Hiện nay, thế giới xung quanh ta luôn luôn biến chuyển trên tất cả mọi mặt của cuộc sống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Bài tiểu luận
Đề tài: Quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta
trước và sau đổi mới
Trang 2Quy Nhơn, ngày 29 tháng 11 năm 2010
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu
Hiện nay, thế giới xung quanh ta luôn luôn biến chuyển trên tất cả mọi mặt của
cuộc sống Cho nên, để
Trang 4ầ n m ộ t:
Lý luận chung
1.1 Các khái niệm cơ bản:
1.1.1 Công nghiệp hóa:
Công nghiệp hóa có thể được hiểu một cách ngắn gọn là quá trình chuyển đổi từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, cải biến từ một xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp
Hay khái niệm này còn có thể được hiểu theo nghĩa: Công nghiệp hóa là hoạt động mở rộng tiến bộ của khoa học kĩ thuật với sự lùi dần của tính chất thủ công trong sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, đem lại một tính cách công nghiệp cho một hoạt động nào đó
Trước kia (khi máy dệt chưa ra đời), người dân phải dùng khung cửi để dệt vải, chất lượng và số lượng hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan con người (sức khỏe, tâm lý, công cụ,…) Ngày nay, vải được dệt ra trên dây chuyền có sự phân công và chuyên môn hóa cho từng công đoạn sản xuất, với quy trình hiện đại và kỷ luật người lao động được nâng cao
1.1.2 Hiện đại hóa:
Hiện đại hóa là quá trình cải biến một xã hội cổ truyền thành xã hội hiện đại diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của xã hội Có trình độ văn minh cao hơn, thể hiện không chỉ ở nền kinh tế phát triển với nhịp độ tăng sản phẩm tính trên đầu người mà còn là ở đời sống chính trị tinh thần của xã hội tạo ra những điều kiện thực để đưa xã hội đến trình độ văn minh, hiện đại góp phần thực hiện triệt để những giá trị những giá trị chung của nhân loại vào cuộc sống
Ví dụ như việc áp dụng công nghệ thông tin vào việc lưu trữ, quản lý và sử dụng
dữ liệu của doanh nghiệp, trường học, bệnh viện,…
1.1.3 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa:
Trang 5CNH – HĐH là việc phát triển sản xuất và quản lý kinh tế xã hội dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ của khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao Về bản chất CNH – HĐH có tính khách quan:
đại hóa, tức là áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quy trình sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm.
thay đổi công cụ lao động, tư liệu sản xuất theo hướng hiện đại hơn nhằm tăng năng suất lao động.
nghiệp sang văn minh công nghiệp, nói cách khác CNH – HĐH làm cho văn minh xã hội phát triển với chiều hướng ngày càng tiến bộ.
Gắn với tính tất yếu và khách quan của quá trình CNH – HĐH lần đầu tiên tại hội nghị Trung ương lần thứ 7 khóa VII (tháng 7-1994), Đảng ta đã có nhận thức mới
vê khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “CNH – HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiên đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
1.2 Tính tất yếu phải thực hiện CNH – HĐH ở nước ta:
CNH – HĐH là con đường phát triển tất yếu của tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới để tiến lên sản xuất hiện đại Đây là quá trình tạo nên phát triển nhảy vọt của LLSX cả về chất lượng và số lượng
Theo quan điểm CNML, cơ sở vật chất khoa học – kỹ thuật của CNXH phải là LLSX cao hơn CNTB, chỉ có dựa trên nền tảng của CNH thì mới tạo lập được thật sự đầy đủ những QHSX mới thì XHCN mới có điều kiện cơ bản để xấy dựng cơ sở cho
xã hội mới
Trang 6Do đó, C.Mác khẳng định: ” Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là chúng sản xuất bằng cách nào, với TLSX nào, các
tư liệu lao động không những là cái thước đó mà còn là chỉ tiêu của mối quan hệ xã hội”
Để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, trong lao động thủ công, người lao động phải mất một khoảng thời gian dài, sử dụng công cụ sản xuất thô sơ hơn so với thời kỳ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.
*Sau khi cách mạng tháng Tám(1945) thắng lợi chưa được bao lâu, thì đất nước lại phải trải qua cuộc kháng chiến 9 năm, nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề; chỉ có
nông nghiệp tăng trưởng rất chậm (tổng giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1955 so với năm 1939 tăng 23,9%, bình quân 1 năm tăng 1,3%, sản lựơng lúa chỉ tăng 318 nghìn tấn, đậu tương giảm 3,9 nghìn tấn, chè búp khô giảm 4,4 nghìn tấn, cao su tăng 4 nghìn tấn, lạc tăng 12,1 nghìn tấn, số lượng trâu tăng 210 nghìn con, bò tăng 114 nghìn con, lợn tăng 790 nghìn con ).
Còn công nghiệp bị sút giảm mạnh (năm 1955 so với năm 1939, giá trị tổng sản lượng công nghiệp giảm 60,1%, sản lượng xi măng giảm 14,4%, than giảm 74,4%, muối giảm 33,5%, rượu giảm 65,3% ).
Đứng trước tình hình nền kinh tế đất nước đang bị sa sút nghiêm trọng, yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng và Nhà nước là cần phải tiến hành CNH – HĐH để đưa Việt
Theo quan điểm của ĐCS Việt Nam, nước ta là một nước nông nghiệp vốn lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu nên dứt khoát phải tiến hành CNH, HĐH để tạo ra một trình độ phát triển mới về kinh tế - xã hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước có điều kiện củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc Tức là Đảng ta đã khẳng định tính tất yếu của CNH đối với công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta
Trang 7ầ n n ộ i dung:
Việt Nam với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
đấ t nước
2.1 Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới:
Trong bối cảnh đất nước bị chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị, xã hội, cũng như đường lối phát triển kinh tế khác nhau; Đồng thời, tình hình thế giới diễn biến phức tạp Do đó, nền kinh tế nước ta giai đoạn sau chiến tranh được nhận định là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề Vì thế, từ năm 1960, Đảng ta đã đưa ra đường lối phát triển kinh tế đất nước theo đường lối CNH
Căn cứ vào tình hình thực tế của đất nước mà quá trình công nghiệp hóa của nước ta thời kỳ này được chia ra làm hai giai đoạn:
2.1.1 Giai đoạn 1960 – 1975:
Đặc điểm nước ta trong giai đoạn này là: 1_từ một nền công nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH mà không trải qua giai đoạn phát triển TBCN; 2_trong điều kiện đất nước bị chia cắt, mỗi miền thực hiện một nhiệm vụ khác nhau, miền Bắc với vai trò của hậu phương lớn và sẵn sàng ứng phó với tình huống chiến tranh lan rộng ra miền Bắc, do đó, yêu cầu miền Bắc phải tiến hành phát triển công nghiệp nặng để đảm bảo cho mục tiêu hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn; 3_đồng thời, trong điều kiện các nước CNXH thực hiện CNH theo đường lối ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nên
đã viện trợ cho nước ta trong lĩnh vực này
Năm 1960, công nghiệp chiếm tỉ trọng 18,2% và 7% lao động xã hội, tương ứng nông nghiệp chiếm tỉ trọng 42,3% và 83%; Sản lượng lương/người dưới 300kg; GDP/người dưới 100USD Trong khi phân công lao động chưa phát triển và lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp, quan hệ xã hội đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và quốc doanh hóa là chủ yếu (đến năm 1960: 85,8% nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ
tư sản được cải tạo , gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp)
Trang 8Mặc dù, với các nước phát triển thì CNH bình thường được tiến hành CNH từ nông nghiệp đến công nghiệp nhẹ và kết thúc quá trình CNH là công nghiệp nặng; tuy nhiên, Việt Nam bắt đầu quá trình CNH với việc phát triển công nghiệp nặng là hoàn toàn hợp lý trong thời kỳ này Do đó, để trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhằm mục đích cơ giới hóa sản xuất để nâng cao năng suất lao động mà mục đích cuối cùng là đánh Mỹ cứu nước.
Ngay từ đầu quá trình CNH, Đảng ta đã xác định CNH XHCN là nhiệm vụ hàng đầu trong suốt thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước ta
Đại hội Đảng khóa III (9/1960) đã xác định mục tiêu căn bản của CNH XHCN
là xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của CNXH Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài và phải thực hiện qua nhiều giai đoạn
Công cuộc cải tạo XHCN đối với thủ công nghiệp và công thuơng nghiệp TBCN đã căn bản hoàn thành, công nghiệp quốc doanh ngày càng phát triển, vai trò chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được phát huy Tuy nhiên, nền kinh tế về cơ bản vẫn còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất và kỹ thuật trong nông nghiệp còn quá nhỏ yếu, công nghiệp nặng còn rất nhỏ bé, đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật và công nhân lành nghề còn quá ít ỏi…
Với nhận định tình hình CNH thời kỳ đầu như trên, tại Hội nghị trung ương 7 khóa III (4/1962) đã đề ra phương hướng chung về xây dựng và phát triển công nghiệp nước ta là:
Trong nền kinh tế, công nghiệp và nông nghiệp là hai bộ phận chủ yếu quan hệ mật thiết với nhau: công nghiệp mà trước hết là công nghiệp nặng giữ vai trò chủ đạo và nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp.
công nghiệp nặng,
Trang 9 Ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát triển công nghiệp địa phương; kết hợp xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ; kết hợp kỹ thuật hiện đại với kỹ thuật thô sơ.
Với những tiền đề vật chất cần thiết cho CNH còn hết sức hạn chế, cùng với cơ chế kế hoạch hóa tập trung và trong điều kiện có chiến tranh phá hoại Mặc dù vậy, quá trình CNH vẫn đạt được những kết quả quan trọng:
năm 1955 Với nhiều khu công nghiệp lớn đã được hình thành, đã có nhiều cơ
sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng quan trọng như: điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất được xây dựng
với năm 1965 Và cũng trong năm 1975, toàn ngành công nghiệp đã làm ra 55% tổng sản lượng công – nông nghiệp, 41,5% tổng sản phẩm xã hội, 28% thu nhập quốc dân và 91,5% giá trị hàng xuất khẩu
Trang 10Theo biểu đồ trên, ta thấy thu nhập của người nông dân cũng có sự thay đổi, thu nhập bình quân người/tháng từ ruộng đã dần được tăng lên, cụ thể giai đoạn 1961-1965 chiếm 51,3% đã tăng lên 52,4% ở giai đoạn 1971-1975.
năm 1969, đến năm 1975, có 96% các hợp tác xã vùng đồng bằng đã được trang
bị cơ khí, máy động lực tăng 7,3 lần, máy công tác tăng 16,6 lần; hệ thống thủy lợi được quan tâm đầu tư, giống mới được phổ biến rộng rãi
nghề hình thành và phát triển, đào tạo lực lượng cán bộ khoa học - kỹ thuật và lao động có trình độ tay nghề cao
2.1.2 Giai đoạn 1976 – 1986:
Sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước một cơ hội mới để xây dựng và phát triển kinh tế vì tiềm năng kinh tế của hai miền bổ sung cho nhau và có thuận lợi cơ bản là có hoà bình Song do xuất phát điểm của nền kinh tế quá thấp hậu quả chiến tranh nặng nề, cùng với những hạn chế trong việc tận dụng thời cơ, hạn chế của cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và những vấp ngã, sai lầm trong chính sách
kinh tế, đặc biệt “ giá – tiền – lương” (bao cấp về giá – bao cấp theo chế độ cấp phát vốn – tiền lương tượng trưng), nên cuộc khủng hoảng tiềm ẩn những năm 80 và bùng
phát từ những năm 1985
Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện đặc điểm, tình hình trong nước và quốc
tế, Đại hội IV của Đảng (12/1976) đề ra đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
Trang 11và Đại hội V (3/1982) đã có sự sửa đổi để xác định đúng bước đi của công nghiệp hoá cho phù hợp với mục tiêu và khả năng của mỗi chặng đường.
Đại hội IV của Đảng (12/1976) chủ trương lần thứ 1 (1976 – 1980) “ Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất” Đường lối này nhất trí với những nhận thức cơ bản về công nghiệp hoá ở miền Bắc trước đây đồng thời có sự phát triển thêm
Tuy nhiên kết quả sản xuất trong 5 năm 1976 – 1980 chưa tương xứng với sức lao động và vốn đầu tư bỏ ra; sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng của xã hội; thị trường vật giá tài chính chưa ổn định; đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn; lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của nhà nước giảm sút Bởi thế ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1981 -1985) nhiều nghị quyết
và quyết định quan trọng của Đảng và Chính phủ được ban hành Trong đó có:
khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động – đánh dấu sự đổi mới một
bước cơ chế quản lí kinh tế nhà nước
phát huy quyền chủ động sản xuất – kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốc doanh
lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh của nhà nước
Nhằm từng bước sửa đổi cơ chế quản lý đối với kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế tư nhân và xoá bỏ quan liêu bao cấp Trước đó, từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắc tồn tại 3 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể và cá thể; miền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh , tập thể, công tư hợp doanh, tư bản
tư nhân và cá thể Đó là bước đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường
Trang 12Từ thực tiễn Đảng ta rút ra kết luận: đi lên từ một nền sản xuất nhỏ, nhưng điều quan trọng là phải xác định đúng bước đi của công nghiệp hoá cho phù hợp với mục tiêu và khả năng của mọi chặng đường
Với cách đặt vấn đề như trên, Đại hội lần thứ V của Đảng (3/1982) đã xác định trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Đại hội V coi đó là nội dung chính của công nghiệp hoá trong chặng đường trước mắt
Từ đó, Hội nghị ban chấp hành trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình “giá – tiền – lương” (9/1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Trong 5 năm 1976 – 1980 trên mặt trận kinh tế nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng:
Mĩ gây ra và cuộc chiến tranh biên giới;
thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá, củng cố kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể ở miền bắc;
đưa một bộ phận nông thôn nam bộ, nông dân nam trung bộ vào con đường làm
ăn tập thể;
dân
Kết quả cho thấy: giai đoạn 1976 – 1978, sản xuất công nghiệp phát triển đều đặn; năm 1978, phát triển cao nhất, tăng 18,2% so với năm 1976 sau đó tụt xuống, năm 1980 so với năm 1976 giảm còn 2,5% Bình quân hàng năm thời kỳ 1976 – 1980 chỉ tăng 0,6% So với chỉ tiêu Đại hội IV đề ra, cơ khí chỉ đạt 80%, điện 72%, than 52%, gỗ tròn 45%, cá biển 40%, vải lụa 39%, giấy 37%, xi măng 32%, phân hoá học
Trang 1328% Như vậy, kết thúc kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung không những không tiến thêm được bao nhiêu, mà trái lại còn bộc lộ nhiều yếu kém, nhất là mất cân đối nghiêm trọng trong quan hệ cung cầu về một
số mặt hàng quan trọng như năng lượng, nhiên liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu.
Từ năm 1981 – 1985, nhờ những điều chỉnh quan trọng về nội dung, bước đi của CNH và bước đầu tháo gỡ những rào cản của cơ chế quản lý kinh tế, cho nên nền kinh tế nước ta trong những năm 1981 – 1985 đã có bước chuyển biến mới cả trong
nông nghiệp và công nghiệp( GDP bình quân trong những năm này tăng 5,5%) Cơ
chế kinh tế bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp hơn với tình hình kinh tế đất nước trong chặn đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH
Biểu đồ biểu diễn thu nhập các ngành và sự tăng trưởng thu nhập quốc dân
giai đoạn 1977 – 1986.
2.1.3 Những đặc trưng chủ yếu của công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới:
Nhìn chung trong thời kỳ này, chúng ta đã nhận thức và tiến hành công nghiệp hoá theo kiểu cũ với các đặc trưng chủ yếu:
về phát triển công nghiệp nặng
Trang 14 Công nghiệp hoá chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động tài nguyên, đất đai
và nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa; chủ lực thực hiện công nghiệp hoá là nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hoá được thực hiện thông qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp không tôn trọng các quy luật của thị trường
quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội
2.1.4 Ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân:
2.1.4.1 Ý nghĩa:
Trong điều kiện đi lên từ điểm xuất phát rất thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, thì những kết quả trên có ý nghĩa quan trọng bởi vì nó đã tạo ra cơ sở ban đầu để Việt Nam phát triển nhanh hơn trong giai đoạn sau
2.1.4.2 Hạn chế và nguyên nhân:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công nghiệp hóa thời kì trước đổi mới còn nhiều hạn chế
then chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa đủ sức làm nền tảng vững chắc cho nền kinh tế quốc dân
nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội đất nước vẫn trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội
Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân:
Về khách quan, chúng ta tiến hành công nghiệp hóa từ một nền kinh tế lạc hậu,
nghèo nàn và trong điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề vừa không thể tập trung sức người, sức của cho công nghiệp hóa
Về chủ quan, chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định
mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất, kĩ thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, vv…Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý chí trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa
2.2 Quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta về sự nghiệp công nghiệp hóa:
Trang 152.2.1 Những sai lầm được rút ra từ Đại hội VI thời kỳ trước đổi mới:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kì 1960-1985 mà trực tiếp
là 10 năm từ 1975-1985 Đó là:
dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, vv… Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa đủ các điều kiện cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
thường xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải quyết về căn bản vần đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp
chưa thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
2.2.2 Quá trình đổi mới tư duy của Đảng sau Đại hội VI(12/1986):
Từ việc nhận ra những sai lầm đó, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994) Đảng ta đã có những bước đột phá trong nhận thức về CNH Bước đột phá này trước hết thể hiện trong nhận thức về khái niệm CNH - HĐH: “CNH – HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế, xã hội hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp
và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động cao”
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) nhìn lại đất nước sau mười năm đổi mới đã có nhận thức quan trọng: nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kì quá độ là chuẩn bị tiền đề cho CNH đã cơ bản hoàn
Trang 16thành, cho phép chuyển sang thời kì đổi mới, đẩy nhanh CNH – HĐH đất nước Đại hội tiếp tục khẳng định quan niệm về CNH – HĐH nêu ra ở Hội nghị trung ương 7 khóa VII
Đại hội đã nêu ra 6 quan điểm về CNH – HĐH trong những năm còn lại của thập
kỉ 90, thế kỉ XX Các quan điểm và định hướng này đến nay cơ bản vẫn đúng và có giá trị chỉ đạo thực tiễn:
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại,
đó nền kinh tế Nhà nước là chủ đạo(theo đúng định hướng),
triển nhanh và bền vững,
phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ,
Cùng với 6 quan điểm trên, Đại hội còn đưa ra 5 yếu tố phát triển kinh tế bao gồm: vốn, khoa học công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế, thể chế chính trị; và 6 nội dung cơ bản của CNH – HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 90 như sau:
Đến đại hội IX (4/2001) và Đại hội X (4/2006) Đảng ta tiếp tục bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về CNH:
Trang 17Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn so với các nước đi trước – Đây là yêu cầu cấp thiết của nước ta để sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới trong điều kiện tận dụng những kinh nghiệm, kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận dụng xu thế của thời đại trong hội nhập kinh tế quốc tế để rút ngắn thời gian
Tuy nhiên, tiến hành công nghiệp hóa theo kiểu rút ngắn so với các nước đi trước, chúng ta cần thực hiện các yêu cầu như: phát triển kinh tế và công nghệ phải có những bước trình tự, vừa có bước nhảy vọt; phát huy những lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế tri thức; phát huy nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam, đặc biệt coi trọng sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, xem đây là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa
Hướng CNH – HĐH ở nước ta là phải phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu
CNH – HĐH đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành CNH trong một nền kinh tế mở và hướng ngoại
Đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn hướng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, sản phẩm nông nghiệp
Hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nước ta là phải phát triển nhanh và có hiệu quả các sản phẩm, các ngành, các lĩnh vực có lợi thế, đáp ứng nhu cầu trong nước
và xuất khẩu
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải đảm bảo xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tức là phải tiến hành công nghiệp hóa trong nền kinh tế mở, hướng ngoại
Đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hướng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, sản phẩm nông nghiệp
2.3 Công nghiệp hóa thời kỳ đổi mới:
2.3.1 Mục tiêu của CNH-HĐH ở nước ta trong thời kì đổi mới:
Trang 18Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, văn minh
Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất…
Hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại
Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể
*Đại hội VI:
Ta đặt ra mục tiêu cụ thể là: sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ; tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh Thực hiện bằng được ba chương trình mục tiêu: lương thực-thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
*Đại hội VII:
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI Tổng sản phẩm trong nước (GDP) đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990
Mục tiêu này bao gồm những nội dung dưới đây:
Một là, vượt qua những khó khăn gay gắt trước mắt, ra khỏi khủng hoảng, ổn
định tình hình kinh tế - xã hội Đẩy lùi và khống chế lạm phát, ổn định và phát triển
Trang 19sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân, thu hẹp chênh lệch trong thanh toán quốc tế; chấm dứt tình trạng xuống cấp về giáo dục, văn hoá, y tế, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, hình thành đồng bộ cơ chế thị trường; chỉnh đốn và nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước, chống tham nhũng, thiết lập trật tự,
kỷ cương trong kinh tế và xã hội Nhiệm vụ này là trọng tâm của kế hoạch 5 năm 1991-1995
Hai là, phấn đấu xoá nạn đói, giảm số người nghèo khổ, giải quyết vấn đề việc
làm, bảo đảm các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của nhân dân, tăng dần tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, thu hút nhiều nguồn lực bên ngoài; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, chuyển dịch rõ rệt cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
Ba là, củng cố và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục
và đào tạo, nâng cao dân trí, năng lực khoa học và công nghệ đáp ứng nhu cầu của những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai
Bốn là, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh trong tình hình mới, bảo đảm trật
tự, an toàn và môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác cho sự nghiệp phát triển kinh tế
Đại hội VIII
Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Lực lượng sản xuất đến lúc đó sẽ đạt trình độ tương đối hiện đại, phần lớn lao động thủ công được thay thế bằng lao động sử dụng máy móc, điện khí hóa cơ bản được thực hiện trong cả nước, năng suất lao động xã hội và hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn nhiều so với hiên nay Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng từ 8 đến
10 lần so với năm 1990
Trang 20Về quan hệ sản xuất, chế độ sở hữu, cơ chế quản lý và chế độ phân phối gắn kết với nhau, giải phóng sức sản xuất, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, thực hiện công bằng xã hội
Kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỉ trọng đáng kể
Về đời sống vật chất và văn hóa, nhân dân có cuộc sống no đủ, có nhà ở tương đối tốt, có điều kiện thuận lợi về đi lại, học hành, chữa bệnh, có mức hưởng thụ văn hóa khá Quan hệ xã hội lành mạnh, lối sống văn minh; phát huy những giá trị cao đẹp
và truyền thống vẻ vang của dân tộc
Kế hoạch 5 năm 1996-2000 được xây dựng trên cơ sở quán triệt những tư tưởng chỉ đạo sau đây :
hóa với nhịp độ tăng trưởng cao, bền vững và có hiệu quả; ổn định vững chắc kinh tế vĩ mô; chuẩn bị các tiền đề cho bước phát triển cao hơn sau năm 2000, chủ yếu là phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hoàn thiện thể chế
thành phần, phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
giải quyết những vấn đề bức xúc nhằm tạo được chuyển biến rõ về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
quả sử dụng các nguồn lực vừa phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế vừa phục
vụ quốc phòng, an ninh
Trang 21 Năm là, kết hợp phát triển các vùng kinh tế trọng điểm với các vùng khác, tạo điều kiện cho các vùng đều phát triển; phát huy lợi thế của mỗi vùng, trách chênh lệch quá xa về nhịp độ tăng trưởng giữa các vùng.
Trong 5 năm tới, chúng ta tập trung sức cho mục tiêu phát triển, đạt tốc độ tăng GDP bình quân hằng năm 9 - 10%; đến năm 2000 GDP bình quân đầu người gấp đôi năm 1990 Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 14-15%/năm, nông nghiệp 4,5
- 5%, dịch vụ 12 - 13% và trong chỉ đạo thực hiện phải tranh thủ mọi khả năng mới, phấn đấu đạt cao hơn
Đại hội IX:
Mục tiêu tổng quát đề ra là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo nhiều việc làm; cơ bản xoá đói, giảm số hộ nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội Tiếp tục tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia
Mục tiêu tổng quát nêu trên được cụ thể hoá thành định hướng phát triển và các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
năm trước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo
chủ đạo; củng cố kinh tế tập thể; hình thành một bước quan trọng thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, tăng nhanh hàm lượng công nghệ trong sản phẩm