1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay

89 488 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 702,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại CHDCND Lào, có thể kể đến các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như: - Chăn Huẩn Xay Nha Đệt, Chất lượng đội ngũ đảng viên là giáo viên ở các trường phổ thông tỉnh U-Đôm Xa

Trang 1

Luận văn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân

dân Lào giai đoạn hiện nay

Trang 2

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo là một bộ phận quan trọng trong chiến lược con người và chiến lược con người đứng ở vị trí trung tâm trong toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Con người là chủ thể sáng tạo ra mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá; do đó, việc trồng người đặt nền móng cho sự phát triển của các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Giáo dục và đào tạo sẽ làm cho trí tuệ và thể chất, đạo đức và nghề nghiệp, tính độc lập cá nhân và tinh thần cộng đồng, trách nhiệm và quyền hạn, lợi ích

và đóng góp, dân chủ và kỷ cương của mỗi con người được phát triển, là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người

Trong sự nghiệp giáo dục đào tạo nói chung của đất nước, công tác giaó dục và đào tạo đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của hệ thống chính trị

ở Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Lào là một bộ phận đặc thù, có tầm quan trọng đặc biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [20, tr 269-273] Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn với vận mệnh của Đảng, của chế độ theo yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Vì vậy cần phải: “ chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ Đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài ” [8, tr 276]

Trong công cuộc đổi mới và thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay, đất nước Lào đã đạt được những thành tựu quan trọng trên nhiều

Trang 3

lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Kết quả đó có sự đóng góp rất quan trọng của đội ngũ cán bộ Tuy nhiên, vẫn còn một khoảng cách rất lớn giữa yêu cầu về năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ với yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra Nguyên nhân của tình trạng trên là hệ thống chính sách vẫn còn thiếu, hiệu quả của lãnh đạo, quản lý trong công tác cán bộ chưa cao; tính tích cực, tự giác và năng động trong công việc của cán bộ còn nhiều hạn chế Việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ làm chưa tốt; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước chưa được quản lý chặt chẽ, chưa có nền nếp, chưa đảm bảo chất lượng và từ đó chưa tạo ra động lực để thúc đẩy sự nghiệp đổi mới

Trong bối cảnh đó việc tìm ra hệ thống các giải pháp để cải thiện chất lượng đội ngũ cán bộ hiện nay, thì công tác đào tạo, bồi dưỡng được xem là một trong những giải pháp hàng đầu của Đảng và Chính phủ

Để đội ngũ cán bộ đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của nhiệm

vụ cách mạng và sự biến đổi của tình hình thực tế thì đòi hỏi phải phải không ngừng học tập, rèn luyện vươn lên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đã lựa chọn cán bộ cần phải dạy bảo lý luận cho cán bộ Chỉ thực hành mà không có

lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mù” [20, tr 261] Và theo tinh thần của C Mác “người đi giáo dục cũng phải được giáo dục” Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp của hệ thống chính trị thì điều tất yếu trước hết phải tìm cách nâng cao chất đội ngũ giảng viên ở Học viện Vì thế, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để đổi mới và hội nhập quốc tế, việc tạo ra những thay đổi căn bản về chất cho đội ngũ cán bộ không chỉ còn là một nhu cầu mà đang trở thành một vấn đề mang tính cấp bách, quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới

Trong bối cảnh đó, với vị trí công tác của mình, tôi chọn đề tài “Công

Trang 4

tácđào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay” làm

luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề cán bộ và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã và đang là đối tượng của nhiều công trình khoa học cũng như chính sách thực tiễn Trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu được ứng dụng làm

cơ sở cho một số chính sách quan trọng nhằm phát triển đội ngũ cán bộ và hoàn thiện công tác cán bộ nói chung và công tác cán bộ giảng dạy lý luận chính trị nói riêng Tại CHDCND Lào, cũng như tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này

Tại CHDCND Lào, có thể kể đến các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như:

- Chăn Huẩn Xay Nha Đệt, Chất lượng đội ngũ đảng viên là giáo viên ở

các trường phổ thông tỉnh U-Đôm Xay, CHDCND Lào hiện nay, luận văn

thạc sỹ, bảo vệ tại Học viện CTQG Hồ Chí Minh năm 2004;

- Bun Lon – Sa Luôi Sắc, Chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đào

tạo sỹ quan của quân đội nhân dân Lào hiện nay, luận văn thạc sỹ, bảo vệ tại

Học viện CTQG Hồ Chí Minh năm 2005;

- Sẳm Lan Phăn Kha Vông, Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội

ngũ cán bộ ở Trường Đại học Quốc gia Lào trong thời kỳ mới, luận văn đại

học chính trị, chuyên ngành tổ chức, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh, năm 2006

- Thong Chăn Khổng Phum Khăm, Công tác qui hoạch cán bộ thuộc

diện Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào quản lý giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sỹ, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

năm 2005

Trang 5

Tại Việt Nam, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu chủ yếu liên quan vấn đề cán bộ và việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay như sau:

- Đoàn Văn Khái (2005), Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội;

- Tô Tử Hạ (1999), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức hiện nay, Hà Nội;

- Trần Xuân Sầm (1999), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo

chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,

Hà Nội;

- Nguyễn Trọng Bảo (1998), Xây dựng đội ngũ lãnh đạo và đội ngũ cán

bộ quản lý kinh doanh trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,

Nhà Xuất bản Giáo dục, Hà Nội;

- Ngô Thành Can,(2001) “Cán bộ, công chức - các vấn đề và nhu cầu

đào tạo”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 2;

- Thang Văn Phúc(2003), “Định hướng đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ công chức theo yêu cầu của Chương trình tổng thểCải cách hành chính 2001-2010”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 9;

- Hà Anh Tuấn (2006), Công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

quản lý cấp tỉnh và tương đương ở Học viện Hành chính quốc gia giai đạon hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học, chuyên ngành Xây dựng

ĐCS Việt Nam;

- Nguyễn Thị Bích Hường (2006), Chất lượng đào tạo cán bộ chủ chốt

của hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn ở Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong thành phố Hà Nội giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Chính trị học,

chuyên ngành Xây dựng ĐCS Việt Nam;

Bên cạnh đó, các công trình, kết quả nghiên cứu về công tác cán bộ và

Trang 6

công tác đào tao, bồi dưỡng được công bố ở một số tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Tổ chức nhà nước, Tạp chí Quản lý nhà nước, Tại Lào cũng có một số nhà nghiên cứu lý luận, những người làm công tác Đảng, công tác giáo dục đã đề cập đến một số khía cạnh của công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Lào

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

* Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở khái quát một số vấn đề cơ bản về lý luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Phân tích làm rõ sự cần thiết khách quan phải nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào giai đoạn hiện nay

- Làm rõ vai trò, vị trí và chỉ ra tiêu chí đánh giá chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán

bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào từ 1996 đến nay; phân tích các nguyên nhân và kinh nghiệm

- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào từ nay đến năm 2010

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

* Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề chủ yếu trong công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào từ

năm 1996 đến 2007

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; quan điểm của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về cán bộ và công tác đào tạo cán bộ

- Luận văn sử dụng các phương pháp lô gíc - lịch sử, điều tra, xã hội học, thu thập thông tin từ thực tế, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

và so sánh; đồng thời tham khảo những tư liệu, tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài

6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể mang lại một số đóng góp nhất định cho các khía cạnh lý luận và thực tiễn có liên quan

Những giải pháp mà luận văn đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các khóa bồi dưỡng giáo viên của Học viện, các trường chính trị tỉnh, thành phố và các trung tâm bồi dưỡng chính trị thuộc các tỉnh, thành phố

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham, phụ lục, nội dung

Trang 8

của luận văn đựơc kết cấu thành 2 chương và 5 tiết

Trang 9

Chương 1 công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy

ở Học viện chính trị và Hành chính Quốc gia nước cộng hoà dân chủ

nhân dân lào - những vấn đề

về lý luận và thực tiễn

1.1 khái quát về học viện chính trị và hành chính quốc gia và đội ngũ cán bộ giảng dạy ở học viện chính trị và hành chính quốc gia nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

1.1.1 Khái quát về Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

1.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

Nước CHDCND Lào nằm ở khu vực Đông Nam á, có diện tích 236.000 km2, với 5,53 triệu dân Từ năm 1893, Lào là thuộc địa của Pháp, trong chiến tranh thế giới lần thứ II, Nhật Bản chiếm đóng Lào Tháng 10 năm 1945, nhân dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Lào ít-xa-la (Lào tự do) đã khởi nghĩa giành chính quyền Chính phủ lâm thời được thành lập, năm 1949 Lào được công nhận là Quốc gia liên hiệp độc lập nhưng thực chất người Pháp vẫn thâu tóm cả về ngoại giao, tài chính và quân sự

Năm 1950, Lào ít-xa-la giải thể, Mặt trận Lào tự do (Neo Lào ít-xa-la)

và Chính phủ kháng chiến Lào được thành lập ở Đông Lào do Hoàng thân Xu-pha-nu-vông làm Chủ tịch Năm 1954, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Pháp rút quân về nước, cùng với nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào đã sát cánh bên nhau chống Mỹ

Năm 1973, Mỹ đình chiến tại Lào Năm 1974, Chính phủ liên hiệp dân tộc Lào được thành lập Tháng 8 năm 1979, chính quyền cách mạng trên toàn lãnh thổ Lào được thiết lập, Xu-pha-nu-vông là Chủ tịch nước kiêm Chủ tịch

Trang 10

Hội đồng nhân dân tối cao; Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

Năm 1986, tại Đại hội lần thứ IV, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra chủ trương đối mới kinh tế toàn diện Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Lào đã và đang nỗ lực xây dựng phát triển mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội trên đất nước Lào

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước, ngay từ những năm đầu thập niên 60 của thế

kỷ XX, được sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè quốc tế, với sự nỗ lực của Chính phủ Lào, các trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lần lượt được ra đời, trong đó có Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

Quá trình hình thành và phát triển của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào được chia thành 5 giai đoạn sau:

 Giai đoạn I (từ tháng 3/1960 - 6/1966)

Ngày 22-3-1960 là ngày thành lập trường Đảng, ban đầu trường có tên

là Trường Đoàn kết, đóng ở vùng căn cứ kháng chiến tỉnh Hủa Phăn giáp biên giới Việt Nam

Ngay từ khi mới thành lập, trường đã nhận được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình và quí báu của nước bạn Việt Nam Lúc mới thành lập, đội ngũ cán

bộ lãnh đạo và giảng dạy gồm cả người Việt Nam và người Lào Ban Giám đốc gồm có người Lào và người Việt Nam, người Việt Nam là ông Nguyễn Khánh và ông Hồ Sĩ Tương; người Lào là ông Khăm Sáy và ông Ô Sa Căn Thăm Na Thê Va

Trong thời gian này trường đảm nhận việc đào tạo đội ngũ cán bộ cho các cơ quan Đảng, chính quyền, quân đội và các tổ chức đoàn thể Nhiệm vụ chủ yếu của trường trong giai đoạn này là:

- Phổ biến những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 11

- Phổ biến đường lối chính sách của Đảng hay còn gọi là chiến lược - sách lược của cách mạng Lào

- Học tập kinh nghiệm cách mạng của các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa như: Liên bang Nga, Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác

- Giáo dục, đào tạo cho đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể và quân đội về các kiến thức và kỹ năng cơ bản như:

+ Công tác vận động (Mặt trận, thanh niên, phụ nữ, dân tộc, tôn giáo và công tác vận động hậu phương của địch)

+ Công tác quốc phòng - an ninh (chiến tranh nhân dân)

+ Công tác đào tạo - bồi dưỡng Đảng - cán bộ

+ Đường lối đối ngoại của Đảng

 Giai đoạn II (7/1966-1/1976)

Trước yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng, cùng với sự lớn mạnh của Đảng, trong giai đoạn này, trường Đảng đã chuyển từ biên giới Lào – Việt Nam sang đặt ở bản Bắc, huyện Viêng Xeng, tỉnh Hủa Phăn, trường có tên là Trường Đoàn kết

Trong giai đoạn này, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng Đảng và chính quyền nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nhiệm vụ chủ yếu của trường là tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính sách của Đảng và giáo dục cho cán bộ chủ chốt biết làm công tác xây dựng vùng giải phóng thành nhà nước và biết xây dựng chi bộ 4 biết như:

- Biết lãnh đạo xây dựng kinh tế

- Biết vận động nhân dân để góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo đường lối chính sách của Đảng đề ra

- Biết lãnh đạo công tác quốc phòng - an ninh

Trang 12

- Biết xây dựng Đảng - cán bộ

Trong giai đoạn này, Giám đốc nhà trường là ông Chăn My Đuông Bút Đi

 Giai đoạn III (2/1976-5/1986 - giai đoạn trường Đảng thuộc Ban

Tuyên huấn Trung ương)

Sau khi giành được độc lập, thiết lập chính quyền cách mạng trên toàn lãnh thổ, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trở thành đảng cầm quyền, lúc này, trường đảng (Trường Đoàn kết) trực thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào

Nhiệm vụ của trường trong giai đoạn này là:

- Giúp Trung ương tổ chức triển khai đường lối chính sách và Đại hội đại biểu toàn quốc, sau khi đã công nhận và công bố thành lập nước CHDCND Lào (2/12/1975)

- Tổ chức hội thảo, học tập cho các cán bộ và đảng viên cách mạng Lào thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và nhiệm vụ cách mạng khi bước sang kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ, đất nước đã thoát khỏi ách thống trị của đế quốc và tay sai, đất nước đã được giải phóng hoàn toàn, nhân dân Lào đã trở thành người làm chủ thực sự

- Tổ chức học tập văn hoá và lý luận, đường lối chính sách của Đảng

 Giai đoạn IV (7/1986 – 1995)

Giai đoạn này, Trường Đảng tách ra độc lập, có tên là Trường Cao đẳng Đảng- Nhà nước, thuộc sự chỉ đạo của Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Chính phủ Lào Trường trở thành đơn vị ngân sách độc lập, theo chế độ ngân sách của Bộ Tài chính

Trong giai đoạn này, cơ cấu tổ chức và cán bộ của Trường đã từng bước được hoàn thiện và kiện toàn Trường đã hình thành cơ cấu tổ chức gồm các khoa như: Khoa Triết học, Khoa Kinh tế, Khoa Chủ nghĩa xã hội

Trang 13

khoa học, Khoa Hành chính - quản lý, Phòng Tài vụ và Phòng Tổ chức cán

bộ Đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản lý của trường đã được đào tạo một cách bài bản hơn, thông qua các khoá đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở trong và ngoài nước

 Giai đoạn V ( từ tháng 3/1995 đến nay)

Trước yêu cầu sắp xếp lại tổ chức và chức năng nhiệm vụ các cơ sở đào tạo của Đảng và Chính phủ nhằm tránh sự chồng chéo về chức năng nhiệm vụ

và tổ chức bộ máy, Bộ Chính trị, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Chính phủ Lào đã ban hành Nghị quyết số 09/BCT ngày 27/2/1995 và Nghị định của Chính phủ số 59/CP ngày 29/7/1995 về việc thành lập Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia trên cơ sở hợp nhất Trường Cao đẳng Đảng- Nhà nước với Trường Hành chính và quản lý quốc gia Lào

Hiện nay, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có 149 cán bộ, với 5 đơn vị nghiên cứu và giảng dạy (Viện Triết học, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Viện Kinh tế chính trị, Viện Xây dựng Đảng & lịch sử Đảng, Viện Hành chính học), và các đơn vị chức năng gồm: Văn phòng hành chính, Cục Tổ chức cán bộ, Cục Chuyên môn đào tạo, Vụ Nghiên cứu và quản lý khoa học

1.1.1.2 Vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Học viện Chính trị và Hành chính Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào là một trong những

cơ quan thuộc Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Chính phủ Lào; là cơ quan chuyên trách cấp Trung ương tương đương với các Ban của Đảng và Bộ, cơ quan tương đương của Chính phủ Học viện có chức năng

và nhiệm vụ sau:

- Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, công chức đang đương chức và thuộc diện qui hoạch cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước, các cơ quan đoàn thể quần chúng; nghiên cứu lý luận, khoa học chính trị và hành chính, lý luận

Trang 14

cách mạng và thực tiễn để phục vụ việc học tập - giảng dạy và góp phần vào việc nghiên cứu làm cho đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước được cụ thể hoá và hoàn chỉnh hơn

- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý đang đương chức cấp trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng về chính trị và hành chính

- Đào tạo cán bộ kế tiếp cấp cử nhân, thạc sĩ về chính trị và hành chính cho các ban ngành từ Trung ương đến địa phương

- Phối hợp cùng các bộ phận khác có liên quan tiến hành bồi dưỡng trình độ, tập huấn, hội thảo ngắn ngày trang bị kiến thức lý luận cơ bản cần thiết về chính trị - hành chính; đường lối chính sách của Đảng và quy định, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ cấp trung - cao cấp của Đảng, Nhà nước

- Lãnh đạo, quản lý công việc trong Học viện như: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác cán bộ, quản lý hành chính, quản lý ngân sách, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiện các chính sách đối với cán bộ giảng viên

- Thực hiện công tác quan hệ quốc tế về nghiên cứu khoa học, đào tạo và

Trang 15

bồi dưỡng cán bộ; tranh thủ sự giúp đỡ và hợp tác song phương hoặc đa phương

1.1.2 Đặc điểm, vai trò của đội ngũ cán bộ giảng dạy Học viện Chính trị và Hành chính Quốc gia Nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

1.1.2.1 Đặc điểm của đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào

Xuất phát từ những nét đặc thù về chức năng nhiệm vụ của Học viện theo quy định trên, đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào cũng có những nét đặc thù riêng Đội ngũ cán

bộ giảng dạy của Học viện - những trí thức thuộc lĩnh vực lý luận chính trị, là bộ phận không thể tách rời với đội ngũ trí thức nói chung, song để

có thể đảm nhiệm được nhiệm vụ của Học viện, họ có những đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, họ là lực lượng góp phần trong việc xây dựng đường lối

chính sách, phát triển và truyền bá lý luận của Đảng và Nhà nước Lào, là những người có phẩm chất chính trị tốt - trung thành với lý tưởng của Đảng, với Nhà nước và lợi ích của nhân dân, có sự nhạy cảm chính trị và bản lĩnh chính trị vững vàng

Thứ hai, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và truyền bá lý luận Mác -

Lênin trong điều kiện mới của đất nước và thời đại, đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện đa phần có trình độ lý luận vững vàng về các khoa học chuyên ngành, có phương pháp nghiên cứu khoa học

Xuất phát từ yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo của Học viện Chính trị

và Hành chính quốc gia Lào, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện đòi hỏi phải có chất lượng cao Đối tượng đào tạo của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào là đội ngũ cán bộ trung cao cấp trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ lý luận chính trị, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý trên các lĩnh vực khác nhau Vì vậy, cán bộ giảng dạy ở Học viện phải là những người

Trang 16

có trình độ tri thức cao, có phương pháp tư duy biện chứng

Thứ ba, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành

chính quốc gia Lào được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có cơ cấu trình độ và độ tuổi đa dạng

Với lịch sử gần 50 năm xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Nước CHDCND Lào được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Thế hệ thứ nhất, họ là những người đã từng tham gia giảng dạy từ những thập niên 70-80 của thế kỷ XX Đây là những người trưởng thành trong bối cảnh đất nước có nhiều chuyển đổi, họ có thể là cán bộ giảng dạy của Trường Đoàn kết, của Học viện Hành chính và quản lý quốc gia Lào, hoặc chuyển từ các cơ quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể sang làm công tác giảng dạy

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có cơ cấu trình độ đa dạng Nhìn chung, đội ngũ này được đào tạo một cách tương đối bài bản ở trong nước và các nước XHCN như Liên Xô (cũ), Đông Âu, Trung Quốc, Việt Nam, hay các nước tư bản như: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Canada, Thái Lan, Singapore Xuất phát từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, các cơ quan khác nhau, sự khác nhau về độ tuổi nên đội ngũ này

có sự đa dạng về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm

1.1.2.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị

và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào

Với chức năng là cơ quan nghiên cứu và giảng dạy lý luận, đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào giữ một vị trí hết sức quan trọng Tầm quan trọng này xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của Học viện mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào đã tin tưởng giao phó

V.I Lênin đã từng khẳng định: "Không có lý luận cách mạng thì

Trang 17

cũng không thể có phong trào cách mạng" và "chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn, mới có thể làm tròn nhiệm vụ chiến sĩ tiên phong" [12, tr.30-32] Giáo dục lý luận chính trị có vị trí rất trọng yếu trong cách mạng tư tưởng và văn hoá Trong lịch sử giai cấp thống trị nào cũng tìm mọi cách đem tư tưởng truyền bá vào quần chúng, biến tư tưởng đó thành tư tưởng của toàn xã hội Việc ấy được thực hiện bằng nhiều cách, trong đó hệ thống giáo dục giữ vị trí trọng yếu và đội ngũ giáo viên có vai trò quyết định

Thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào cho thấy vấn đề cán

bộ và việc huấn luyện cán bộ là hết sức quan trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc Vì vậy, huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng" [20, tr.268] Ngay từ năm 1925 Người đã mở các lớp huấn luyện lý luận chính trị, đường lối cứu nước để đào tạo cán bộ, chuẩn

bị cả về chính trị tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Người đã chỉ

ra rằng: "Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu" [20, tr.273] Đây là điều mà trước đó C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra: Những người lãnh đạo phải học tập ngày càng nhiều hơn về tất cả các vấn đề lý luận, phải tự giải thoát ngày càng nhiều hơn khỏi ảnh hưởng của những câu cổ truyền của thế giới quan cũ Không thể có một đảng mạnh nếu không có lý luận cách mạng để đoàn kết tất cả những người xã hội chủ nghĩa lại

Trong bối cảnh hiện nay, cũng như Việt Nam, Lào đang ở trong thời kỳ xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới Thực tiễn xây dựng đất nước đặt ra nhiều vấn đề và cũng tạo nhiều điều kiện

để đội ngũ cán bộ tiếp tục đổi mới tư duy, đem lại cho mỗi người chúng ta có nhận thức mới đúng đắn hơn, đầy đủ và sâu sắc hơn về những quy luật vận động, phát triển của xã hội Chính yêu cầu này đòi hỏi phải xây dựng cho

Trang 18

được đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, có trình độ đảm đương nhiệm

vụ cách mạng mới, trong đó có những người nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị Do đó, sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về lý luận chính trị, về quản lý nhà nước và nghiệp vụ của các tổ chức chính trị xã hội tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết

Xuất phát từ qui Qui định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân

dân cách mạng Lào- Về tiêu chuẩn cán bộ, ngày 02/4/2003, Chỉ thị số 04/BCTTW ngày 25/7/1994, Về rà soát lại đội ngũ cán bộ và qui hoạch, đào tạo cán bộ trong cả nước, Văn kiện Đại hội Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ VII, Xuất phát từ chức năng và nhiệm vụ của Học viện

Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu của Học viện giữ một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận Cụ thể:

- Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện là lực lượng đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở cấp Trung ương, cấp tỉnh Bồi dưỡng ngắn hạn các đối tượng này về lý luận chính trị, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Bồi dưỡng kiến thức và nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, về quản lý hành chính nhà nước và về công tác vận động quần chúng

- Tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, góp phần phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, của Nhà nước, góp phần phát triển lý luận, đường lối, đấu tranh chống những luận điệu sai trái, bảo vệ sự đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Theo đó, giảng viên là người trực tiếp truyền đạt những kiến thức khoa học, hướng dẫn người học nâng cao nhận thức tư tưởng và năng lực tổ chức

Trang 19

thực hiện các nhiệm vụ cách mạng Người giảng viên không những truyền đạt

mà còn làm sáng tỏ những luận cứ khoa học và hơn thế nữa là hướng dẫn người học cách thức vận dụng kiến thức vào thực tiễn Thông qua đội ngũ giảng viên, những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chủ trương chính sách, pháp luật và nhiều quy định khác của Đảng và Nhà nước đến với người học một cách chủ động, sáng tạo và có nhiều thuận lợi hơn khi vận dụng vào thực tiễn Người học ở đây lại chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản

lý chủ chốt, lực lượng quan trọng góp phần biến đường lối, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thành hiện thực Khi họ biết vận dụng những vấn

đề cần thiết trên cơ sở đã nắm bắt và hiểu về nó thì hiệu quả sẽ lớn hơn nhiều Điều đó càng nói lên vai trò của đội ngũ giảng viên

Đồng thời giảng viên ở Học viện cũng là lực lượng chủ yếu làm công tác nghiên cứu lý luận Để giảng dạy và quản lý tốt phải nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học để giảng dạy, quản lý tốt Như vậy nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và góp phần tích cực vào công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao công tác lý luận của Đảng

Thông qua việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học, đội ngũ giáo viên của Học viện thực sự là bộ phận quan trọng góp phần giáo dục lý luận, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vào việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề đặt ra trong lý luận cũng như trong thực tiễn; vào công tác đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ dưới mọi hình thức, khắc phục những nhận thức sai lầm trong cán bộ và nhân dân

Có thể nói rằng: Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào là cán bộ khoa học và chính trị góp phần quyết định nội dung và chất lượng đào tạo của Học viện Đúng

Trang 20

như Lênin đã từng nói: "Trong bất kỳ một trường học nào, điều quan trọng nhất là phương hướng chính trị và tư tưởng của các bài giảng Cái gì quyết định phương hướng đó? Hoàn toàn và chỉ là thành phần các giảng viên quyết định" [16, tr.248]

Tóm lại: Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành

chính quốc gia là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo và quản lý chủ chốt ở nước CHDCND Lào hiện nay Đội ngũ giảng viên này phải là những cán bộ lý luận giỏi, am hiểu thực tiễn, đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội, tích cực đấu tranh chống lại những tư tưởng lạc hậu, phản động, bảo vệ sự trong sáng của lý luận, đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, yêu cầu công tác đào tạo cán bộ ngày càng trở nên cấp thiết, do đó vị trí, vai trò của đội ngũ giảng viên trong tại Học viện ngày càng quan trọng hơn

1.2 Quan niệm và tiêu chí đánh giá công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy

ở Học viện chính trị và hành chính Quốc gia nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

1.2.1 Quan niệm về công tác đào tạo

Theo Từ điển tiếng Việt thì “đào tạo” được hiểu là: “Làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [25, tr.279]

Đào tạo là khâu quan trọng, có các động lớn đến việc hình thành chất lượng đội ngũ cán bộ V.I Lênin đã chỉ ra: “Trong lịch sử chưa hề có giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng

tổ chức và lãnh đạo phong trào” [12, tr.73]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã có rất nhiều bài viết về công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ Hồ Chí Minh cho rằng: “Việc huấn luyện cán bộ không phải là việc đơn giản, muốn làm được thì phải hiểu cho rõ” [22, tr.45]; theo

Trang 21

đó, phải hiểu thấu đáo các vần đề như “huấn luyện ai”, “ai huấn luyện”, “huấn luyện cái gì”, “huấn luyện như thế nào”, “tài liệu huấn luyện”, “ học cái gì”, [22, tr.46-49] Tất cả những nội dung này đều phải được chuẩn bị chu đáo, tiến hành có kế hoạch Người phê phán thói làm ăn cẩu thả chạy theo thành tích:

Mở lớp lung tung vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản Thiếu người giảng thì phải đi

“bắt phu”, vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “Chuồn chuồn đập nước”, dạy không được chu đáo Thiếu người giảng thì thường khi lại phải “bịt lỗ”, người bịt lỗ năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh, nghĩa là có hại cho Đoàn thể

Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì tạp nham Vậy phải làm thế nào ?

Phải hợp lý hoá, nghĩa là:

1 Mở lớp nào cho ra lớp ấy

2 Lựa chọn người dạy và người học cho cẩn thận

3 Đừng mở lớp lung tung [22, tr.52]

Khi bàn đến việc xác định đối tượng giảng dạy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: trước khi huấn luyện phải trả lời cho được câu hỏi: “Huấn luyện ai?” Với hệ thống Trường Đảng, Bác trả lời:

“- Huấn luyện cán bộ

- Huấn luyện hội viên đoàn thể

- Huấn luyện cán bộ các ngành chuyên môn của chính quyền

- Huấn luyện nhân dân

Nói đến cán bộ trước hết, vì “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể”, có vốn mới làm ra lãi”[22, tr.46]

Khi bàn về nội dung chương trình đào tạo cán bộ, theo Chủ tịch Hồ

Trang 22

Chí Minh, nội dung huấn luyện phải bảo đảm toàn diện, đồng bộ, đồng thời phải có trọng tâm, trọng điểm; phải coi trọng cả kiến thức lý luận và thực tiễn,

cả kiến thức cơ bản và chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng thực hành; kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao trí tuệ với rèn luyện phẩm chất đạo đức Muốn vậy, nội dung chương trình phải bao gồm nhiều lĩnh vực như “huấn luyện nghề nghiệp”, “ huấn luyện chính trị”, “ huấn luyện văn hoá”`, “huấn luyện lý luận” Tuy nhiên, không thể dùng một chương trình để huấn luyện chung cho các loại cán bộ, mà phải tuỳ thuộc đối tượng học tập để bố trí nội dung cho phù hợp

Về phương châm đào tạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác huấn luyện cán bộ phải quán triệt các phương châm:

Một là, “Lý luận gắn với thực tiễn”, “học đi đôi với hành” Bác nói: “

Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng;

Lý luận không liên hệ với thực tiễn thì thành lý luận suông”[21, tr 496]; Bác còn nhấn mạnh học để hành Học với hành phải đi đôi, học mà không hành thì

vô ích Hành mà không học thì hành không trôi chảy

Hai là, Huấn luyện phải thiết thực Bác yêu cầu: “Tài liệu huấn luyện

phải nhằm vào sự cần dùng cần thiết của quần chúng, phải hỏi người đến chịu huấn luyện rồi, có áp dụng được ngay không? Có thực hành được ngay không?”[20, tr.248] Theo Người: “Huấn luyện cần thiết thực chu đáo, hơn tham nhiều” Phải biết “Quý hồ tinh, bất Quý hồ đa” Huấn luyện cán bộ cốt

là để cung cấp cán bộ cho các ngành công tác: Đoàn thể, Mặt trận, Chính quyền, Quân đội ”[22, tr.48] Vì vậy, huấn luyện cán bộ phải đúng nhu cầu Bác cho rằng không phải ai cũng huấn luyện được: “Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề thợ rèn, thợ nguội Người huấn luyện của đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt : tư tưởng, đạo đức,

Trang 23

lối làm việc” [22, tr.46] Người huấn luyện phải luôn luôn phấn đấu vươn lên trong học tập, nghiên cứu, đó là học, học nữa, học mãi Bác nêu khẩu hiệu:

“học không biết chán, dạy không biết mỏi”[22, tr.46]

Ba là, Kết hợp chặt chẽ việc nâng cao kiến thức trí tuệ, năng lực

chuyên môn, kỹ năng thực hành với rèn luyện phẩm chất, phong cách, cải tạo

tư tưởng

Bác nói: “Phải huấn và luyện Huấn là dạy dỗ, luyện là rèn giũa cho sạch những vết xấu xa trong đầu óc Ví dụ: Hiện nay cán bộ ta có một khuyết điểm lớn là tự kiêu, tự mãn Phải đập cho tan khuyết điểm ấy đi Nếu còn tự kiêu tự mãn thì học biết nhiều chỉ thêm hại”[22, tr.49] Bác yêu cầu người học phải xác định đúng mục đích, động cơ học tập: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” [21, tr.684]

Bốn là, phát huy cao độ tính chủ động, sáng tạo của học viên, coi

trọng khâu tự học Bác nói: Học tập ở trường của đoàn thể không phải như học ở các trường lối cũ, không phải có thày thì học, thày không đến thì đùa Phải biết tự động học tập Bác yêu cầu ngườì học phải chủ động suy nghĩ, ham học hỏi, ham tìm tòi, học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân” [22, tr.49]

Nhận thức đực tầm quan trọng công tác cán bộ, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn đòi hỏi phải giải quyết để công tác đào tạo có chất lượng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá VI (1998) đã khẳng định: “Công tác đào tạo cán bộ phải căn

cứ vào nhu cầu cán bộ Nội dung chương trình đào tạo phải phù hợp với từng loại cán bộ” [43, tr.6]

Tiếp đó, Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào khoá VII (2005), quan điểm về đào tạo cán bộ như đã đề

Trang 24

ra tại Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) lại được tiếp tục khẳng định một lần nữa Tuy nhiên, tại Hội nghị lần này (2005), Đảng Nhân dân cách mạng Lào xác định: “Nội dung chương trình đào tạo cán bộ cần phải bám sát thực tiễn chú trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và bồi dưỡng kiến thức về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, khoa học công nghệ, chuyên môn, nghiệp vụ; đào tạo cả về tác phong lãnh đạo, đạo dức cán bộ” [42, tr.13]

Xuất phát từ thực tiễn đào tạo cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị

và Hành chính quốc gia Lào; qua khảo sát, nghiên cứu thực tế, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm với một số cơ quan đào tạo cán bộ ở Lào và Việt Nam, có thể đưa ra quan niệm về công tác đào tạo cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị

và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào, đó là: tổng hợp tất cả các công tác lãnh đạo, chỉ đạo, qui hoạch cán bộ, xây dựng nội dung chương trình đào tạo nhằm tạo nên phẩm chất chuyên môn, đạo đức, phẩm chất chính trị đảm bảo cho đội ngũ đó hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học đáp ứng các yêu cầu đặt ra tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào

1.2.2 Tiêu chí đánh giá

Trên cơ sở quan niệm về công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào đã nêu ở trên, để đánh giá được chất lượng đào tạo cán bộ giảng dạy hiện nay, cần căn

cứ vào các tiêu chí chủ yếu dưới đây:

* Về đội ngũ cán bộ giảng dạy

Đây là sản phẩm của công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy Để đánh giá công tác đào tạo cán bộ giảng dạy cần phải căn cứ vào các yêu cầu, tiêu chuẩn của người cán bộ tại Học viện, cụ thể:

 Trước hết phải đào tạo được người giảng viên có phẩm chất chính

Trang 25

trị, đạo đức tốt

Người giảng viên lý luận tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc Do vậy, người giảng viên phải là người có tinh thần cách mạng, không ngừng bồi dưỡng nhiệt tình cách mạng

và góp phần bồi dưỡng nhiệt tình cách mạng cho người học Người giảng viên phải chấp hành đầy đủ mọi chủ trương, chính sách, pháp luật Đây là yêu cầu

cơ bản đầu tiên đối với người giảng viên ở Học viện

 Phải đào tại được đội ngũ giảng viên có kiến thức chuyên môn sâu và

kiến thức tổng hợp rộng

Là giảng viên lý luận tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Nước CHDCND Lào đòi hỏi phải nắm vững những nguyên lý khoa học và cách mạng; ngoài ra, giảng dạy môn nào phải có kiến thức chuyên sâu ngành

đó ở mức độ cần thiết để đảm bảo tính khoa học trong nhận thức, nghiên cứu

và giảng dạy Thiếu chuyên sâu người giảng viên không thể nào lý giải được những vấn đề lý luận, thực tiễn đang đặt ra Hơn nữa, tri thức lý luận được xây dựng trên nền tảng tri thức khoa học của nhân loại, chỉ có thể hiểu đúng được khi người giảng viên có nền tảng tri thức khoa học tự nhiên, khoa học xã hội đạt mức độ cần thiết

Ngoài ra, người giảng viên cần nắm được kiến thức thực tiễn, nắm vững quan điểm, đường lối một cách có hệ thống, có chiều sâu và toàn diện mới có thể giảng dạy đúng được lý luận, vận dụng sáng tạo những quan điểm

đó trong bài giảng Qua đó người học mới tiếp thu được bản chất cách mạng

và khoa học của những vấn đề lý luận sâu hơn

Trong điều kiện hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, càng đòi hỏi người giảng viên phải có sự hiểu biết sâu rộng

và tổng hợp Mặt khác, chính đối tượng mà mình giảng dạy càng ngày càng

Trang 26

có trình độ học vấn cao đòi hỏi người giảng dạy phải đáp ứng Do đó, ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản, phải nắm vững nhanh nhạy được những tri thức mới về lý luận, có sự hiểu biết về những tiến bộ của cách mạng khoa học

và công nghệ, cùng những diễn biến của tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá đang diễn ra ở địa phương, trong nước và trên thế giới

Để có thể vươn tới, đạt những yêu cầu như đã nêu trên, đòi hỏi người giảng viên phải tích cực học tập, chịu khó nghiên cứu, tích luỹ để làm giàu sự hiểu biết của mình Người giảng viên phải thường xuyên có được những thông tin mới, được bảo đảm các điều kiện vật chất và tinh thần để nghiên cứu

và giảng dạy có hiệu quả cao

Quá trình hoạt động giảng dạy chúng ta thấy: Người giảng viên cần phải được đào tạo căn bản để có kiến thức vững chắc, thấm nhuần thế giới quan và phương pháp luận, tích cực cải tiến phương pháp sư phạm thích hợp với đối tượng đào tạo Phải có sự nỗ lực cao của cá nhân, sự giúp đỡ của tập thể và đồng nghiệp, người giảng viên mới có trình độ chuyên môn và nghiệp

vụ vững vàng

Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên phải là những người có “đạo đức cách mạng” Như Hồ Chí Minh đã nói: “Đạo đức cách mạng là cái "gốc" của người cách mạng” Người giảng viên phải là tấm gương đạo đức tròng đời sống hằng ngày và phải có đạo đức trong nghề nghiệp như: trung thực trong khoa học, nghiêm túc trong giảng dạy và học tập, tương hỗ với đồng nghiệp, đồng chí, quan hệ đúng mực với học viên Người giảng viên giảng dạy lý luận, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nên không thể "nói một đàng làm một nẻo", lời nói thì rất "hay", "rất "cách mạng" nhưng hành động thì ngược lại Người học không chỉ tiếp thu tri thức qua bài vở mà độ tin cậy của tri thức đó còn từ tấm gương của người dạy Đó không chỉ là yêu cầu

Trang 27

đối với người học mà cũng là yêu cầu đối với người dạy, là phương châm của công tác đào tạo cán bộ Điều đó dòi hỏi người dạy phải là tấm gương sáng cho người học noi theo

 Phải đào tạo được đội ngũ giảng viên có khả năng gắn được lý luận

với thực tiễn

Mác - Ăngghen - Lênin đã nghiên cứu, tổng kết thực tiễn lịch sử nhân loại, gắn mình với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động đã vạch ra học thuyết cách mạng và khoa học chỉ đạo cách mạng thế giới Vì vậy, để hiểu đúng chủ nghĩa Mác - Lênin, người cán bộ giảng dạy phải có kiến thức các mặt sâu rộng, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm lịch sử quý báu và phải gắn với thực tiễn sôi động đang diễn ra trên khắp cả nước và

ở địa phương mình

Để gắn được lý luận với thực tiễn trong từng bài giảng còn đòi hỏi người giảng viên phải biết tổng kết thực tiễn Phải tìm được mối liên hệ tất yếu, bản chất của cuộc sống với những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, thấy được sự biểu hiện sinh động của quan điểm mác-xít trong cuộc sống, thấy được những nét riêng độc đáo của các mảng hiện thực và tính sáng tạo trong lãnh đạo của Đảng ta đối với vấn đề đang nghiên cứu Có như vậy người giảng dạy lý luận Mác - Lênin mới có thể giúp người học nâng cao trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị, phẩm chất cách mạng, năng lực xử lý các tình huống phức tạp nảy sinh trong thực tiễn

Trên đây là những yêu cầu rất cơ bản đối với người giảng viên Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào Chúng tôi coi đó là những vấn đề

"gốc" nhất để nâng cao chất lượng giảng dạy, chất lượng giảng viên và đó cũng là nguyên nhân sâu xa nhất quyết định chất lượng giảng dạy, đào tạo Những yêu cầu cơ bản đã nêu trên cần phải "lượng hoá" vận dụng cho sát hợp trong điều kiện cụ thể hiện nay và tính tới những năm tiếp theo Chỉ có như vậy mới bảo đảm nâng cao chất lượng giảng viên và đội ngũ giảng viên -

Trang 28

người trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo của Học viện

* Nội dung chương trình đào tạo

Thực hiện nội dung, chương trình đào tạo phải tuân thủ theo các quy chế, qui định và hướng dẫn của Đảng, Nhà nước và xuất phát từ yêu cầu thực

tế của Học viện Nội dung, chương trình đào tạo cán bộ giảng dạy của Học viện phải đảm bảo yêu cầu và phương châm đào tạo: cơ bản, hệ thống, coi trọng lý luận và thực tiễn, tăng cường nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng thực hành, xử lý tình huống Tính khoa học và hợp lý của chương trình đào tạo giảng viên tại Học viện là yếu tố quan trọng cho việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên, đồng thời đây cũng là tiêu chí quan trọng để đánh giá công tác đào tạo đội ngũ giảng viên ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay

* Phương thức đào tạo

Khi đánh giá chất lượng công tác đào tạo cũng cần phải căn cứ vào tiêu chí phương thức đào tạo Để đào tạo cán bộ giảng dạy đạt được chất lượng cao, Học viện phải thực hiện đa dạng phương thức đào tạo, đưa ra các phương thức đào tạo cho phù hợp với đối tượng là cán bộ giảng viên của Học viện Lựa chọn phương thức đào tạo thích hợp là yếu tố phản ánh mức độ khoa học

và hợp lý của công tác đào tạo cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào hiện nay

* Số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên

Nét đặc thù trong công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào đó là: học viên cũng chính là đội ngũ giảng viên, cán bộ của Học viện

Tuy nhiên, khi xem xét công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Học viện, chúng ta cần phải xem xét đối tượng là giáo viên tham gia giảng dạy các khoá học này- giảng dạy cho các đồng nghiệp của mình

Đội ngũ giảng viên là yếu tố giữ vai trò quyết định về chất lượng đào

Trang 29

tạo cán bộ giảng dạy của Học viện, đây là những người có trình độ học vấn,

có bề dày kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc thực tiễn, đòi hỏi đội ngũ giảng viên

có chất lượng cao mới đảm bảo đào tạo có hiệu quả và chất lượng Đội ngũ giảng viên có chất lượng tốt phải là những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống trong sạch, lành mạnh, luôn luôn gần gũi mọi người và gần gũi học viên, ít nhất phải có trình độ chuyên môn đúng tiêu chuẩn giảng viên theo qui định, đó phải là những người được đào tạo cơ bản, hệ thống, tốt nghiệp đại học trở lên, am hiểu thực tiễn

* Phương pháp giảng dạy của giảng viên

Phương pháp giảng dạy là cách thức chuyền tải nội dung cần đào tạo đến với đối tượng được đào tạo Phương pháp giảng dạy phù hợp, phương pháp giảng dạy mới, áp dụng những phương tiện giảng dạy hiện đại sẽ giúp cho học viên tiếp thu bài nhanh, nắm tương đối đầy đủ nội dung bài giảng, tạo sự hứng thú, kích thích tư duy sáng tạo của học viên

Đây là một tiêu chí vô cùng quan trọng để tạo nên chất lượng đào tạo Một yêu cầu đặc thù của ngành bắt buộc phải có đối với người giảng viên là phương pháp sư phạm, đó là khả năng truyền cảm, diễn đạt trước mọi người, yêu nghề và tâm huyết với nghề, yêu trường, tích cực học hỏi, tìm tòi và nghiên cứu khoa học, bổ sung kịp thời những nội dung mới, văn bản pháp luật mới được ban hành, cập nhật những thông tin mới, áp dụng các phương pháp giảng dạy mới, có khả năng tạo hứng thú và sức lôi cuốn với người học Giảng viên phải có năng lực tổ chức, quản lý lớp, hướng dẫn học viên nghiên cứu và vận dụng những lý luận đã được trang bị vào thực tiễn công tác của mình

* Công tác quản lý đào tạo

Công tác tổ chức, quản lý quá trình đào tạo là công việc thường xuyên của Học viện Tổ chức, quản lý quá trình đào tạo một cách khoa học là điều

Trang 30

kiện cơ bản để đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo

Cơ sở khoa học và pháp lý để đánh giá đúng chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất lượng học tập của học viên là các văn bản của của các cấp lãnh đạo, quản lý, hướng dẫn việc thực hiện các chế độ quản lý về đào tạo đối với Học viện Đó là quy chế, qui định của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, của Nhà nước, bao gồm: Quy chế giảng dạy, quy chế học tập, qui chế thi, kiểm tra, viết tiểu luận tốt nghiệp, thi tốt nghiệp, xét công nhận tốt nghiệp và cấp bằng tốt nghiệp

* Cơ sở vật chất phục vụ công tác đào tạo

Bên cạnh những yêu cầu về đội ngũ giảng viên, về việc áp dụng những phương pháp giảng dạy mới, tiên tiến và chất lượng học viên ngày càng nâng cao, để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo không thể không quan tâm đến đầu tư cơ sở vật chất phục vụ đào tạo cán bộ giảng dạy như: các phòng học với đầy đủ trang thiết bị đi kèm, nơi ở nội trú của học viên ở xa, nơi làm việc của giảng viên với các với trang thiết bị phục vụ giảng dạy, hệ thống sách, báo, tạp chí, giáo trình, tài liệu tham khảo, văn bản pháp luật mới phục vụ tra cứu, nghiên cứu

1.3 thực trạng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện chính trị

và hành chính Quốc gia lào

1.3.1 Thực trạng ưu và khuyết điểm

1.3.1.1 Về đội ngũ giảng viên

- Số lượng:

Tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào, tổng số biên chế cán bộ công nhân viên được giao là 149 người, hợp đồng 12 người Trong đó, có 64 cán bộ tham gia nghiên cứu và giảng dạy (một số là cán bộ giảng dạy kiêm chức); 94 cán bộ nam và 55 cán bộ nữ Số cán bộ giảng dạy ở các viện hiện có như sau:

Trang 31

 Vụ Quản lý & Nghiên cứu khoa học: 09 cán bộ

 Cục Chuyên môn đào tạo:16 cán bộ

 Trung tâm thông tin- Tư liệu: 15 cán bộ

 Văn phòng Hành chính Học viện: 41 cán bộ

- Cấu tạo đội ngũ:

Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào hiện có 5 viện, số cán

bộ nghiên cứu, giảng dạy bao gồm tất cả các đồng chí ở các khoa - từ trợ giảng đến giảng viên chính (48 cán bộ giảng dạy ở các Viện chuyên ngành) và

16 cán bộ giảng dạy kiêm chức (các đồng chí trong Ban Giám đốc: 2 đồng chí, phòng đào tạo: 8 đồng chí và phòng khoa học 6 đồng chí)

ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, sự phân chia ra thành cán bộ nghiên cứu và giảng dạy chỉ là tương đối Từ các đồng chí trong Ban giám hiệu đến các đồng chí ở phòng đào tạo, phòng khoa học hầu hết đều tham gia giảng dạy, thậm chí có mốt số đồng chí làm công tác quản lý giảng còn nhiều hơn một số giáo viên - nhất là trong khi giáo viên giảng được còn thiếu

Các khoa, viện giảng dạy có quá trình hình thành, phát triển khác nhau, nhất là trong tình hình hợp nhất các cơ sở đào tạo Nhìn chung các khoa hiện nay còn thiếu giáo viên, lực lượng ở các khoa còn mỏng, có khoa mới bổ sung 2-3 cán bộ mới, đang bước vào tập sự giảng viên Tình hình này vẫn còn

Trang 32

không ít khó khăn trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học

- Về tuổi đời và dân tộc:

Trong 149 đồng chí cán bộ tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào thì:

+ Có: 52 người tuổi từ 20-30

+ Có: 35 người tuổi từ 31-40

+ Có: 49 người tuổi từ 41-50

+ Có: 13 người tuổi từ 51-60

Trong đó có 64 cán bộ làm công tác giảng dạy và nghiên cứu

Đội ngũ cán bộ của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có

138 người Lào Lùm, 4 người Lào Thâng và 7 người Lào Xủng

Cơ cấu độ tuổi của cán bộ giảng dạy được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1: Cơ cấu độ tuổi cán bộ giảng dạy học ở Học viện

Độ tuổi Tổng

số

Tỷ lệ % so với tổng số cán bộ Đặc điểm

Dưới 30 24 36 Là lực lượng đang trong quá trình bồi dưỡng, đào

tạo, chưa đảm đương được công việc

Từ 31-40 12 29,1 Đảm nhận được một số công việc, song chưa thực

sự làm chủ được công việc, vẫn tiếp tục phải bồi dưỡng

Từ 41-50 18 27 Là lực lượng chủ lực trong giảng dạy và nghiên cứu

Từ 51-60 10 14,9 Là lực lượng nòng cốt trong giảng dạy, nghiên cứu

và công tác quản lý

Từ 60 trở lên 0 0 Là những người có học vị vẫn còn năng lực chuyên

môn hoặc những người chuẩn bị về hưu

Tổng 64 100 Là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy Học viện Chính trị

và Hành chính quốc gia Lào

Nguồn: Cục Tổ chức – cán bộ, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào, năm 2007

Trang 33

- Về trình độ học vấn:

Nói chung đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào từ sau ngày sáp nhập, tổ chức lại được tăng cường và có hướng phát triển mạnh hơn trước đây rất nhiều cả về số lượng và

cơ cấu đội ngũ Cán bộ ngày càng trẻ hoá, hầu hết có trình độ đại học, được đào tạo về lý luận tương đối cơ bản và có hệ thống Có đồng chí tuy chưa có bằng đại học nhưng đã học chương trình đại học Có đồng chí chỉ có bằng trung cấp lý luận chính trị nhưng đã chịu khó nghiên cứu, qua nhiều năm công tác đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm nhất là trong giảng dạy và quản lý nên

đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của người giảng viên Trình độ học vấn của đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2 Cơ cấu trình độ học vấn, học hàm, học vị

Toàn hệ thống Học viện 64 01 01 10 17 37

Nguồn: Cục Tổ chức – cán bộ, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước CHDCND Lào, năm 2007

Đến nay Học viện đã có đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy với cơ cấu chuyên ngành ngày một tăng lên, từng bước đã đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục lý luận và đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước Lào Xuất phát từ mục tiêu yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đòi hỏi người cán bộ ở Học viện phải có quá trình rèn luyện trong công tác thực tế và phải có những kinh nghiệm thực tiễn nhất định Trong khi đó 30% tổng số cán

bộ nghiên cứu và giảng dạy am hiểu thực tiễn rất ít, chưa có kinh nghiệm thực tiễn Một số đồng chí mới vào nghề, có quá trình rèn luyện trong công tác thực tế ít, lại thiếu kinh nghiệm công tác Điều cần đặc biệt phải chú ý là: số

Trang 34

các đồng chí tập sự giảng viên, mới đi học về cần phải được bồi dưỡng những kiến thức thực tiễn, rèn luyện trong công tác thực tế Bởi vì các đồng chí này nguồn gốc vốn từ học sinh phổ thông trung học, hầu hết được đào tạo qua các lớp tạo nguồn rồi đưa đi học đại học Các đồng chí này được đào tạo cơ bản, tuổi rất trẻ, song cần phải được bồi dưỡng kiến thức thực tiễn, rèn luyện trong công tác thực tế Hiện nay còn hai người diện đối tượng Đảng, cần phấn đấu, rèn luyện để trở thành đảng viên Số cán bộ trẻ này có nhiều triển vọng phát triển, khi được bồi dưỡng và bản thân có chí hướng phấn đấu về mọi mặt, thì

5, 10 năm sau sẽ là lực lượng chủ lực của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào

- Về chất lượng đội ngũ

Như đã đề cập, đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có một số điểm riêng biệt do các nguồn bổ sung khác nhau, song nổi lên những điểm chung như sau:

+ Về phẩm chất chính trị:

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có sự tủng thành tuyệt đối với quan điểm, đường lối của Đảng, có lập trường vững vàng, kiên định, không dao động trước những khó khăn, thách thức của cách mạng Trong hoạt động thực tiễn các đồng chí này đều thể hiện được ý thức tinh thần trách nhiệm, biết khắc phục khó khăn, có ý chí cao trong công tác

+ Về trình độ:

Trong đội ngũ này đa số được đào tạo cơ bản về lý luận chính trị, được trang bị những kiến thức về quản lý nhà nước, trong đó có 1/3 trong số này được đào tạo sau và cả trên đại học về lý luận; có năng lực nghiên cứu và giảng dạy Hàng năm, đội ngũ này thường xuyên được bồi dưỡng thêm về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, được bồi dưỡng

Trang 35

những vấn đề mới về lý luận, tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ

Đội ngũ này trình độ ngày càng được nâng lên về cơ bản đủ sức thực hiện chương trình đào tạo của Học viện

+ Về giảng dạy và nghiên cứu:

Đội ngũ giảng viên của Học viện đã thực hiện được nhiệm vụ giảng dạy đối với các lớp: Sau đại học, đại học chính trị, cao cấp chính trị, các lớp đào tạo bồi dưỡng cán bộ và công chức nhà nước Nhìn chung đội ngũ giảng viên của Học viện đã truyền thụ tốt những kiến thức lý luận cơ bản và có cố gắng trong việc liên hệ lý luận với thực tiễn Nhiều đồng chí khá vững vàng

về lý luận và có phương pháp truyền thụ tốt

Tuy vậy, hiện nay còn một vài đồng chí (trừ các đồng chí mới tập sự giảng viên) mới giảng một vài bài, cũng là "gắng gượng" Có đồng chí được

bố trí sang lực lượng giảng viên, song chưa giảng được lại bố trí sang công tác khác Nghiên cứu đồng chí này rõ ràng là còn nhiều hạn chế cả về phương pháp và kiến thức

Về công tác nghiên cứu khoa học đội ngũ cán bộ giảng dạy hiện nay còn rất yếu Học viện cũng đã chỉ đạo một số hoạt động như: Thành lập hội đồng khoa học; tổ chức cho cán bộ nghiên cứu các đề tài khoa học, tham gia các hội thảo khoa học trong và ngoài Học viện cũng như ở nước ngoài; tổ chức biên soạn hệ thống ngân hàng câu hỏi ở một số môn, biên soạn và tu chỉnh bài, điều tra nắm chất lượng đào tạo, hướng dẫn học viên viết tiểu luận tốt nghiệp, viết bài cho báo, tạp chí của Trung ương

Song xét một cách khách quan, công tác này Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào làm chưa được nhiều và chất lượng chưa cao, đây cũng là điểm hạn chế của đội ngũ này Có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học

đã triển khai trong mấy năm qua mà vẫn chưa nghiệm thu, đánh giá Chất lượng giảng dạy chưa được theo dõi chặt chẽ, thiếu những hình thức cụ thể để

Trang 36

xem xét, đánh giá

Theo đánh giá chung, hiện nay có tới gần 25% giảng viên chưa đạt trình độ so với yêu cầu đặt ra Nguyên nhân chủ yếu là đội ngũ giảng viên này được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như bộ đội chuyên ngành, cán bộ đảng, đoàn thể chuyển sang, những người được đào tạo các ngành chuyên môn khác nhau do đó điểm yếu cơ bản của họ là trình trộ chuyên môn và nghiệp vụ, kỹ năng giảng dạy người lớn còn bị hạn chế Đây cũng là thách thức lớn đối với công tác đào tạo cán bộ giảng dạy tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào hiện nay

Một nguyên nhân quan trọng nữa là công tác phát triển đội ngũ giảng viên của Học viện trong thời gian qua chưa được chú trọng Theo số liệu khảo sát, trong khi chất lượng đội ngũ giảng viên hiện tại còn nhiều bất cập như đã nêu ở trên nhưng vẫn có nhiều đơn vị giảng dạy còn thiếu giảng viên Từ thực trạng trên cho thấy cần có hai loại nhu cầu: nhu cầu được đào tạo, bồi dưỡng về trình độ chuyên môn và nhu cầu bồi dưỡng về phương pháp sư phạm của đội ngũ này là rất lớn

- Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn Trong số 64 giảng viên

có 24 người có nhu cầu được đào tạo trình độ đại học và sau đại học về hành chính; có 08 người có nhu cầu được bồi dưỡng kiến thức theo các chương trình bồi dưỡng khác nhau [53, tr 4]

- Nhu cầu bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy: Hầu nhu tất cả các giảng viên chưa được bồi dưỡng về nghiệp vụ, phương pháp sư phạm chung đều có nhu cầu được bồi dưỡng về nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy bộ môn khoa học lý luận

Theo kết quả phân tích từ số liệu báo cáo của các trường cho thấy, trong số 26 giảng viên đã được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy, phần lớn đều theo học các khoá bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy chung, chỉ

Trang 37

một số ít là được bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy lý luận

Trong số các giảng viên có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ nói trên có 32 người có nhu cầu được bồi dưỡng cả về hai nội dung: kiến thức quản lý nhà nước và phương pháp giảng dạy; 13 người có nhu cầu bồi dưỡng chỉ về phương pháp sư phạm hành chính và 19 người có nhu cầu bồi dưỡng chỉ riêng về kiến thức quản lý nhà nước

1.3.1.2 Về công tác đào công tác qui hoạch, tuyển dụng cán bộ giảng dạy

Những năm qua, thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị trung

ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào Về sắp xếp tổ chức và hoạt động của

Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, kế hoạch phát triển Học viện

Chính trị và Hành chính quốc gia Lào đến năm 2010 Học viện đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ là công tác giảng dạy và nghiên cứu Trên cơ

sở đó, Học viện đã xây dựng kế hoạch tuyển chọn, đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ cán bộ này Nhìn chung, công tác tuyển dụng và qui hoạch đội ngũ cán bộ đã được thực hiện tốt, phản ánh đúng nhu cầu cán bộ của cơ quan Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác này vẫn còn bộc lộ sự lúng túng như: chưa xây dựng được cơ chế tuyển dụng để thu hút người tài, công tác qui hoạch và tuyển dụng còn thiếu tính công khai

1.3.1.3 Việc xây dựng giáo trình, tài liệu đào tạo

Học viện Hành chính Quốc gia đã biên soạn lại các chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy (bao gồm cả đào tạo và đào tạo lại);

đó là các bộ tài liệu hướng dẫn phương pháp nghiên cứu khoa học, sử dụng mạng internet, ngoại ngữ

Tuy đã được chỉnh lý hoặc biên soạn lại theo nhưng nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho các đối tượng cán bộ giảng dạy vẫn còn trùng lặp nhiều Sự trùng lặp về nội dung có trong các hệ thống các giáo trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng khác nhau và có trong nội dung của cùng một hệ

Trang 38

thống giáo trình Sự khác biệt về cấp độ kiến thức và kỹ năng trong từng loại tài liệu chưa được thể hiện rõ Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo hiện đang nặng về lý thuyết, yếu về kỹ năng thực hành

1.3.1.4 Việc tổ chức các loại hình đào tạo

+ Về bồi dưỡng ngắn hạn Đây là phương thức đào tạo được tổ chức một cách thường xuyên ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào Trong 3 năm vừa qua, Học viện đã mở được 2 khoá bồi dưỡng ngắn hạn cho cán bộ làm công tác giảng dạy, cung cấp những kiến thức như: quản lý hành chính nhà nước, kỹ năng sư phạm, ngoại ngữ, tin học

Đây là hình thức đào tạo phù hợp với đội ngũ cán bộ là công tác giảng dạy Tuy nhiên, hình thức này hiện nay hình thức này vẫn chưa thu hút được đông đảo giảng viên tham dự, chính vì vậy hiệu quả thu được chưa cao

+ Về đào tạo chính quy Có nhiều cán bộ giảng dạy đã tham dự các khoá đào tạo chính qui tại Học viện Hiện nay, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào cung cấp các loại hình đào tạo chính quy như sau:

- Đào tạo cử nhân hành chính hệ chính quy Khóa học này trang bị những kiến thức có hệ thống và các kỹ năng thực hành về hành chính Hệ đào tạo này áp dụng cho 2 loại đối tưọng Loại thứ nhất là chính quy, bằng 1, kéo dài 2 năm và loại thứ hai, 1-2 năm dành cho người đã tốt nghiệp đại học, đã

có thời gian công tác thực tiễn

- Đào tạo trên đại học (hệ thạc sĩ)

Đây là hệ đào tạo thu hút được người học, song do cơ sở vật chất, nguồn nhân lực của Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào có hạn nên hiệu quả thu được còn rất thấp

+ Đào tạo ở nước ngoài Tại Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Lào, đã có nhiều cán bộ giảng dạy được Học viện gửi đi đào tạo ở các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Liên Xô (cũ), Mỹ, Anh, Thái Lan Hiện nay,

Trang 39

đội ngũ này đang là những giảng viên chủ chốt của Học viện, họ được đào tạo một cách có hệ thống và bài bản Đây là hình thức đào tạo thu hút được sự quan tâm của đội ngũ giảng dạy, song với nguồn lực có hạn, Học viện không thể đáp ứng được nhu cầu này, để đáp ứng nhu cầu này đòi hỏi phải có sự quan tâm, giúp đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nước ngoài

1.3.1.5 Về kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng:

Nguồn lực về tài chính để đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính đương nhiệm chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo trên cơ sở chi tiêu kinh phí được phân bổ

Kế hoạch chi tiêu kinh phí là hoạt động mang tính đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ – công chức giai đoạn 2001-

2005 Trong những năm qua, các cơ quan Đảng và Nhà nước đã có nhiều sự quan tâm đến công tác này, sự quan tâm này thể hiện trên ba phương diện:

Thứ nhất, công tác xây dựng và phân bổ kế hoạch chỉ tiêu được cải tiến

giao sớm hơn Điều này tạo điều kiện cho Học viện chủ động trong việc triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho năm sau

Thứ hai, tuy tình hình kinh tế- xã hội của Lào trong những năm qua

cũng có lúc gặp nhiều khó khăn nhưng số lượng chỉ tiêu kinh phí vẫn giữ hoặc tăng so với năm trước Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Lào đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ – công chức

Có thể khẳng định trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Lào đã có rất nhiều nỗ lực trong việc đảm bảo kế hoạch chỉ tiêu kinh phí cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ – công chức, trong đó có đội ngũ cán bộ giảng dạy của Học viện Bên cạnh nguồn chỉ tiêu kinh phí được phân bổ hàng năm, các

bộ, ngành và Học viện đã dành một khoản kinh phí tương đối lớn cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác giảng dạy

Tuy nhiên, vấn đề nguồn lực tài chính do ngân sách trung ương phân bổ

Trang 40

cho đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính, trong đó việc phân bổ cho Học viện có những vấn đề đáng phải quan tâm như sau:

Một là, việc phân bổ chỉ tiêu kinh phí dành cho đào tạo, bồi dưỡng còn

dựa vào số lượng cán bộ để phân bổ, chưa dựa vào cơ sở nhu cầu thực tiễn của

số lượng công chức cần phải đào tạo và cần phải bồi dưỡng hằng năm của cơ quan

Hai là, tuy đã có hướng dẫn việc chi tiêu khoản tài chính dành cho đào

tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy và thủ tục thanh quyết toán nhưng chưa có sự thống nhất trong việc phân bổ và trong quản lý nên còn chồng chéo và rườm

rà Chính vì vậy, nhiều nơi lại nảy sinh những thủ tục phiền hà, thực hiện theo

cơ chế xin cho, có nơi cơ quan quản lý nhà nước đóng luôn vai trò đứng ra

mở lớp đào tạo, bồi dưỡng chức không chuyển giao nhiệm vụ va nguồn tài chính cho đơn vị hoạt động sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng làm

Ba là, nguồn tài chính hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng có giới hạn nên việc

hỗ trợ cho người đi học cũng có giới hạn và không thống nhất Chẳng hạn, có nơi khuyến khích người học để tạo nguồn đã hỗ trợ 100%, có nơi chỉ hỗ trợ kinh phí cho người được cơ quan, tổ chức cử đi học, còn người tự đi thi, đi học để nâng cao trình độ phục vụ công tác chuyên môn không được hỗ trợ

Từ thực tế này, không ít trường hợp có khả năng về học lực nhưng không dám

đi học vì điều kiện kinh tế không cho phép

Bốn là, điều kiện tài chính tuy có hạn nhưng không ít nơi sử dụng

nguồn kinh phí không đúng mục đích hoặc không có hiệu quả Chẳng hạn, cũng một lượng kinh phí đưa đoàn đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài nếu chỉ cử người có năng lực, trình độ nghiên cứu đi, sau đó về biên soạn tài liệu tổ chức lớp bồi dưỡng tại Lào thì sẽ hiệu quả hơn, có đông người được bồi dưỡng hơn

1.3.1.6 Về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học

Ngày đăng: 07/05/2015, 08:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn An (1998), "Tiếp tục đổi mới chỉnh đốn Đảng, làm tốt quy hoạch cán bộ là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng Đảng về tổ chức trong năm 1998", Tạp chí Xây dựng Đảng, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới chỉnh đốn Đảng, làm tốt quy hoạch cán bộ là nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng Đảng về tổ chức trong năm 1998
Tác giả: Nguyễn Văn An
Năm: 1998
2. Lê Văn ấm (2003), Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý ở Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Lê Văn ấm
Năm: 2003
3. Ban Tổ chức Trung ương (2003), Hướng dẫn số 17/HD-TCTW, ngày 23- 4-2003, về công tác quy hoạch cán bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn số 17/HD-TCTW, ngày 23-4-2003
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương
Năm: 2003
4. Phạm Minh Chiến (2002), Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt diện Tỉnh uỷ quản lý của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt diện Tỉnh uỷ quản lý của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Phạm Minh Chiến
Năm: 2002
5. Đinh Thế Chiều (2002), Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ của huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001-2010, Luận văn cử nhân, Học viện Chính trị quốc giai Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ của huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Đinh Thế Chiều
Năm: 2002
6. Đảng cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1997
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết Bộ Chính trị số 42/NQTW ngày 30-11-2004 về công tác quy hoach cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Bộ Chính trị số 42/NQTW
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2004
10. Nguyễn Đức Hà (1998), "Kết quả bước đầu về công tác quy hoạch cán bộ ở Yên Bái", Tạp chí Xây dựng Đảng, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả bước đầu về công tác quy hoạch cán bộ ở Yên Bái
Tác giả: Nguyễn Đức Hà
Năm: 1998
11. Trần Phước Hường (1998), "Tính cấp bách của công tác quy hoạch cán bộ thành phố Đà Nẵng hiện nay", Tạp chí Xây dựng Đảng, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính cấp bách của công tác quy hoạch cán bộ thành phố Đà Nẵng hiện nay
Tác giả: Trần Phước Hường
Năm: 1998
12. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1974
13. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1979
14. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
15. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
16. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 47, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1978
17. Lê Văn Lý (1999), "Quan niệm khoa học về quy hoạch cán bộ – lịch sử và quá trình tiếp cận vấn đề", Tạp chí Thông tin lý luận, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm khoa học về quy hoạch cán bộ – lịch sử và quá trình tiếp cận vấn đề
Tác giả: Lê Văn Lý
Năm: 1999
18. C.Mác – Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1980
19. C.Mác – Ph.Ăngghen (1995), Tuyển tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
20. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Cơ cấu độ tuổi cán bộ giảng dạy học ở Học viện - Luận văn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay
Bảng 1.1 Cơ cấu độ tuổi cán bộ giảng dạy học ở Học viện (Trang 32)
Bảng 2.1. Dự báo nhu cầu cán bộ giảng dạy của Học viện đến năm 2015 - Luận văn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1. Dự báo nhu cầu cán bộ giảng dạy của Học viện đến năm 2015 (Trang 50)
Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ giữa các quá trình quản lý - Luận văn Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy ở Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn hiện nay
Sơ đồ 2.1. Mối quan hệ giữa các quá trình quản lý (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w