1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng áp dụng Hợp đồng lao động và hướng giải quyết

12 502 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng áp dụng hợp đồng lao động và hướng giải quyết
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 117,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các bên tưởng rằng mình có thẩm quyền ký kết HĐ nhưng thực ra không phải.

Trang 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, cùng với việc nhận thức sâu sắc xu thế và yêu cầu chung của

thời đại, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương thực hiện chính

sách đối ngoại rộng mở, “đa dạng hóa”, “đa phương hoá”, “sẵn

sàng làm bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng

đồng quốc tế”

Liên hiệp châu Âu (European Union — EU) là một thực thể

liên minh khu vực lớn, rất cần tới sự hợp tác của các nước châu Á

nói chung, Việt Nam nói riêng

Việt Nam quan hệ hợp tác toàn diện với EU trở thành nhu cầu

tất yếu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam — EU

thời kỳ 1990-2004 không chỉ mang ý nghĩa khoa học, mà còn đáp

ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chính sách đối ngoại của Việt

Nam Từ kết quả nghiên cứu cho phép chúng ta rút ra những bài

học kinh nghiệm, thấy được những khó khăn, cản trở trong quá khứ,

để có những giải pháp đúng, chủ trương chính sách phù hợp nhằm

phát huy thành tựu, thúc đẩy quan hệ hợp tác có hiệu quả hơn trong

hiện tại và tương lai

Mặt khác, từ trước đến nay, việc nghiên cứu mối quan hệ này

của các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam còn rất ít, đặc biệt là

quan hệ Việt Nam - EU trong giai đoạn những năm cuối thế kỷ

XX, đầu thế kỷ XXI Những công trình nghiên cứu chỉ mới dừng lại

ở mặt này hay mặt khác của mối quan hệ, mà chưa đi sâu, cập nhật

một cách toàn diện và có hệ thống Chúng ta cần phải tiếp cận các

vấn đề liên quan đến quá trình hội nhập quốc tế và khu vực mang

tính lợi ích của Việt Nam một cách khách quan, tổng quát trên những cơ sở khoa học thực sự, góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách, tiếp tục đưa quan hệ Việt Nam - EU ngay càng phát triển Đó là trách nhiệm đặt ra cho các nhà nghiên cứu lịch sử hiện nay

Từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên với mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu này, chúng tôi quyết định chọn vấn đề : “Quan hệ Việt Nam — Liên hiệp châu Âu (1990

— 2004)”

2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Trong thập niên 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu châu

Âu được đặt ra với giới nghiên cứu ở các nước châu Á nói chung, Đông Nam Á nói riêng Các tổ chức nghiên cứu châu Âu ở các nước ASEAN đã nhiều lần họp mặt (1997, 1999) bàn đến sự hợp tác giữa các tổ chức và các nước trong việc thực hiện triển khai nghiên cứu châu Âu Nghiên cứu châu Âu đã trở thành một bộ môn khoa học (European Studf&s) thuộc chuyên ngành khu vực học (Area studies)

Các tổ chức chuyên nghiên cứu châu Âu chủ yếu tập trung khai thác về quá trình liên kết châu Âu, sự hình thành và tiến trình

mở rộng EU dưới các góc độ khác nhau Ví dụ các công trình: “Mở rộng thành viên của Liên minh chau Au” (Expanding Membership

of the European Union, 1995) cua Richard E Baldwin, Pertti

Haaparanta va Jaakko Kiander, “Hội nhập châu Âu: mối đe dọa các nền kinh tế chuyển đổi” (Integrating Europe: The Transition Economics at Stake, 1996) của Jozef M van Brabant, “Sự chuyển đổi ở Trung và Đông Âu: quan hệ EU với những nước kém phát trién” (Transition in Central and Eastern Europe: Implications for

Trang 2

EU-LDC Relatons, 1996) của Arie Kuyvenhoven, Olga

Memedovic va Nico van der Windt, “Trung, Đông Âu trên con

đường tới Lién minh chau Au” (Central and Eastern Europe on its

Way to European Union, 1999) của Raymond Courbis va

Wladyslaw Welfe, “Đẩy lùi biên giới: Liên minh châu Âu và

Trung, Đông Âu” (Pushing back the Boundaries: The European

Union and Central and Eastern Europe, 1999) của Mike Mannin,

“Mở rộng Liên minh châu Âu sang phía Đông và cuộc khủng

hoảng chuyển giao của Nga” (The EU Eastern Enlargement and

the Russian Transformation Crisis, 1999) cla Paul J.J Welfens,

“Xlôvenia: Chuyển đổi kinh tế và tiếp cận Liên minh châu Âu”

(Slovenia: Economic Transformation and EU Accession, 1999) của

World Bank, “Sự mở rộng của Liên minh châu Âu: Những vấn đề

và chiến lược” (The Enlargement of the European Union: Issues

and Strategies, 1999) của Vitoria Curzon Price, Alice Landau và

Richard G Whitma, “Liên minh châu Âu: Cấu trúc và cơ chế”

(The European Union: Structure and Process, 2000) của Clive

Archer, “Kinh tế chính trị trong cạnh tranh ở châu Âu mở rộng”

(The Political Economy of Competitiveness in an Enlarged Europe,

2001) của Julie Pellegrin, “Mở rộng sang hướng Đông của Liên

minh châu Âu” (The Eastern Enlargement of the EU, 2001) của

Marek Dabrowski va Jacek Rostowski, “Dam phan vé chau Au

mới: Liên minh châu Âu và Đông Au” (Negotiating the New

Europe: the European Union and Eastern Europe, 2002) của

Dimitris Papadimitriou và “Mở rộng Liên minh châu Âu sang các

nước Trung và Đông Âu: Cạnh tranh thương mại, địa phương hóa

sản phẩm và những tác động tới các nền kinh tế trong liên minh”

(EU Enlargement to the CEECs: Trade Competition,

Delocalisation of Production, and Effects on the Economies of the Union, 2002) cua Salvatore Baldone, Fabio Sdogati va Lucia

Tajolt

Theo hiểu biết của chúng tôi, đến nay hầu như chưa có công trình nào của các nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về quan hệ của Việt Nam với Liên hiệp châu Âu

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu châu Âu như là một chuyên

ngành khoa học (European Studies) tập trung chủ yếu ở Trung tâm nghiên cứu châu Âu thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia, nay là Viện nghiên cứu châu Âu thuộc Viện khoa học Xã

hội Việt Nam, còn ở Vụ châu Âu thuộc các Bộ ngoại g1ao, thương

mại và ở một số cơ quan khác, châu Âu được nghiên cứu ở các góc

độ chuyên biệt hơn Có thể điểm các công trình tiêu biểu đã được công bố như sau :

I- Sách Liên minh châu Âu của tác giả Đào Huy Ngọc, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 1995 Nội dung của công trình này tập trung trình bày quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức, hoạt động của EU Đây là cuốn sách có giá trị giúp cho người đọc hiểu khái quát về tổ chức này

2- Sách Quan hệ Việt Nam - Liên minh châu Âu của tác giả Trần Thị Kim Dung, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội -

2000 Công trình được hình thành trên cơ sở luận án tiến sĩ bảo vệ năm 1999, Có thể nói trong các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, dường như đây là công trình sử học đầu tiên nghiên

cứu khá toàn diện quan hệ Việt Nam - EU cho đến thời điểm 1998,

do đó công trình này gần gủi với luận án của Nghiên cứu sinh hơn

cả và chúng tôi đã được kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình này như phương pháp tiếp cận vấn đề, những kết quả bước đầu của

Trang 3

mối quan hệ EU - Việt Nam như đã được chỉ rõ trong các ghi chú

của luận án Tuy nhiên công trình nghiên cứu của tác giả Trần Thị

Kim Dung được hình thành trên cơ sở một luận án tiến sĩ đã bảo vệ

thành công năm 1999, nên có sự khác nhau cơ bản về thời đoạn

nghiên cứu, về chủ thể nghiên cứu, về bối cảnh quốc tế, khu vực

trong giai đoạn nghiên cứu Luận án thuộc chuyên ngành lịch sử

thế giới nên việc nghiên cứu chủ thể của mối quan hệ là EU Do đó

tác giả đã giành hắn một chương để trình bày quá trình hình thành

phát triển của EU và quan hệ của EU với Mỹ, châu Á Quan hệ

Việt Nam - EU được tác giả trình bày một cách khái quát trên các

lĩnh vực chính trị, thương mại, đầu tư, hợp tác viện trợ trong thời

gian từ năm 1990 đến năm 1998 Cũng từ góc độ lấy EU là chủ thể

do đó tác giả đã đi sâu phân tích quan hệ của từng nước thành viên

EU với Việt Nam

3- Sách “Thúc đẩy quan hệ thương mại —- đầu tư giữa Liên

Hiệp châu Âu và Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XX - đầu

thế kỷ XXI”, của tác giả Bùi Huy Khoát (chủ biên), Nhà xuất ban

Khoa học xã hội — 2001 Công trình này đã làm rõ hơn những cơ

hội và thách thức mà sự liên kết kinh tế - tiền tệ của EU đang tạo

ra trước nền kinh tế Việt Nam trong bối cảnh vượt qua ảnh hưởng

tiêu cực của khủng hoảng kinh tế (1997), để tiếp tục thực hiện công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm đầu thế kỷ

XXI

4- Sách “Mở rộng EU và các tác động đối với Việt Nam”, được

biên soạn bởi các tác giả Carlo Filippini, Bùi Huy Khoát, Stefan

Hell, Nha xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội — 2004 Các bài viết

tập trung phân tích quá trình mở rộng của EU và ý nghĩcủa lần mở

rộng thứ năm ( 2004) trong tiến trình phát triển của EU

5- Nhiều bài nghiên cứu về một số mặt có liên quan đến EU hoặc đến mối quan hệ của EU với các đối tác đã được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu quốc tế Tuy nhiên trong quy mô của một bài viết chưa nêu việc nghiên cứu toàn diện mối quan hệ này trong những năm gần đây

Nhu vay, quan hệ Việt Nam — Liên hiệp châu Âu cần được tiếp tục nghiên cứu trong hiện tại và tương lai Chúng tôi cố gắng góp một phần làm đầy thêm, phong phú thêm những tri thức về mối quan hệ Á — Âu nói chung, quan hệ Việt Nam — EU nói riêng, bằng một đề tài nghiên cứu tương đối có hệ thống và toàn diện về mối quan hệ Việt Nam — Liên hiệp châu Âu trong thời kỳ 1990 -

2004

3 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Muc dich nghién cttu Thông qua việc trình bày lịch sử hình thành và phát triển quan

hệ Việt Nam - EU, luận án trình bày tổng quát thực trạng của mối quan hệ này trong thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế

kỷ XXI, chỉ ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế, phân tích những cơ hội, thách thức, bài học kinh nghiệm và những

xu hướng, triển vọng của quan hệ

Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi mạnh dạn đề xuất làm cơ sở cho việc đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện quan hệ Việt Nam — EU trong thời gian tới

3.2 Nhiém vu nghién ctu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 4

Thứ nhất, phân tích bối cảnh quốc tế và khu vực hai thập niên

cuối thế kỷ XX, đầu XXI, để thấy rõ những tác động của thế giới

và khu vực đến sự phát triển quan hệ Việt Nam - EU Tập trung

làm sáng rõ tiến trình đổi mới tư duy, triển khai đường lối đối ngoại

“đa dạng hoá”, “đa phương hoá” quan hệ quốc tế, của Đảng và

nhà nước Việt Nam

Thứ hai, phục dựng lại tiến trình quan hệ Việt Nam - EU thời

kỳ trước năm 1990, phân tích nguyên nhân của thực trạng ấy Qua

đó làm rõ những cơ sở nền tảng và quá trình phát triển quan hệ

Việt Nam - EU trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa

học và công nghệ, giáo dục- đào tạo, y tế, du lịch, v.v trong thời

kỳ thời kỳ 1990 —- 2004 và đây là trọng tâm của luận án

Thứ ba, từ việc nghiên cứu, rút ra bài học kinh nghiệm, dự báo

triển vọng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ

Việt Nam - EU trong thập niên đầu thế kỷ XXI

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam-EU trong sự tác động

của tình hình thế giới và khu vực, sự điều chỉnh chiến lược, sách

lược, biện pháp cụ thể trong chính sách đối ngoại của Đảng cộng

sản Việt Nam và Chiến lược mới hướng về châu Á, Đông Nam Á

trong đó có Việt Nam của EU Luận án xem xét mối quan hệ này

dưới góc độ Việt Nam với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và

chủ thể của đối tượng nghiên cứu, BU được xem xét như một khối

liên kết chứ không nghiên cứu riêng rẽ theo từng nước

4.2 Phạm vị nghiên cứu

Về phạm vi thời gian, giới hạn đề tài này bắt đầu từ năm 1990

đến năm 2004, dựa trên lý do căn bản là:

Năm 1990, Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới đề ra tại Đại hội VI của Đảng (1986) được 5 năm.Việt Nam đã phá vỡ được sự

cô lập về ngoại giao và bao vây kinh tế của các nước phương Tây kéo đài hơn mười năm bởi “vấn đề Campuchia” (1979 - 1989) Sự chủ động khai thông quan hệ với các nước trong khu vực và phương Tây đã dẫn đến kết quả to lớn của ngoại giao Việt Nam là ngày 22 tháng 10 năm 1990, Việt Nam và EU thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức, mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ Việt Nam - EU Phạm vi thời gian nghiên cứu dừng lại ở năm 2004, là thời điểm quan hệ Việt Nam - EU đã đạt được tầm cao mới trên mọi

lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa

học, công nghệ v v Đặc biệt tháng 10 năm 2004, Việt Nam đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ASEM V thành công “Một nửa thế giới” đã đến với Việt Nam thông qua Hội nghị này Cuộc họp giữa Việt Nam với các nhà lãnh đạo EU bên lề sự kiện này đã tăng cường hơn nữa các mối quan hệ song phương Việt Nam — EU Ngoài ra, trong năm 2004, EU thực hiện mở rộng lần thứ năm tăng thêm 10 quốc gia gia nhập, sự kiện này có tác động không nhỏ đến

quan hệ Việt Nam — EU

Về không gian, được xác định cụ thể là nghiên cứu toàn diện mối quan hệ Việt Nam - EU

Việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam - EU trong phạm vi thời gian và không gian nói trên, được đặt trong sự tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến mối quan hệ trên các lĩnh vực: Kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo và khoa học kỹ

thuật

Trang 5

5 CO SO LY LUAN VA PHUONG PHAP NGHIEN CUU

5.1 Cơ sở lý luận của luận án

Luận án dựa trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng

sản Việt Nam về quan hệ quốc tế Trọng tâm là dựa vào chủ nghĩa

duy vật lịch sử để giải quyết các vấn đề mang tính lý luận đặt ra

trong quá trình thực hiện đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu của luận dn

Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin,

luận án kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic,

các phương pháp chuyên ngành, liên ngành

Dựa vào phương pháp lịch sử, luận án dựng lại toàn bộ quá

trình lịch sử quan hệ Việt Nam - EU qua những sự kiện, dấu mốc

và các giai đoạn phát triển đa dạng của mối quan hệ dưới tác động

của tình hình thế giới, khu vực, và sự phát triển, đổi mới chính sách

đối ngoại của Đảng cộng sản Việt Nam, làm nổi bật tính lịch sử

của luận án

Trên cơ sở của bức tranh lịch sử toàn cảnh, phương pháp logic

vạch ra bản chất của mối quan hệ Việt Nam - EU, một biểu hiện

sinh động cho phương châm đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá

quan hệ quốc tế của Đảng và nhà nước Việt Nam Rút ra những

đặc điểm, chiều hướng phát triển của mối quan hệ Việt Nam - EU,

đảm bảo tính khoa học của luận án

Luận án nghiên cứu lịch sử mối quan hệ Việt Nam - EU nên

Nghiên cứu sinh đã vận dụng các phương pháp của các khoa học có

liên quan như phương pháp nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là những

phương pháp của khoa học quan hệ quốc tế như phương pháp phân

tích lịch sử, phương pháp phân tích tổng thể và toàn cục, phương

pháp so sánh lực lượng, phương tháp phân tích giai cấp Luận án còn sử dụng các phương pháp diễn dịch, quy nạp, hệ thống - cấu trúc và các phương pháp khác

5.3 Tài liệu sử dụng

Để thực hiện được đề tài này, chúng tôi dựa vào và sử dụng các nguồn tài liệu sau đây:

- Các văn kiện ngoại giao của Chính phủ Việt Nam, EU, Ủy ban châu Âu (EC) và chính phủ các nước thành viên EU do văn phòng ngoại giao của các nước này xuất bản (như các văn bản, hiệp định ký kết song phương, các số liệu )

- Các bài phát biểu, các báo cáo, tuyên bố, của những người đứng đầu chính phủ và một số quan chức ngoại giao của Việt Nam

và các nước (như các bài trả lời phỏng vấn và phát biểu của Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Mạnh Cầm, phát biểu của chủ tịch Ủy ban châu Âu, Báo cáo của Ủy ban châu Âu V V

- Các tài liệu của Thông tấn xã Việt Nam

- Những kết quả nghiên cứu về quan hệ quốc tế của các cơ quan như Viện nghiên cứu châu Âu, Viện kinh tế và chính trị thế giới thuộc Viện KHXH Việt Nam, Viện Quan hệ quốc tế thuộc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ., của các hội thảo khoa học về những vấn đề có liên quan đến đề tài

- Các ấn phẩm như sách báo, tạp chí bằng tiếng Anh của một

số nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới

- Một số bài viết được đăng trên các báo, tạp chí tiếng Việt có liên quan đến đề tài như tạp chí Nghiên cứu châu Âu, tạp chí Nghiên cứu quốc tế, tạp chí Những vấn đề Kinh tế thế giới

Trang 6

- Chúng tôi cũng sử dụng và kế thừa trên một mức độ nhất định

những thành quả nghiên cứu đã được công bố của các nhà khoa học

đã nghiên cứu trước những vấn đề có liên quan Đặc biệt chúng tôi

đã kế thừa một số kết quả nghiên cứu từ luận án của Tiến sĩ Trần

Thị Kim Dung trước hết ở các mặt tư liệu tổng hợp của thời kỳ

1990 - 1998 như đã nêu ở mục 2

6 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Luận án là công trình khoa học có hệ thống nghiên cứu toàn

diện về quan hệ Việt Nam —- EU trong khoảng thời gian từ khi thiết

lập mối quan hệ chính thức cho đến năm 2004 Nghiên cứu sinh đã

lựa chọn và xử lý về cơ bản một khối lượng lớn tư liệu để trình bày

mối quan hệ và rút ra nhận xét đánh giá về sự hình thành và phát

triển của mối quan hệ Việt Nam - EU từ năm 1990 đến năm 2004,

trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giáo dục - đào

tạo, khoa học kỹ thuật, môi trường, y tế, du lịch

- Luận án đã phân tích làm rõ: sự gặp nhau giữa đường lối đối

ngoại đổi mới “đa phương hoá, đa dạng hoá” của Đảng Cộng sản

Việt Nam với mục tiêu chiến lược của EU hướng về châu Á và

Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, đã tạo cơ sở thuận lợi để thúc

đẩy sự phát triển quan hệ toàn diện giữa Việt Nam với EU

- Luận án trình bày quan hệ Việt Nam —- EU một cách có hệ

thống, khoa học; từ đó nêu lên những đặc điểm của mối quan hệ;

đúc kết những bài học kinh nghiệm; làm rõ những cơ hội, thách

thức; dự báo về triển vọng và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc

đẩy mối quan hệ tiếp tục phát triển

- Luận án có thể dùng làm tài liệu để học tập, giảng dạy, tham

khảo cho những nhà nghiên cứu về châu Âu và các ngành có liên

quan

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

án gồm 3 chương

Chương I: Quan hệ Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu thời kỳ trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (1990)

Chương II: Quan hệ Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu thời kỳ

1990 - 2004

Chương III: Bài học kinh nghiệm triển vọng và một số giải pháp nhằm phát triển quan hệ Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu

CHƯƠNG I

QUAN HE VIET NAM - LIEN HIEP CHAU AU THOI KY TRƯỚC KHI THIẾT LẬP QUAN HỆ NGOẠI GIAO CHÍNH

THỨC (10/1990)

1.1 Quan hệ quốc tế của Việt Nam trước thập niên 90 1.1.1 Vài nét về truyền thống ngoại giao của Việt Nam Việt Nam là một quốc gia dân tộc hình thành rất sớm, Ngoại

giao Việt Nam được hun đúc từ tính hoa văn hoá của dân tộc Việt

Nam đã tạo nên truyền thống ngoại giao: khoan dung, hoà hiếu và nhân nghĩa Lịch sử ngọai giao của cha ông ta đã để lại kho tàng kinh nghiệm vô giá trong quan hệ đối ngoại Truyền thống đó được

kế thừa và phát triển lên một tầm cao trong quan hệ quốc tế thời đại Hồ Chí Minh

1.1.2 Quan hệ quốc tế của Việt Nam 1975 - 1985

Từ 1975-1977,Việt Nam tăng cường quan hệ đối ngoại, mở

rộng thêm quan hệ ngoại giao với 23 nước trên thế giới

Sang năm 1978, Việt Nam đã phải đối mặt với thử thách mới nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế Việt Nam phải xử lý “vấn đề Campuchia” có liên quan đến ba mối quan hệ đan xen là ASEAN,

Trang 7

Trung Quốc, Mỹ Trong suốt cả thập kỷ 80 “Vấn đề giải toả tình

trạng căng thẳng, đối đầu, thù địch giữa các nước để tiến tới thiết

lập quan hệ hữu nghị, hợp tác là hết sức quan trọng và cấp bách đối

với cách mạng nước ta” Nhận thức đúng những diễn biến mới của

tình hình quốc tế và trong nước, Đảng cộng sản Việt Nam đã đưa ra

những quyết định có ý nghĩa quan trọng về đổi mới tư duy, nhận

thức đối ngoại trong giai đoạn sau

1.1.3 Đổi mới tư duy đối ngoại của Việt Nam

Trong bối cảnh thế giới, khu vực có nhiều biến động, Đại hội

VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(1986) khởi xướng nội dung đổi

mới tư duy đối ngoại, tiến triển qua các Nghị quyết Trung ương

(1988, 1989, 1990), đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong nhận

thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại của Đảng cộng sản Việt

Nam Đặt cơ sở nền tảng cho đường lối đối ngoại rộng mở đa

phương hóa, đa dạng hóa ở giai đoạn sau Từ sự đổi mới nhận thức

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương tăng cường quan hệ với

các nước tư bản trong đó có EU trên cơ sở hai bên cùng có lợi

1.2 Liên hiệp châu Âu - Đối tác quan hệ với Việt Nam

1.2.1 Vài nét về quá trình hình thành Liên hiệpchâu Au

Sự ra đời của Liên hiệp châu Âu : là một quá trình lịch sử phát

triển lâu dài, đầy cam go, thử thách Từ tổ chức liên kết ban đầu

ECSC chỉ bó gọn với 6 nước, ra đời năm 1951, EU đã liên tục phát

triển và không ngừng mở rộng, trở thành EC-12 (1986), EU-I5

(1995) và trở thành EU-25 (2004)

Con đường đi tới một liên hiệp châu Âu thống nhất không phải

là con đường bằng phẳng, thẳng tấp, nhưng là con đường đi lên từ

thấp đến cao theo quy luật phát triển

1.2.2 Đặc điểm của Liên hiệp châu Âu

EU đã liên tục phát triển và không ngừng mở rộng, lớn mạnh

về nhiều mặt, trở thành một thực thể liên minh khu vực lớn, là một trong 3 trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất của thế giới Từ chỗ chỉ

có các mục tiêu thuần tuý về kinh tế, EU đã tiến tới các mục tiêu liên kết chính trị và có ảnh hưởng rộng lớn trên thế giới Quá trình

đó đã tác động đến quan hệ đối ngoại của EU đối với các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam ĐỂ tăng cường vai trò vị thế của mình trên trường quốc tế, EU không thể bỏ qua một nhân tố quan trọng đó là tăng cường sự “hiện diện” của minh ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam và ngược lại tăng cường quan

hệ với EU là phù hợp chủ trương đối ngoại “rộng mở” của Đảng Nhà nước Việt Nam, trở thành một trong những nhu cầu phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

1.3 Quan hệ Việt Nam - Liên hiệp châu Âu thời kỳ trước khi

thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (1990) 1.3.1 Những nền tảng căn bản của quan hệ Việt Nam - Liên hiệp châu Âu

Quan hệ hợp tác Việt Nam-EU có cơ sở lịch sử xuất phát từ cội

nguồn của sự giao lưu văn minh Đông -Tây Những quan hệ kinh tế văn hoá lâu đời, sự bổ sung lợi ích cho nhau, hai bên đều “cần đến nhau” trong xu thế mới của thời đại đã tạo thành nền tảng lịch sử cho quan hệ Việt Nam -EU Những nhân tố đó góp phần vào kết nối phát triền quan hệ Việt Nam - EU

1.3.2 Quan hệ Việt Nam— Liên hiệp châu Âu trước khi hai bên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (10/1990)

Thời kỳ 1954- 1975: quan hệ Việt Nam - EC bị chi phối bởi trật

tự hai cực Yalta, ở thời điểm đó quan hệ quốc tế được xét theo

Trang 8

chuẩn mực cùng ý thức hệ hay khác ý thức hệ, do đó quan hệ giữa

Việt Nam với một số nước thành viên EC là lạnh nhạt hoặc đối

đầu Sang đầu thập kỷ 70, có quan hệ bước đầu về mặt chính trị,

còn hợp tác kinh tế hầu như chưa có

Thời ky 1975 — 1990: quan hé giffa Viét Nam — EC dan dan

được thiết lập, bước sang trang sử mới bắt đầu có một số cuộc

thăm viếng gặp gỡ lẫn nhau, đặt cơ sở cho sự phát triển các lĩnh

vực quan hệ hợp tác Nhưng sang năm 1979, quan hệ chuyển sang

đối đầu lạnh nhạt bởi “ vấn đề Campuchia” Cuối năm 1984 EC

nối lại viện trợ cho Việt Nam

Nhìn chung, quan hệ Việt Nam —- EC thời kỳ trước năm 1990

chưa trở thành đối tác của nhau vì phải chịu tác động của nhiều yếu

tố khách quan lẫn chủ quan

CHƯƠNG 2

QUAN HE VIET NAM - LIEN HIEP CHAU AU THOI KY

1990 - 2004 2.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực trong thập niên cuối thế kỷ XX —

đầu thế kỷ XXI tác động đến quan hệ Việt Nam — EU

2.1.1 Sự biến động của cục diện thế giới và khu vực Á- Âu

Sau chiến tranh lạnh, cơ cấu quyền lực quốc tế từ hai cực

chuyển sang đa cực, cùng với sự phát triển như vũ bão của toàn cầu

hóa, khu vực hoá làm tăng thêm nhu cầu liên kết, hợp tác Tất cả

các quốc gia đều ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập

trung ưu tiên trọng điểm phát triển kinh tế Xu thế hoà dịu trên quy

mô quốc tế để cùng tồn tại hoà bình, xây dựng quan hệ bạn bè

chiến lược ổn định lâu dài giữa các cường quốc ngày càng phát

triển Các nước dù lớn hay nhỏ đều ra sức mở rộng quan hệ quốc tế

dựa trên sự trùng hợp về lợi ích dân tộc là chính

Cục diện quốc tế tác động mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và khu vực A — Âu Khu vực châu Âu biến động chia thành hai mang màu sáng - tối Khu vực châu Á cơ bản là ổn định, kinh tế phát triển năng động, đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh

tế thương mại của thế giới Yếu tố đó khiến cho các nước lớn đều cân nhắc tính toán để khai thác lợi ích ở khu vực này Đó là một trong những yếu tố quan trọng đưa đến sự nhận thức lại về vai trò của Việt Nam và khu vực trong tư duy đối ngoại của EU

Những nhân tố nêu trên đã làm nẩy sinh tính đa phương, đa dạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của từng nước Việt Nam và EU cùng nằm trong trào lưu chung đó

2.1.2 Những tác động của tình hình thế giới và khu vực đến quan hệ Việt Nam -ED

Thứ nhất, trong bối cảnh như đã phân tích, việc mở rộng quan

hệ với EU là hoàn toàn phù hợp với quan điểm chung của Đảng ta

“đa phương hoá, đa dạng hoá” để vừa “là bạn” vưà là “đối tác tin cậy” của họ

Thứ hai, xu thế đa cực hoá tăng lên tạo cơ hội và không gian rộng lớn để các quốc gia EU tăng cường mở rộng các quan hệ song phương trong đó có mối quan hệ với Việt Nam

Thứ ba, trong tình hình quốc tế, khu vực có nhiều biến động, việc phát triển mối quan hệ Việt Nam - EU ngày càng trở nên cần thiết hơn, góp phần tăng cường việc xây dựng niềm tin, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của thế giới, khu vực

Thứ tư, sự phát triển của Đông Nam Á tạo ra vị thế mới cho khu vực và thúc đẩy sự cạnh tranh để giành ưu thế trong bàn cờ quốc tế

Trang 9

giữa các trung tâm lớn Điều đó thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ

Việt Nam - EU

Thứ năm, tình hình thế giới đang trong quá trình tạo dựng trật tự

mới, Để giành phần thắng với Mỹ, EU rất cần tới sự hợp tác của

các nước châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng

2.2 Đường lối đối ngoại của Việt Nam (1991 — 2004)

Trong bối cảnh biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới sau

chiến tranh lạnh, Việt Nam tiếp tục điều chỉnh triển khai chính

sách đối ngoại đổi mới đề ra năm 1986 Quan điểm đối ngoại rộng

mở đã phát triển thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, “đa

dạng hóa, đa phương hóa” ở Đại hội VII (1991) và được khẳng

định, phát triển trong nhiều Nghị quyết Trung ương tiếp theo Đại

hội VI và đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục hoàn

chỉnh tư duy mới về chính trị đối ngoại của Việt Nam, theo phương

châm: “ Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả

các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và

phát triển” Đường lối đổi mới đó trở thành kim chỉ nam cho việc

triển khai các hoạt động quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ với

EU nói riêng Nâng quan hệ với EU sang một giai đoạn mới sôi

động phong phú hơn từ sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính

thức (1990)

2.3 Vị thế của Việt Nam trong chiến lược châu Á mới của EU

2.3.1 Chiến lược châu Á mới của Liên liệp châu Âu

Ngày 14 tháng 7 năm 1994, Nghị viện châu Âu thông qua

“Tiến tới một chiến lược mới đối với châu Á”(NAS) Chiến lược

này được sửa đổi, điều chỉnh (9/2001) với tên gọi: “Châu Âu và

châu Á: một khuôn khổ chiến lược cho sự gia tăng quan hệ đối

tác” Mục tiêu của chiến lược nhằm tăng cường quan hệ kinh tế

và chính trị của EU với Châu Á tạo quan hệ gắn kết đồng minh thân cận hài hòa về lợi ích, đối trọng với Mỹ

2.3.2 Vị thế của Việt Nam trong chiến lược mới của EU đối với

ASEAN

a Chiến lược điều chỉnh của EU (9/2001) đã rất coi trọng tăng cường quan hệ với ASEAN

b Năm 2003, EU đã dành riêng một chiến lược cho Đông Nam

Á: “Một đối tác mới với Đông Nam Á”, nhằm tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác của EU với khu vực này

c Vị thế của Việt Nam: Trong chiến lược Đông Nam Á, EU xác định 4 mục tiêu chiến lược đối với Việt Nam nhằm thúc đẩy gia tăng thương mại hai chiều theo nguyên tắc cùng có lợi.Trong các báo cáo định kỳ có tính chiến lược về Việt Nam, EU đã đánh giá một cách khách quan, đầy đủ vai trò của Việt Nam đối với khu vực châu Á, EU đã tìm thấy ở Việt Nam một ưu thế chính trị và kinh tế, nên đã hoạch định và thực hiện một chính sách mới đối với

Việt Nam

2.4 Quan hệ Việt Nam — EU giai đoạn 1990 - 1995 2.4.1 Quan hệ trên lĩnh vực chính trị

Sau khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức (10/1990), hai

bên đã có hàng loạt các cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, thăm viếng của các đại diện cấp cao, tạo ra bầu không khí chính trị thuận lợi và những điều kiện về khung pháp lý để đưa quan hệ phát triển toàn diện đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn

2.4.2 Quan hệ trên lĩnh vực thương mại Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam — EU phát triển mở rộng theo thời gian Hai bên đã ký với nhau hiệp định buôn bán hàng dệt

— may(1992), Day là lần đầu tiên Việt Nam ký một hiệp định song

Trang 10

phương lớn với EU Hiệp định đã tạo cơ sở pháp lý cho Việt Nam

tăng nhanh xuất khẩu hàng dệt vào thị trường EU Tốc độ tăng

trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU

không đều Năm 1991, 1993 giảm, sang năm 1994 tăng 77,6% Về

nhập khẩu, Việt Nam luôn ở trong tình trạng nhập siêu hàng hóa

của EU

2.4.3 Quan hệ trên lĩnh vực đầu tư và lợp tác phát triển

Giai đoạn này, dòng vốn đầu tư trực tiếp FDI của EU sang Việt

Nam tương đối nhiều hơn so với các nước khác trong khu vực,

chiếm 12% tổng lượng FDI của EU

Tóm lại, kết quả quan hệ Việt Nam —- EU đạt được (1990 1995)

tuy chưa nhiều nhưng đã đặt cơ sở thúc đẩy hai bên ký kết Hiệp

định khung (1995) mở ra một trang mới cho quan hệ đối tác chiến

lược và toàn diện

2.5 Quan hệ Việt Nam — Liên hiệp châu Âu thời kỳ 1995 — 2004

2.5.1 Quan hệ trên lĩnh vực chính trị

Từ sau ký kết Hiệp định khung (1995), quan hệ Việt Nam —

EU đã chuyển sang một giai đoạn mới Các nhà lãnh đạo cao cấp

hai bên đã gặp gỡ trao đổi về những vấn đề cùng quan tâm Hai

bên ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của nhau, tăng

cường quan hệ hợp tác vì lợi ích của cả hai bên

25.2 Quan hệ trên lĩnh vực kinh tế

Về thương mại: Trong Hiệp định khung hợp tác Việt Nam —

EU kí kết (1995), thương mại chiếm vị trí quan trọng Đó là cơ sở

pháp lý cho lĩnh vực buôn bán trao đổi thương mại Việt Nam - EU

EU đang chiếm khoảng 19% kim ngạch xuất khẩu và gần 10% kim

ngạch nhập khẩu của Việt Nam EU đã trở thành một trong những

đối tác thương mại lớn của Việt Nam Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộ một số mặt hạn chế

Về đầu tư: là lĩnh vực quan hệ hợp tác có hiệu quả, xuất phát từ lợi ích cuả cả hai bên Tính đến tháng 3/2004, các nước EU đầu tư vào Việt Nam 505 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký là 8,34 tỷ USD Đầu tư của EU trở thành một nguồn ngoại lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam

2.5.3 Quan hệ trên lĩnh vực hợp tác phát triển Viện trợ phát triển của EU cho Việt Nam đã tăng theo thời gian, từ 3 triệu USD (1994 -1995) lên 5,2 triệu USD (1996-2000)

và tăng lên 2,4 tỷ USD năm 2004 EU đứng đầu trong số các nhà cung cấp viện trợ cho Việt Nam

2.5.4 Quan hệ trên các lĩnh vực văn hoá- giáo dục dao tqo- khoa lọc công nghệ

Việt Nam - EU đã tổ chức giao lưu văn hoá, trao đổi các đoàn văn hoá nghệ thuật, đẩy mạnh các hoạt động giữ gìn di sản văn hoá Hai bên thực hiện 16 chương trình thuộc các lĩnh vực khoa học giữa các trường đại học,hỗ trợ Bộ giáo dục và đào tạo

Việt Nam là một thành viên trong Chương trình Nghiên cứu Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc tế của Ủy ban châu Âu

Đã có 25 dự án nghiên cứu được tài trợ ở Việt Nam Ngoài ra, EU

đã thực hiện nhiều dự án về hợp tác khoa học công nghệ giữa các trường đại học về các lĩnh vực hóa học, quản lý

2.5.5 Quan hệ trên các lĩnh vực môi trường, du lịch, y tế

Về môi trường: Việt Nam tích cực tham gia vào chương trình hỗ trợ Quần lý môi trường và rừng nhiệt đới của Ủy ban châu Âu Từ năm 1996 đến nay đã có 5 dự án được phê duyệt với tổng kinh phí

là 5,5 triệu USD cho lĩnh vực này.

Ngày đăng: 05/04/2013, 22:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w