Ca hát là một hình thức sinh hoạt văn nghệ rất phổ biến của nhân dân Việt Nam
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Ca hát là một hình thức sinh hoạt văn nghệ rất phổ biến của nhân
dân Việt Nam Khắp nước trước kia làng nào cũng tổ chức hát và thường
có lối hát hò độc đáo của mình Điều đó chứng tỏ rằng nhân dân ta rất
thích dân ca, rằng dân ca là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời
sống tinh thần của họ Do đó dân ca các loại ở nước ta có một lịch sử lâu
đời và phát triển một cách phong phú qua nhiều chặng đường trong đó có
Quan họ
Quan họ là một trong số dân ca hay và đẹp nhất ở nước ta Cho đến
trước Cách mạng tháng Tám Quan họ đã phát triển đến độ hoàn chỉnh
Nghiên cứu một dân ca phát triển cao thì sẽ có thể có những kinh nghiệm
để sau đó tiếp tục tìm hiểu nhiều dân ca khác Mặt khác, nghiên cứu một
dân ca tiêu biểu như thế sẽ tìm hiểu được nhiều vấn đề phong phú Quan
họ là một trong những dân ca tiêu biểu, một trong những niềm tự hào về
truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta Dân ca Quan họ đã phản ánh
cái đẹp của tâm hồn Việt Nam về nhiều phương diện Nghiên cứu Quan
họ là để kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đó Qua đó góp phần
xây dựng con người mới Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
Theo từ điển “Việt Nam văn hoá tín ngưỡng phong tục”, tác giả GS
Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo - NXB Văn hoá thông tin tháng 1/2005
cho rằng: Quan họ là dân ca gắn liền với đời sống văn hoá và tinh thần
của người dân Bắc Ninh Một số dạng hát Quan họ: Hát Quan họ ở Hội
(hát Hội), hát Quan họ ở đám (hát mừng), hát Quan họ ở cửa đình, cửa
đền ( hát thờ, hát cầu), hát Quan họ ở nhà giữa hai nhóm Quan họ trai gái
mời nhau (hát canh)
Trong những hình thức ca hát Quan họ trên thì hát hội và hát canh
là hai hình thức hát nổi bật có giá trị văn hoá nghệ thuật cao
Trang phục hát Quan họ: Trai áo lụa, áo the, quần ống sớ, khăn xếp;
gái mớ bẩy mớ ba, áo tứ thân nhiễu điều, nhiễu tía, yếm đào xẻ con nhạn,
thắt lưng hoa đào hoa lý, đeo khuyên vàng, xà tích Khi hát ở ngoài trời
nam thường che ô, nữ che nón thúng quai thao
Trong Quan họ bao giờ cũng hát đôi Khi một đôi của Quan họ bạn
hát thì bên kia cũng chuẩn bị một đôi để hát đối lại Thông thường hát ở
trong nhà hai người ngồi trên phản đối mặt nhau, chân co chân duỗi Chân
nào co tay bên ấy để khuỷu tay lên đầu gối, bàn tay chống cằm Người ca
chính bắt giọng trước, người ca luồn bắt giọng sau Nếu ngồi ở tràng kỷ
thì có thể tựa lưng vào tràng kỷ, một chân để lên tràng kỷ, đầu gối co,
khuỷu tay chống gối, bàn tay chống cằm Nếu đứng hát thì đôi hát quay
mặt vào nhau, tay cầm quạt để che miệng khi hát Khi hát dù đứng hay
ngồi mắt đều nhìn xuống, thỉnh thoảng mới nhìn miệng bạn để ca cho đều
Hát xong mười giọng lề lối, Quan họ chuyển sang giọng xổng, giọng vặt
và cuối cùng hát giã bạn Từ ngày mùng 4 tết trở đi các làng Quan họ rầm
rộ mở hội Mỗi làng Quan họ có một nét riêng (tr.928)
1 Văn hoá_ con người Bắc Ninh
Về lịch sử phát triển văn hoá, kinh Bắc cũng là một vùng có những
đặc điểm tương đối riêng và nổi bật Khảo cổ học đã chứng minh kinh
Trang 4Bắc có sự tụ cư lần lượt cả nhiều luồng dân cư từ lâu đời, trong đó có yếu
tố văn hoá Việt giữ vai trò chủ thể Tiến trình phát triển văn hoá bản địa
trên đất này không diễn ra êm ả, xuôi dòng mà đã đụng đầu trực diện với
sự đồng hoá văn hoá gắn liền với mưu đồ sát nhập lãnh thổ của một kẻ thù
mạnh, kẻ thắng trận và đô hộ quê hương này, đất nước này khi đứt khi nối
hàng nghìn năm.Trong cuộc đụng đầu lịch sử hàng nghìn năm ấy, kết quả
lịch sử đã chứng minh nền văn hoá bản địa trên quê hương này không
những không bị đồng hoá, tiêu diệt mà ngược lại nền văn hoá ấy vẫn tiếp
tục phát triển giá trị, bản sắc riêng để rồi khi đất nước độc lập vùng văn
hoá dân gian xứ kinh Bắc lại trở thành vùng văn hoá nền tảng của văn hoá
văn minh Thăng Long nước Đại Vệt thế kỷ XI Cuộc thử thách lớn lao và
kéo dài trong trận chiến giữ gìn phát triển giá trị, bản sắc văn hoá nghệ
thuật quê hương đã có những cống hiến lơn lao trong công cuộc xây dựng
văn hoá đất nước quê hương
Trong sinh hoạt văn hoá Quan họ thật sự tồn tại một tình người
thắm thiết thuỷ chung Cùng với sự bình đẳng tương thân tương ái, người
Quan họ rất coi trọng người đi trước, các lớp Quan họ trước biết cách ứng
xử có trên có dưới Những việc làm, những lời răn bảo khuyên can, chỉ
dẫn của người đi trước thường được tôn trọng Sự có mặt của các Quan họ
lớp trước trong mọi cuộc xum họp ca xướng Quan họ thường là niềm tự
hào,niềm vui của Quan họ lớp trẻ Bao giờ các bậc đi trước cũng được đối
xử một cách quý trọng, chân thành Mối quan hệ này liên quan đến sự bảo
tồn và phát triển các thành tựu văn hoá nghệ thuật Quan họ nói chung,
mầu sẵc phong cách đa dạng của mỗi làng nói riêng Ngày xưa người
vùng không có quan hệ đến với quan hệ thường có nhận xét: “Người Quan
họ nói như có văn có sách”.Ngôn ngữ của Quan họ là ngôn ngữ giàu chất
thi ca của ca dao tục ngữ, chuyện nôm nhất là truyện Kiều Ngôn ngữ giáo
tiếp Quan họ tuy mềm mại, khéo léo tinh tế nhiều khi bóng bẩy, lững lờ
nhưng không gợi lên những ẩn ý dối trá, lừa lọc mà đậm đà tình người, sự
tôn trọng giữa người với người luôn hướng tới sự giàu đẹp của ngôn ngữ
Trang 5Vì vậy người Quan họ không thích, không chấp nhận sự thô kệch vụng về
trong ngôn ngữ Người Quan họ rất coi trọng sự lịch thiệp, thanh nhã
trong mọi cử chỉ giao tiếp Từ việc đỡ ô, đỡ nón khi đón bạn, nâng cơi
trầu mời bạn, nâng chén nước chén rượu đến dáng đi dáng đứng thế ngồi,
cái miệng, đôi mắt, tư thế khi chuyện trò cùng bạn… gần như đều có
chuẩn mực, thế này là phải, là duyên, thế kia là không phải, vô duyên
Một chùm hoa bưởi đặt trong cơi trầu, một nhành hoa sói cài lên mái tóc
nép kín vào vành khăn, hoặc dấu trong khăn tay… vốn là sự tinh tế của
người Quan họ
Khi nhắc đến Quan họ không thể không kể đến các hội hè, đặc biệt
trong đó là hội Lim Hội Lim mở ngày 13 tháng Giêng âm lịch trùng với
ngày hội chợ đầu năm Lúc này là thời gian tốt nhất để mở hội, vì hội có
trăng, một số hội đã mở lấy đà mọi người vừa ăn tết xong công việc đồng
áng, bán buôn đang rỗi rãi, giao thông thuận lợi
Chùa Lim được làm từ hồi nào không rõ Theo truyền thuyết có một
người đàn bà tên là Bà Mụ ả, người Duệ Đông đến tu ở đó Bà tu đắc đạo
nên có phép hô phong hoàn vũ Mỗi khi hạn hán, nhân dân thường cầu bà
làm mưa Do bà linh ứng như thế nên làng Lim tôn bà làm Thành Hoàng
làng và ngày hội Chùa Lim tổ chức vào ngày mất của bà Bà vừa là Thần
làng, vừa là người nhà chùa có phép làm mưa, gió, sấm, chớp, có phần
giống như hành trạng và thần tích của bà Man Nương (chùa Dâu)
Trong Hội Lim có hai hình thức tổ chức hát: Một là hát trong nhà
của những người có kết nghĩa Hai là hát ngoài đồi của những người đếm
xem hội góp vui và tìm bạn Gái trai đi hội đều mặc những bộ quần áo đẹp
đẽ nhất, những người hát Quan họ lại có quần áo đặc biệt như là lễ phục
riêng Giữa trời đất mùa Xuân mưa phùn gió nhẹ, cây cối đâm chồi nảy
lộc, từ xa nhìn vào đám hội ăn mặc đủ màu sắc tươi dói, trông rất rực rỡ
Các trò đua vui, đua tài tổ chức giữa đồi Lim như: Đánh đu, đánh cờ
người, trọi chim, trọi gà, bắt vịt… làm không khí ngày hội từng bừng náo
nức
Trang 6Hội thứ hai tiêu biểu được kể đến là Hội Ó (làng Ó tên chữ là Xuân
Ổ nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh) Chợ Ó có cái sầm uất còn vọng lại
trong bài hát Quan họ cổ truyền theo điệu hát Đúm như sau:
“Mùng năm chợ ó Quan họ dồn về Hội vui lắm lắm Chưa kịp đi tắm Chưa kịp gội đầu Trầu chửa kịp têm Cau chưa kịp bổ Miếng lành miếng sổ Miếng lại quên vôi Người có yêu tôi Thì người cầm lấy…”
Bài hát tả lại ngày hội Quan họ ở chợ Ó Hội vui quá, hấp dẫn qúa
đến nỗi các cô gái Quan họ lú lẫn vội vàng đến không kịp cả têm trầu
Cái chợ Ó ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch đó, các cụ gọi là ngày
hội chợ bán gà (có sách còn gọi là chợ Âm dương) Tại sao lại gọi là hội
chợ bán gà? Làng Ó có tục tế gà đen cho Thành Hoàng làng Gà đen nhà
nào được chọn làm vật tế, nhà đó sẽ được hưởng nhiều may mắn trong
năm ấy Các gia đình trong làng và các làng bên cạnh thi nhau đem gà đen
đến chợ bán với giá rẻ để mong gà của mình được làm vật tế Chợ hợp
vào lúc chạng vạng tối đấy là khoảng thời gian giao tiếp giữa ngày và
đêm, theo quan niệm dân gian đó là lúc âm dương giao tiếp, lúc trao đổi
giữa người và ma, giữa cõi âm và dương gian Vì vậy gọi là chợ Âm
dương Lúc chợ họp cũng là lúc tất cả mọi vật trên đời chìm vào màn
đêm Gà đen sẽ thâm nhập được vào sâu thế giới cõi âm để xem xét điều
lành, điều dữ về báo lại với Thành Hoàng, Thành Hoàng sẽ liệu mà phù
hộ độ trì cho dân chúng Đặc biệt trong ngày chợ này, ngoài gà ra, ai có
đồ vật gì cũ kỹ thì đem bán, bán với giá rẻ, người mua không mặc cả,
Trang 7người bán không đếm tiền Người bán trao đồ vật nói số tiền Người mua
im lặng mở dây tiền đồng rút ra một đoạn ước chừng bỏ vào tay người
bán Người bán lặng lẽ bỏ tiền vào bị cói Cuộc trao đổi thầm lặng ấy
người ta gọi là “Mua may bán rủi” Đứng xa chỉ nhìn thấy những bóng
đen đi lại và nghe tiếng xầm xì Cuộc mua bán diễn ra nhanh chóng
Người ta quan niệm rằng mua bán như thế ma sẽ họp chung với người, hai
bên trao đổi hàng hoá cho nhau Trong khi mua bán nhất định sẽ xảy ra
người hơn kẻ thiệt Nhưng người thiệt lại chính là kẻ được hơn vì họ đã
có dịp làm phúc Mọi người đều muốn làm phúc, nhất là làm phúc cho cõi
âm Cho nên cuối cùng mọi người đều thanh thản vì sự thiệt, mà cũng vui
vẻ vì sự hơn Có lẽ đó là dấu vết của một ký ức thời nguyên thuỷ về việc
mua bán, nó phù hợp với quan niệm chợ Âm dương và việc mua bán ở các
chợ với quan niệm “may - rủi” như thế này cũng có tổ chức ở nhiều nơi
khác
Khoảng 7 giờ đến 7 giờ 30 phút tối thì chợ tan Từng tốp con trai
con gái đã rủ nhau, chờ sẵn từ lâu Các lều hàng trong chợ hôm đó bỗng
đỏ đèn lên (hàng ngày không có) và xuất hiện những bà cụ bán hàng trầu
nước Thế là buổi hát Quan họ chợ Ó bắt đầu Con trai, con gái hát mời
nhau vào uống nước xơi trầu Bà bán hàng cũng hát mời trai gái hát vui
xuân cho dân làng khang thịnh Trai gái túm tụm ngồi hát trong các hàng
nước Trong quán không đủ chỗ thì một số tốp nhường bạn quán nước, rủ
nhau ra trải chiếu giữa chợ, một số đi xa hơn ra hát ở các cánh đồng Hát
Quan họ chợ Ó kéo dài suốt đêm hôm ấy tới sáng mùng 6 Quan họ dã bạn
kéo sang hội khác
2 Một vài truyền thuyết về nguồn gốc Quan họ
+ Việt Báo số 1059 ngày 21/2/1940, Nguyễn Duy Kiện có ghi lại
một truyền thuyết như sau: “ Đã lâu lắm từ thời thượng cổ nhân dân hai
làng Lũng Giang và Tam Sơn giao hảo với nhau rất thân mật Hễ làng nào
có việc quan, hôn, tang, tế… thì báo cho làng kia biết để dân làng cử vài
người làm đại biểu đem đồ lễ sang hoặc biếu hoặc mừng nhà hữu sự Làng
Trang 8Tam Sơn hàng năm cứ tháng giêng có đám lễ vào đám thờ cúng Thành
Hoàng, trong làng mở hội Các cụ bên Lũng Giang sang chơi Sáng ngày
13 tháng Giêng, họ họp độ năm, bẩy cụ ông, năm, bẩy cụ bà và một số
đông nam nữ biết hát Quan họ kéo sang Tam Sơn dự hội Bên Tam Sơn
cũng cử một số người ra phù tiếp bạn Sau khi đã ngôi trên dưới thứ tự tại
đình thì bắt đầu hát Trai bên này hát, gái bên kia đáp, còn các cụ thì ngồi
nghe Từ thuở ban sơ cổ đại, hai làng cứ theo tục này mà di truyền Đó
cũng là nguồn gốc của hát Quan họ”
+ Lê Văn Hảo trích trong “Bắc Ninh tỉnh khảo dị” (bản viết tay, thư
viện Paris, tập 1, quyển 5) một đoạn như sau: Làng Viêm Xá kết nghĩa với
làng Hoài Bão Viêm Xá mở hội thờ thần vào mùng 4 tháng giêng và
mùng 10 tháng 8 âm lịch Mỗi lần có hội Viêm Xá mời một đoàn trai Hoài
Bão sang Sau khi tế lễ song thì tổ chức ca hát Bên Viêm Xá toàn nữ, bên
Hoài Bão toàn nam Trai gái hai làng hát đối đáp với nhau Dân Viêm Xá
quan niệm rằng năm nào làng không cử hành như vậy thì trong làng sẽ
xảy ra nhiều sự bất an, người - vật bị ốm, mùa màng thất bát, buôn thua
bán lỗ, dân làng cãi cọ nhau, trai gái sinh ra tật hư nết xấu Vì vậy mà có
hát Quan họ
Truyền thuyết này đưa ta lên một thời kỳ xa xưa hơn Quan niệm về
việc cần thiết phải tổ chức cho trai gái giao duyên để cầu “người an vật
thịnh” còn phổ biến trên những miền đất cổ như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
trong các tục thờ Mẹ Lúa Người ta cho rằng: Cây cối muốn tươi tốt phải
có âm dương hoà hợp Muốn có âm dương hoà hợp thì trai gái phải giao
hoà để cho mùa màng bắt chước Tín ngưỡng nông nghiệp này được
thuyết minh bằng hiện tượng Viêm Xá toàn nữ, Hoài Bão toàn nam, vì
ngày đó nhớ Thành Hoàng Viêm Xá là vua bà - Một nhân vật lưỡng tính
vừa nam vừa nữ, tự mình có thể nảy nở sinh sôi
Những truyền thuyết do nhóm Lưu Khâm sưu tầm:
+ Ông Tập ở Viêm Xá (Võ Giàng nay Yên Phong Bắc Ninh) cho
biết: Cách đây 12 đời, có hai người làm quan thị vệ ở trong triều, một
Trang 9người quê ở Diềm, một người quê ở Bịu Hiện nay ở Diềm còn di tích
lăng mộ, ở Bịu không còn Hồi làm quan hai người có chơi với nhau, đến
khi về hưu thì giao ước kết bạn đi lại, nếu ở làng ai có vui như cưới xin,
khao lão thì mời cả hai họ về dự Hồi đó, nhân dân vẫn có hát đúm nhưng
từ khi hai họ này kết bạn thì người ta đem những câu hát đúm vào để ca
hát trong những ngày vui đó Từ đấy lưu truyền tục lệ này cứ hội Diềm
tháng 8, hội Bịu tháng 1 người ta tụ họp ngồi xung quanh một ngọn đèn
lớn ca hát và Quan họ do đó sinh tên (hai họ nhà quan hát với nhau) Từ
đấy gọi Quan họ thay thế cho hát Đúm
+ Ông Thanh ở Bịu Sim kể: Cách đây gần 300 năm ở Bịu Sim có
trạng Bịu vinh quy về làng, chiêu dân lập ấp Những năm được mùa, nhân
dân hát đúm với nhau, nhưng vì ở gần cụ Trạng nên đổi tên hát đúm thành
Quan họ cho thanh lịch và chắc cũng để vừa lòng cụ Trang
+ Ông Ngậm ở Châu Khê kể: Ngày xưa có cô Tuấn Khanh giả trai
đi học, kết bạn với Tải Chung Tải Chung được đi thi, còn Tuấn Khanh là
nữ phải về quê, nhưng hai người vẫn giữ tình bạn cũ Họ đi lại, chơi bời,
ca hát, hoạ thơ… với nhau Dần dần lưu truyền những câu hát của họ gọi
là Quan họ
+ Anh Trương Chi “ Người thì thật xấu, hát thì thật hay” là một dân
chài trên dòng Tiêu Tương và sông Cầu Mỵ Châu là con quan mê giọng
hát của Trương Chi, còn Trương Chi tương tư Mỵ Châu về nhan sắc Anh
lái đò đặt ra những câu hát “Tương tư mong nhớ”, những câu hát đó
truyền đến ngày nay thành Quan họ
+ Cụ Tư La ở Thị Cầu kể: Thời nhà Lý có Lý Công Uẩn chạy giặc
(giặc gì không rõ) qua vùng Bắc Ninh Nhân dân ra hát Đúm, quân giặc
dừng lại nghe nên Lý Công Uẩn chạy thoát Từ đấy hát Đúm gọi là hát
Quan họ
+ Truyền thuyết cho Nguyễn Đình Phúc sưu tầm ở Bò Sơn: Có một
cô gái lấy củi ở trên núi Chè, cô cất tiếng hát: “Tay cầm bán nguyệt xênh
xang - Bao nhiêu cây cỏ lai hàng tay ta”, lúc ấy chúa Trịnh đang đi kinh
Trang 10lý trên đường dừng lại nghe tiếng hát cảm phục người đẹp lại có khí
phách anh hùng, chúa lấy làm vợ gọi là bà Chúa Chè Bà chúa Chè tức
Đặng Thị Huệ Câu hát hay làm cho quan phải dừng lại nên gọi là Quan
họ
Những truyền thuyết trên đều pha trộn tính chất truyền kì, qua đó
hiểu được tâm lý và triết lý dân gian của nhân dân và những điều kiện
giúp Quan họ có khả năng lớn mạnh trên mảnh đất xinh đẹp này của Tổ
quốc Về nguồn gốc phát sinh Quan họ tập thể tác giả cuốn “Dân ca Quan
họ Bắc Ninh” cho rằng: Đây là những tiếng hát của “những người lao
động đầu tiên trên dải đất Bắc Ninh” “hát trong lao động và sau lao
động” Hoặc như tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết trước sau vẫn cho rằng:
Quan họ là hát tình yêu
Quan họ là kiến giải của nhân dân Bắc Ninh về sự kết hợp hai vấn
đề cần thiết cho mình: Nghĩa tình và chúc tụng Điểm lại những truyền
thuyết trên ta thấy: Truyền thuyết nói rằng Quan họ có từ thời thượng cổ
thì do vua bà (tức Thành Hoàng làng) sinh ra, mà địa điểm hát Quan họ
ban đầu ấy là ở đồi, ở đình Dựng lên như vậy cốt để tăng uy tín cho Quan
họ Vì Quan họ càng lớn mạnh, càng phát triển các nghệ nhân càng phải
chứng minh cho lẽ tồn tại cuả nó, không có một sự tích đủ tin cậy nào về
nguồn gốc và dòng giõi cho nó thì người ta vẫn thấy áy náy Nhưng không
dễ bịa đặt nếu không dựa vào một thực tế nào có liên quan đến lối chơi
Quan họ Nhất là các nghệ nhân Quan họ chủ trương rằng lối hát của mình
là “cầu may, cầu phúc, cầu thịnh” là không tiến hành Quan họ thì “người
ốm, vật chết” và cấm việc luyến ái nam nữ (tục cấm Quan họ không lấy
nhau) Quan họ cương quyết bảo vệ niềm tin ấy Những truyền thuyết đã
làm tăng uy tín của Quan họ khi đặt nó vào vai trò lịch sử lớn lao: Cứu
vua Lý thoát khỏi tay giặc Quan họ là do vua Lý sáng tạo ra, là được
truyền lại từ người con gái Thổ Lỗi - Ỷ Lan - mà dân phong là “Quan Âm
Nữ”, ấy thế là những người quan tâm tới số phận lịch sử của Quan họ có
được vài nét làm cơ sở để tạo nên hàng chục truyền thuyết đã kể Trong
Trang 11khi đó các dân ca khác quá lắm cũng chỉ 3, 4 truyền thuyết Có dân ca chỉ
có một, có dân ca không có truyền thuyết nào giải thích về nguồn gốc của
mình
3 Tình yêu cuộc sống là cơ sở của trữ tình trong Quan họ
Cuộc sống thời Lê làm cho dân ca Quan họ phát triển gấp bội, trở
thành một thứ dân ca điển hình của xứ Kinh Bắc Sự thay đổi trong tâm
hồn nghệ nhân, sự phá vỡ lối hát thờ cúng, phá vỡ lề lối nghiêm ngặt,
phục hồi lối tổ chức trước kia và do đó nẩy sinh một kiểu tổ chức nhóm
vừa tự do, vừa quy củ đưa dân ca trở về với sinh hoạt thường ngày như
hát khi đi chợ, lúc đi đường, trên đồi, trên thuyền trong chùa, trong nhà,
hát vào các đám ma chay, cưới xin, đình đám, khao vọng
Nếu gạt bỏ môi trường sống và tình huống tình cảm lúc diễn xướng
thì câu hát lúc đầu vẫn còn lại một giá trị Nhưng khi đem nó sử dụng vào
một trường hợp hát cụ thể thì nó lại có nhiều giá trị khác không tuỳ thuộc
vào chỉ bản thân nó Nghĩa là khi người ta không đem nó ra sử dụng để
đối đáp thì câu hát vẫn tồn tại trong tâm hồn nghệ nhân, và khi tính chất
hữu ích riêng biệt của mỗi câu hát bị quên đi thì vai trò người sáng tạo ra
câu hát cũng biến đi theo Tất cả mọi câu hát chỉ còn được coi như là vốn
sáng tạo tinh thần chung của xã hội Tất cả các sản phẩm tinh thần ấy
càng ngày càng chồng chất lên nhau, lớp nọ xếp lên lớp kia, câu mới đè
lên câu cũ và nằm trong cái gọi là cảm thụ nghệ thuật Cảm thụ nghệ thuật
biểu hiện ra là trong sinh hoạt tinh thần trí tuệ nhiều người đã được kết
tinh lại trong từng cá nhân Do đó hiệu quả nghệ thuật biểu hiện trong
sinh hoạt cá nhân lại góp phần vào chất lượng sáng tác, vào nội dung và
hình thức tác phẩm Cho nên dù sao đi nữa bài ca Quan họ vẫn là tài sản
tập thể, và nó phải do nhiều thế hệ tạo nên
Sự lăn lộn với nghệ thuật của nghệ nhân tạo cho nghệ nhân một vốn
liếng để hoạt động văn nghệ Còn những câu hát được cá nhân sáng tác
nếu được nhiều người sử dụng thì đều có giá trị xã hội Kết quả là sau một
thời gian sinh hoạt dân ca tất cả các câu hát hay trong vùng đó đều được