnh do đó doanh thu giảm mạnh
Các hợp đồng quảng cáo lớn chỉ chú ý vào công ty quảng cáo lớn hoặc nhữngcông ty có mối quan hệ rộng rãi chiếm được những vị trí
- Năm 2008 công ty bắt đầu chuyển đổi, tiến hành đào tạo nhân viên, nâng caotrình độ Đầu tư mua sắm trang thiết bị và hơn thế họ bắt đầu tự quảng cáo chomình Bắt đầu thu hút được những hợp đổng lớn Tuy nhiên phải sang quý II năm
2008 số lượng hợp đồng mới tăng đột biến, doanh thu bắt đầu tăng so với năm
2007 và vượt 2006
Một phần nguyên nhân đẩy lợi nhuận năm 2008 của công ty TNHH Mỹ Thuật
Hà Thái lên cao như vậy la do khủng hoảng kinh tế thế giới, đồng tiền Việt Nammất giá, đẩy giá thành của các hợp đồng lên cao và đây cũng là lý do tại sao tỷ lệdoanh thu/lợi nhuận năm 2008 giảm đi so với năm 2006 Đồng thời, nhiều doanhnghiệp nhận thức được rằng, trong thời kỳ khủng hoảng, việc cắt giảm ngân sáchquảng cáo là thiếu khôn ngoan Thực tế đã khẳng định: marketing phải được duytrì ở mức độ cần thiết và bằng những bước đi khôn ngoan để vượt lên đối thủtrong giai đoạn khó khăn Bởi trong thời kỳ khủng hoảng, tăng cường các cuộcnói chuyện với khách hàng là việc làm thích hợp để biết được xem sản phẩm củadoanh nghiệp có thực sự làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng hay không Vàquảng cáo vẫn sẽ là một cầu nối hữu hiệu giữa khách hàng và công ty Tuy đâykhông phải là thời điểm phải quá tập trung cho những chiến dịch quảng báthương hiệu rầm rộ nhưng quảng cáo là một điều không thể thiếu và rất cần thờiđiểm thích hợp nhất để tăng cường quảng cáo duy trì mối liên hệ với khách hàng
Trang 20Tính thay đổi (variability): Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được
do dịch vụ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khó kiểm soát như hoạtđộng cung ứng, người cung cấp, thời điểm và nơi chúng được cung cấp
Trang 21Tính dễ bị diệt vong (perishability): Dịch vụ không thể lưu trữ khi cầu
về dịch vụ thay đổi hoặc để cung cấp vào thời điểm khác cho kháchhàng nếu cung không đáp ứng được cầu
Ngoài ra, do đặc tính của ngành quảng cáo, mỗi sản phẩm chỉ có thể sửdụng cho khách hàng đặt hàng sản phẩm đó, chứ không thể dùng cho bất kỳ công
ty nào khác, thế nên, không thể có việc lưu trữ sản phẩm phục vụ cho thị trườnglúc cầu dịch vụ thay đổi
Mọi công ty dịch vụ đều hình thành hệ thống sản xuất, cung ứng dịch vụgắn liền với thiết kế, ý tưởng, chất lượng dịch vụ và mức độ dịch vụ cung ứngcho khách hàng Các yếu tố của hệ thống có mối quan hệ hữu cơ với nhau, nếuxuất hiện sự thay đổi lớn ở một vài yếu tố này có thể dẫn tới sự thay đổi của cả
hệ thống thậm chí cả loại hình dịch vụ
Sơ đồ 2: Mô hình hệ thống sản xuất, cung cấp dịch vụ
Nguồn: Marketing dịch vụ, PGS.TS Lưu văn Nghiêm, nxb Đại học Kinh tế Quốc Dân
Nhìn vào mô hình ta thấy, khách hàng không thể biết trước mình sẽ nhậnđược những gì từ một dịch vụ cho đến khi họ mua và sử dụng dịch vụ đó Vì vậy,khi mua một loại dịch vụ nói chung khách hàng thường có tâm lý sẽ gặp rủi ro Hơn nữa, khác với sản phẩm, hàng hóa hữu hình, dịch vụ là sản phẩm vôhình Do đó, bán một dịch vụ chính là bán một lời hứa rằng doanh nghiệp sẽ đemđến cho khách hàng một điều gì đó
Khách hàng
Không nhìn thấy Nhìn thấy
Môi trường vật chất
Trang 22Công ty đưa ra dịch vụ hẹp có quy mô nhỏ, cung cấp dịch vụ cơ bản và rất ítdịch vụ bao quanh (chỉ có dịch vụ bảo hành dành cho sản phẩm bảng biển tấmlớn và sản phẩm nội thất) với chi phí thấp nhất tạo thuận lợi trong phân phối,trong kiểm tra, kiểm soát do đó giảm các bước, chức năng trong hệ thống Tuydịch vụ được thị trường chấp nhận nhưng sản phẩm công ty rơi vào tình trạng mờnhạt, ít hấp dẫn hơn đối thủ.
Để đảm bảo về quyền tác giả - nhà sản xuất, trên mỗi sản phẩm công ty sảnxuất ra đều có dấu hiệu của công ty, tuy nhiên dấu hiệu này không có khả năngquảng cáo hay giúp khách hàng nhận diện được công ty, nó chỉ có chức nănggiúp nhận dạng sản phẩm của công ty phục vụ giai đoạn bảo hành, sửa chữa.Công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩnISO 9001 - 2000 nhằm tạo nền móng cho sản phẩm có chất lượng, tăng năng suất
và giảm giá thành và tăng năng lực cạnh tranh Đây là một yếu tố quan trọng củasản phẩm vì để bán được một dịch vụ, điều quan trọng nhất là xây dựng lòng tincủa khách hàng đối với doanh nghiệp Với việc xây dựng, triển khai Hệ thốngquản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000, hoạt động quản lý chấtlượng sản phẩm của Công ty đã mang tính hệ thống, tính quy trình với việc phânđịnh trách nhiệm kiểm tra, tần suất kiểm tra các cấp một cách quy chuẩn
2 Giá (price)
Giá là một trong 7 công cụ marketing hỗn hợp, luôn giữ vị trí quan trọngtrong việc hỗ trợ những công cụ khác Giá quyết định lợi nhuận của doanhnghiệp đồng thơi quyết định mức giá trị của dịch vụ sơ đẳng mà khách hàng nhậnđược, tạo dựng hình ảnh và định vị dịch vụ Giá dịch vụ giúp doanh nghiệp giànhlợi thế cạnh tranh trên thị trường tác động tới sự nhận biết dịch vụ của người tiêudùng
Khi phải ra quyết định có nên sử dụng một dịch vụ nào đó hay không, kháchhàng cần những dấu hiệu hữu hình để họ làm tiêu chí lựa chọn Và điều mà họquan tâm nhất là giá cả, vì đây là một yếu tố hữu hình, có thể giúp khách hàng sosánh dịch vụ này với dịch vụ khác
Việc xác định giá phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Xác định giá phải dựa trên ba góc độ khác nhau Đó là chi phí của nhàcung cấp dịch vụ, tình trạng cạnh tranh trên thị trường, Giá trị tiêu dùng màngười tiêu dùng nhận được.Duới góc độ của người cung ứng dịch vụ, giá cảphải bù đắp chi phí, có lãi, đảm bảo khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp
Trang 23Trong điều kiện cạnh tranh, giá cả phải tuân theo giá thị trường, là giá nằmtrong khoảng giữa chi phí sản xuất bình quân và giá dịch vụ có chất lượng caonhất Và cuối cùng, xác định giá phải dựa vào giá trị đích thực mà dịch vụ đómang lại cho khách hàng Không thể máy móc căn cứ vào chi phí cộng thêmmột mức lợi nhuận sẽ làm mất đi lợi thế cạnh tranh của giá cả.
Những yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định giá:
Các yếu tố đầu vào
Các yếu tố cấu thành chi phí
Hiện trạng nền kinh tế
Chiến lược của công ty
Để hiểu rõ hơn những yếu tố ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm hãy xem phụ lục
1, 2 (bảng báo giá Billboard và thiết kế nội thất) để biết các yếu tố cấu thành giáthành sản phẩm
Công ty sử dụng giá cạng tranh: Đảm bảo chất lượng với giá cả phải chăng
Giá mà công ty đề ra sẽ nằm ở khoảng nào đó giữa một bên là giá quá thấp không
có một mức lời nào và một bên là giá quá cao để không thể có một mức cầu nào.Phí tổn của sản phẩm sẽ tạo thành cái nền cho giá cả Những cảm nhận của ngườitiêu dùng về giá trị sản phẩm lập thành độ cao Công ty phải xem xét giả của đốithủ cạnh tranh, cùng những yếu tố bên trong và bên ngoài khác để tìm ra mức giátối ưu
Công ty có thể định giá dựa trên phí tổn - định giá cộng thêm chi phí
Phương pháp định giá sơ đẳng nhất là cộng thêm vào phí tổn một mức lợi nhuậnmục tiêu: ta có thể dựng công thức:
Trang 24Khi định giá theo thời giá công ty căn cứ chủ yếu vào giá của đối thủ cạnh tranh.Công ty có thể định giá bằng, cao hơn hay thấp hơn đối thủ cạnh tranh chính.Việc định giá theo thời giá rất phổ biến, nơi nào mà độ co giãn của sức cầu khỉ
đo lường được thì giá thịnh hành tiêu biểu cho trí khôn tập thể của cả ngành sẽtạo ra được một mức doanh thu thảo đáng Định giá theo thời giá sẽ bảo toànđược sự hòa hợp của cả ngành
Công ty còn sử dụng chiến lược định giá phân biệt cho từng đối tượng kháchhàng
3. Phân phối (place)
Kênh phân phối được hình thành bắt nguồn từ các yếu tố: sản phẩm, dịch
vụ, thương lượng, thông tin, hoạt động xúc tiến Kênh phân phối trong dịch vụthường là những kênh ngắn, trực tiếp Những thành viên trong kênh cũng thựchiện những chức năng nhất định, làm tăng thêm giá trị của dịch vụ Đối với dịch
vụ, sản xuất và phân phối diễn ra đồng thời và là quá trình không thể tách rời.Khách hàng cũng tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ đồng thời tiêu dùngnó
Công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái sử dụng kênh phân phối trực tiếp Đây làloại kênh thích hợp nhất với dịch vụ công ty cung cấp
Sơ đồ 3: Kênh phân phối dịch vụ của công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Nguồn: Công ty TNHH Mỹ Thuật Hà Thái
Đây cũng là loại kênh thích hợp với những dịch vụ thuần túy, tình phi hiệnhữu cao, mức độ quan hệ giữa người cung ứng và khách hàng cao, như ngânhàng, bệnh viện, …
Chiến lược phân phối của công ty ngoài việc tiếp cận khách hàng mục tiêu,cung cấp dịch vụ trực tiếp, cần chú trọng khai thác những thuận lợi từ môi trườngbên ngoài
Nói chung, chiến lược phân phối của công ty rất linh hoạt, tùy vào từng thờiđiểm, dự án mà công ty có chiến lược phân phối phù hợp
Ngoài việc sử dụng kênh phân phối trực tiếp, công ty còn sử dụng cácphương thức bán hàng sau:
Người cung cấp dịch
vụ
Khách hàng