Ngày nay không thể phủ nhận sự thật là đất nước ta đang ngày càng phát triển để theo kịp tốc độ vũ bão của sự bùng nổ khoa học công nghệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
NGƯỜI THỰC HIỆN
Họ và tên : Nguy ãn Ngọc Xuân Thảo
Mã số SV : DAV011406
Tên đề ài nghiên cứu :
TÌNH TRẠNG NHẦM LẪN VỚI TIẾNG ANH KHI HỌC TIẾNG PHÁP CỦA SINH VIÊN KHỐI NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Th ïc sĩ Huỳnh Công Lộc
An Giang, năm 2 04
Trang 2LỜI CẢM ƠN =====================
Qua thời gian tiến hành nghiên cứu (từ 01/04/2004 đến 30/06/2004), được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong HĐKH & ĐT Trường Đại Học An Giang, tôi đã nắm vững được những tiêu chuẩn, các khâu, quy cách tiến hành điều tra, nghiên cứu và từng bước đi đến hoàn thành bài viết của mình Xin chân thành cảm ơn sự ưu ái, mọi điều kiện thuận lợi mà nhà trường đã tạo cho tôi trong thời gian vừa qua
Bên cạnh đó, xin gửi lời cảm ơn đến Thư Viện Tỉnh An Giang và Thư Viện Trường ĐHAG đã dành sự ưu tiên đặc biệt trong việc cho mượn thêm sách và gia hạn thêm thời gian tạo cho tôi nhiều thuận lợi hơn trong việc tham khảo, nghiên cứu tài liệu minh họa cho đề tài
Tiếp đến, xin cho tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Huỳnh Công Lộc, người giáo viên hướng dẫn tận tâm, nhiệt tình Nhờ vào sự hỗ trợ, giúp đỡ, đóng góp ý kiến của thầy mà tôi chỉnh sửa kịp thời những thiếu sót, có được nhiều ý tưởng, hiểu sâu sắc thêm nhiều vấn đề liên quan trong việc nghiên cứu của mình
Sau cùng, xin cảm ơn tất cả các bạn sinh viên ở ba tập thể lớp 2D, 3D1, 3D2 của trường ĐHAG đã nhiệt tình tham gia và đóng góp ý kiến trong bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho việc lấy số liệu và nắm tình hình học Tiếng Pháp của đề tài nghiên cứu
Một lần nữa, xin gửi lời cảm ơn chân tình nhất đến tất cả những sự giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi trong việc nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Trang 3MỤC LỤC
1/ Phần I : Những vấn đề chung
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
- Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
2/ Phần II : Nội dung nghiên cứu
I/ Cơ sở lý luận
2 Một số lý thuyết cần nắm vững 4
II/ Kết quả khảo sát
1 Đặc điểm tình hình trường ĐHAG 11
2 Việc học Tiếng Pháp_ những nhầm lẫn thường
gặp và các hướng khắc phục
3 Nhận xét và bài học kinh nghiệm 33
Trang 4PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1/ Lý do chọn đề tài:
Ngày nay không thể phủ nhận sự thật là đất nước ta đang ngày càng phát triển để theo kịp tốc độ vũ bão của sự bùng nổ khoa học công nghệ cùng xu thế
“toàn cầu hóa” của thế giới Hoà cùng nhịp độ nhanh chóng của “hội nhập”, của
“toàn cầu hóa”ù, sự lĩnh hội ngoại ngữ đóng vai trò cực kì quan trọng bởi qua giao tiếp, giao lưu, hợp tác dễ dàng, thuận lợi nhờ vào vốn ngôn ngữ phong phú, chúng ta mới có cơ hội tiếp thu, học hỏi những tinh hoa, tiến bộ của các nước bạn rồi dựa vào điều kiện thực tế của nước nhà mà chọn lọc, ứng dụng, phối hợp sao cho phát huy được hiệu quả cao nhất Đó là lý do giải thích tại sao chúng ta mở các trung tâm ngoại ngữ như Anh, Pháp, Hoa, Nhật, Hàn… khắp nơi trong cả nước và ở các trường trung học, cao đẳng, đại học cũng không ngoại lệ Nói cụ thể hơn, thế hệ học sinh, sinh viên cần trau dồi, lĩnh hội tốt ngoại ngữ để sử dụng thật hiệu quả trong cuộc sống đang dần tiến bộ như hiện nay và trong tương lai không xa họ có đủ trình độ đóng góp công sức, khả năng của mình vào việc giảng dạy, đào tạo thế hệ sau thành đội ngũ nhân lực dồi dào hội đủ tài đức tiếp bước chúng ta gánh vác trọng trách đưa đất nước ngày một đi lên
Ở trường ĐHAG, ngoài môn chuyên ngành là Tiếng Anh, các sinh viên khối ngoại ngữ có cơ hội tiếp xúc thêm một ngôn ngữ khác là Tiếng Pháp trong chương trình nhằm trang bị, làm phong phú thêm vốn ngoại ngữ cho sinh viên từng bước thực hiện các nhu cầu bức thiết của xã hội
Tuy nhiên, để đạt đến thành công như mong đợi không phải là chuyện dễ dàng Hiện tại ở trường ĐHAG, khi tiếp xúc với môn Tiếng Pháp, sinh viên còn gặp những khó khăn nhất định chưa khắc phục được do những nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan Tất cả sinh viên đều có thời gian dài tiếp xúc với Tiếng Anh từ giai đoạn trung học đến nay (có sinh viên đã học ngôn ngữ này từ tiểu học ở các trung tâm, ở các lớp luyện thi…) có sự chênh lệch rõ so với 17,14% trên tổng số sinh viên đã từng học Tiếng Pháp trước khi vào trường đại học, thêm vào đó là sự tồn tại của những điểm có lúc tương đồng có lúc lại rất khác biệt của hai ngôn ngữ cùng ngữ hệ La Tinh này và cần kể đến phương pháp học ngoại ngữ chưa thật hiệu quả nên khi học Tiếng Pháp, ở sinh viên thường xuyên mắc phải những lỗi, những nhầm lẫn về cách phát âm, cách viết từ vựng, cách chia động từ, tính từ theo giống, theo ngôi… giữa hai ngôn ngữ với nhau mà không tìm được các giải pháp khắc phục Từ thực tế cho thấy đây là hiện trạng chung, là vấn đề phổ biến hết sức bức thiết đã tạo cho tôi sự băn khoăn, hứng thú, ham thích tìm hiểu với mong muốn nắm bắt được nguyên nhân, diễn biến, những nhân tố ảnh hưởng làm phát sinh vấn đề này một cách sâu sát, đúng đắn nhất và hy vọng qua đây có thể tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá ra những giải pháp tối ưu nhất khắc phục vấn đề trên
Trang 52/ Mục đích nghiên cứu:
- Quan sát, tìm hiểu, phân tích thực trạng học Tiếng Pháp của sinh viên ĐHAG để
nắm nguyên nhân, những yếu tố liên quan, ảnh hưởng, làm phát sinh sự nhầm lẫn
ngôn ngữ này với Tiếng Anh
- Trên cơ sở nắm bắt được những thông tin cần thiết trên, nghiên cứu, suy nghĩ, đề
xuất những phương pháp, thủ thuật hữu hiệu khắc phục tình trạng nhầm lẫn (như tìm
những điểm giống hay chỉ tương tự, những điểm hơi khác nhau hay trái ngược hoàn
toàn… ) từ đó vươn tới mục tiêu chinh phục, lĩnh hội nhiều ngôn ngữ ở trình độ ngày
càng cao, nâng cao kỹ năng giao tiếp đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội
3/ Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
- Khách thể: + Các giáo viên giảng dạy Tiếng Pháp của trường ĐHAG
+ Các sinh viên thuộc các khoá 2 và 3 của khối ngoại ngữ, chuyên
ngành Anh văn trường ĐHAG
- Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng Pháp của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang
4/ Giả thuyết khoa học:
Thông qua việc tìm hiểu tình trạng nhầm lẫn với Tiếng Anh khi học Tiếng Pháp
của sinh viên khối ngoại ngữ trường Đại Học An Giang, trên cơ sở từng bước đi sâu
vào các mặt, các lĩnh vực như: cách phát âm, cách viết từ vựng, cách chia động từ,
tính từ theo giống, theo ngôi… của Tiếng Pháp đồng thời so sánh với Tiếng Anh ta
sẽ nắm được nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng làm phát sinh vấn đề nghiên
cứu hay nói cụ thể hơn đó là những lầm lẫn, sai sót thường gặp giữa hai ngôn ngữ
Qua đó có nền tảng vững chắc chỉ dẫn ta tìm ra con đường, những nét riêng biệt,
những thủ thuật phân biệt giúp sinh viên ghi nhớ, ứng dụng, khắc phục một cách
hiệu quả hơn, đạt chất lượng cao hơn khi học Tiếng Pháp nói riêng đặc biệt là làm
phong phú thêm vốn ngôn ngữ của “những người chủ tương lai” của đất nước nói
chung
5/ Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu tình hình học Tiếng Pháp và những lầm lẫn thường gặp với Tiếng Anh
của sinh viên ĐHAG
- Đề xuất các cách thức, biện pháp, thủ thuật phân biệt nhằm hạn chế, khắc phục
những nhầm lẫn để nâng cao chất lượng học Tiếng Pháp
- Rút ra một số kết luận và suy luận liên quan đến tình hình giảng dạy và học tập
Tiếng Pháp ở trường ĐHAG
6/ Giới hạn đề tài:
- Phạm vi: Việc học Tiếng Pháp và những khó khăn, lẫn lộn thường gặp với Tiếng
Anh của sinh viên ngoại ngữ trường Đại Học An Giang
- Thời gian: từ ngày 01/04/2004 đến ngày 30/06/2004
- Chọn mẫu điều tra: Những sự hiểu sai, lẫn lộn mà các sinh viên chuyên ngành
Anh Văn trường ĐHAG các khoá 2, 3 ở các lớp 2D, 3D1, 3D2 (105 sinh viên) mắc
Trang 6phải trong các tình huống dễ gây nhầm lẫn thuộc các lĩnh vực nghiên cứu trong đề tài (thông qua bảng câu hỏi điều tra)
7/ Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc sách và tài liệu:
+ Tìm các sách, các tài liệu liên quan đến đề tài ở các thư viện như:
Tài liệu về tâm lý học (xác định khái niệm tư duy, trí nhớ và quy luật của nó, sự quên và cách chống quên, khái niệm về sự nhầm lẫn; xác định sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong học tập…)
Tài liệu về giáo dục học (các phương pháp giảng dạy của giáo viên, cách thức tổ chức dạy học, cái cốt lõi của hoạt động dạy…)
Các tài liệu, sách về Tiếng Anh, Tiếng Pháp (ngữ pháp, từ vựng, cách phát âm…)
+ Tiến hành đọc, nghiên cứu, tóm tắt, ghi nhận, photo các kiến thức cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp quan sát sư phạm:
+ Thông qua các tiết dạy Tiếng Pháp ở lớp, quan sát, lắng nghe, ghi nhận các nhầm lẫn gặp phải của sinh viên trong chương trình học và những lỗi sai thường mà giáo viên lưu ý cho lớp
+ Lắng nghe, ghi nhận những lời khuyên, thủ thuật, giải pháp khắc phục của giáo viên, sau đó ghi nhận vào tập
- Phương pháp điều tra giáo dục:
+ Thiết lập bảng câu hỏi điều tra (nội dung câu hỏi xoáy vào những nhầm lẫn, sai sót thường mắc phải của sinh viên khi học Tiếng Pháp, cách học của sinh viên, cách giảng dạy của giáo viên ở lớp… để qua phần giải đáp rút ra được nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng, khiếm khuyết trong dạy-học đúc kết thành giải pháp khắc phục)
+ Tiến hành phân phát cho 105 sinh viên ở các lớp ngoại ngữ thuộc các khoá học trường ĐHAG đã được học Tiếng Pháp (2D, 3D1, 3D2)
+ Thu thập, xử lý số liệu và sử dụng vào nội dung nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn:
Thông qua các phương pháp trên cộng với việc thăm dò, hỏi ý kiến của thầy cô giảng dạy chuyên môn, sau đó tổng hợp thành những kinh nghiệm (hiện tượng nhầm lẫn chủ yếu do những nguyên nhân nào?, cách khắc phục ra sao?…) nhằm đạt được mục đích nghiên cứu
Trang 7
PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I/ Cơ sở lý luận:
1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:
Các từ tiếng Anh và Tiếng Pháp đều được cấu thành bởi hệ thống chữ cái thuộc ngữ hệ La Tinh Tuy nhiên, giữa hai ngôn ngữ này có nhiều điểm có lúc khác biệt, có lúc tương tự dễ tạo nhầm lẫn Vì là hai ngôn ngữ giao tiếp phổ biến của thế giới nên từ trước đến nay những sự nhầm lẫn thường gặp này đã trở thành đề tài hấp dẫn thôi thúc sự đầu tư, tìm tòi nghiên cứu của đông đảo các nhà ngôn ngữ học so sánh Tuy nhiên, phần lớn các bài nghiên cứu đều có phạm vi rất rộng, nêu lên cái nhìn tổng quát hoặc thiên nhiều về lý thuyết chưa thật sự đi sâu vào những khía cạnh cụ thể Tiêu biểu như:
- “Tự học và sử dụng ngoại ngữ” của Nguyễn Duy Côn chỉ trả lời những
câu hỏi liên quan đến việc so sánh hai ngôn ngữ Anh-Pháp về nhiều phương diện như: Đã biết một ngoại ngữ mà tiếp tục học các tiếng khác thì có thuận lợi hơn không?, Đã biết tiếng Anh học Tiếng Pháp có nhiều thuận lợi không?, Trong tương lai, ít sử dụng Tiếng Pháp vì tiếng Anh phổ cập hơn, đúng không?, Tại sao Tiếng Anh và Tiếng Pháp có nhiều từ viết giống nhau thế? Bên cạnh đó, tác giả nêu một
số từ vựng thường tạo sự nhầm lẫn (Những người bạn giả dối tiếng Anh-Pháp) và
những mẫu thư tín ở hai ngôn ngữ Anh và Pháp…
- “Từ điển tâm lý lâm sàng Pháp-Anh-Việt” của Lê Văn Luyện nêu ra hệ
thống gần 5000 từ vựng chỉ về tâm lý học để người đọc thấy được sự khác nhau về hình thức từ ở lĩnh vực này của cả ba ngôn ngữ
- “Từ điển thuật ngữ ngoại giao Việt-Anh-Pháp” của Dương Văn
Quảng-Vũ Dương Huân nêu ra hệ thống từ vựng ở cả ba ngôn ngữ liên quan đến việc giao tiếp trong và ngoài nước…
- Đặc biệt, “Tiếng Pháp hướng dẫn tự học” của Suzanne
A.Hershfield-Haims -Nhóm biên dịch Nhân Văn-nêu vài điểm khác biệt giữa Anh-Pháp về cách phát âm (trang đầu), các mạo từ (trang 1), cách thành lập so sánh hơn, so sánh nhất (trang 168), tính từ (trang 216), trạng từ (trang 217) Tuy nhiên, sách chỉ thể hiện sự khác nhau mà không đi sâu nghiên cứu những khả năng gây ra nhầm lẫn về các mục này để người học rút kinh nghiệm hoặc tránh mắc phải
Do vậy, từ những điểm còn hạn chế đó đã tạo động lực thôi thúc tôi nghiên cứu đề tài này dựa trên chương trình học của sinh viên khối ngoại ngữ trường ĐHAG nhằm giúp sinh viên có cái nhìn thật rõ về đặc điểm của từng ngôn ngữ, qua đó đạt chất lượng cao hơn trong học tập
2 Một số lý thuyết cần nắm vững:
Để học tốt, đặc biệt là lĩnh hội ngoại ngữ đạt chất lượng cao đòi hỏi bản thân chúng ta phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn như: siêng năng học tập, có tinh thần tiếp
Trang 8thu học hỏi, không ngại khó khăn… Bên cạnh đó, không thể không kể đến một số yếu tố hết sức quan trọng là: khả năng tư duy, trí nhớ, sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong học tập để thôi thúc, phát huy sự thông minh, tính sáng tạo, nhạy bén ở người học Thật vậy, để đạt đến đỉnh cao lĩnh hội nói chung và cụ thể ở đây là tránh được những sai sót, nhầm lẫn khi học hai ngôn ngữ Anh và Pháp cùng lúc, người học cần bước đầu nắm vững các khái niệm, đặc điểm, điều kiện, các quá trình hình thành cơ bản của tư duy, trí nhớ, kỹ năng, kỹ xảo… cũng như về sự nhầm lẫn Anh-Pháp và những lời giải đáp cho những câu hỏi xoay quanh vấn đề này như sau:
• Tư duy và các đặc điểm của tư duy (trích dẫn tài liệu Tâm Lý học đại cương
do Lê Thanh Hùng biên soạn):
a) Định nghĩa:
Tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết
b) Đặc điểm của tư duy:
- Hoàn cảnh có vấn đề là đối tượng của tư duy
- Tư duy sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện
- Tư duy phản ánh khái quát sự vật, hiện tượng
- Tư duy phản ánh sự vật, hiện tượng một cách gián tiếp
- Tư duy không tách rời nhận thức cảm tính
c) Các thao tác tư duy:
- Thao tác phân tích-tổng hợp
- Thao tác so sánh
- Thao tác trừu tượng hóa-khái quát hóa
• Trí nhớ – các quá trình cơ bản của trí nhớ và quy luật diễn biến của chúng
(trích dẫn tài liệu Tâm Lý học đại cương do Lê Thanh Hùng biên soạn):
a) Trí nhớ:
Trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm của cá nhân dưới hình thức biểu tượng-hình ảnh sự vật, hiện tượng được nảy sinh trong óc chúng
ta khi không còn sự tác động của chúng
b) Vai trò của trí nhớ:
- Nhờ trí nhớ mà ta tích lũy được kinh nghiệm sống
- Nhờ nhận lại và nhớ lại mà ta có thể đem kinh nghiệm sống ứng dụng vào thực tế
- Không có trí nhớ ta không thể xác định được phương hướng thích nghi với mọi giới
- Không có trí nhớ trong học tập thì ta không thể tư duy được
Trang 9
c) Các quá trình cơ bản của trí nhớ và quy luật diễn biến của chúng:
c.1 Quá trình ghi nhớ: là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động nhớ cụ thể nào đó là quá trình hình thành dấu vết của đối tượng mà ta đang tri giác trên vỏ não Có các loại:
- Ghi nhớ không chủ định: không có mục đích từ trước, không đòi hỏi sự nổ lực nào của ý chí mà dường như thực hiện một cách tự nhiên
- Ghi nhớ có chủ định: theo mục đích từ trước, có sự cố gắng cũng như những thủ thuật và phương pháp ghi nhớ xác định
+ Ghi nhớ máy móc: dựa trên sự lặp đi lặp lại nhiều lần (tài liệu) một cách đơn giản
+ Ghi nhớ ý nghĩa: dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu Loại ghi nhớ này gắn liền với tư duy con người
- Học thuộc lòng và thuật nhớ:
+ Học thuộc lòng là sự kết hợp ghi nhớ ý nghĩa với ghi nhớ máy móc dựa trên sự thông hiểu tài liệu
+ Thuật nhớ: ghi nhớ có chủ định bằng cách tạo ra mối liên hệ bề ngoài để ghi nhớ
c.2 Quá trình gìn giữ: là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã hình thành được trên vỏ não trong quá trình ghi nhớ
c.3 Quá trình nhận lại và nhớ lại:
- Nhận lại: là sự nhớ lại một đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác lại đối tượng đó
- Nhớ lại: là sự tái hiện lại sự vật, hiện tượng trong óc khi không gặp lại chúng
c.4 Quên và cách chống quên:
- Quên: là biểu hiện không nhận lại hay nhớ lại được hoặc nhận lại, nhớ lại sai
Sự quên thường diễn ra theo các quy luật sau:
+ Thường quên những cái không hoặc ít có quan hệ với đờùi sống của mình
+ Có trường hợp quên là sự cần thiết cho cá nhân
+ Tốc độ quên phụ thuộc:
Khi gặp kích thích mạnh hay kích thích mới lạ
Quên nhanh ngay sau khi học và giảm dần về sau
Nhịp độ quên phụ thuộc vào nội dung và khối lượng tài liệu
- Cách chống quên:
+ Tiến hành ôn tập ngay sau khi học
+ Giảng dạy chống nhồi nhét, ghi nhớ có điểm tựa
+ Không nên ôn tập hai tài liệu liên tiếp gần nhau
+ Vận dụng nhiều giác quan tham gia vào ôn tập
Trang 10+ Ôn tập thường xuyên
+ Ôn tập phải kết hợp với thực hành, luyện tập
+ Ôn tập phải kết hợp với nghỉ ngơi
• Sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong học tập (trích dẫn tài liệu Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm do Đỗ Văn Thông biên soạn):
a) Sự hình thành kỹ năng:
a.1 Kỹ năng:
Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề
Kỹ năng phải dựa trên cơ sở lý thuyết
a.2 Đặc điểm:
- Mức độ tham gia của ý chí rất cao, phải tập trung chú ý cao
- Người ta chưa bao quát được toàn bộ hành động mà thường chỉ chú ý vào một phạm vi hẹp hay các động tác đang tìm
- Hành động luôn có sự kiểm tra của thị giác
- Hành động còn có nhiều tác động thừa, tốn nhiều năng lượng thần kinh và cơ bắp mà năng suất thì không cao
- Hành động còn chịu ảnh hưởng không có lợi của những kỹ xảo cũ a.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng:
- Nội dung của bài tập, nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá rõ ràng hay
bị che phủ bởi những yếu tố phụ làm lệch hướng tư duy
- Tâm thế và thói quen
- Khả năng khái quát nhìn đối tượng một cách toàn thể
a.4 Sự hình thành kỹ năng:
Thực chất của sự hình thành kỹ năng là hình thành cho học sinh nắm vững một hệ thống phức tạp các thao tác nhằm làm biến đổi và sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, trong nhiệm vụ và đối chiếu chúng với hành động cụ thể
Khi hình thành kỹ năng cho học sinh cần chú ý:
- Giúp học sinh biết cách tìm tòi để nhận ra yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng
- Giúp học sinh hình thành một mô hình khái quát để giải quyết các bài tập, các đối tượng cùng loại
- Xác lập được mối liên quan giữa bài tập mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng
b) Sự hình thành kỹ xảo:
b.1 Kỹ xảo: là hành động tự động hóa nhờ luyện tập
b.2 Đặc điểm:
Trang 11- Kỹ xảo không bao giờ thực hiện đơn độc, tách rời khỏi hành động có ý thức phức tạp
- Mức độ tham gia của ý thức ít, thậm chí có khi cảm thấy không có sự tham gia của ý thức
- Không nhất thiết theo dõi bằng mắt, mà kiểm tra bằng cảm giác vận động
- Động tác thừa, phụ bị loại trừ, những động tác cần thiết ngày càng chính xác, nhanh và tiết kiệm, hành động tốn ít năng lượng và kết quả
- Thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt, có nghĩa là kỹ xảo không nhất thiết gắn liền với một đối tượng hay tình huống nhất định Kỹ xảo có thể
di chuyển dễ dàng tùy theo mục đích và tính chất chung của hành động
b.3 Điều kiện để hình thành kỹ xảo:
Củng cố là điều kiện hình thành kỹ xảo, nhưng củng cố không phải là việc làm cơ giới mà là quá trình điều chỉnh, rút kinh nghiệm, hợp lý hoá, tối ưu hoá Để hình thành kỹ xảo cần đảm bảo các bước cơ bản sau:
+ Một là, phải làm cho học sinh hiểu biện pháp hành động Điều quan trọng là giúp học sinh ý thức được các thủ thuật then chốt từng khâu, từng lúc và tùy hoàn cảnh
+ Hai là, luyện tập Khi luyện tập cần đảm bảo các điều kiện:
Làm cho học sinh biết chính xác mục đích của luyện tập
Thường xuyên kiểm tra, theo dõi
Đủ số lần luyện tập
Bài tập phải là một hệ thống xác định, theo một sự kế tục hợp lý, có kế hoạch rõ ràng và phức tạp hóa dần
Quá trình luyện tập không được ngắt quãng trong một thời gian dài
+ Ba là, tự động hóa Sau khi hành động được mô hình hóa, quá trình thực hiện được điều chỉnh, sửa đổi, loại bỏ những động tác thừa và lúc này hành động có sự thay đổi về chất Hành động này có những tính chất sau:
Bao quát hơn, bớt dần mục tiêu bộ phận
Động tác mang tính chất khái quát, không có động tác thừa
Điêu luyện, giảm dần sự tham gia của ý thức, có lúc không cần sự có mặt của ý thức
Tốc độ nhanh, chất lượng cao và duy trì kết quả đều đặn
Chuyển vào một khâu của hành động phức tạp và đạt tiêu chuẩn nhuần nhuyễn cao
Chính lúc đó kỹ xảo được hình thành, hành động đã được tự động hóa
• Quan hệ giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ (trích dẫn tài liệu Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm do Đỗ Văn Thông biên soạn):
Trang 12Dạy học và phát triển trí tuệ có quan hệ chặt chẽ với nhau (dạy học tạo điều kiện cho trí tuệ phát triển, phát triển trí tuệ dựa trên cơ sở dạy học)
Trong quá trình dạy học có sự biến đổi thường xuyên vốn kinh nghiệm của học sinh, số lượng và chất lượng của hệ thống tri thức, các năng lực người dẫn đến những năng lực trí tuệ của học sinh cũng được phát triển bởi vì:
- Trong quá trình nắm tri thức, học sinh phải xây dựng cho mình những hệ thống hành động trí tuệ sao cho phù hợp với hệ thống tri thức đó Khi hệ thống hành động trí tuệ này được củng cố, khái quát tạo thành những kỹ xảo của hoạt động trí tuệ giúp cho học sinh có khả năng di chuyển rộng rãi và thành thạo các phương pháp hoạt động trí tuệ từ đối tượng này sang đối tượng khác để nhận thức và cải tạo chúng được xem như một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển trí tuệ
- Ngoài ra, trong quá trình nắm tri thức, những mặt khác của năng lực trí tuệ như: óc quan sát, trí nhớ, tưởng tượng cũng được phát triển Do đó, việc dạy học là một trong những con đường cơ bản để giáo dục và phát triển trí tuệ một cách toàn diện
- Việc nắm vững tri thức không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển năng lực trí tuệ, mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ nhân cách con người như: nhu cầu nhận thức, hứng thú học tập, động cơ học tập, khát vọng tìm tòi, v.v…
Ngược lại, trí tuệ nói riêng và các chức năng tâm lý khác nói chung được phát triển lại có ảnh hưởng trở lại đến quá trình dạy học, quá trình lĩnh hội tri thức Nhờ quá trình phát triển các năng lực trí tuệ, ở học sinh đã nảy sinh những khả năng mới giúp các em nắm kiến thức tốt hơn, đảm bảo chất lượng cao của việc học tập
Trong quá trình dạy học, việc nắm vững tri thức và phát triển trí tuệ tác động qua lại hết sức chặt chẽ với nhau Sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là điều kiện của việc nắm vững tri thức
Do đó, có thể nói chất lượng, cách thức, phương pháp giảng dạy hiệu quả sẽ hỗ trợ, góp phần vun đắp, tạo nên sự phát triển trí tuệ, sự lĩnh hội thành công trong học tập hạn chế những biểu hiện không tích cực ở người học như: sự nhầm lẫn, hiểu sai, hiểu chưa đúng…
• Vài nét về Tiếng Anh, Tiếng Pháp :
1 Vai trò: Tiếng Anh và Tiếng Pháp cần cho mọi thế hệ, đó là những ngôn
ngữ phổ biến, những công cụ không thể thiếu được trong hành trang của các bạn trẻ, những phương tiện giao tiếp quan trọng giữa các dân tộc trên thế giới Cùng với tin học, việc học hai ngoại ngữ này trở thành tiêu chuẩn khi tuyển chọn nhân viên trong các thành phần kinh tế Đồng thời nó giúp ta có khả năng tự chủ trong giao tiếp, học hỏi, kinh doanh… góp phần tạo ra nguồn nhân lực trực tiếp tham gia lao động sản xuất phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước
2 Ý nghĩa: thông qua việc học hai ngoại ngữ, chúng ta có điều kiện :
- Tiếp cận những thông tin khoa học-kỹ thuật hiện đại, những sự kiện quốc tế…
Trang 13- Nâng cao hiểu biết về ngôn ngữ, đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói Tiếng Anh, Tiếng Pháp
- Phát triển trí tuệ, nhân cách và phương pháp học tập hỗ trợ cho các môn học khác và phát triển năng lực chuyên môn của cá nhân sau này
• Khái niệm sự nhầm lẫn và sự nhầm lẫn giữa tiếng Anh và tiếng Pháp:
a) Sự nhầm lẫn: là sự sai lệch, không đúng đắn trong tư duy, suy nghĩ do
không thể phân biệt đối tượng cần chiếm lĩnh với một hay nhiều đối tượng khác đã biết do giữa chúng có những điểm tương tự, tương đồng…
b) Sự nhầm lẫn giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp:
Thường bắt nguồn từ sự nắm chưa vững, chưa thể phân biệt rõ ràng những nét có lúc khác biệt hoàn toàn có lúc lại tương tự, tương đồng giữa hai ngôn ngữ cùng hệ La Tinh này dẫn đến việc lẫn lộn, áp dụng những quy luật, ngữ pháp… của ngôn ngữ này vào ngôn ngữ khác gây ra sự sai lệch, không đúng đắn trong việc học và sử dụng ngoại ngữ
• Những dạng nhầm lẫn thường gặp giữa Tiếng Anh và Tiếng Pháp:
Do cùng ngữ hệ La Tinh nên giữa hai ngôn ngữ này có những nét giống, tương tự nhau có thể nhận thấy rất rõ nhưng bên cạnh đó chúng có những đặc trưng riêng mà nếu không tìm hiểu, phân biệt rõ ràng chúng ta sẽ dễ mắc những sai lầm có lúc nhỏ nhặt nhưng có lúc lại nghiêm trọng phụ thuộc vào mức độ khác nhau giữa chúng (khác biệt vài điểm hay khác biệt hoàn toàn…) Ở đây, trong bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ tìm hiểu một số nhầm lẫn phổ biến về các vấn đề sau: cách phát âm, danh từ, tính từ, động từ, tính từ sở hữu, trạng từ, “c’est” hay “il est”
Khi lĩnh hội hai ngôn ngữ này cùng lúc, người học không thể tránh khỏi những
thắc mắc, trăn trở Sau đây là hai câu hỏi phổ biến cùng lời giải đáp (được chọn lọc
từ quyển Tự học và sử dụng ngoại ngữ của Nguyễn Duy Côn) sẽ giúp ta có thể hiểu
rõ hơn mối liên quan giữa hai ngôn ngữ rất dễ nhầm lẫn này:
• Tại sao Tiếng Anh và Tiếng Pháp lại có nhiều từ viết giống nhau?
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu sơ lược nguồn gốc của Tiếng Anh và Tiếng Pháp Chúng đều thuộc họ các ngôn ngữ Ấn-Âu (Indo-European family) Tuy nhiên, Tiếng Anh lại thuộc nhánh các ngôn ngữ Giecman (Germanic languages) gồm các tiếng Bắc Âu, Đức, Hà Lan…, còn Tiếng Pháp lại thuộc nhánh Roman (Romance languages) gồm các tiếng dẫn xuất từ tiếng La tinh dân gian thời đế chế
La Mã như Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani… Về lịch sử, năm 1066, người Norman ở Pháp xâm chiếm Anh và đưa Tiếng Pháp vào Anh, nhập với tiếng gốc Anglo-Saxons (gốc thổ âm Giecman) dần dần tạo thành tiếng Anh Về địa lý, nước Anh chỉ cách nước Pháp bằng eo biển Manche Vì vậy, quan hệ Anh, Pháp rất gần
Trang 14gũi và hai ngôn ngữ này ảnh hưởng nhau rất nhiều, thậm chí có một bộ phận rất giống nhau Đại thể có những điểm tương đồng, dị biệt sau:
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghĩa như nhau Loại này thuận lợi cho người tự học tiếng nước này khi biết tiếng nước kia
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghĩa như nhau hoặc có nghĩa khác nhau Loại này khi sử dụng phải cẩn thận
- Viết giống hay gần giống Tiếng Anh có nghĩa khác nhau Loại này gây nhiều sự sai sót, nhầm lẫn cho người học
• Khi đã biết Tiếng Anh, học Tiếng Pháp có nhiều thuận lợi không?
Câu trả lời là có nhiều thuận lợi Nếu biết Tiếng Anh thì học Tiếng Pháp không mấy khó khăn Cái lợi rõ ràng nhất là có thể biết trước được những từ viết giống nhau hoặc gần giống nhau do chúng cùng họ La Tinh Hơn nữa, vì những lý do địa lý và lịch sử, quan hệ Anh-Pháp rất gần gũi, do đó ngôn ngữ cũng ảnh hưởng lẫn nhau rất sâu đậm Tuy nhiên đây cũng là “cái bẫy” khiến nhiều người bị mắc sai lầm hay nhầm lẫn vì sự không hoàn toàn giống nghĩa của một số cặp từ và những điểm ngữ pháp khác nhau giữa Anh-Pháp
Ngoài ra, sự vững vàng về chuyên môn, sự linh hoạt trong giảng dạy cũng góp
phần không nhỏ vào chất lượng học tập Do đó, người giảng dạy cần nắm một số kinh nghiệm trong việc hướng dẫn học ngoại ngữ như sau:
- Gây cho người học hứng thú và có hiểu biết khái quát ngay từ đầu về thứ
tiếng họ chọn lọc
- Làm cho người học tự tin là họ có thể học tập tốt
- Làm cho người học biết rằng muốn học ngoại ngữ thì phải trau dồi Tiếng Việt
- Làm cho học viên hiểu được cái khác cơ bản của ngoại ngữ so với Tiếng
Việt
- Nêu được cái hay của ngoại ngữ đang học và những cái khó nhưng có biện
pháp khắc phục để sinh viên không nản
- Vạch cho người học một kế hoạch thời gian, tư vấn về tài liệu tối thiểu cần
có, căn cứ vào khả năng tiếp thu ngoại ngữ của họ
II/ Kết quả khảo sát:
1) Đặc điểm tình hình trường ĐHAG:
1.1 Tình hình chung
- Ban Giám Hiệu và các phòng ban phối hợp chặt chẽ, hoạt động hiệu quả
- Trường có quy mô lớp học, giảng đường rộng rãi, đủ tiện nghi phục vụ hiệu quả cho việc học
Trang 15- Trường có thư viện điện tử hiện đại hỗ trợ đắc lực cho việc học của sinh viên
- Đội ngũ giảng viên đông đảo, nhiệt tình, giàu kinh nghiệm
- Ngoài các giờ học chính khoá, các khối, khoa, trường còn tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao lành mạnh cho sinh viên vui chơi, giải trí…
+ Nội dung giảng dạy là bộ giáo trình Tiếng Pháp Le Nouveau Sans Frontières 1 (Le NSF 1) đảm bảo việc học ngôn ngữ cho sinh viên vì có nhiều bài
tập viết, nói, nghe (có kèm băng cassette) và bài tập hệ thống ngữ pháp; đảm bảo khả năng giao tiếp vì có nhiều hoạt động giúp người học luyện nói đồng thời hiểu được nền văn hoá Pháp nhờ có nhiều tài liệu minh họa và hình ảnh
+ Trường có thư viện điện tử, phòng lab giúp sinh viên tìm hiểu thêm, luyện các kỹ năng nghe, nói… thành thạo
+ Các tối thứ 3 – 5 – 7 hàng tuần trung tâm ngoại ngữ của trường có các lớp dạy Tiếng Pháp theo sát chương trình học
- Khó khăn :
+ Số lượng giáo viên giảng dạy bộ môn Tiếng Pháp còn ít (hai giáo viên) Do đó, thiếu lực lượng tổ chức các buổi giao lưu, câu lạc bộ nói Tiếng Pháp, trao đổi kinh nghiệm…
+ Trường chưa có chuyên ngành Tiếng Pháp để đi sâu giảng dạy ngôn ngữ này
+ Nhiều sinh viên khối ngoại ngữ (chuyên ngành Anh Văn) còn xem nhẹ môn Tiếng Pháp vì cho là môn học phụ dẫn tới lơ là, thiếu tập trung…
Từ việc nắm bắt những thuận lợi, khó khăn trên chúng ta sẽ từng bước khắc phục, chỉnh sửa để nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Pháp cho sinh viên của trường trong tương lai
2) Việc học Tiếng Pháp - những nhầm lẫn thường gặp với Tiếng Anh và các hướng khắc phục:
Trang 162.1 Cách phát âm:
2.1.1 Nét tương đồng với Tiếng Anh:
- Từ vựng của cả hai ngôn ngữ đều cấu thành bởi hệ thống 26 chữ cái thuộc ngữ hệ La tinh : A, B, C, D, E, F, G, H, I, J, K, L, M, N, O, P, Q, R, S, T, U,
V, W, X, Y, Z
- Có những từ giống nhau cả hình thức và ngữ nghĩa (important: quan trọng, football: bóng đá…) hoặc tương tự nhau dẫn tới việc khi tiếp xúc các từ mới
Tiếng Pháp lần đầu, sinh viên chuyên ngành Anh văn vẫn có thể đoán được chính
xác nghĩa của chúng (actor (A) / acteur (P): diễn viên, professor (A) / professeur
(P): giáo sư, blue (A) / bleu (P): màu xanh da trời…)
- Tiếng Anh và Tiếng Pháp có nhiều âm tương tự (như âm[∂] trong
recevoir (P) và strawberry(A)…)
2.1.2 Khác:
- Cách phiên âm các kí tự trong bảng chữ cái khác nhau
Ví dụ : - Tiếng Anh : A [ei], B [bi ] , C [si] …
- Tiếng Pháp : A [a] , B [be], C [se] …
- Mặc dầu có cùng số lượng chữ cái nhưng số lượng âm trong Tiếng Anh và Tiếng Pháp khác nhau:
Ở Tiếng Anh, có 44 âm chia thành :
Vowels (nguyên âm) : i: , i, ª, ∗, e, ∂, :, C:, ỉ,٨, ⎯, ◊, I∂,eI, ς,
0, Ω, Φ, ϒ,
Consonants (phụ âm) : p, b, t, d, , d¦, k, g, f, v, θ, ð,s,z,∫,
¦, m, n, ŋ, h, i, r,w,j
Ở Tiếng Pháp, có 36 âm chia thành:
Voyelles (nguyên âm): a, ℘, e, ε, i, C, o, u, y,œ, ø, ∂, ã, , õ, .
Semi-voyelles (bán nguyên âm): j, ч, w
Consonnes (phụ âm): p, t, k, b, d, g, f, v, s, z, ¦, ∫, l, r, m, n, л
- Trong Tiếng Anh, những phụ âm cuối từ phải phát âm thật chuẩn (như /t∫/ trong watch [w◊t∫]) trong khi trong Tiếng Pháp những phụ âm cuối từ không
được phát âm (như grand [grã]) ngoại trừ c, f, l và q, r Ví dụ: neuf [nœf], fleur [flœr]… (tuy nhiên r trong các động từ tận cùng bằng –er không được phát âm Ví dụ: marcher [mar∫e])
- Mỗi từ vựng của Tiếng Anh (khi phiên âm) có một dấu nhấn (stress) ở một vị trí âm tiết (syllable) nhất định Trong Tiếng Pháp, từ vựng không có dấu nhấn mà phần lớn trọng âm nằm ở âm tiết cuối
Trang 17khác với âm Tiếng Anh có chứa cùng nguyên âm và phụ âm (chẳng hạn, không có
âm [h] trong Tiếng Pháp, ch trong Tiếng Pháp giống âm [∫] Tiếng Anh)
Ngoài ra, trong Tiếng Pháp có những phụ âm được phát âm khác đi khi nguyên
âm đi kèm theo sau thay đổi (trích Tiếng Pháp hướng dẫn tự học của nhóm biên
dịch Nhân Văn):
c khi đứng trước các nguyên âm e, i, y thì phát âm [s] như: ce, merci…) nhưng khi đứng trước các nguyên âm o, a, u thì phát âm [k] như: café, compétent
g khi đứng trước các nguyên âm e, i, y thì phát âm [¦] như:
garage nhưng khi đứng trước các nguyên âm a, o, u thì phát âm [g] như : garage
gn được phát âm [л]như: renseignement
ll khi thì được phát âm [j] như: travailler, khi thì phát âm [l] như: ville
qu được phát âm [k] như : que, quelle, musique
x khi đứng trước phụ âm thì phát âm [ks] như: excellent nhưng khi đứng trước nguyên âm thì phát âm [gz] như: examen
- Trong Tiếng Anh, việc nối phụ âm kết thúc một từ với nguyên
âm bắt đầu từ theo sau có hiện hữu nhưng không bắt buộc và thường xảy ra khi giao
tiếp ở tốc độ nhanh trong ngôn ngữ thường ngày (rapid colloquial speech) Ví dụ: I like him [laik’im]
Tuy nhiên, trong Tiếng Pháp, trường hợp này gọi là la liaison (nối)
Dưới đây là những trường hợp bắt buộc và những trường hợp hoàn toàn không được
phép (tổng hợp dựa trên sách Grammaire progressive du Français của Maia
Grégoire – Odile Thiévenaz – Elisabeth Franco):
a) Bắt buộc :
- Đại từ nhân xưng + động từ Ví dụ: Ils aiment
- Động từ + đại từ nhân xưng Ví dụ: aiment-ils
- Tính từ + danh từ Ví dụ: vieux arbres
- Trạng từ ngắn + tính từ Ví dụ: très intelligent
- Sau sans Ví dụ: Sans avis
- Sau est Ví dụ: C’est intérressant
b) Hoàn toàn không ghép nối:
- Sau et Ví dụ: Il est gentil et intelligent
- Trước một h bật hơi như trong Hollande, haricot…
Ví dụ: les harricots, les Hollandais
Trang 18c) Khi nối, các âm sau sẽ thay đổi:
- s ở cuối một từ đổi thành z Ví dụ: ils achètent
- x trở thành z Ví dụ: beaux hommes
- d thành t Ví dụ: un grand ami
- f thành v Ví dụ: neuf ans
2.1.3 Sự nhầm lẫn :
Do không nắm số lượng và cách đọc các âm của từng ngôn ngữ (có sự khác biệt rất rõ) dẫn đến việc phát âm sai mà phổ biến nhất, thường gặp nhất là dùng cách phiên âm Tiếng Anh để phát âm các từ Tiếng Pháp (chiếm số lượng
63,8%) (câu 4)
Ví dụ : apartment (TA) [∂’p⎯tm∂nt]
Tiếng Pháp có từ appartement, sinh viên phát âm[∂’p⎯tm∂nt] quen thuộc theo Tiếng Anh thay vì phải đọc [apaRt∂mã]
2.1.4 Thực trạng và giải pháp khắc phục :
- Thứ nhất, do sinh viên còn dành ít sự đầu tư cũng như chưa có phương
pháp học tích cực môn Tiếng Pháp (35,3% không có tự điển Tiếng Pháp (câu 5), chỉ 19% xem lại bài học ngay ở nhà sau buổi học chính thức còn phần đông còn lại ôn bài trước ngày có tiết học tới hoặc trước kiểm tra, các kì thi… (câu 33)) nên kết quả
là việc nhầm lẫn xảy ra khá thường xuyên Từ đây hướng khắc phục hiệu quả cho sinh viên là:
+ cần xem lại bài ở nhà ngay trong ngày hôm đó vì nếu ôn lại trong ngày thì những thông tin này sẽ khắc sâu vào tâm trí và ở giờ học chính thức kế tiếp
ta sẽ dễ dàng tiếp thu bài học
+ cần trang bị thêm các sách, tài liệu về Tiếng Pháp (có liên quan hoặc mở rộng thêm chương trình học ở lớp) sau đó so sánh với những kiến thức đã có về Tiếng Anh kết hợp cùng với sựï hỗ trơ,ï giúp đỡ của giáo viên bộ môn để nắm
vững hơn những điểm khác nhau cơ bản Anh-Pháp
- Thứ hai, qua điều tra cho thấy sinh viên có sự ghi nhớ khá máy móc
cách phát âm một từ Tiếng Pháp (34,3% nhẩm đọc vài lần để nhớ, 30,5% ghi chú
cách phát âm bằng Tiếng Việt (câu 1)) đồng thời 22,8% không hiểu cách phiên âm của các từ Tiếng Pháp trong tự điển (câu 5) và 31,4% sinh viên đồng ý rằng sẽ nhớ lâu một từ Tiếng Pháp bằng cách biết đọc từ đó chính xác (câu 2) Do đó, điều cần
thiết đặt ra ở đây là giáo viên bộ môn nên:
Dạy cho sinh viên cách đọc các kí tự trong bảng chữ cái và cách phát âm chuẩn các từ vựng Tiếng Pháp nhằm nâng cao dần các kỹ năng (đọc, nói)
Trang 19 Dạy cơ bản hay khá chuyên sâu (nếu có điều kiện) về những kí hiệu phiên âm của từ (như [ã] là nguyên âm gì? đọc như thế nào? cho ví dụ một số từ có
âm đó…)
Cụ thể hơn, Tiếng Pháp có 36 âm và 26 kí tự Các nhà ngôn ngữ học, ngữ
âm học đã lập ra BẢNG PHIÊN ÂM MẪU TỰ, do Hội ngữ âm học quốc tế chủ
trương (trích sách Ngữ pháp Tiếng Pháp của Quốc Bình _ Quang Minh biên soạn)
Bảng này cóù đầy đủ các âm, giáo viên có thể căn cứ vào đó dạy cho sinh viên ý nghĩa và cách đọc chính xác chúng để từ đó có thể sinh viên có thể tự hiểu, tự nghiên cứu, tìm ra cách phát âm của từ vựng thông qua việc tra cứu tự điển, khuyến khích việc tự học, tạo sự ghi nhớ hiệu quả:
été, chanter, pays, je chantai, oedème, oenologie, oedipe
sec, mère, même, Noël,peine, aime, fraỵche, j’aimais, jamais
si, ỵle, cyprès, naðf note, or, bonne, robe, Paul chose, vôtre, Paule, eau fou, outil, gỏt, aỏt rue, mur, mûr, il eut, il a eu peuple, jeunes,
moeurs, boeuf, oeil peu, aveu, jẻne, noeud remis, tu seras, tu chantes
a
oi, oy, oe ( = [wa])
a, â, a(i), (e) â,
oi, oê ( = [wa])
é, er, ay, ai
o, ô, au, eau
ou, ỏ, aỏ
u, û, eu
eu, oeu, oe(i)
eu, ẻ, oeu
e
Nguyên âm thuộc về
mũi
(voyelles nasales)
[ã] a mũ an, champ, en, emballé,
paon, taon, faon
an, am, en, em aon
Trang 20un, brun, parfum, à jeun
in, im,
en, ain, aim, ein, yn, ym
on, om, un
un, um, eum
Bán nguyên âm
kilo, accent, bachante, archaðque, schizophrène baba, bébé, bonbon abbé, abbatiale, abbesse dur, dedans, addition, adducteur gỏt, vogue, guêpe,
gnome, diagnostic fer, affaire, phare, physique valve, verve, aviver,
shah, schéma, schisme
le, la, bal, sale, salle rare, rire, arrêt, terrain
me, maman, grammaire, mammifère
ni, non, cane, nenni, naine, canne digne, peigne, agneau,
Trang 21Ngoài ra, Tiếng Pháp còn có các dấu ( les accents) đặt trên nguyên âm Có 3 loại: dấu sắc (l’accent aigu), dấu huyền (l’accent grave), dấu mũ (l’accent circonflexe)
thường gây khó khăn cho đa số sinh viên trong cách phát âm Do đó cần nắm các quy luật về dấu để có cách phân biệt và phát âm cho đúng:
- l’accent aigu trên chữ e (é) chỉ âm [e] (appétit, mélanger, fatigué…), l’accent grave trên chữ e (è) chỉ âm [ε ] mở (achète, lève, infirmière…)
- l’accent circonflexe có nguồn gốc khác nhau: nó thay thế cho chữ s từ nguyên (étymologique) hay đôi khi phiên (transcrit) lại một âm xưa cũ và kéo dài của vài nguyên âm: hôpital, hôtel… Cũng có trường hợp nó dùng để phân biệt những từ đồng âm (tâche: công việc và tache: vết bẩn; notre, votre: tính từ sở hữu và nôtre, vôtre: đại từ; sur: ở trên và sûr: chắc chắn…)
Đặc biệt, một số từ Tiếng Pháp có:
+ Dấu hai chấm (le tréma) đặt trên nguyên âm thứ hai biểu thị
nguyên âm đứng trước nó phải đọc tách biệt với nguyên âm có dấu hai chấm (maðs [mais]: cây bắp, haðr[air]: ghét)
+ Dấu lược (l’apostrophe) biểu thị sự bỏ âm cuối –a hay –e trong
một số từ ngữ pháp khi các từ này đứng trước một từ bắt đầu bằng một nguyên âm hay h câm (muet) Ví dụ: l’hôpital, l’eau, quelqu’un …
+ Dấu gạch nối (le trait d’union) nối các từ thành từ ghép fille, grand-mère…) hay được đặt trước và sau chữ t hài âm (euphonique) ở ngôi thứ
(petite-ba số ít chèn giữa một dạng động từ và một đại từ chủ ngữ đặt sau
Ví dụ: Annie déjeune-t- elle avec toi ?
2.2 Động từ :
2.2.1 Nét tương tự nhau: có những động từ ở cả hai ngôn ngữ giống nhau về
ngữ nghĩa và có hình thức tương tự nhau
Ví dụ: Tiếng Anh : pay , compose , detest…
Tiếng Pháp : payer , composer , détester…
( trả ) ( soạn ) (ghét)
2.2.2 Khác nhau:
- Tiếng Anh: động từ được chia theo các đại từ: I, We, You, They, He, She, It Tuy nhiên động từ được chia đơn giản hơn nhiều
Ví dụ: Động từ “to have” (có) I/We/ You/ They have a house
He/She/It has two eyes
Động từ trong Tiếng Pháp được chia phù hợp với các đại từ: Je, Tu, Vous, Nous, Il / Elle / On, Ils / Elles và được phân thành ba nhóm:
+ Nhóm động từ tận cùng bằng -er: payer, acheter…
+ Nhóm động từ tận cùng bằng –ir: finir, sortir…
+ Nhóm động từ tận cùng bằng -ir , -oir, -re: avoir, attendre…
với những quy tắc đặc trưng của từng nhóm Ngoài ra còn những ngoại lệ cần phải ghi nhớ khá phức tạp
Trang 22Ví dụ: Những cách hoà hợp của động từ “aller” với các đại từ nhân
xưng là ngoại lệ: Je vais / Tu vas / Il va / Nous allons / Vous allez / Ils vont à Da lat
- Ở hai ngôn ngữ, có những động từ có hình thức tương tự nhau nhưng
không hoàn toàn hoặc khác nhau về nghĩa (abuse (A):1) lạm dụng, 2) sỉ nhục,
abuser (P): 1) lạm dụng quá độ, 2) hãm hiếp)
2.2.3 Sự nhầm lẫn:
- Dùng sai động từ (do nhớ nhầm nghĩa của Tiếng Anh)
Khi chọn nghĩa các từ “demander/donner/attendre” (xin/cho/chờ đợi),
80% sinh viên chọn câu trả lời sai do lầm nghĩa các từ tương tự của Tiếng Anh
“demand/donate/attend” (yêu cầu/cho/tham gia) (câu 7)
- Quên chia động từ cho phù hợp với chủ từ
- Nhầm lẫn quy tắc chia động từ giữa ba nhóm hoặc không nhớ cách chia của các động từ ngoại lệ
Qua điều tra thu được kết quả là trung bình khoảng 63,14% sinh viên mắc sai sót trong các điểm phái sinh và ngoại lệ khi chia hoà hợp theo các đại từ
những động từ s’asseoir, devoir, boire, ouvrir…(câu 22)
2.2.4 Giải pháp:
- Nắm thật vững nghĩa, qui tắc chia động từ cơ bản của từng nhóm, tránh việc quên chia động từ hay chia không tương xứng với chủ từ và chú ý cách phát âm (vì khi chia ở từng ngôi, động từ sẽ có cách đọc khác với động từ gốc)
Ví dụ: Đối với động từ ở các nhóm ta có thể chia dựa trên mẫu của các động từ sau:
Lou/er (thuê, cho thuê) Dormir (ngủ) Vend/re (bán)
Ils/elles lou/ent[lu] dor/ment vend/ent
Tuy nhiên ở mỗi nhóm đều có những điểm phái sinh mà chúng ta phải ghi nhớ (bằng cách học thuộc lòng)
Ví dụ: + Manger (ăn) thì động từ chia ở ngôi nous là mangeons hay essayer (thử, cố gắng) thì: j’essaie, tu essaies, il/elle essaie
+ Ouvrir (mở) dù tận cùng là-ir nhưng gần như theo cách chia động từ -er với: j’ouvre, tu ouvres, il/elle ouvre…
+ Mettre (đặt, để) thì: je mets, tu mets, il/elle met, nous mettons, vous mettez, ils/elles mettent
- Nắm các ngoại lệ (avoir, aller, être…) để chia cho đúng
2.3 Danh từ :
2.3.1 Giống nhau:
Trang 23- Có những danh từ ở hai ngôn ngữ hoàn toàn giống nhau về cấu trúc từ vựng và ngữ nghĩa(table: cái bàn, village: làng, villa: biệt thự, parents: cha mẹ…)
- Danh từ thay đổi theo số:
Ví dụ: doctor – doctors (A) / médecin - médecins (P)
- Có vài danh từ chỉ người có giống theo ngữ nghĩa quy ước
Ví dụ: a man (một người đàn ông) ≠ a woman (một người đàn bà) (A)
un homme (một người đàn ông) ≠ une femme (một người đàn bà) (P)
Do đó, nhiều sinh viên nhầm tưởng danh từ Tiếng Pháp chỉ giống hoặc tương tự Tiếng Anh dẫn đến sai lầm khi bỏ sót những điểm khác nhau rất đáng kể giữa hai ngôn ngữ
2.3.2 Khác nhau:
- Một số danh từ của hai ngôn ngữ giống hoặc tương tự nhau về hình thức nhưng ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau hay khác nhau hoàn toàn
Ví dụ: a car (A): 1 chiếc xe hơi nhưng un car (P): 1 chiếc xe ca
lecture (A): bài thuyết trình nhưng lecture (P): việc đọc
- Danh từ Tiếng Anh chỉ sinh vật, chỉ người rất ít phân biệt giống trừ 1 vài trường hợp nhỏ (waiter/waitress, host/hostess…) Trong khi đó đại đa số danh từ loại này Tiếng Pháp có hai giống (acteur / actrice, musicien / musicienne, chien / chienne…) và thay đổi theo giống (trừ một số từ dùng cho cả hai giống: professeur, écrivain…)
Ví dụ: He is a student / She is a student (A)
Il est étudiant / Elle est étudiante (P)
- Đối với danh từ chỉ đồ vật, Tiếng Anh không hề có sự phân biệt giống và cho chúng là trung tính (a book, a car, a chair…) thì trong Tiếng Pháp có sự phân biệt giống rất rõ (un livre, une voiture, une chaise…)
tương tự bằng Tiếng Pháp (như từ “giáo sư” được viết professor (A) thay vì
professeur (P)…) (câu 10)
- Lẫn lộn về nghĩa của từ giữa 2 ngôn ngữ
Ví dụ : collier (A): tàu chở than, thợ mỏ collier (P): cái vòng đeo cổ Thông qua số liệu thống kê, có 72,4% sinh viên nhầm lẫn nghĩa giữa
“sale”(TP): dơ dáy, bẩn thỉu và“sale”(TA): việc bán hàng hạ giá (câu 8)
- Chỉ thay đổi danh từ Tiếng Pháp theo số mà quên thay đổi theo giống
Ví dụ : Il est étudiant (1) / Elles sont étudiants (2)
Trang 24Sửa lại : étudiants (2) thành étudiantes
2.3.4 Thực trạng và giải pháp:
Hiện nay, khoảng 19% sinh viên còn chỉ áp dụng cách học thuộc lòng giống của các danh từ và 17,1% còn ghi nhớ một cách thiếu sót “hầu hết danh từ
tận cùng là-e giống cái, trừ một số rất ít những ngoại lệ”… (câu 13) ; bên cạnh đó
phần đông còn mắc sai sót hoặc quên chú ý đến việc chuyển dạng danh từ theo giống và số cho phù hợp dẫn tới phạm nhiều sai lầm trong việc hòa hợp trong câu
(câu 14) Chính vì vậy, sinh viên cần nắm các cách nhận biết (dựa vào các tiếp tố
của từ), các quy luật biến đổi bên cạnh việc cố nhớ (học thuộc lòng) những trường hợp ngoại lệ không theo quy tắc:
- Đối với danh từ chỉ đồ vật, danh từ chỉ hành động, trạng thái, danh từ cụ thể, danh từ trừu tượng chỉ có một giống duy nhất là giống đực hay cái, do đó tốt nhất là nhờ vào tự điển, dần dần qua đó mà ghi nhớ giống của chúng
Ví dụ: un livre (một quyển sách), un café (một quán cà phê), la mer (biển)…
- Đối với danh từ phái sinh thì giống phụ thuộc vào tiếp tố:
+ Masculin (giống đực): -age, -ment, -oir, -ier
Ví dụ: lavage (sự rửa, giặt giũ), tiroir (ngăn kéo)…
+ Féminin (giống cái): -tion, -ie, -ise, -ade
Ví dụ: donation (cho, biếu, tặng), orangeade (nước cam)…
Qua điều tra cho thấy, 93,26% sinh viên thống nhất ý kiến “việc dạy cho sinh viên nắm các tiếp tố phân biệt hai giống của danh từ Tiếng Pháp là cần thiết”
(câu 28) Do đó bên cạnh việc tự tìm hiểu, học hỏi thêm của sinh viên về các quy luật, cách phân biệt (như đã nói ở trên), giáo viên cần hỗ trợ, giúp đỡ làm sâu, làm vững kiến thức thêm để hạn chế sự khó khăn, sự nhầm lẫn về giống, số của danh từ Tiếng
Pháp ở sinh viên hướng đến việc nâng cao chất lượng học tập
2.4 Tính từ :
2.4.1 Nét giống nhau: Cũng như danh từ, một số tính từ giống hệt nhau về
hình thức, ngữ nghĩa ở cả hai ngôn ngữ (large: lớn, content: hài lòng, intelligent: thông minh…)
rất quan trọng, đáng kể, 2) tuyệt vời
- Tiếng Anh: hầu hết tính từ đứng trước danh từ, sau động từ “to be”, luôn giữ nguyên dạng ban đầu không thay đổi theo giống và số
Ví dụ: He is a good teacher / They are good teachers
Minh is a nice boy / Thanh is a nice girl