ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN VẬT LÝ KỸ THUẬT Y SINH BÁO CÁO KHOA HỌC: ỨNG DỤNG LASER CÔNG SUẤT CAO TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN VẬT LÝ KỸ THUẬT Y SINH
BÁO CÁO KHOA HỌC:
ỨNG DỤNG LASER CÔNG SUẤT CAO
TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
GVHD: PGS.TS.Trần Minh Thái NHÓM 8 :
Trang 2MỤC LỤC
I MỞ ĐẦU: 3
II CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA CỘT SỐNG 3
III GIẢI PHẪU BỆNH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM 4
A MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG ĐIỂN HÌNH CỦA BỆNH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM: 4
B CÁC NGUYÊN NHÂN CHÍNH: 5
C CÁC DẠNG THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM: 6
IV CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM 7
A ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA… 7
B PHƯƠNG PHÁP ĂN MÒN BẰNG MEN 8
C PHƯƠNG PHÁP MỔ NỘI SOI 8
D KỸ THUẬT GIẢM ÁP ĐĨA ĐỆM QUA DA (PLDD) 9
E PHƯƠNG PHÁP MỔ HỞ (PHẪU THUẬT) 9
V KỸ THUẬT GIẢM ÁP ĐĨA ĐỆM BẰNG LASER QUA DA (PLDD) 10
A LASER ND: YAG 10
B KỸ THUẬT GIẢM ÁP ĐĨA ĐỆM BẰNG LASER QUA DA (PLDD) 11
VI CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH PHƯƠNG PHÁP PLDD 13
VII ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP PLDD 23
VIII CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH 25
IX KẾT LUẬN 26
Trang 3I MỞ ĐẦU:
Đau lưng là một trong những căn bệnh chiếm tỷ lệ khá cao trong xã hội
Căn bệnh này thường gặp ở lứa tuổi 30-60, đặc biệt là ở người lao động chân tay
nặng, có tư thế làm việc gò bó như: công nhân bốc vác, nghệ sĩ xiếc, nghệ sĩ ba-lê,
vận động viên cử tạ Tần xuất và mức độ đau xuất hiện tăng theo tuổi tác Theo
thống kê của Bộ y tế Hoa Kỳ, 85% dân số Mỹ có ít nhất một đợt đau lưng trong
đời Chi phí cho điều trị bệnh đau lưng đứng hàng thứ ba, sau ung thư và bệnh tim
Có nhiều nguyên nhân gây đau lưng, trong đó đáng ngại nhất là tình trạng
thoát vị đĩa đệm cột sống, chủ yếu gây đau vùng thắt lưng, cản trở hầu như mọi
sinh hoạt thường nhật của bệnh nhân Một nghiên cứu hồi cứu cho thấy, một phần
ba các tử thi trên 20 tuổi được mổ có thoát vị đĩa đệm Tuy nhiên chỉ có 3% trong
số ấy có xuất hiện triệu chứng Điều này cho thấy rất khó xác định triệu chứng của
thoát vị đĩa đệm Các vị trí hay thoát vị nhất là L4, L5 và S1
Đau lưng do thoát vị đĩa đệm cột sống gây ra các triệu chứng chèn ép tủy
và chèn ép rễ dây thần kinh khiến ta có cảm giác đau và tê buốt dọc theo hai cánh
tay hay dọc theo hai chân Đa số các trường hợp khác là đau cơ năng, chúng liên
quan đến sự thoái hóa cột sống, cơ, dây chằng, gai cột sống
II CẤU TRÚC GIẢI PHẪU CỦA CỘT SỐNG
Xương sống của trẻ sơ sinh gồm 33 đốt: 7 đốt cổ, 12 đốt ngực, 5 đốt thắt
lưng, 5 đốt hông và 4 đốt cụt Ở người trưởng thành, các đốt hông và đốt cụt dính
lại với nhau, chỉ còn lại xương cùn và xương cụt Vì thế người lớn chỉ có 26 đốt
xương sống
Cột sống chạy từ hộp sọ đến cuối lưng, ngoài
chức năng nâng đỡ cơ thể, còn bảo vệ và bao bọc dây
cột sống Dây cột sống có các tế bào thần kinh, các bó
sợi thần kinh kết nối tất cả các bộ phận của cơ thể với
não bộ Từ cột sống, phát xuất 32 đôi dây thần kinh tuỷ
sống Cột sống không thẳng mà hơi cong để chịu sức
nặng của cơ thể hữu hiệu hơn đối với các tư thế đứng
khác nhau Các đốt sống được dây chằng và hơn 400 cơ
bắp nhỏ neo giằng hỗ trợ
Hình 1 Hình dạng cột sống.
Trang 4Nằm giữa hai đốt xương sống là các đĩa dẹp, gọi là đĩa đệm, tương đối đàn
hồi, có tác dụng giảm chấn và giúp cho hai đốt sống kề nhau có thể chuyển động
tương đối với nhau
Hình 2: Ảnh giải phẫu đĩa đệm thắt lưng – xương cùn
Đồng thời, đĩa đệm còn là vật hộ thân giúp cột sống phân tán trọng lực và
lực đè ép từ bên trên do khiêng vác vật nặng và chống rung lắc cho cơ thể Đĩa
đệm hơi phồng lên ở trên và dưới, khớp với mặt lõm của đốt xương sống Đĩa đệm
gồm hai phần: phần bao sơ (fibrosus annulus) ở ngoài và phần nhân nhầy (nucleus
pulposus) ở bên trong Phần bao sơ cấu tạo từ các vòng sơ, cấu trúc chủ yếu là
collagen tương đối cứng và dai Phần nhân nhầy là một chất lỏng có độ nhớt cao
có thành phần chính là các loại protein háo nước và các polysaccharide Nhờ thế,
đĩa đệm có tính đàn hồi và có tác dụng như một vật chêm giúp giảm xóc khi có lực
dồn ép đè lên cột sống Ngoài ra, đĩa đệm còn có thể di chuyển ra bốn phía, nhờ đó
mà cột sống có thể cong, ưỡn và nghiêng qua lại
III GIẢI PHẪU BỆNH THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
A Một số triệu chứng điển hình của bệnh thoát vị đĩa đệm:
Đau lưng, cảm giác đau giảm khi nằm nghiêng, tăng khi ho hoặc đi tiểutiện
Đau khi gõ hoặc ấn vào khoảng liên đốt
Đau tự nhiên vùng gai sau, nếu bệnh nặng có thể lan xuống vùng mông đùi
Hạn chế cử động cột sống, không còn khả năng ưỡn của thắt lưng
Không cúi được sâu, khoảng cách giữa các ngón tay và mặt đất khi cúi người
thả lỏng tay lớn hơn 50cm
Giảm vận động chân và cảm giác vùng da chân Trường hợp nặng có thể bị
liệt
Trang 5B Các nguyên nhân chính gây ra thoát vị đĩa đệm:
Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm là mang xách nặng, lối sống ít vận động, gia tốc
đột ngột, tai nạn giao thông, làm việc tư thế ngồi nhiều v.v… Khi mang vác vật
nặng, cột sống phải chịu sự đè nén và tất nhiên đĩa đệm cũng phải nhận gánh nặng
này Nếu vật quá nặng, sức ép dồn quá mức, áp suất của nhân nhầy tăng lên rất
mạnh Bao xơ bị đẩy giãn ra, làm cho đĩa đệm phình ra, chèn ép lên dây thần kinh
và gây ra cảm giác đau Nếu đĩa đệm chỉ phình ra thì người bệnh chỉ đau vài ngày
Nếu vật nặng quá làm cho nhân đĩa đệm bị đẩy ra, gây vỡ bao gối sụn và lồi ra
ngoài Đĩa đệm phình ra không tự co lại được, các dây thần kinh bị chèn ép và gây
đau dữ dội, có thể gây đau dây thần kinh toạ hoặc liệt chân Những đĩa đệm ở vị trí
thấp sẽ phải chịu nặng nhiều hơn, vì thế ta hay đau cột sống ở vùng thắt lưng
Hình 3: Thoát bị đĩa đệm
Trang 6Hình 4: Bệnh lý của thoát vị đĩa đệm
Ngoài ra, thoát vị đĩa đệm còn có thể gặp ở những người ít vận động, cơ
bắp cùng cột sống trơ cứng, không mềm mại nên khi lao động với tư thế không
đúng dễ bị cụp xương sống và gây chứng đau lưng cấp tính, đau rất dữ dội
Người bị chấn thương cột sống cũng có thể bị thoát vị đĩa đệm Người làm
việc trong tư thế cúi lâu liên tục trong nhiều giờ, nhiều ngày như lái xe, thợ may,
thư ký, thợ cấy tuy cột sống chỉ chịu một áp lực nhẹ nhưng liên tục nên có thể
ảnh hưởng đến đĩa đệm
C Có thể phân thoát vị đĩa đệm ra thành bốn dạng:
1) Đĩa đệm phồng lên nhưng còn nguyên vẹn
2) Phồng đĩa đệm kèm với tổn thương một số sợi cơ vòng trong vỏ sụn
3) Nhân nhầy thoát ra ngoài do một phần cơ vòng bị đứt
4) Vỡ rời hay đứt đoạn một số miếng đĩa đệm
Do tính cứng của vỏ sụn nên hệ số ứng suất khối (bulk modulus) của đĩa
đệm rất cao Có thể coi đĩa đệm thoát vị nhưng còn nguyên vẹn, tức là giữa phần
thoát vị và phần đĩa còn lại chưa mất tính liên tục, như một không gian thuỷ lực
kín Một sự thay đổi nhỏ về thể tích cũng đưa đến một thay đổi rất lớn về áp suất
Trên cơ sở đó, nếu ta làm giảm một lượng nhỏ nhân nhầy ở đĩa đệm thoát vị thì sẽ
làm giảm áp suất nội đĩa một cách rõ rệt, làm cho phần thoát vị có thể co lại, giải
phóng tuỷ sống khỏi sự chèn ép Choi đã tính toán và đo đạc được rằng với một
đĩa có áp suất 1344 mmHg, khi làm giảm thể tích với nǎng lượng laser Nd: YAG
1000J thì áp suất sẽ giảm xuống còn 601mmHg
Trang 7Thoát vị đĩa đệm có thể xảy ra ở bất kì ở phần nào của cột sống, nhưng có
đến 98% trường hợp xảy ra ở giữa hai đốt sống lưng số 4 - số 5 (L4-L5), và giữa
đốt sống lưng số 5 với xương cùn (L5-S1)
IV CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM
Hiện nay, chưa có một phương pháp thần kỳ nào để chống trả với căn bệnh
này Do đó, để điều trị thoát vị đĩa đệm, các bác sĩ phải sử dụng kết hợp nhiều biện
pháp Đầu tiên, bệnh nhân nên qua một đợt điều trị nội khoa Theo PGS TS BS
Hồ Hữu Lương đó là: Chế độ bất động, vật lý trị liệu, xoa bóp, bấm huyệt, châm
cứu, kéo giãn cột sống, thuốc men, các phương pháp phong bế… Nếu sau một thời
gian điều trị như đã nêu mà không mang lại kết quả, triệu chứng đau vẫn không
giảm thì mới nên tính đến can thiệp ngoại khoa hay phương pháp ăn mòn bằng
men
A Điều trị nội khoa, bấm huyệt, châm cứu……
Với trường hợp nhẹ: Chỉ cần nghỉ ngơi, thư giãn và dùng thuốc giảm đau
chống viêm như aspirin, diclofenac hoặc dùng corticoid và vật lý trị liệu, chích
steroid Tùy theo mức độ bệnh có thể kết hợp thuốc giảm co cứng cơ như
decontractyl, carisoprodol theo đúng chỉ định của bác sĩ điều trị Tập vật lý trị
liệu đúng cách như kéo giãn cột sống thắt lưng bằng giường kéo Mục đích làm
giảm áp lực đè lên các đốt sống thắt lưng mở đường cho nhân nhầy quay trở lại vị
trí cũ Giường kéo là một thiết bị chuyên dụng nhưng không phức tạp lắm, áp
dụng nguyên lý đơn giản là cố định phần trên thân thể, phần dưới nối với hệ thống
ròng rọc có treo quả cân nặng để duy trì lực kéo thường xuyên và từ từ Trọng
lượng quả cân sẽ tăng dần theo thời gian, đôi khi người ta dùng chính sức nặng
của bệnh nhân làm lực kéo (nằm trên giường dốc xuống) Đa số trường hợp có thể
làm giảm áp lực lên nhân nhầy khiến đĩa đệm hết phình và bệnh nhân hết đau Lưu
ý là sau đó phải giữ gìn theo đúng phương pháp đã hướng dẫn vì bệnh rất dễ tái
phát
Trong thời gian điều trị bệnh nhân phải nằm nghỉ ngơi hoàn toàn trong tư
thế thoải mái 3-5 ngày Khi trở lại làm việc phải dè dặt, nhẹ nhàng, không mang
vác nặng, tránh những cử động đột ngột hay những cuộc đi xe, ngồi tàu lâu ảnh
hưởng đến cột sống Tuyệt đối tránh xoa bóp, kéo nắn trong thời gian điều trị vì
có thể làm đau thêm hoặc đau thần kinh toạ
Ngoài ra, các thầy thuốc còn có thể dùng thêm các phương pháp khác như
xông hơi thuốc, áp nhiệt, chiếu tia hồng ngoại, xung điện nhằm mục đích giãn
Trang 8cơ, giảm đau Mọi chi tiết về chỉ định, kỹ thuật, thời gian kéo sẽ được áp dụng cụ
thể cho từng bệnh nhân Những trường hợp thoát vị bán cấp hay mạn tính thường
là lựa chọn của biện pháp này
B Phương pháp ǎn mòn bằng men
Phương pháp này có tỷ lệ tai biến thấp nhưng đã có thì thường rất nặng nề
Do thành tố chính của nhân nhầy là một loại protein, nhiều chất tiêu đạm được
mang ra dùng như chymopain (trích xuất từ một giống đu đủ), collagenase (men
tiêu collagen) Người ta tiêm chúng vào đĩa đệm làm tiêu nhỏ chân nhầy, để
giảm áp lực căng phồng, giải phóng sự chèn ép của nó vào thần kinh Nguy hiểm
lớn nhất là gặp phản ứng quá mẫn (sốc do phản ứng quá mạnh của cơ thể) gây chết
người như trường hợp tiêm pénicilline Gần đây, người ta đã tính đến việc tiêm
máu tự thân của chính bệnh nhân vào đĩa đệm với cùng mục đích trên, đồng thời
có thể tránh được hiện tượng phản vệ
C Phương pháp mổ nội soi:
Phương pháp mổ nội soi là một kỹ thuật tiên tiến trong điều trị các bất
thường về cấu trúc đốt sống nói chung và
thoát vị đĩa đệm nói riêng Theo tiến sĩ Võ
Văn Thành, Trưởng khoa Cột sống A, Trung
tâm Chấn thương chỉnh hình TP HCM, kỹ
thuật mới này có thể được áp dụng cho
nhiều bệnh lý cột sống như: thoát vị đĩa đệm
lưng và thắt lưng, gãy hoặc lao cột sống
lưng và thắt lưng, vẹo cột sống lưng và thắt
lưng Ngoài ra, mổ nội soi cột sống cũng
có thể giúp chữa trị các bệnh lý thoái hóa đĩa
đệm cần hàn liên thân đốt, các bệnh lý dị tật
cột sống cần phẫu thuật nội soi dẫn đường
để hàn xương cố định Hình 5 Phương pháp mổ nội soi
Do đường mổ nhỏ, ít gây tổn thương mô mềm, phẫu thuật nội soi cột sống
đã khắc phục được những nhược điểm của phẫu thuật kinh điển như đau nhiều,
thời gian hậu phẫu kéo dài, chậm phục hồi Tuy nhiên, chi phí cho phẫu thuật này
đắt hơn 100 USD so với phương pháp mổ cổ điển
TS Thành cũng cho biết thêm, phẫu thuật nội soi cột sống được áp dụng
trên thế giới đã 10 năm nay Trong đó, kỹ thuật cắt đĩa sống vi phẫu qua ống banh
Trang 9nội soi (đường mổ chỉ 2 cm) mới bắt đầu được thực hiện vào năm 1998 ở Mỹ
Hiện nay, Trung tâm Chấn thương chỉnh hình TP HCM đã triển khai kỹ thuật nội
soi cột sống mini-open (đường mổ 5-6 cm)
D Kỹ thuật giảm áp đĩa đệm bằng laser qua da (PLDD)
Đặc biệt, kỹ thuật giảm áp đĩa đệm bằng laser qua da (Percutaneous Laser
Disc Decompression - viết tắt là PLDD) là một kỹ thuật có nhiều ưu điểm hiện nay
trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống Gần đây, do sự phát triển mạnh của các
phương pháp nội soi, đặc biệt là phương pháp nội soi Yeung, sự ưa thích PLDD đã
giảm xuống ở Hoa Kỳ và một số nước phát triển khác Trung tâm Medic (TP
HCM) hiện nay đã đưa phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống bằng khí
ozon (O3)
E Phương pháp mổ hở (phẫu thuật)
Phẫu thuật được chỉ định khi: điều trị nội khoa không đỡ sau 6 tháng hoặc
có biến chứng liệt, teo cơ, rối loạn cơ tròn Bệnh nhân đau dữ dội, đau tái phát
nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và lao động Mục đích phẫu
thuật là lấy đi khối thoát vị để không gây chèn ép vào tủy hoặc rễ thần kinh Mổ
hở được xem là phương pháp cuối cùng và là phương pháp triệt để trong điều trị
thoát vị đĩa đệm Phương pháp mổ hở là một can thiệp ngoại khoa khá nặng nề,
phải phá huỷ một phần đốt sống mà kết quả mang lại rất hạn chế
Thời gian mổ cho một đĩa đệm thoát vị có thể kéo dài từ 30 phút đến 3-4
giờ đối với vùng thắt lưng và 45 phút đến 4-5 giờ đối với vùng cổ Ca mổ nhanh
hay chậm còn tùy vào khả năng từng bác sĩ, trang thiết bị của phòng mổ và mức
độ khó khăn của từng ca Thời gian mổ lâu hay mau không quan trọng bằng kết
quả sau mổ Tuy nhiên, nếu mổ lâu quá thì lượng thuốc mê bệnh nhân hít vào sẽ
nhiều hơn và khả năng xảy ra biến chứng, đặc biệt là khả năng nhiễm trùng cũng
cao hơn
Một số biến chứng có thể gặp như: Liệt sau mổ, dò dịch não tủy, xơ hóa
màng cứng, dính rễ dây thần kinh, mất cấu trúc ổn định của cột sống, sẹo sâu bên
trong gây ra đau khi vận động Ngoài ra vẫn có thể gặp những biến chứng trong
can thiệp ngoại khoa như: Chảy máu thứ phát, nhiễm trùng và phẫu thuật lại phải
tiến hành dưới gây mê và bệnh nhân phải chịu đựng đau sau mổ
Tuy vậy phẫu thuật hở vẫn rất cần thiết khi mà các phương pháp can thiệp
tối thiểu không mang lại kết quả Xu hướng hiện nay là phải giúp bệnh nhân vận
động sớm sau mổ nhằm tăng cường sự lưu thông máu, vết mổ mau lành hơn và
người bệnh có thể tập phục hồi chức năng sớm Vận động sớm cũng giúp tránh
được việc các rễ thần kinh bị dính Đây là một trong những biến chứng đáng sợ
Trang 10của mổ hở và sẽ gây đau sau này Đa số bác sĩ chủ trương dùng thêm nẹp ngoài
trong những ngày đầu sau mổ thoát vị đĩa đệm
V KỸ THUẬT GIẢM ÁP ĐĨA ĐỆM BẰNG LASER QUA DA
(PLDD)
Kỹ thuật Laser lần đầu tiên được ứng dụng để chữa bệnh thoát vị đĩa đệm ở
bệnh viện Graz (Áo) bởi hai bác sĩ tiên phong là GS P Ascher và GS D J Choi
vào năm 1986 và ngày càng thâu tóm mọi ưu điểm mà các thầy thuốc mong muốn
Phương pháp này gọi là PLDD, (viết tắt của cụm từ tiếng Anh Percutaneous
Laser Disc Decompression, nghĩa là giảm áp lực của đĩa đệm bằng laser xuyên
qua da) Trong thập kỉ 90 của thế kỉ 20, PLDD phát triển rộng rãi trên khắp thế
giới, đặc biệt là ở các nước tiên tiến Đến nay kỹ thuật giảm áp đĩa đệm cột sống
bằng laser chọc qua da đã được đưa vào điều trị ở nhiều bệnh viện châu Âu và
châu Mỹ
Ở châu Á, sau Nhật Bản và Malaysia, Việt Nam tự hào là nước thứ ba đã triển
khai thành công kỹ thuật này vào năm 1999 dưới sự giúp đỡ của GS Massashi Marumo
(Nhật Bản) Trong 7 năm qua, Viện vật lý y sinh đã tiến hành kỹ thuật này cho trên 1.000
BN Phần lớn người được điều trị đều hài lòng với kết quả đạt được Trong các báo cáo
khoa học của Việt Nam trình bày tại các hội thảo Quốc tế, chúng ta cũng đạt được một tỷ
lệ kết quả tương đồng với các nước tiên tiến
Laser Nd:YAG
Kỹ thuật này thường dùng năng lượng laser Nd:YAG (Neodymium:
Yttrium-Aluminum-Garnet) ở bước sóng 1064-nm Laser Nd:YAG là một loại
laser rắn và là một trong những loại laser phổ biến nhất và được dùng trong nhiều
ứng dụng khác nhau Laser này có môi trường hoạt chất là tinh thể Y3Al5O12
(YAG) được hoà trộn thêm ion Nd3+ dưới dạng Nd2O3 (khoảng 0,5% - 2%) Chế
độ làm việc của laser Nd:YAG là chế độ bốn mức năng lượng, có độ rộng phổ
khoảng Δν ≈ 6cm-1 Hệ số khếch đại ở laser Nd:YAG lớn hơn ở ruby 75 lần Hiệu
suất của laser Nd:YAG là 5% ở chế độ liên tục Công suất phát của laser Nd:YAG
lớn hơn laser ruby với cùng độ dài thanh hoạt chất
Ví dụ: ở nhiệt độ phòng với chiều dài thanh 3cm laser Nd:YAG có thể có
công suất cỡ 360W nhưng với ruby thì chỉ cỡ 200W
Laser Nd:YAG được bơm quang học bằng cách dùng đèn flash hoặc laser
diode Laser Nd:YAG có thể hoạt động ở chế độ xung (xung đơn và xung chuỗi)
và chế độ liên tục Laser chỉ có thể phát liên tục ở trạng thái dừng và khi tốc độ
bơm không phụ thuộc vào thời gian (bơm dừng) Việc laser phát xung chủ yếu ở
trong trạng thái không dừng và tuỳ thuộc hàm bơm (bơm xung) Laser Nd:YAG
hoạt động ở chế độ xung ngắn Q-switching Công suất phát từ 15-20W, với thời
gian phát xung 0.5-1s, và các khoảng thời gian 4-10s
Trang 11A Kỹ thuật giảm áp đĩa đệm bằng laser qua da (PLDD)
Hình 6 Tác dụng của tia laser đối với nhân nhầy
Năng lượng laser được dẫn theo một dây quang dẫn trần có đường kính 0,4
hay 0,6mm, luồng qua một kim chọc tuỷ số 18 vào nhân đĩa đệm để khởi hoạt hiện
tượng quang động làm bốc cháy và bay hơi một phần nhân nhầy Áp lực trong đĩa
đệm giảm xuống làm cho khối thoát vị nhỏ lại, không còn chèn ép dây thần kinh
để gây đau nữa Nǎng lượng cần thiết để đốt mỗi đĩa đệm phụ thuộc vào thể tích
của nó, thể tích này lại có quan hệ tuyến tính với chiều cao cơ thể Thường nǎng
lượng 1000-2000J, đốt cháy 0,7-1,0cm3 vật chất nhân nhầy, đủ để khắc phục sự
thoát vị Năng lượng laser cần dùng là từ 1200 đến 1500J đối với các vị trí L1-L2,
L2-L3, L3-L4, và L5-S1 và 1500 đến 2000J đối với L4-L5 Do sử dụng các xung
ngắn nên không có nhiệt đến phần xương
Trang 12Hình 7 Sự giảm áp trong lòng đĩa giải phóng rễ thần kinh khỏi sự chèn ép
Quá trình giảm áp suất nội đĩa xảy ra theo hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu: xảy ra tức thì, hoàn toàn mang tính chất cơ học do
lượng nhân nhầy bị mất đi trong quá trình bay hơi hay thoát ra ngoài làm giảm áp
suất nội đĩa
Giai đoạn thứ hai: xảy ra muộn hơn, thường từ tuần thứ tám trở đi
Trong giai đoạn này phần protein bị quang đông được quá trình thực bào mang đi
và thay vào đó là các sợi collagen Hàm lượng nước trong nhân nhầy giảm đi tạo
một sự giảm áp suất lâu dài
Bức xạ laser Nd:YAG có bước sóng 1064nm được protein hấp thụ mạnh
Nǎng lượng bị hấp thụ làm tǎng nhiệt cục bộ của phần nhân nhầy tiếp xúc với đầu
dây quang dẫn Nước (chiếm 60-75% thể tích nhân nhầy) bay hơi mạnh khi nhiệt
độ đạt 100oC Khi nhiệt độ lên đến 300oC, sự than hóa protein xảy ra, và ở nhiệt
độ trên 450oC thì quá trình hóa khí bắt đầu Khí tạo thành chủ yếu là carbonic và
hơi nước, thoát ra ngoài theo khe hở giữa lòng kim và dây quang dẫn Bằng cách
cho laser phát theo chế độ xung, có thể khống chế sự lan toả nhiệt, hạn chế gây tổn
thương cho mô lành xung quanh
Kỹ thuật này có thể áp dụng đối với cả đốt sống cổ, ngực, và lưng Theo
thống kê của Marumo, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đốt sống cổ chiếm 0,14%
Trang 13(4/2754), đốt sống ngực là 15% (415/2754), và đốt sống lưng nhiều nhất, chiếm
85% (2355/2754)
Một số nghiên cứu đã được tiến hành với một số loại laser khác, ví dụ laser
Er: YAG (bước sóng 2900nm), Ho:YAG (bước sóng 2100nm), hay laser bán dẫn
hồng ngoại công suất cao (bước sóng trong khoảng 800-1000nm)
VI CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH PHƯƠNG PHÁP PLDD
Trên bàn mổ, người bệnh nằm nghiêng nếu làm PLDD ở lưng hoặc nằm
ngửa nếu làm PLDD ở cổ Sau khi sát trùng, bác sĩ sẽ xác định nơi chích kim trên
máy chiếu X-quang Sau khi gây tê xong, một cây kim sẽ được chích từ ngoài da
vào đĩa đệm Một sợi dây bằng thủy tinh nối với máy phát laser được luồng qua
kim tới đĩa đệm Laser sẽ đốt cháy một phần đĩa đệm Khi đốt, người bệnh sẽ có
cảm giác nóng và tức nhẹ ở nơi đốt, gần cuối sẽ có cảm giác nóng chạy dọc theo
tay hoặc chân Toàn bộ thời gian làm PLDD khoảng 15 phút cho một đĩa đệm Sau
khi xong, người bệnh nằm nghỉ khoảng 1-2 giờ và về nhà ngay trong ngày Từ
ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi làm PLDD, một số người bệnh bị đau do quá
trình viêm gây ra, sau khi dùng thuốc sẽ hết Thường thì sau một tuần, người bệnh
có thể đi làm lại được nhưng phải 3 tháng sau mới có thể đánh giá được chính xác
kết quả của PLDD
Quá trình thực hiện điều trị bằng PLDD lần lượt qua các bước sau :
1 Bệnh nhân nằm nghiêng trên bàn CT Đường đi của kim được xác định
bởi CT để tránh các dây thần kinh và những cấu trúc nội tạng Thường người ta
phải dùng kim cong