1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lập kế hoạch chiêu ký túc xá sinh viên Khánh Toàn trong năm 2010

72 433 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009. Thực trạng và giải pháp
Tác giả Lê Nguyễn Diễm Hương
Người hướng dẫn Th.S. Nguyễn Thị Vân
Trường học Trường Đại Học An Giang
Chuyên ngành Giáo Dục Chính Trị
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố An Giang
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 863,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lập kếhoạch chiêu thịcho ký túc xá sinh viên Khánh Toàn trong năm 2010

Trang 1

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

LÊ NGUYỄN DIỄM HƯƠNG

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH

AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

KHÓA HỌC: 2006-2010

An Giang, 2010

Trang 2

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

" #

LÊ NGUYỄN DIỄM HƯƠNG

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH

AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH HỌC: GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: Th.s NGUYỄN THỊ VÂN

KHÓA HỌC: 2006-2010

An Giang, 2010

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện được khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều Ban ngành;

đoàn thể; quý thầy cô trường đại học An Giang Nay khóa luận đã hoàn thành, em xin gửi lời

cảm ơn chân thành đến:

- Quý thầy cô trường đại học An Giang Đặc biệt là quý thầy cô trong khoa Lý

Luận Chính Trị đã trang bị kiến thức và tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này

- Cô Nguyễn Thị Vân đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời

gian thực hiện khóa luận

- Quý cô, chú đang công tác ở Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, thành phố

Long Xuyên, tỉnh An Giang đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thu thập nguồn tài liệu phục vụ

tốt cho quá trình nghiên cứu và viết khóa luận

Chân thành cảm ơn!

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài……… 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài……… ……… 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận……… 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu khóa luận……….4

5 Phương pháp nghiên cứu khóa luận ……… 4

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của khóa luận ……… 4

7 Kết cấu của khóa luận……… 5

PHẦN NỘI DUNG……… 7

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO……… ……… 7

1.1 Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo……… 7

1.1.1 Quan niệm về nghèo đói, ngưỡng cửa nghèo……… …… 7

1.1.1.1 Quan niệm hiện tại về nghèo đói……… 7

1.1.1.2 Khái niệm ngưỡng cửa nghèo……… 12

1.1.1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo……… ……… 13

1.1.2 Nhận thức về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo……… 16

1.1.2.1 Tiêu chí đánh giá nghèo đói……… 16

1.1.2.2 Chuẩn nghèo đói……… 18

1.2 Chủ trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta……… 21

1.2.1 Một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta……… 23

1.2.2 Công tác thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở nước ta……… 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở

Trang 5

2.1 Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ

Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay……… … 32

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……… 32

2.1.2 Tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……… 33

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009……… 35

2.2.1 Khái quát tình hình đói nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……… 35

2.2.2 Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……… 36

2.2.2.1 Một số chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo……… 36

2.2.2.2 Một số chủ trương, giải pháp của thành phố Long Xuyên về công tác xóa đói, giảm nghèo……… 40

2.2.2.3 Một số chủ trương, giải pháp của phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo………… 42

2.2.3 Những thành tựu và hạn chế thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009……… …… … 45

2.2.3.1 Thành tựu……… 45

2.2.3.2 Hạn chế.……… 48

2.2.3.3 Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế……… 49

2.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới……… … 51

2.3.1 Mục tiêu chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang……… 51

2.3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới……… … 52

Trang 6

2.3.2.3 Giải pháp về các chính sách……… 56

PHẦN KẾT LUẬN……… 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

và hỗ trợ của bạn bè quốc tế Việt Nam đã có những bước phát triển, đạt được những thành tựu đáng kể Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên một cách rõ rệt Song một bộ phận dân cư, đặc biệt là dân ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,…đang chịu cảnh nghèo đói, rét, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống Sự phân hóa giàu nghèo đã và đang diễn ra mạnh mẽ và là vấn đề xã hội cần đặc biệt quan tâm

Từ năm 1992, xóa đói, giảm nghèo đã được triển khai ở một số tỉnh, thành phố, đến năm 1994 trở thành phong trào ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong giai đoạn 1992-1997, phong trào xóa đói, giảm nghèo đã được các địa phương và các tổ chức đoàn thể phát động để trợ giúp hộ nghèo

về đời sống và sản xuất Phong trào đã đạt được những kết quả đáng kể, giảm

tỷ lệ hộ nghèo đói trong cả nước từ 60% năm 1990 xuống còn 12,3% năm

2009 Nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo thành công đã xuất hiện và được nhân rộng Sự phối hợp, lồng ghép các chương trình kinh tế-xã hội khác với xóa đói, giảm nghèo bước đầu đã đem lại kết quả theo ước tính khoảng 20%

Trang 8

hộ nghèo đã được hưởng lợi từ các Chương trình 120, 327, nước sạch nông thôn, y tế, giáo dục…, cuộc sống của đại bộ phận dân cư bước đầu được cải thiện, đặc biệt là nhóm hộ nghèo Từ những kết quả đó, theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trong thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ

Do đó, để tập trung được nguồn lực triển khai một cách đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, xóa đói, giảm nghèo phải trở thành một Chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế-xã hội của đất nước nhằm hỗ trợ trực tiếp xã nghèo, người nghèo những điều kiện cần thiết

để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, tạo môi trường thuận lợi xóa đói, giảm nghèo bền vững Chính vì vậy ngày 23/7/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 (gọi là chương trình 133) và xác định đây là một trong mười Chương trình mục tiêu quốc gia, coi đây là một chủ trương lớn, một quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước Đến 9/2001 tiếp tục phê duyệt Chương trình xóa đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005 (gọi là Chương trình 143) Đảng ta cũng đã khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ bản để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu để phát triển kinh tế-xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006-2010

Để thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nói chung

và phường Mỹ Phước nói riêng đã ra sức đẩy mạnh thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo và đạt được nhiều thành tựu đáng kể: tỷ lệ hộ nghèo ở phường từ 5,15% năm 2006 giảm xuống còn 1,89% năm 2009 (theo chuẩn mới) Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo tại phường chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước Vì vậy, mục tiêu phấn đấu của phường là đến năm 2010 sẽ giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 1% Để hoàn thành mục tiêu này và đồng thời đáp ứng được yêu cầu đổi mới của đất nước, đòi hỏi các cấp lãnh đạo ở địa phương cần có những biện pháp cụ thể để khắc phục những mặt hạn chế và thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo

Từ những lý do trên em chọn đề tài: “Xóa đói, giảm nghèo ở

phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến

Trang 9

năm 2009 Thực trạng và giải pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp chuyên

ngành Giáo dục chính trị

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện trong nước nói chung và tỉnh An Giang, thành phố Long Xuyên, phường Mỹ Phước nói riêng có nhiều đề tài, bài nghiên cứu, tham luận, báo cáo về thực trạng và đề ra những giải pháp cụ thể về xóa đói, giảm nghèo phù hơp từng địa phương nghiên cứu Về vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã có những đề tài nghiên cứu ở địa phương như: khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Ngọc Ánh, tiểu luận của Nguyễn Thiện Tích,…Nhưng chỉ dừng lại ở vấn đề chung chung, những giải pháp mang tính khả thi chưa cao hay nghiên cứu ở những địa phương khác Nay em, bước đầu tìm hiểu về nghèo đói, công tác xóa đói, giảm nghèo hiện nay ở trong nước và

ở tại địa phương em-phường Mỹ Phước Từ đó, có những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân ở địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận

3.1 Mục đích nghiên cứu khóa luận

- Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009

- Từ tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo tôi đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính quyền

và nhân dân địa phương làm tốt hơn nữa chính sách xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận

Để thực hiện mục đích trên, khóa luận cần thực hiện:

- Trình bày cơ sở lý luận chung về xóa đói, giảm nghèo và chủ trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ta

- Phân tích thực trạng xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 10

- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần cho Đảng ủy, chính quyền và nhân dân làm tốt hơn nữa trong công tác xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu khóa luận

4.1 Đối tượng nghiên cứu khóa luận

Xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009 Thực trạng và giải pháp

Đề tài nghiên cứu dưới góc độ môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và chỉ nghiên cứu thực trạng xóa đói, giảm nghèo và việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường

Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm

2009

5 Phương pháp nghiên cứu khóa luận

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp lịch sử và logic

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp đối chiếu

6 Những đóng góp mới về mặt khoa học của khóa luận

- Góp phần khẳng định sự cần thiết khách quan phải nghiên cứu vấn

đề xóa đói, giảm nghèo của cả nước nói chung và ở An Giang nói riêng

- Khóa luận đạt được kết quả tốt là động lực góp phần giúp em vững tin hơn trong công tác giảng dạy sau này; đồng thời là động lực giúp em trong quá trình nghiên cứu về môn học mà em yêu thích

- Kết quả nghiên cứu của khóa luận là nguồn tư liệu để các cấp Đảng, chính quyền địa phương có thể tham khảo trong quá trình lãnh đạo, giải quyết các vấn đề liên quan đến xóa đói, giảm nghèo tại phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 11

7 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm hai chương:

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

1.1.1 Quan niệm về nghèo đói, ngưỡng cửa nghèo

1.1.1.1 Quan niệm hiện tại về nghèo đói

1.1.1.2 Khái niệm ngưỡng cửa nghèo

1.1.1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam

về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo

1.1.2 Nhận thức về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo

1.1.2.1 Tiêu chí đánh giá nghèo đói

1.1.2.2 Chuẩn nghèo đói

1.2.1 Một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta

1.2.2 Công tác thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở nước ta

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Ở PHƯỜNG MỸ PHƯỚC, THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2009

2.1 Khái quát vị trí địa lý và tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang hiện nay

2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.1.2 Tình hình kinh tế-xã hội ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

Trang 12

2.2 Thực trạng thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2006 đến năm 2009

2.2.1 Khái quát tình hình đói nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.2.2 Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang 2.2.2.1 Một số chủ trương, chính sách của tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo

2.2.2.2 Một số chủ trương, giải pháp của thành phố Long Xuyên về công tác xóa đói, giảm nghèo

2.2.2.3 Một số chủ trương, giải pháp của phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang về công tác xóa đói, giảm nghèo

2.2.3 Những thành tựu và hạn chế thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm

2006 đến năm 2009

2.2.3.1 Thành tựu

2.2.3.2 Hạn chế

2.2.3.3 Nguyên nhân những thành tựu và hạn chế

2.3 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới

2.3.1 Mục tiêu chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước

ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang

2.3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà nước ở phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong những năm tới

2.3.2.1 Giải pháp chung

2.3.2.2 Giải pháp về kinh tế

2.3.2.3 Giải pháp về các chính sách

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI, XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA

VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO

1.1 Nhận thức chung về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo

1.1.1 Quan niệm về nghèo đói; ngưỡng cửa nghèo

1.1.1.1 Quan niệm hiện tại về nghèo đói

“Vì sao người ta lại quan tâm đến vấn đề nghèo đói?” Trước những năm

1990 người ta quan tâm nhiều đến tăng trưởng kinh tế, kinh tế càng tăng trưởng càng nảy sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc và chi phí khắc phục hậu quả của nó ngày một tốn kém hơn Trong các vấn đề xã hội bức xúc đó, vấn đề nghèo đói nổi lên hàng đầu và được cả cộng đồng quốc tế quan tâm Đến những năm đầu tiên thế kỷ 21 có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo

và đang phát triển xây dựng chiến lược giảm nghèo toàn diện và gần 30 tổ chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương xây dựng chiến lược hỗ trợ các nước nghèo trong cuộc chiến chống nghèo đói

Quan niệm về nghèo đói hay nhận thức về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia

Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy Ban kinh tế-xã hội khu vực Châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok-Thái Lan vào tháng 9 năm

1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: “Nghèo khổ

là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu

cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế-xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được

xã hội thừa nhận.”

Qua nhận định trên ta thấy, nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội Nghèo khổ thay đổi

Trang 14

theo thời gian: thước đo nghèo khổ sẽ thay đổi theo thời gian, kinh tế càng phát triển, nhu cầu cơ bản của con người cũng sẽ thay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn Nghèo khổ thay đổi theo không gian: thông qua nhận định

ta cũng thấy được sẽ không có chuẩn nghèo chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế-xã hội của các quốc gia, từng vùng, xu hướng chung là các nước càng phát triển ngưỡng đo nghèo đói càng cao

Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen Đan Mạnh năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”

Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức Lao động quốc tế (ILO)-ông Abaoia Sen, người được giải thưởng Nôben về kinh tế năm 1998, cho rằng:

“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng” Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng, cái khác nhau cơ bản để phân biệt họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống có cơ hội lựa chọn ít hơn

Ngân hàng thế giới đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất, nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực

‘ Năm 2000, Ngân hàng Thế giới đưa ra tháp tiếp cận khái niệm về

nghèo đói như sau:

Tiêu dùng Tiêu dùng + tài sản Tiêu dùng + tài sản + con người Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị

Tiêu dùng + tài sản + con người + văn hóa – xã hội + chính trị + bảo vệ

Trang 15

Qua tháp tiếp cận khái niệm về nghèo đói ta thấy tiếp cận nghèo đói trước hết là về tiêu dùng có nghĩa là sẽ xem xét vấn đề tiêu dùng của con người, thu nhập có đủ chi tiêu cho những nhu cầu thiết yếu hàng tháng hay không Sau đó, đến tài sản với mức thu nhập, chi tiêu đó họ đã có hay tích lũy được những gì và như vậy có đảm bảo cho cuộc sống của mình hay không Từ những yếu tố đó, ảnh hưởng đến văn hóa-xã hội như thế nào, nghĩa là khi vấn

đề tiêu dùng, tài sản cũng như chất lượng cuộc sống của con người được đảm bảo thì văn hóa-xã hội phát triển, các vấn đề về an sinh xã hội, việc làm tốt hơn, đảm bảo hơn, có nền văn hóa tiên tiến Và như vậy, chính trị cũng ổn định, góp phần giữ vững an ninh đất nước, hòa bình thế giới

Liên Hiệp Quốc đã phân chia đói nghèo thành hai loại: đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo tương đối

Đói nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống như ăn mặc,

ở, đi lại, y tế, giáo dục…

Đói nghèo tương đối: đó là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời Nói cách khác, đói nghèo tương đối là mức thu nhập của một người hoặc hộ gia đình thấp hơn so với mức thu nhập của một nước nơi người đó hoặc hộ đó sinh sống Đói nghèo tương đối được coi là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng của Chính phủ với một bộ phận dân cư có thu nhập thấp

Như vậy, đói nghèo tuyệt đối là hệ quả của thu nhập thấp, còn đói nghèo tương đối là kết quả của việc so sánh mức thu nhập giữa các nhóm dân cư trong một cộng đồng dân cư xác định Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, cải tiến phương thức phân phối thu nhập thì tình trạng đói nghèo tuyệt đối sẽ giảm dần, song tình trạng đói nghèo tương đối sẽ tồn tại lâu dài do tương quan về thu nhập giữa các nhóm dân cư khác nhau trong xã hội

Vậy: nghèo đói được hiểu là tình trạng thu nhập của một bộ phận dân cư thấp hơn mức tối thiểu duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định

Trong “Báo cáo về phát triển con người” năm 1997, Liên Hiệp Quốc đã đưa ra khái niệm sự nghèo khổ của con người Nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đa chiều của con người-là sự thiệt thòi (khốn cùng) theo ba khía cạnh cơ bản nhất của cuộc sống con người:

Trang 16

- Thiệt thòi xét trên khía cạnh cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được xác định bởi tỷ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi

- Thiệt thòi về tri thức, được xác định bởi tỷ lệ người lớn mù chữ

- Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế, được xác định bởi tỷ lệ người không tiếp cận được các dịch vụ y tế, nước sạch và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng

Để đánh giá nghèo khổ con người, Liên Hiệp Quốc đã sử dụng chỉ số nghèo khổ của con người – HPI (Human Poor Index) hay còn gọi là chỉ số nghèo khổ tổng hợp Năm 2009 Liên Hiệp Quốc đã thông báo chỉ số HPI theo

số liệu từ năm 2007 thì Việt Nam đứng thứ 116/182 quốc gia, vùng lãnh thổ, mỗi năm chỉ số HPI của Việt Nam tăng thêm 1,16%

Quan niệm của chính người nghèo ở nước ta cũng như một số quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói đơn giản, trực diện hơn Một số cuộc tham vấn

có sự tham gia của người dân họ nói rằng: “Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay

con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà tôi thì biết, ngồi trong nhà cũng thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân” Một số người khác thì trả lời: “nghèo đói đồng nghĩa với nhà ở bằng tranh tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát; không đủ đất đai sản xuất, không

có trâu bò, không có tivi, con cái thất học, ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh…”

Các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo:

- Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người

- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư

- Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng

Để giúp hiểu rõ hơn về nghèo đói và mối quan hệ của nghèo đói với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội tại lớp tập huấn cán bộ xóa đói giảm nghèo

cấp xã do Bộ Lao động-Thương binh và xã hội đã đưa ra: Vòng luẩn quẩn của

nghèo đói và mối quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội như sau: [6, tr.12]

Trang 17

Nghèo đói

Bệnh tật Gia tăng dân số

Môi trường sống Suy dinh dưỡng

Tệ nạn xã hội Thất học

Nghèo đói dẫn đến:

- Cản trở tăng trưởng kinh tế

- Bất bình đẳng xã hội

- Kìm hãm phát triển con người

- Phá hủy môi trường

- Nguy cơ mất ổn định xã hội và phát triển bền vững

Qua vòng luẩn quẩn của nghèo đói và mối quan hệ của nó với tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội được vẽ ở trên, ta có thể hiểu nghèo đói và các vấn đề như: bệnh tật, gia tăng dân số, môi trường sống, suy dinh dưỡng, tệ nạn xã hội, thất học có mối quan hệ tác động với nhau Nghèo đói sinh con đông không có điều kiện nuôi dưỡng tốt, thiếu ăn nên dẫn đến trẻ suy dinh dưỡng, không được học hành đến nơi đến chốn dẫn đến thất học Phần lớn những người nghèo thường sống ở nơi môi trường không thoát mái, ẩm thấp như những khu nhà ổ chuột vì vậy sức khỏe không được đảm bào sinh ra bệnh tật Bên cạnh đó, do việc làm không ổn định hay không có việc làm, nhàn rỗi

đã dẫn đến sa vào các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, nghiện hút,…từ những vấn đề trên, có thể nói chung lại là nghèo đói dẫn đến: cản trở tăng trưởng kinh tế, kìm hãm phát triển con người, nguy cơ mất ổn định xã hội và phát triển bền vững, bất bình đẳng xã hội, phá hủy môi trường

Ở Việt Nam, nghèo đói là hậu quả của nhiều nguyên nhân Những nguyên nhân chính gây ra nghèo đói có thể phân theo 3 nhóm:

Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên-xã hội: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả chiến tranh để lại

Trang 18

Nhóm nguyên nhân chủ quan: thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các bệnh xã hội hoặc lười lao động

Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng

bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông-lâm-ngư, chính sách trong giáo dục-đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và nguồn lực đầu tư còn hạn chế

1.1.1.2 Khái niệm ngưỡng cửa nghèo

Việc nhận diện ai là người nằm ở ngưỡng cửa nghèo luôn là vấn đề khó khăn Vậy ngưỡng nghèo được xác định như thế nào? Về phương pháp luận tiếp cận, người ta có thể xác định ngưỡng nghèo theo thu nhập hay theo chi tiêu Tuy nhiên phương pháp được sử dụng nhiều hơn là tiếp cận theo chi tiêu

Vì chi tiêu của hộ gia đình là chỉ số liên quan chặt chẽ đến phúc lợi hơn là thu nhập Và số liệu về thu nhập thường là không chính xác, đặc biệt ở các nước đang phát triển (vì có một bộ phận những người lao động là tự hành nghề) Phương pháp của Ngân hàng Thế giới (WB) trong việc tiếp cận ngưỡng cửa nghèo đói: là dựa vào ngưỡng chi tiêu tính bằng đô la mỗi ngày Ngưỡng nghèo thường dùng hiện nay là 1 đô la và 2 đô la/ngày Đây là ngưỡng chi tiêu

có thể đảm bảo mức cung cấp năng lượng tối thiểu cần thiết cho con người, mức chuẩn đó là 2.100 calo/người/ngày Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm (nghèo đói ở mức thấp) Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hóa phi lương thực Những người có mức chi tiêu dưới mức cần thiết để đạt được 2.100 calo/người/ngày gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm

Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ngưỡng nghèo như sau:

Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương pháp của Tổng cục thống kê) Phương pháp này đã xác định hai ngưỡng nghèo:

- Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua được một số lương thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng

- Ngưỡng nghèo thứ hai: thường được gọi là ngưỡng nghèo chung, ngưỡng này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực

Trang 19

Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội) Phương pháp này hiện đang được sử dụng

để xác định chuẩn nghèo đói của Chương trình xóa đói, giảm nghèo quốc gia

1.1.1.3 Quan niệm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về nghèo đói, xóa đói, giảm nghèo

Trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh, vấn đề xóa đói, giảm nghèo không được Người trình bày một cách trực tiếp nhưng thông qua tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; qua các bài báo, bài nói chuyện, thư gửi cho đồng bào thì vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được thể hiện một cách cụ thể Người từng nói: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [13, tr.161] Có khi Người còn cụ thể hóa mục đích tổng quát này thành các tiêu chí cụ thể như làm cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng…Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được nghỉ…tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội” [15, tr.591] Ngày 28/9/1945, trên báo Cứu Quốc ra số 53, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Sẻ cơm nhường áo”, trong đó có đoạn viết “…lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng” và trong bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Ủy Ban Nghiên Cứu Kế Hoạch Kiến Quốc ngày 10/10/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo: “chúng ta phải thực hiện ngay: 1- làm cho dân có ăn; 2- làm cho dân có mặc; 3- làm cho dân có chỗ ở; 4- làm cho dân có học hành Cái mục đích chúng ta đi đến là 4 điều đó”

Năm 1945, trước 2 triệu người chết đói; kế đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ thì Người kêu gọi đồng bào cả nước :

“Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa Đem gạo đó để cứu dân nghèo” [13;31] và Hồ Chí Minh chính là người đầu tiên thực hiện lời kêu gọi này Bên cạnh đó, Người còn viết thư gửi đồng bào toàn quốc ra sức cứu đói,

hô hào nhân dân chống nạn đói, coi cuộc chống nạn đói cũng như cuộc chống ngoại xâm Trong thư gửi Nông gia Việt Nam, Bác khẩn thiết kêu gọi: “Tăng gia sản xuất, tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập” [13, tr.116]

Trang 20

Tư tưởng xóa đói, giảm nghèo của Người còn được thể hiện qua bài

“Thanh Hóa kiểu mẫu” Trong bài viết này, Người đã nêu lên mục đích và cách làm cụ thể để xóa đói, giảm nghèo

Mục đích:

Làm cho nghèo thì đủ ăn

Người đủ ăn thì khá giàu

Người khá giàu thì giàu thêm

Người nào cũng biết chữ

Người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước

Cách làm:

Đem tài dân sức dân, của dân làm lợi cho dân Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động Vì vậy, những kế hoạch địa phương có thể tự thực hành được, cứ giúp cho đồng bào làm dần dần, như hợp tác xã, v.v…

Việc gì cũng phải từ việc dễ đến việc khó, từ việc gấp đến việc hoãn,

từ việc ít tốn tiền đến việc tốn nhiều tiền Nói tóm lại: kế hoạch phải thiết thực, phải làm được Chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện được [13, tr.288-289]

Trong bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Người nói: “…,chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét Đảng và Chính phủ

có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” Vì vây, cán bộ đảng và chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được” [14, tr.572]

Người còn khẳng định: “Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm Phải biết tiết kiệm là vì nếu được bữa nào xào bữa ấy thì sẽ thiếu thốn Nếu cán bộ khéo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng bào tập trung tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi

Trang 21

việc trôi chảy, thuế khóa dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu, vì nước ta là nước nông nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp Nếu cán bộ không biết lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm, nếu đảng viên không xung phong gương mẫu thì việc gì cũng sẽ khó làm Cho nên, chính sách tăng gia sản xuất và tiết kiệm là chính sách căn bản của chúng

ta Tăng gia sản xuất và tiết kiệm để nâng cao đời sống của nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang văn hóa và đề phòng đói, chống nghèo” [14, tr.572] Thực hiện lời Bác dạy, ngày 17/10/2000 Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra lời kêu gọi và phát động trong toàn dân cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” và lấy ngày 17/10 hàng năm là “Ngày vì người nghèo” Từ đó đến nay, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo” đã được triển khai trên địa bàn cả nước và từ ngày 17/10 đến 18/11 hàng năm được coi

là tháng cao điểm vì người nghèo

Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh thì xóa đói, giảm nghèo là sự nghiệp mang tính lâu dài, là sự nghiệp chung của toàn xã hội Trong đó, Đảng và Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc đề ra những chủ trương, chính sách chăm lo đời sống cho nhân dân và phải bảo đảm thực hiện; Đảng và Nhà nước phải hướng dẫn, giúp đỡ nhân dân biết cách sản xuất và thực hành tiết kiệm; Đảng và Chính phủ phải biết: “Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, có như vậy thì công cuộc xóa đói, giảm nghèo của chúng ta mới có hiệu quả

Kế thừa và thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về vấn đề xóa đói, giảm nghèo và trở thành tư tưởng nhất quán thể hiện trong các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX và X của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thứ nhất, xóa đói, giảm nghèo được coi là Chương trình cấp bách

nhất, cần giải quyết trước hết so với các mục tiêu phúc lợi xã hội khác Xóa đói giảm nghèo được giải quyết là một tín hiệu, đồng thời cũng là một bước thiết thực nhất nhằm thực hiện vấn đề công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo là một trong những chính sách ưu tiên

trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội Các chính sách phát triển kinh tế-xã hội đều phải có mục tiêu hướng vào người nghèo, tạo động lực và tiền đề cho xóa đói, giảm nghèo

Thứ ba, xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của phát triển kinh

tế-xã hội bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo

Trang 22

đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, hạn chế tốc độ gia tăng tốc độ khoảng cách giàu nghèo

Thứ tư, xã hội hóa công tác giảm nghèo Nhà nước tạo cơ chế, chính

sách hỗ trợ, cộng đồng chia sẻ góp sức và nhất là bản thân người nghèo phải

tự lực vươn lên thoát nghèo, phấn đấu trở thành khá giả, không trông chờ ỷ lại vào nhà nước và xã hội

Thứ năm, thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo phải thông qua

những biện pháp cụ thể, sát với tình hình địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo

Bằng nguồn lực của nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin, chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm…đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không

có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng có tiềm năng Ngăn chặn tình trạng tái nghèo

Thứ sáu, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số

là một trong những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách về công tác dân tộc trong thời kỳ mới: “Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa Trong những năm trước mắt tập trung giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới,

vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn [4, tr.48]

1.1.2.1 Tiêu chí đánh giá nghèo đói

‘ Trên thế giới

Hiện nay, Liên hợp Quốc dùng các tiêu chí sau để đánh giá nghèo đói:

Thứ nhất, tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người trong một

năm (GDP/người/năm) hay tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người trong một năm (GDP/người/năm)

Thứ hai, chỉ số phát triển con người (Human Development

Index-HDI)

Trang 23

Do chỉ số GDP/người (GNP/người) chỉ phản ánh thuần túy về mặt giá trị chứ chưa phản ánh được đầy đủ chất lượng cuộc sống của dân cư nên từ năm 1990, Liên Hiệp Quốc đã sử dụng chỉ số HDI để bổ sung cho chỉ số GDP/người (GNP/người) trong việc đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia Chỉ số HDI là tiêu chí phản ánh tổng hợp trình độ phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới theo một mặt bằng thống nhất, nó phản ánh thành tựu phát triển của một quốc gia trên ba phương diện: mức sống, trình độ giáo dục và tuổi thọ trung bình của con người

‘ Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tiêu chí đánh giá nghèo đói được xác định dựa trên cơ sở:

Thứ nhất, thu nhập bình quân đầu người trong một tháng hoặc một

năm được đo bằng chỉ tiêu giá trị hay hiện vật quy đổi (thường lấy gạo để đánh giá) Tiêu chí này được xem là yếu tố cơ bản nhất để xác định tình trạng đói nghèo ở nước ta trong những năm qua

Thứ hai, điều kiện dinh dưỡng, y tế, giáo dục…là các tiêu chí bổ

sung để đánh giá tình trạng đói nghèo

Bên cạnh đó, Ủy ban Dân tộc đưa ra tiêu chí xác định hộ dân tộc thiểu

số đặc biệt khó khăn ở các xã khu vực III và khu vực II thuộc Chương trình phát triển kinh tế-xã hội xã đặc biệt khó khăn, miền núi và vùng xâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135), có thể khái quát như sau: là những hộ thuộc diện nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, thiếu đất sản xuất và không có tài sản hoặc có những giá trị rất thấp

Ngoài tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ dân tộc khó khăn, Việt Nam còn

có tiêu chí xác định xã đặc biệt khó khăn và tiêu chí xã nghèo Với 5 tiêu chí sau:

- Vị trí địa lý của xã ở xa trung tâm kinh tế-xã hội, xa đường quốc lộ, giao thông đi lại khó khăn

- Môi trường xã hội chưa phát triển, trình độ dân trí thấp, nhiều tập tục lạc hậu

- Trình độ sản xuất lạc hậu, chủ yếu mang tính tự cung tự cấp, công

cụ thô sơ

- Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn, mức sống thấp

Trang 24

- Hạ tầng cơ sở chưa phát triển, chưa đủ các công trình thiết yếu như điện, đường giao thông, trường học, trạm xá, nước sạch, chợ xã

Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2361 xã đặc biệt khó khăn

Hai tiêu chí để xác định xã nghèo: tỷ lệ hộ nghèo trên 25%, chưa đủ 3 trên tổng số 6 công trình hạ tầng cơ sở thiết yếu (điện, đường giao thông, nước sạch, phòng học, trạm xá và chợ) biểu hiện cụ thể như sau:

- Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt

- Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch

- Chưa có đường ôtô tới xã hoặc có nhưng không đi lại được cả năm

- Chưa có đủ phòng học theo quy định của Bộ Giáo dục-Đào tạo

- Chưa có trạm xá hoặc có nhưng còn tạm bợ

- Chưa có chợ hoặc mới có chợ tạm

Theo tiêu chí nêu trên thì nước ta hiện nay có khoảng 921 xã thuộc diện nghèo

1.1.2.2 Chuẩn nghèo đói

‘ Trên thế giới

Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến động theo không gian, thời gian Về không gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng hay từng quốc gia Về thời gian, chuẩn nghèo cũng có sự biến động lớn và nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu của con người theo từng giai đoạn lịch sử, vì rằng kinh tế-xã hội phát triển, thì đời sống của con người cũng được cải thiện tốt hơn, tất nhiên không phải tất cả các nhóm dân cư đều có tốc độ cải thiện giống nhau, thông thường thì nhóm không nghèo có tốc độ tăng mức thu nhập, mức sống cao hơn nhóm nghèo Theo quan niệm trên, Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thang đo nghèo đói như sau:

- Đối với nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày

- Đối với nước đang phát triển là 1 USD/ngày

- Các nước thuộc Châu Mỹ la tinh và Caribe là 2 USD/ngày

Trang 25

- Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày

- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày

Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình, thông thường nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra

Tại thời điểm Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thì chuẩn nghèo của Mỹ được xác định cho một hộ gia đình có 4 người gồm bố, mẹ và hai con

là 17.960 USD/năm tương đương với hơn 4.490 USD/người/năm hay 374 USD/người/tháng hay 12,47 USD/người/ngày Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy với mức chi tiêu này vẫn không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản ở

Mỹ Nhu cầu cơ bản đối với 1 hộ gia đình gồm 4 thành viên tính trung bình là 33.511 USD/năm

Ở Trung Quốc đưa ra chuẩn nghèo là 668 nhân dân tệ/người/năm (năm 2004) tính theo sức mua của đồng tiền tương đương 0,7 USD/ người /ngày

‘ Ở Việt Nam

Quá trình xây dựng chuẩn nghèo đói

Từ 1993, chuẩn nghèo đói được xây dựng lần đầu dựa trên thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình và đã được điều chỉnh nhiều lần trong các năm 1993, 1995, 1997, 2001, 2006 do sự biến động của nền kinh tế Có nhiều cơ quan quốc tế và trong nước cùng tham gia vào xác định chuẩn nghèo đói Các cơ quan có vai trò to lớn trong nghiên cứu và xây dựng chuẩn nghèo

ở Việt Nam là Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổng cục thống kê, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội [18, tr.9]

Trang 26

Hộ nghèo là hộ có thu nhập tùy theo các vùng: vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng; vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng

Giai đoạn 1997-2000: năm 1997, theo Công văn số1751/LĐTB-XH đã

quy định việc tiếp tục thay đổi chuẩn nghèo, với các mức:

Hộ đói: là hộ có mức thu nhập/người trong một tháng quy ra gạo dưới

13 kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997), tính cho mọi vùng

Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 35.000 đồng) Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng) Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng)

Giai đoạn 2001-2005: năm 2000, Quyết định

số1143/2000/QĐ-LĐTBXH đã ban hành chuẩn nghèo mới Khi đó, một mặt nền kinh tế đã có những chuyển biến theo hướng nâng cao thu nhập, đồng thời lạm phát đã được kìm chế một cách vững chắc, tiêu chí về thu nhập đã được nâng lên về mặt lượng Hơn nữa, tỷ lệ đói đã giảm mạnh, nhiều nơi không còn hộ đói, vì vậy chuẩn nghèo được tính chung không phân biệt đói và nghèo Chuẩn nghèo mới được xác định với mức thu nhập: nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng; nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng; thành thị: 150.000 đồng/người/tháng

Ngoài tiêu chuẩn bình quân, khi xác định hộ nghèo cần xem xét thêm về: nhà ở, đồ dùng sinh hoạt…

Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội và kết quả thực hiện Chương trình xóa đói, giảm nghèo các tỉnh, thành phố có thể nâng chuẩn hộ nghèo cao hơn so với quy định trên đây với 3 điều kiện như sau:

- Thu nhâp bình quân đầu người của tỉnh, thành phố cao hơn thu nhâp bình quân đầu người cả nước

- Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh, thành phố thấp hơn tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước

- Tự cân đối được nguồn lực và đủ nguồn hỗ trợ hộ nghèo, người nghèo

Trang 27

So với giai đoạn trước thì giai đoạn này tăng 1,5 lần Sở dĩ có lựa chọn phương án tăng lên 1,5 lần là vì trong 5 năm (1996-2000) mức sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,4 lần và GDP bình quân đầu người giai đoạn 1991-2000 tăng lên 1,97 lần Theo chuẩn trên, đầu năm 2001 Việt Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo chiếm tỷ lệ 17,2%

Giai đoạn 2006-2010: năm 2005, Quyết định 170/2005/QĐ-TTg ngày

8/7/2005 đã ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn này như sau:

Đối với khu vực nông thôn, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 200.000 đồng trở xuống

Đối với khu vực thành thị, những hộ có thu nhập bình quân đầu người một tháng từ 260.000 đồng trở xuống

Khi áp dụng chuẩn nghèo chung cho vùng nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi điều này sẽ có lợi cho người dân khu vực nông thôn miền núi Đây cũng là sự thể hiện quan điểm bình đẳng, toàn diện hơn và bền vững hơn xét về khía cạnh xác định chuẩn nghèo Khu vực thành thị chuẩn nghèo mới cao gấp 1,73 lần chuẩn nghèo cũ và tương đương với 2,8 USD/ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005 Khu vực nông thôn đồng bằng chuẩn nghèo mới cao gấp 2 lần chuẩn cũ Khu vực nông thôn miền núi chuản nghèo mới gấp 2,5 lần và tương đương 2,2 USD/ngày tính theo sức mua tương đương năm 2005

1.2 Chủ trương về xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta

Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư Vì vậy, phải huy động nguồn lực của nhà nước, của xã hội và người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng vùng, địa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội bền vững Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xóa đói, giảm nghèo Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:“tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo Coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển

Trang 28

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1996) đã đánh giá một cách đầy đủ về công tác xóa đói giảm nghèo của đất nước và xác định cụ thể nhiều nguyên nhân gây ra đói nghèo là: do sự phân hóa giàu nghèo của cơ chế thị trường tác động, có xu hướng tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng của đất nước: nguyên nhân khách quan là do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hậu quả chiến tranh kéo dài, thiếu việc làm Nguyên nhân chủ quan là do năng lực kinh doanh yếu kém; có nơi, có lúc thiếu sự quan tâm đúng mức của các ngành, các cấp đến việc chỉ đạo chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo, tổ chức khám chửa bệnh, tạo điều kiện cho người nghèo học tập…Từ đó Đảng ta xác định mục tiêu, giải pháp để giảm tỷ lệ hộ nghèo đói đến mức thấp nhất, bằng cách đề ra chương trình phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa

Thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 23/CT.TW ngày 29/11/1997 về lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo theo tinh thần Cương lĩnh, Nghị quyết của Đảng, với nội dung trọng tâm là chỉ đạo, giải quyết một số vấn đề chính sách, quan tâm việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và cả hệ thống chính trị trong quá trình tổ chức thực hiện công tác Đối với các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường công tác giáo dục tư tưởng làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức xóa đói giảm nghèo là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kế thừa và phát huy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc Từ đó, tập trung mọi nguồn lực cho xóa đói giảm nghèo, bao gồm từ nguồn ngân sách Trung ương, vốn lồng ghép, vốn từ hoạt động công tác quốc tế, vốn của điạ phương, vốn tín dụng ưu đãi, vốn ngân hàng phục vụ người nghèo …

Các chi bộ Đảng cơ sở phải làm nòng cốt chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo, nắm vững diễn biến của từng hộ nghèo, để có giải pháp hỗ trợ cho phù hợp, phấn đấu không còn gia đình đảng viên đói nghèo để nêu gương cho quần chúng

Đối với Nhà nước, chỉ đạo thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án kinh tế-xã hội với Chương trình xóa đói giảm nghèo, đồng thời sử dụng tổng

Trang 29

hợp các biện pháp để thực hiện cho được các mục tiêu xóa đói giảm nghèo do Nghị quyết của Đảng đề ra

Đối với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức và đoàn thể cần phát huy tốt vai trò của mình; phối hợp với chính quyền tổ chức thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, nâng cao trách nhiệm trực tiếp, hỗ trợ các thành viên của mình thoát nghèo

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001) tiếp tục khẳng định: công tác xóa đói giảm nghèo là vấn đề cấp thiết cần quan tâm giải quyết tốt hơn nữa và đề ra chỉ tiêu cơ bản, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn 10% trong giai đoạn 2001-2005; phấn đấu đến 2010 về cơ bản không còn xã nghèo Riêng đối với các xã đặc biệt khó khăn, giảm hộ nghèo xuống còn 25% năm 2005

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006) đã khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ bản để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu

để phát triển kinh tế-xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 mà Đảng cũng đã nêu tại Đại hội

1.2.1 Một số chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước

Mục tiêu đặt ra của chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước là xóa bỏ đói nghèo đồng thời khuyến khích làm giàu hợp pháp; xóa đói, giảm nghèo bền vững và gắn với phát triển; tăng trưởng vì người nghèo, làm cho người nghèo hưởng lợi càng nhiều từ kết quả tăng trưởng Chủ trương, chính sách ấy được cụ thể hóa bằng các Quyết định của Chính phủ về phê chuẩn các Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo; Chương trình

hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, trợ giúp người nghèo như:

Chương trình 327 về phủ xanh đất trống, đồi núi trọc (Quyết định của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng số 327-CT ngày 15/9/1992), sau này phát triển lên và được thay thế bằng dự án trồng năm triệu ha rừng

Tháng 7 năm 1998 Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo giai đoạn 1998-2000 (Quyết định số 133/198/QĐ-TTg, ngày 23/07/1998) với 9 nội dung:

- Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo

Trang 30

- Hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn

- Định canh, định cư, di dân kinh tế mới

- Hướng dẫn người nghèo cách làm ăn

- Hỗ trợ tín dụng

- Y tế cho người nghèo

- Giáo dục cho người nghèo

Ngày 26 tháng 03 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 42/2001/QĐ-TTg về việc bổ sung các xã đặc biệt khó khăn của Chương trình

135 Theo Quyết định này, cả nước bổ sung thêm 447 xã thuộc 192 huyện của

33 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương vào diện xã đặc biệt khó khăn và được hưởng các chính sách dành cho chương trình từ kế hoạch năm 2001 Đưa tổng số xã đặc biệt khó khăn của cả nước lên 2.162 xã

Tại Hội nghị triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và Chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa toàn quốc giai đoạn 2001-2005, từ 1-2/7/2002 Chính phủ đã cam kết thực hiện mục tiêu ưu tiên xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam tập trung vào 7 vấn đề sau:

- Xóa đói kinh niên một cách bền vững kể cả khi có rủi ro về giảm giá nông sản, lũ lụt, giảm nhanh tỷ lệ nghèo đói, bình quân hàng năm giảm khoảng 2%

- Bảo đảm đủ nước ăn (sinh hoạt) cho người dân

- Bảo đảm đủ phòng học và tương đối vững chắc cho trẻ em

Trang 31

- Bảo đảm đủ chỗ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho người nghèo

- Không còn tình trạng dân du canh, du cư

- Cơ bản xóa tình trạng nhà ở dột nát, xiêu vẹo của hộ nghèo

- Đủ đường giao thông (ôtô) đến các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn Những cam kết trên không chỉ thể hiện quyết tâm của Chính phủ Việt Nam về xóa đói, giảm nghèo mà còn được các nhà lãnh đạo ở các nước đang phát triển tham dự Hội nghị cấp cao ở Rôma-Italia 5/2002 cho rằng: “Đó không chỉ là ước mơ mà còn là khát vọng của cả loài người”

Ngày 18 tháng 11 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình ghi nợ lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở đối với hộ gia đình cá nhân ở các xã thuộc Chương trình 135 và hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (QĐ số 245/2003/QĐ-TTg)

Ngày 20 tháng 07 năm 2004 Chính phủ đã phê duyệt một số chính sách

hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 134/2004/QĐ-TTg)

Ngày 15 tháng 06 năm 2005 Chính phủ đã ra Quyết định thu hồi đất sản xuất của các nông trường, lâm trường để giao cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo (Quyết định số 146/2005/QĐ-TTg)

Để tiếp tục giảm đói nghèo, ngày 05 tháng 02 năm 2007 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 (Quyết định số 20/2007/QĐ-TTg), mục tiêu tổng quát là: đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo, củng cố thành quả giảm nghèo, tạo cơ hội cho hộ đã thoát nghèo vươn lên khá giả, cải thiện một bước điều kiện sống

và sản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm hộ nghèo, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo Mục tiêu cụ thể của Chương trình này đến năm 2010 là:

a) Phấn đấu giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 22% năm 2005 xuống còn 10-11% năm 2010 (trong 5 năm giảm 50% số hộ nghèo)

b) Thu nhập của nhóm hộ nghèo tăng 1,45 lần so với năm 2005

Trang 32

c) Phấn đấu 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu d) 6 triệu lượt hộ nghèo được vay tín dụng ưu đãi

e) 4,2 triệu lượt hộ nghèo tập huấn về khuyến nông lâm ngư

f) 1,5 triệu người được miễn giảm phí học nghề

g) 15 triệu người được khám chữa bệnh miễn phí khi đau ốm

h) 19 triệu lượt học sinh nghèo được miễn, giảm học phí, tiền xây dựng trường

i) 500 nghìn hộ nghèo được hỗ trợ xóa nhà tạm

Điểm mới trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 là:

Chương trình đã đề ra 9 chỉ tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2010,

bổ sung thêm một số chính sách, dự án và hoạt động mới như: Dự án dạy nghề cho người nghèo; Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu cho người nghèo; Chính sách trợ giúp pháp lý, hoạt động truyền thông và giám sát đánh giá

Về nguồn vốn: Ngoài nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Trung ương

bố trí khoảng 12.472 tỷ đồng thì trong Quyết định còn ghi rõ: ngân sách địa phương phải bố trí tối thiểu 1% chi ngân sách hàng năm của địa phương để thực hiện chương trình

Về cơ chế hỗ trợ người nghèo trong giai đoạn này, nhà nước hỗ trợ trực tiếp người nghèo các chi phí giáo dục, dạy nghề (miễn giảm học phí, cấp trực tiếp cho người nghèo hoặc cơ sở), chi phí y tế (cấp thẻ Bảo hiểm y tế) và tiếp tục nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích

hộ, xã vượt nghèo

Tạo điều kiện để người dân tham gia quá trình xây dựng, triển khai thực hiện chương trình bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch Tiếp tục phân cấp quản lý cho địa phương, đặc biệt là cấp xã trong việc công nhận, quản lý hộ nghèo và triển khai thực hiện chương trình

Thực hiện giám sát và đánh giá trên cơ sở thiết lập hệ thống chỉ tiêu phù hợp ở các cấp với nhiều hình thức khác nhau

Trang 33

Về tổ chức chỉ đạo thực hiện: Thành lập Ban chỉ đạo chung của Chính phủ để chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010 và chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn với sự tham gia của các bộ ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan Thành lập văn phòng điều phối chương trình giúp Ban chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Lao động-Thương binh và xã hội, ở địa phương, Sở Lao động-Thương binh và xã hội là cơ quan trực tiếp điều phối thực hiện chương trình trên địa bàn

Tăng cường sự tham gia của các cơ quan thông tin tuyên truyền trong quá trình thực hiện công tác giảm nghèo, đây được coi là giải pháp quan trọng

để nâng cao nhận thức, năng lực của người nghèo và cộng đồng

Chính phủ cũng giao cho Bộ Lao động Thương binh và xã hội xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích hỗ trợ hộ,

xã mới thoát nghèo; giao cho Bộ Nội vụ chỉ đạo thực hiện việc bố trí cán bộ làm công tác giảm nghèo ở các cấp và giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành trong quá trình tổ chức thực hiện chương trình

Ngoài các Quyết định trên, Chính phủ còn thực hiện hỗ trợ đối với những hộ nghèo trước tác động của việc tăng giá trong 2008 như sau:

Hỗ trợ học sinh Mẫu giáo và phổ thông học bán trú con hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn và thôn bản đặc biệt khó khăn ở những vùng thuộc khu vực II theo mức 70.000 đồng/tháng/học sinh Mẫu giáo; 140.000 đồng/tháng/học sinh phổ thông học bán trú Đồng thời nâng mức hỗ trợ mua Bảo hiểm y tế cho người nghèo (từ 80.000 đồng/người/năm), trẻ em dưới 6 tuổi (từ 108.000 đồng/người/năm) lên 130.000 đồng/người/năm Hỗ trợ người cận nghèo tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện với mức 50% mệnh giá thẻ Bảo hiểm y tế tự nguyện Mức hỗ trợ này sẽ tiếp tục được xem xét nâng lên khi nhà

nước điều chỉnh lương tối thiểu

1.2.2 Công tác thực hiện các chính sách về xóa đói, giảm nghèo ở nước

ta

Với các chính sách, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm

nghèo và được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đánh giá là một trong những nước điển hình trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo

Trang 34

- Xét theo tỷ lệ hộ nghèo đói: năm 2006, tỷ lệ hộ nghèo: 15,5%; Năm

2007, tỷ lệ hộ nghèo: 14,7%; Năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo: 13,4% Năm 2010 phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10%-11%.[27 và 29]

- Xét theo các vùng: [Bảng phụ lục 1]

Năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng Đồng bằng sông Hồng: 9,5%, Trung du và Miền núi phía Bắc: 26,5%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung: 21,4%; Tây Nguyên: 21%; Đông Nam Bộ: 3%; Đồng Bằng Sông Cửu Long: 12,4% Từ 2008 đến 2009, hầu hết tỷ lệ hộ nghèo các vùng đều giảm, trong đó có Trung du và Miền núi phía Bắc giảm còn 23,5% năm 2009; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung giảm xuống còn 17,6%;Tây Nguyên là 19,5%

- Xét theo trạng thái các xã nghèo: bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là về hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển sản xuất hàng hóa Chất lượng cuộc sống người dân ở xã nghèo được nâng cao, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc miền núi Cụ thể như sau: thu nhập bình quân đầu người của 20% nhóm nghèo nhất năm 2006 đạt 150.000 đồng/người/tháng và tăng khoảng 1,5 lần vào năm 2009 Chi tiêu bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm 2006 là 170.000 đồng/người/tháng và tăng khoảng 8%-9% trong giai đoạn 2007-2009 Trong giai đoạn 1993-2006, Việt Nam đã giảm được 65% tỷ lệ nghèo khổ, tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe miễn phí cho 89% người nghèo, hoàn thành Giáo dục Tiểu học cho tất cả mọi người dân [24]

Giảm nghèo ở Việt Nam phản ánh cả trên bình diện gia tăng chi tiêu đầu người trong hộ gia đình và tăng thu nhập đầu người nhờ có thành tựu 20 năm đổi mới (1986-2006) GDP bình quân đầu người đã tăng nhanh từ 98 USD năm 90 lên 1300-1350 USD năm 2009 Như vậy, Việt Nam vẫn tiếp tục giảm được mức nghèo đói, đời sống của những hộ nghèo, nhóm nghèo ngày càng được cải thiện rõ rệt qua các năm

Nguyên nhân của những thành tựu:

Trước hết, đó là do việc thường xuyên nâng cao nhận thức về mục đích,

ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói cho các cấp, các ngành và mọi người dân đặc biệt là người nghèo và

xã nghèo Xóa đói giảm nghèo vươn lên khá giả và làm giàu không phải chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà trước hết thuộc về từng cá nhân, gia đình, dòng

Trang 35

họ, cộng đồng và trách nhiệm của toàn xã hội, đây là vấn đề mấu chốt để thực hiện thành công chương trình

Bên cạnh đó, công tác xã hội hóa hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là xã hội hóa về nguồn lực, nhân lực và vật lực ngày càng được đẩy mạnh Chính sự hợp lực này đã tạo ra phong trào xóa đói giảm nghèo sôi động nhiều năm trong cả nước góp phần vào thành công của chương trình Cùng với sự chia sẻ trách nhiệm xã hội của mọi người dân trong việc trợ giúp người nghèo, còn có sự đồng thuận của các tổ chức quốc tế, các quốc gia trong việc tiếp cận

và giải quyết vấn đề nghèo đói ở Việt Nam

Cơ chế phân bổ ngân sách công bằng, minh bạch và có tính khuyến khích cao đã tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc huy động nguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình Trong quá trình thực hiện chương trình, sự tham gia giám sát của Mặt trận, các đoàn thể ở cơ sở, người dân, đặc biệt là người nghèo, phụ nữ và người dân tộc thiểu số cũng là một trong những yếu tố tạo nên thành công của chương trình

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế sau đây:

Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo không đồng đều: tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm

nhanh nhưng tốc độ giảm nghèo giữa các vùng không đều Tốc độ giảm nghèo của vùng dân tộc thiểu số còn chậm, khu vực miền núi có tỷ lệ giảm nghèo nhanh hơn khu vực đồng bằng, thành thị nhưng tỷ lệ nghèo đói vẫn cao hơn nhiều Dân tộc thiểu số tỷ lệ hộ nghèo còn cao: khoảng 43% trong khi tỷ lệ này ở dân tộc Kinh và Hoa là 23,1% tính đến năm 2008

Thứ hai, khu vực miền núi có tỷ lệ hộ nghèo còn cao: các vùng Trung

du và Miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên tỷ lệ hộ nghèo còn cao gấp từ 1,7 đến 2 lần so với tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước

Thứ ba, kết quả xóa đói, giảm nghèo chưa bền vững những hộ vừa mới

thoát hay cận nghèo nếu gặp thiên tai, rủi ro, sự thay đổi về cơ chế chính sách

và tác động của quá trình hội nhập thì khả năng tái nghèo là rất lớn

Nguyên nhân của những hạn chế:

Về nhận thức: Bệnh thành tích đã làm cho một số địa phương khống

chế tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn so với thực tế, dẫn đến một bộ phận người nghèo

Trang 36

không được tiếp cận được chính sách xóa đói, giảm nghèo của nhà nước Một

số cơ quan, tổ chức thực hiện các chính sách chưa phù hợp với các điều kiện xóa đói, giảm nghèo (cho vay với lượng vốn vay ít để nhiều người được vay lấy đó làm thành tích cho vay, không tính đến hiệu quả vốn vay) Đối với những người trong diện đói nghèo thường có tư tưởng trông chờ, ỷ lệ vào sự

hỗ trợ của nhà nước, chưa có tinh thần chủ động phấn đấu để vươn lên thoát nghèo vẫn còn khá phổ biến

Về chuẩn nghèo: Do nền kinh tế của đất nước ngày càng phát triển nên

chuẩn nghèo luôn có sự thay đổi và được nâng với mức cao hơn Vì vậy, với mức chuẩn nghèo cũ thì một số hộ đã thoát nghèo nhưng với mức chuẩn nghèo mới thì họ ở ngưỡng cữa nghèo hoặc hộ tái nghèo

Về huy động nguồn lực: Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng so với yêu

cầu của xóa đói, giảm nghèo nguồn lực huy động cho xóa đói, giảm nghèo, trước hết là cho Chương trình quốc gia còn hạn chế, chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra: Hàng năm kinh phí nhà nước bố trí cho chương trình tính bình quân đầu người nghèo khoảng 60.000 đồng/người Trong khi đó, một số địa phương chưa chủ động huy động nguồn lực tại chỗ hoặc huy động chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương, còn trông chờ vào sự trợ giúp của Trung ương; chưa có cơ chế huy động sự tham gia, đóng góp tích cực của các hộ dân, chưa huy động được nhiều doanh nghiệp có điều kiện tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo Cơ chế phân bổ nguồn vốn giữa các dự án, giữa các địa phương chưa thực sự rõ ràng, minh bạch Do vậy, chưa đáp ứng được nhu cầu cần hỗ trợ của người nghèo nên việc giúp họ thoát nghèo trong thời gian ngắn và bền vững là khó thực hiện

Về tổ chức chỉ đạo: Việc chỉ đạo và tổ chức của Ban xóa đói, giảm

nghèo thực hiện không đồng đều ở các địa phương, cả khu vực thành thị và nông thôn, đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo vừa thiếu số lượng vừa yếu về năng lực Phần lớn đội ngũ cán bộ xóa đói, giảm nghèo ở xã vẫn là kiêm nhiệm, chưa được tập huấn cơ bản và thường xuyên thay đổi, khối lượng công việc thì nhiều Vì vậy, họ khó thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Hơn nữa công tác xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi người cán bộ ngoài chuyên môn nghiệp vụ họ còn phải có nhiệt huyết, nhạy bén, sáng tạo nhưng các địa phương chưa coi đó là một vấn đề cần thiết để bố trí cho phù hợp với nhu cầu của công việc

Ngày đăng: 06/04/2013, 08:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của phường Mỹ Phước, thành  phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong năm 2010 - Lập kế hoạch chiêu  ký túc xá sinh viên Khánh Toàn trong năm 2010
Bảng 2 Chỉ tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo của phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang trong năm 2010 (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w