1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG

46 633 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ - NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LỜI MỞ ĐẦU

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN 3

II TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP 6 III TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 15

IV TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH DỊCH VỤ 29

V TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU 36 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 2

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ - NHỮNG YẾU TỐ TIỀN

ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

LỜI MỞ ĐẦU

Cơ cấu ngành kinh tế thể hiện mối tương quan giữa các ngành trong hệ thốngkinh tế quốc dân của mỗi quốc gia Tính hiệu quả của cơ cấu ngành thể hiện ở khảnăng khai thác lợi thế gắn với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, bảo đảm sựphát triển trong sự gắn bó chặt chẽ với các ngành kinh tế khác, đóng góp tích cựcvào sự phát triển bền vững của đất nước

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu ngành kinh tế của nước

ta đang chuyển dịch theo hướng tích cực: trong khi quy mô của tất cả các ngànhkinh tế đều tăng, nhưng do tốc độ tăng khác nhau nên tỷ trọng giá trị của khu vựcnông, lâm, ngư nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụngày càng tăng Tuy nhiên, cơ cấu ngành kinh tế cũng bộc lộ ngày càng rõ nhữnghạn chế, bất cập: tốc độ chuyển dịch chậm; cơ cấu ngành kém hiệu quả; mối quan

hệ liên kết giữa các ngành kinh tế chưa được thiết lập chặt chẽ…Đó là những yếu tốlớn cản trở việc phát triển đất nước thành nước công nghiệp hiện đại

Chuyên đề này sẽ trình bày khái quát quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh

tế trong những năm vừa qua, đặc biệt là từ năm 2001 đến nay, tình hình chuyển dịch

cơ cấu nội bộ mỗi ngành kinh tế (công nghiệp và xây dựng, nông, lâm và ngưnghiệp, thương mại và dịch vụ) Trong mỗi nội dung ấy, sẽ trình bày rõ những kếtquả tích cực và những hạn chế so với yêu cầu phát triển đất nước thành nước côngnghiệp hiện đại

Dưới đây là những nội dung cơ bản của chuyên đề

2

Trang 3

I TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ QUỐC DÂN

Cơ cấu ngành kinh tế năm 1990 và giai đoạn 2000 – 2012 (%)

Năm NN Cơ cấu GDP CN DV NN Cơ cấu lao động CN DV

Nguồn: Niên giám thống kê

Bảng số liệu trên cho thấy bức tranh tổng thể về chuyển dịch cơ cấu ngànhkinh tế của Việt Nam trong hơn một thập niên thực hiện mô hình CNH rút ngắn

Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo đúng hướng nhưng xu hướng chậm và

có biểu hiện trì trệ

Nếu xét ở những năm 1990, cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam còn mangnặng tính chất của một nền kinh tế truyền thống với GDP nông nghiệp chiếm tớitrên 40% trong cơ cấu ngành kinh tế Từ năm 1990 đến đầu thời kỳ thực hiện CNHrút ngắn (2000), cơ cấu kinh tế của nước ta ở một chừng mực nhất định, đã có sựchuyển dịch tích cực, nông nghiệp chỉ còn chiếm khoảng 24% GDP (nằm ở giaiđoạn 1- giai đoạn mở đầu của quá trình CNH) Trong suốt thời gian thực hiện CNHrút ngắn từ 2001 đến nay, ngành NN có xu hướng giảm đi và thay vào đó là tỷ trọngcác ngành phi NN có xu hướng tăng lên, đây là một xu hướng đúng của quá trìnhCNH, nhất là tỷ trọng ngành CN chiếm trên 40%, gần đạt tiêu chí của nước CN(khoảng 44 - 45%) Tuy nhiên, nếu so với yêu cầu của việc thực hiện CNH rút ngắnthì tốc độ chuyển dịch thời gian vừa qua là quá chậm và thậm chí giai đoạn từ 2005

Trang 4

đến nay, xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành có biểu hiện trì trệ Bình quân nămgiai đoạn 2000-2012, tỷ trọng nông nghiệp chỉ giảm đi 0,3 điểm phần trăm, chậmhơn nhiều so với giai đoạn 1991-2000 (mỗi năm NN giảm 1,56 điểm phần trăm) vàchậm hơn so với các nước như: Trung quốc (0,75 điểm phần trăm), Thái lan (1,1điểm phần trăm), Indonesia (0,86 điểm phần trăm) Điều này dẫn đến tỷ trọng của

NN trong GDP toàn nền kinh tế hiện nay còn chiếm khá cao (trên dưới 20%) so vớitiêu chí của một nước CN, tỷ trọng GDP NN chỉ chiếm dưới 10% thì đây là một tiêuchí đáng quan ngại nhất trong quá trình phấn đấu về cơ bản trở thành nước CN đếnnăm 2020 Trong khi tỷ trọng ngành NN giảm chậm thì tỷ trọng dịch vụ gần nhưkhông thay đổi, thậm chí còn có nguy cơ giảm trong suốt giai đoạn 2001-2012, vàxét tiêu chí đạt nước CN (tỷ trọng DV phải chiếm khoảng 46%) với tốc độ chuyểndịch quá chậm như thời gian qua thì đây cũng là một rào cản lớn trong quá trìnhthực hiện các mục tiêu CNH hiện tại và tương lai So với mục tiêu đặt ra chochuyển dịch cơ cấu ngành trong GDP năm 2010, mục tiêu của chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010 (khu vực nông nghiệp 15-16%; công nghiệp vàxây dựng 43-44%; dịch vụ 40- 41%), thì chúng ta đã không đạt được Còn nếu sovới mục tiêu đặt ra đến năm 2020 thì khoảng cách vẫn còn khá xa

Cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh hơn nhưng so với tiêu chí của nước CN thì còn khoảng cách khá xa

Theo bảng số liệu thống kê trên, cơ cấu lao động trong nền kinh tế có xu hướngchuyển dịch khá hơn so với chuyển dịch cơ cấu GDP; Bình quân/năm trong giai đoạn

từ 2000 đến 2010, tỷ trọng lao động NN đã giảm đi khoảng 1,5 điểm phần trăm(nhanh hơn Trung Quốc, Thái Lan và Indonesia, tương ứng là 0,55; 0,79 và 0,56).Tuy nhiên, vì xuất phát điểm là một nước NN, ở đầu thời kỳ CNH rút ngắn, tỷ trọng

NN quá cao nên mặc dù tỷ trọng lao động NN giảm đi nhanh nhưng số lao động NNcòn nhiều (khoảng 24 triệu người, chiếm gần 50% so với tổng lao động của nền kinhtế) Do vậy, nếu theo các tiêu chí nước CN, cơ cấu lao động của Việt Nam hiện nayvẫn nằm ở trình độ thấp, chỉ đạt mức khoảng 60% so với tiêu chí chuẩn

Mặt khác, cơ cấu lao động chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu kinh tế trên mộtmức độ nhất định phản ánh tính kém hiệu quả của chuyển dịch cơ cấu lao động vàtính không phù hợp của chuyển dịch cơ cấu lao động so với thực trạng phát triển

4

Trang 5

kinh tế Việc số người lao động chuyển dịch từ NN sang CN và TMDV là do kếtquả của quá trình CNH với sự phát triển của khu vực đô thị và các ngành phi nôngnghiệp Tuy nhiên việc GDP của ngành CN và TMDV chuyển dịch chậm chứng tỏcác ngành này không phát triển kịp thời, năng lực kinh tế của các ngành này khôngtăng kịp để đón nhận những lao động được chuyển dịch từ NN sang Điều này “gópphần” làm cho hiệu quả kinh tế, đặc biệt là năng suất lao động của các ngành CN vàTMDV có xu hướng tăng chậm, hoặc giảm, tỷ lệ thất nghiệp thành thị vì thế mà có

xu hướng tăng nhanh

Công nghiệp có tỷ trọng khá cao trong GDP, tuy nhiên tỷ trọng công nghiệp chế biến trong GDP toàn nền kinh tế còn rất thấp

Thực trạng phát triển CN chế biến sẽ được phân tích kỹ trong mục tổng kếtđánh giá về CN Tuy nhiên, đứng trên góc độ cơ cấu ngành nói chung, theo yêu cầucủa quá trình CNH cần phải có sự xem xét cụ thể vị trí của CN chế biến trong nềnkinh tế như thế nào? Trong các báo cáo của Bộ KH&ĐT, trong thời gian qua, mặc

dù ngành CN chế biến của Việt Nam có sự gia tăng đáng kể về quy mô và chủng loạisản phẩm Tuy nhiên, do chủ yếu ngành CN chế biến đều là những ngành sử dụngnhiều lao động hoặc sản xuất gia công lắp ráp nên có giá trị gia tăng thấp, vì thế tỷ lệđóng góp của trong GDP hiện tại mới chỉ đạt mức dưới 20% (chính xác là 17,34% - sốliệu năm 2010) So với tiêu chí chuẩn của một nước CN (cần đạt trên 35%) thì việc đạttiêu chí này cũng vẫn còn nằm ở một khoảng cách khá xa (mới chỉ đạt 50%)

Hiện trạng trên cho thấy cơ cấu kinh tế của Việt Nam hiện nay phản ánh trình độphát triển ở mức thấp (giai đoạn mở đầu của quá trình CNH với tỷ trọng NN trên 20%)

và chỉ đạt bằng mức của Thái Lan những năm 1990 Điều này cũng cho thấy, kinh tếthời gian qua chịu sự chi phối còn khá mạnh của sản xuất NN Những nội dung cụ thểliên quan đến phát triển và chuyển dịch cơ cấu của từng ngành NN, CN và TMDVtrong thời kỳ thực hiện CNH rút ngắn sẽ được phân tích trong các phần sau

Trang 6

II TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP

Tỷ trọng GDP ngành CN-XD trong cơ cấu ngành kinh tế tăng nhanh

Kể từ sau đổi mới đến nay, nhất là trong giai đoạn 2001 đến nay, công nghiệpgiữ tốc độ tăng trưởng cao đạt mức bình quân 15,09%/năm (2001 - 2010) Tronggiai đoạn 2011 – 2013, do ảnh hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế, tốc độtăng trưởng ngành công nghiệp có phần giảm, tuy nhiên vẫn giữa mức độ 6-7%.Nhờ tốc độ tăng trưởng trung bình/năm của ngành công nghiệp (giai đoạn từ 2001đến nay luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng của chung của nền kinh tế, nên tỷ trọngđóng góp của CN trong GDP tăng nhanh trong giai đoạn này

Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp so với các ngành và GDP

Nguồn: Tổng hợp từ các số liệu của TCTK

Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng đã tăng từ mức 22,67% vào năm 1990lên cao nhất khoảng 41,5% vào năm 2007, dao động trong khoảng trên 40% củanhững năm còn lại (xem bảng dưới)

Cơ cấu ngành kinh tế 2007-2012 (giá hiện hành, %)

6

Trang 7

các ngành có giá trị gia tăng thấp

Trong thời gian qua, cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp đã có sự dịch chuyển,cùng với đó là sự xuất hiện của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong đó một

số phân ngành phát triển với tốc độ cao Kết quả là, trong cơ cấu ngành CN, côngnghiệp chế biến đóng góp ngày càng nhiều trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp,tăng từ 78,7% (năm 2000) lên 89,20% (năm 2010), tỷ trọng của công nghiệp khaithác giảm dần, từ trên 15% xuống 4,88% Năm 2011, tỷ trọng công nghiệp chế biếntăng lên 89,8% và công nghiệp khai thác giảm xuống chỉ còn 4,41% (hình dưới)

Cơ cấu ngành công nghiệp

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của TCTK năm 2003, 2007 và 2012

Giá trị gia tăng (VA) của ngành công nghiệp tăng khá trong các năm 2006,

2007 với tốc độ tăng trưởng là 10,2% và 9,7% do sự gia tăng các ngành CN chếbiến, nhưng bắt đầu có xu hướng giảm dần, năm 2008 đạt 5,98%, năm 2009 là5,52% và năm 2010 tăng nhẹ lên 7,70% Bình quân 10 năm giá trị tăng thêm củangành công nghiệp đạt 8,8%/năm Tỷ lệ VA/GO công nghiệp liên tục giảm do tăngtrưởng giá trị sản xuất công nghiệp luôn cao hơn tăng trưởng giá trị tăng thêm, điềunày phản ánh bức tranh công nghiệp trong giai đoạn vừa qua vẫn phát triển theochiều rộng, phát triển các ngành có giá trị tăng thêm thấp Tỷ lệ VA/GO năm 2000

là 41,23%, giảm xuống còn 23,1% vào năm 2010

Giá trị gia tăng công nghiệp của Việt Nam và các quốc gia sau 10 năm

Trang 8

tăngMVA(%)

MVA MVA/lao

MVA/laođộng

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của UNIDO

Bảng trên đây cho thấy trong giai đoạn 2001 – 2011, giá trị tuyệt đối củaMVA của Việt Nam tăng trung bình 11,11%, gần bằng Trung Quốc và cao hơn một

số các nước ASEAN khác Tuy nhiên, MVA bình quân đầu người của Việt Nam rấtthấp đến năm 2011chỉ đạt 209 USD, bằng 1/5 so với Trung Quốc (1.063 USD),bằng 1/2 so với Indonesia (420 USD), 1/8 so với Malaysia (1.673 USD) và gầnbằng 1/5 so với Thái Lan (1.108 USD) Tỷ trọng MVA/GDP của Việt Nam năm

2011 chỉ đạt 23,57% thấp hơn nhiều so với mức 33,66% của Thái Lan và 34,15%của Trung Quốc

Có sự thay đổi trong nhóm 10 ngành CN chủ lực, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các ngành có giá trị gia tăng không cao

Từ năm 2001 trở lại đây, chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chế biến,chế tạo tuy chậm lại, nhưng đã có thay đổi về vị trí các ngành nằm trong Top 10 ngànhchiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Năm 2011, Top 10ngành lớn nhất chiếm 63,1% tổng giá trị sản xuất của ngành công nghiệp Ngoài một sốngành duy trì được tỷ trọng cao như dệt may (8,12%), thiết bị giao thông (4,85%) đãxuất hiện ngành mới trong Top 10 là máy tính và điện tử (3,54%) Tuy nhiên, đó đều lànhững ngành sử dụng nhiều lao động hoặc sản xuất gia công lắp ráp nên có giá trị giatăng thấp Năng lực cạnh tranh ở các sản phẩm này chủ yếu nằm ở giá thấp (dựa trênnhân công giá rẻ và/hoặc các ưu đãi về thuế, tiền sử dụng đất, v.v.), qua đó đặt ranhững lo ngại về khả năng phát triển bền vững trong dài hạn

10 ngành CN có tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị sản xuất CN (giá hiện hành)

Thực phẩm và đồ uống 23,2%Thực phẩm và đồ uống19,83% Thực phẩm và đồ 19,07%

8

Trang 9

Á kim, khai thác mỏ 6,8% Á kim, khai thác mỏ 5,33% Sản xuất sản phẩm từ

khoáng phi kim khác 7,81%Sửa chữa thiết bị giao thông 5,3% Sản phẩm kim loại 5,18% Sản phẩm kim loại 5,90%Sản phẩm hóa học 4,8% Thiết bị giao thông 5,04% Sản phẩm cao su và

Dệt 4,6% Sản phẩm hóa học 4,79% Sản xuất da và sản

phẩm liên quan 4,59%Sản xuất da và sản phẩm liên

Cao su & nhựa 4,09% Máy tính, sản phẩm

và cao chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 15% so với mức 50 – 60% của Thái Lan, TrungQuốc và Malaysia Những chính sách và chiến lược tăng cường công nghệ, kinh tế trithức, chuyển dịch cơ cấu sản xuất được triển khai trong nhiều năm qua chưa hiệu quả,chưa nâng được tầm công nghệ của nền kinh tế, đã đẩy Việt Nam ngày càng tụt hậu sovới các nước trong khu vực, những quốc gia đã rất năng động khi gắn chuỗi giá trịcông nghiệp trung và cao để tự thay đổi cơ cấu sản xuất của mình

Cơ cấu giá trị sản xuất CN Việt Nam phân theo trình độ công nghệ

1 Theo cách phân loại các ngành công nghiệp theo UNIDO

Trang 10

CN dựa vào tài nguyên CN sử dụng công nghệ thấp

CN sử dụng công nghệ cao và trung bình

Nguồn: Tổng cục từ só liệu của TCTK

Xét về xu hướng nâng cao trình độ công nghệ trong giai đoạn 2001-2010, có

một số điểm đáng nhấn mạnh:

- Cơ cấu công nghệ trong sản xuất công nghiệp đã có nhiều thay đổi theohướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại;

Đến nay, đã hình thành một cơ cấu công nghệ đa dạng về trình độ và xuất xứ,

đan xen trong từng doanh nghiệp và từng chuyên ngành sản xuất công nghiệp Chuyển

giao công nghệ đã trở thành hoạt động quan trọng trong sản xuất công nghiệp Trongthời kỳ đổi mới kinh tế, quy mô và tốc độ chuyển giao công nghệ phát triển khá mạnh.Thông qua các dự án đầu tư chiều sâu, đầu tư mới từ nhiều nguồn vốn trong nước và vốnđầu tư trực tiếp của nước ngoài, cùng với sự hình thành các khu chế xuất, khu côngnghiệp, nhiều công nghệ mới cũng được chuyển giao từ nhiều nước công nghiệp pháttriển và được áp dụng trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp

- Sự phân tầng trình độ công nghệ khá rõ ràng trong từng ngành và trong nhiềudoanh nghiệp Công nghệ lạc hậu, trung bình và tiên tiến cùng đan xen tồn tại Tínhđan xen của các công nghệ có trình độ khác nhau thể hiện ở phần lớn các doanhnghiệp với mức độ và tỷ trọng chênh lệch Tốc độ đổi mới công nghệ còn thấp,không đồng đều và không theo một định hướng phát triển rõ rệt Số công nghệ mới

từ các nước công nghiệp phát triển còn ít, chủ yếu từ các nước Đông Âu, Đài Loan,Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ Công nghệ tiên tiến, hiện đại chỉ tập trung vào một

10

Trang 11

số lĩnh vực như dầu khí, điện lực, chế tạo khuôn mẫu, thiết bị điện, hàng điện tử dândụng, săm lốp, ắc quy, đồ nhựa, sản xuất xi măng,

- Sự chênh lệch về trình độ công nghệ giữa các khu vực kinh tế đã bộc lộ rõ,trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trung ương cao hơn công nghiệp địaphương, của doanh nghiệp nhà nước cao hơn doanh nghiệp ngoài nhà nước Côngnghệ tiên tiến và hiện đại tập trung chủ yếu ở các liên doanh, doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp

- Chất lượng và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn hạn chế do thiếu lựachọn công nghệ tối ưu, trình độ công nghệ không phù hợp và đặc biệt là giá trịchuyển giao phần mềm về bí quyết công nghệ (know-how) còn rất thấp Do đó, khảnăng vận hành, thích nghi hóa và làm chủ thiết bị công nghệ mới còn nhiều hạn chế;Hiệu suất sử dụng thực tế chỉ đạt tối đa 70-80% công suất Ngoài những công nghệtiên tiến được đầu tư mới trong một số ngành, lĩnh vực như đã nêu ở trên, nhìnchung, trình độ công nghệ của ngành công nghiệp nước ta hiện lạc hậu khoảng 2 - 3thế hệ công nghệ so với các nước trong khu vực Tình trạng này hạn chế năng lựccạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực

Khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu là khu vực hạ nguồn và

xu hướng cải thiện vị trí trong tương lai không cao

Việc các doanh nghiệp nước ta đã tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu thể hiện

rõ nét nhất ở hai khía cạnh:

Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thương: Chuỗi giá trị toàn

cầu cho phép sản xuất hàng trung gian và hàng tiêu dùng cuối cùng có thể được thuêngoài, do đó dẫn tới sự gia tăng thương mại thông qua hoạt động xuất, nhập khẩu và

sự gia tăng nhanh chóng lượng "đầu vào" trung gian trao đổi giữa các nước

Thứ hai, sản xuất ngày càng dựa vào "đầu vào" của nước ngoài: Do kết quả

của việc ngày càng gia tăng quan hệ thương mại toàn cầu giữa các nước, tỷ lệ giá trịsản xuất được tạo ra bởi một nước nào đó có xu hướng ngày càng giảm xuống Sựsuy giảm “độ sâu sản xuất” (giá trị gia tăng so với giá trị sản xuất) và vai trò ngàycàng tăng của hàng hóa trung gian được thấy ở các nền kinh tế phát triển là hợp lý

Trang 12

Tuy nhiên, với một nước đang bắt đầu quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam,việc độ sâu sản xuất giảm nhanh và mạnh một mặt vừa cho thấy sản xuất trong nướcngày càng dựa vào "đầu vào" nước ngoài, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự kémphát triển của ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp hỗ trợ.

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia vào ba chuỗi giá trị có vai trò ngày càng quantrọng đối với nền kinh tế toàn cầu ở thế kỷ 21, nổi bật nhất đó là: Chuỗi giá trịlương thực và an ninh lương thực; Chuỗi giá trị năng lượng và an ninh năng lượng(dầu mỏ, khí, than) và chuỗi giá trị hàng dệt may và da giầy

Ở chuỗi giá trị lương thực, nước ta là nhà sản xuất gạo lớn thứ 5 thế giới vớisản lượng trung bình hàng năm khoảng 24 triệu tấn (sau Trung Quốc: 134 triệu tấn;

Ấn Độ: 99 triệu tấn; Indonesia: 38,3 triệu tấn; Bangladesh: 31 triệu tấn) Tuy nhiên,

do dân số ít hơn những nước nói trên và nhu cầu tiêu thụ gạo ổn định (xoay quanhkhoảng 19 triệu tấn), nước ta có gạo dư thừa để không ngừng gia tăng xuất khẩu,liên tục duy trì vị trí nhà xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới từ nhiều năm nay

Ở chuỗi giá trị năng lượng, nước ta cũng có vị trí nhất định Năm 2013, sảnlượng dầu mỏ sản xuất của Việt Nam khoảng 17 triệu tấn, đứng thứ 33 thế giới,chiếm khoảng 0,4% tổng sản lượng dầu mỏ thế giới, xuất khẩu 13,8 triệu tấn, đứngthứ 33 thế giới, kim ngạch xuất khẩu dầu mỏ đạt 7,7 tỷ USD, đứng thứ 37 thế giới

Về than, năm 2013, nước ta khai thác được 40 triệu tấn, đứng thứ 17 thế giới.Sản lượng than xuất khẩu bằng khoảng 75-80% sản lượng khai thác, kim ngạch thanxuất khẩu năm 2013 đạt khoảng 1 tỷ USD, đứng thứ 12 thế giới Như vậy, ở haichuỗi giá trị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh thế giới và trong tươnglai là chuỗi giá trị lương thực, chuỗi giá trị năng lượng, Việt Nam là nhà cung cấplớn Tuy nhiên, như những phân tích ở các phần tiếp sau sẽ chỉ rõ, Việt Nam chưaphát huy được vai trò quan trọng trong các chuỗi giá trị Việt Nam tham gia nóichung và hai chuỗi giá trị lương thực và năng lượng nói riêng, lợi ích thu về choquốc gia còn thấp, chưa tương xứng với vai trò của nhà cung cấp lớn

Trong lĩnh vực xuất khẩu hàng công nghiệp chế tạo, mặc dù dệt may, da giày,điện tử là những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chiếm lần lượt 13,35%;6,64% và 22,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng giá trị gia tăng quốc gia donhững ngành này tạo ra còn thấp Ở ngành dệt may, theo Hiệp hội dệt may Việt

12

Trang 13

Nam, tỷ lệ này ở khoảng 20-30% các năm trước và năm 2013 đạt 50,5% Ở ngành

da giầy, tuy là nước xuất khẩu giày dép lớn thứ tư thế giới, 70% số doanh nghiệp dagiày của nước ta hiện đang gia công thuần túy cho nước ngoài, giá trị gia tăng củangành đạt khoảng 25%, chủ yếu nằm ở sức lao động Nước ta hiện có hơn 500doanh nghiệp da giày nhưng chỉ có chưa đến 10 thương hiệu được người tiêu dùngtrong nước biết đến như Biti’s, Bita’s, Thượng Đình, Vento, Sholega… Nhữngthương hiệu Việt Nam có mặt ở thị trường nước ngoài lại càng ít nữa: Dường nhưmới chỉ có Biti’s (công bố có mặt ở hơn 40 nước), Vento (vươn tới Trung Quốc,Nhật Bản, Ấn Độ, Canada, Bắc Mỹ), còn Vina Giày mới đang tìm đường sang Mỹ

Ở ngành điện tử, do hầu hết nguyên vật liệu, phụ tùng linh kiện để gia công sảnphẩm đều do nước ngoài cung cấp, nhà sản xuất Việt Nam chỉ làm theo đặt hàngnên giá trị gia tăng chỉ chiếm khoảng 5-10%2

Mối quan hệ giữa công nghiệp hạ nguồn (sản xuất sản phẩm cuối cùng, trungnguồn (linh phụ kiện) và thượng nguồn (nguyên liệu) của Việt Nam quá rời rạc vàkhông được cải thiện theo cả "ngược chiều", "xuôi chiều" để nâng cấp chuỗi giá trị Sovới các nền kinh tế trong khu vực, Việt Nam đang mất dần lợi thế phát triển côngnghiệp thượng nguồn (hóa dầu và thép chế tạo) bởi đây là những ngành tập trung vốn.Trong cơ cấu nhập khẩu, các mặt hàng nguyên liệu như hóa chất, chất dẻo, thép và kimloại thường là những đầu vào thiết yếu cho các sản phẩm công nghiệp vẫn chiếm tỷtrọng cao và ít thay đổi trong suốt giai đoạn vừa qua, 14,33% năm 2012

Công nghiệp trung nguồn đòi hỏi công nghệ cao và nhiều vốn được pháttriển trong vài thập kỷ vừa qua ở một số nền kinh tế Châu Á khá thành công nhưTrung Quốc, Thái Lan, Malaysia và Indonesia nhưng lại rất kém ở Việt Nam Chođến nay, Việt Nam chủ yếu còn hấp dẫn đối với phát triển công nghiệp hạ nguồn,chủ yếu ở công đoạn gia công, lắp giáp do thiếu công nghiệp hỗ trợ Đó là nhữngngành có thể tận dụng lao động dồi dào và giá sức lao động rẻ để duy trì lợi thếcạnh tranh Tuy nhiên, chi phí nhân công đang tăng dần sẽ khiến cho công nghiệp

hạ nguồn khó có thể duy trì được lợi thế này, đặc biệt là sức ép từ các nướcCampuchia và Myama với chi phí lao động thấp hơn so với Việt Nam

2 Viện nghiên cứu thương mại (2009), Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng điện tử và khả năngtham gia của Việt Nam, trang 66, Báo cáo tổng hợp đề tài Khoa học cấp Bộ, mã số040.09.RD

Trang 14

Mối quan hệ giữa CN hạ nguồn, trung nguồn và thượng nguồn

Do các cam kết trong các điều ước hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ tiếptục dỡ bỏ các rào cản xuyên quốc gia về thương mại và đầu tư tới khi đạt đượcthương mại tự do với các nền kinh tế trong khu vực và các quốc gia đối thủ trêntoàn cầu Hạn chót của AFTA về tự do hóa thương mại là năm 2015 đối với các sảnphẩm thông thường và năm 2018 cho ô tô đã đặt ra một thách thức lớn đối với các

Hạ nguồn

(sản phẩm

hoàn chỉnh)

Trung nguồn ( linh kiện)

Thượng nguồn (nguyên liệu thô)

Thép

Nhựa tổng hợp

Thép tấm

Động cơ

Thân máy, vỏ cho các sản phẩm nhựa

Đinh vít

Khuôn đúc

Ngành công nghiệp

có khả năng mua sắm trong nước

CN phụ trợ yếu kém (Ngành phụ)

Cao su nhân tạo Lốp

Ngành phụ được

kỳ vọng lớn trong toàn ngành

Nông sản

Ô tô

Linh kiện nhộm

Khung xe

Mô tơ Mạch in

Động cơ

Dầu thô

Quặng sắt

Dầu

BTX

Dầu tinh chế

Công nghiệp trung nguồn

(Ngành nền tảng )

(Ghi chú 1) Đây không phải là mô hình tổng hợp của toàn nền công nghiệp, mà chỉ là sơ đồ khái quát về các ngành công nghiệp trọng điểm.

(Ghi chú 2) Ngành công nghiệp

xe gắn máy: nhu cầu nội đĩa

đã phát triển mạnh mẽ, tuy nhiên cần thúc đẩy xuất khẩu

để tăng nguồn thu ngoại tệ

(Ghi chú 3 ) Ngành chế biến thực phẩm : Phát tiển nhu cầu nội địa trên cơ sở tăng cường liên kết các ngành công- nông- thương nghiệp, gia tăng giá trị xuất khẩu, nâng cao hiệu quả quản lý nông trại

(Ghi chú 4) Ngành công nghiệp môi trường: Phát triển nhà máy hiệu suất lớn nhằm cung cấp điện năng hay nguồn năng lượng mới v.v…

Nhà xưởng, thiết bị máy móc cỡ nặng

Nhà xưởng, thiết bị máy móc cỡ nặng

Khuôn đúc

Thép lá

14

Trang 15

ngành công nghiệp hiện tại của Việt Nam, cả với doanh nghiệp trong nước và doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Khi các rào cản xuyên quốc gia được dỡ bỏ và chiphí hậu cần giảm xuống, các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng tập trung sản xuấttại một địa điểm có được lợi thế quy mô và từ đó xuất khẩu sản phẩm ra toàn cầuthay vì sản xuất sản phẩm đó ở mỗi nước Các quốc gia có lương công nhân tăng mà

kỹ năng không được cải thiện sẽ bị mất ngành sản xuất giản đơn vào tay các quốcgia có trình độ phát triển thấp hơn hơn dù các quốc gia này vẫn chưa tìm đượcngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao hơn để thay thế những ngành này Cácnước láng giềng như Thái Lan và Ma-lai-xi-a đang chuẩn bị cho áp lực hội nhậpngày càng tăng bằng cách nâng cấp chính sách công nghiệp, điều chỉnh chiến lượcFDI và cải thiện kỹ năng công nghiệp và quản lý Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưathực sự tạo ra chính sách công nghiệp hay thể chế “cao cấp hơn” Tuy đã có sự thayđổi về chủ trương phát triển công nghiệp nặng sang phát huy thế mạnh của quốc gia

có nguồn nhân lực dồi dào, có chính sách hội nhập cởi mở Nhưng nhìn chung, pháttriển công nghiệp còn manh mún, theo phong trào Nhiều ngành công nghiệp như ô

tô, cơ khí, chế biến tính chất hội nhập chưa cao…

III TÌNH HÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Thực trạng phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Đối với xây dựng cơ sở hạ tầng NN, NT:

+ Về thủy lợi: Đến nay, cả nước đã xây dựng 75 hệ thống thủy lợi lớn, 1.967

hồ chứa dung tích trên 10,2 triệu m3, hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn, trên 10.000 trạmbơm lớn và vừa có tổng công suất bơm 24,8x106m3/h, hàng vạn công trình thủy lợivừa và nhỏ Đã xây dựng 5.700 km đê sông, 3.000 km đê biển, 23.000 km bờ bao

và hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè và nhiều hồ chứa lớn tham gia chống

lũ cho hạ du, các hồ chưa lớn thuộc hệ thống sông Hồng có khả năng cắt lũ 7 tỷ m3,nâng mức chống lũ cho hệ thống đê với con lũ 500 năm xuất hiện một lần Tổngnăng lực của các hệ thống đã bảo đảm tưới trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn cho1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệuha; cấp và tạo nguồn cấp nước 5-6 tỷ m3/năm cho sinh hoạt, công nghiệp, du lịch,dịch vụ ; Cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt 70-75% tổng số dân

Trang 16

+ Về giao thông nông thôn: Nhờ nguồn vốn hỗ trợ từ trung ương, cùng với

ngân sách địa phương, vốn do nhân dân đóng góp và huy động các nguồn khác, cácđịa phương trong cả nước đã xây mới được hơn 15.100 km đường; Sửa chữa nângcấp hơn 74.000 km đường các loại; Xây dựng 7.100 cầu bê-tông cốt thép với tổngchiều dài 120.000 m; 738 cầu liên hợp, tổng chiều dài 20.000 m; 7.146 cầu sắt cótổng độ dài 10.289 m và 537 cầu treo có tổng chiều dài hơn 2.400 m Hệ thống hạtầng giao thông nông thôn phát triển đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại phươngtiện giao thông, nhất là vận tải hành khách công cộng lưu thông từ trung tâm huyện

về các xã, góp phần thúc đẩy giao lưu hàng hóa, giảm dần sự cách biệt giữa thànhthị và nông thôn Ðến nay, ô-tô đã có thể chạy thẳng đến trung tâm 9.051 xã trongtổng số 9.200 xã trong cả nước

+ Đối với hệ thống điện nông thôn: Tính đến đầu năm 2012, 100% số huyện,

98,84% số xã, 97,38% số hộ dân trong cả nước đã có điện Việt Nam đang nằmtrong nhóm đầu của châu Á về điện khí hóa nông thôn, góp phần xóa đói, giảmnghèo Ðến thời điểm này, EVN đã bán điện trực tiếp đến hộ dân nông thôn tại hơn7.310 xã (chiếm 81,32% số xã có điện), hơn 12,56 triệu hộ dân nông thôn mua điệntrực tiếp từ điện lực (chiếm 80,18% số hộ dân nông thôn) sử dụng điện cùng mộtgiá như người dân đô thị Việt Nam hiện đang tiến gần tới đích 100% số hộ dânnông thôn có điện

Trong xây dựng các cơ sở hạ tầng NN, NT, Nhà nước đã hướng tới đối tượngmới Đó là các nông hộ và các trang trại Vì vậy, các công trình đều lập thành một

hệ thống với phương thức huy động nguồn lực và thiết kế xây dựng từ quốc gia đếncác địa phương và cuối cùng là từng chủ thể sử dụng Trong huy động nguồn lực vàtriển khai xây dựng, phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” đã được thựchiện rất hiệu quả

Đối với những vùng có nhiều khó khăn, hệ thống cơ sở vật chất còn thiếuthốn, Nhà nước đã xây dựng thành chương trình riêng Ví dụ: Đối với các xã vùngsâu, vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chương trình 135 với cơ chế sửdụng vốn và lựa chọn các hạng mục đầu tư xây dựng và phương thức triển khai theohướng có sự tham gia chủ động và tích cực của những người hưởng lợi của dự án.Tuy nhiên, so với yêu cầu của xây dựng nông thôn mới và chuyển sản xuất

16

Trang 17

nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá mức độ đầu tư xây dựng còn chưa đápứng Nhiều vùng nông thôn vẫn còn ở tình trạng lạc hậu, vẫn còn những xã chưa cóđường ô tô đến trung tâm của xã Các công trình thuỷ lợi chủ yếu phục vụ cho sảnxuất lúa nước Các công trình thuỷ lợi phục vụ cho các hoạt động sản xuất khác củanông nghiệp (trồng cây công nghiệp, cây ăn quả ) chưa được chú trọng Việckhống chế tác hại của thiên nhiên đến sản xuất nông nghiệp và đời sống từ các côngtrình thuỷ lợi còn rất hạn chế, kể cả phòng chống lũ lụt đến phòng chống hạn hán.

Tư tưởng ỷ lại vào nhà nước trong xây dựng các cơ sở hạ tầng, nhất là ở cácvùng khó khăn còn rất nặng nề Việc quản lý xây dựng các công trình hạ tầng cònyếu, thất thoát, lãng phí còn lớn Đây là những tiêu cực làm cho quá trình triển khaicác tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng cho nôngnghiệp, nông thôn vừa chậm, vừa kém hiệu quả Tuy nhiên, so với yêu cầu xâydựng nông thôn mới, đặc biệt nếu so sánh với bộ tiêu chí quốc gia thì vẫn còn nhiềutiêu chí có tỷ lệ đạt thấp, trong đó số xã đạt tiêu chí về cơ sở vật chất văn hóa mới là6,76%; giao thông chỉ có gần 9%; số xã có trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia là21,16% Mặc dù đã có hơn 93,1% số xã hoàn thành quy hoạch, gần 80% số xã lập

đề án về xây dựng nông thôn mới

- Đối với phát triển lực lượng sản xuất trong NN, NT

+ Đối với phát triển các công cụ cơ giới: Quá trình đó đã có những thay đổi

cơ bản như: (i) Đã tập trung vào các khâu, các hoạt động cần cơ giới hoá mà khôngảnh hưởng nhiều đến vấn đề lao động, việc làm như bơm nước, xay xát, chặt nghiềnmía đường Vì vậy, mức độ cơ giới hoá ở các khâu này ở mức khá cao Với nhữngkhâu này, sự điều chỉnh tập trung về công suất phù hợp với quy mô sản xuất nhỏ,phân tán; nâng cao tính đa năng của các công cụ và thiết bị nhằm khắc phục tínhthời vụ của sản xuất nông nghiệp (ii) Đã tiến hành cải tiến các công cụ gắn với cáchoạt động cần nhiều lao động ở những vùng có diện tích bình quân đầu người cao,tính căng thẳng của thời vụ sản xuất nông nghiệp lớn như việc cải tiến máy cắt cỏthành máy cắt lúa ở Tiền Giang vừa mang lại hiệu quả cao trên phương diện cơ khíchế tạo và phương diện sử dụng vào sản xuất nông nghiệp Những mặt trái của quátrình cơ giới hoá ít có điều kiện bộc lộ (iii) Đã chế tạo và sử dụng nhiều thiết bị cơkhí mới vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản, tạo ra

Trang 18

phương thức và trình độ thâm canh cao trong sản xuất như: Sử dụng các phươngtiện cơ khí trong tưới tự hành cho cây ăn quả ở Đồng bằng sông Cửu Long; Cácmáy sục khí trong nuôi trồng thuỷ sản theo quy trình sản xuất công nghiệp Sử dụngthành tựu của cơ khí đóng tầu đầu tư cho hoạt động đánh bắt xa bờ, mở ra khả năngphát triển mới cho ngành thuỷ sản Sử dụng thành tựu cơ khí trong đào đắp kênhmương, khai hoang trồng rừng

So với giai đoạn trước, việc áp dụng các thành tựu của khoa học và công nghệ

cơ khí vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã có sự chọn lọc hơn, phù hợp hơn vớicác điều kiện sản xuất nông nghiệp Việt Nam Vì vậy, hiệu quả của việc ứng dụng

đã nâng lên Những mặt trái của quá trình áp dụng các tiến bộ của khoa học và côngnghệ đối với nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện nguồn lao động dồi dào, chấtlượng thấp bộc lộ ít hơn Đây là hướng đi đúng cần được phát huy

Tuy nhiên, hầu hết các máy móc loại này (từ máy cắt lúa, máy chặt mía, đếnmáy bơm nước tự hành ) đều từ những người sản xuất tự nghiên cứu chế tạo quacải tiến các công cụ khác mà thành Điều đó, một mặt phản ánh yêu cầu cấp thiết từthực tiễn đối với một số hoạt động cơ giới hoá; Mặt khác cho thấy sự bỏ ngỏ củacác cơ quan nghiên cứu và các nhà chế tạo ở lĩnh vực này Đặc biệt, trong đầu tưcác phương tiện hiện đại chưa có sự tương đồng giữa sự hiện đại của máy móc vớitrình độ tiếp cận của người dân Ví dụ: Chương trình đánh bắt xa bờ với các máymóc định vị, máy dò luồng cá , nhưng trình độ của ngư dân không được nâng lên

là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thua lỗ, khi họ không biết sử dụngcác phương tiện một cách thành thạo Chi phí cho một chuyến đi lớn, nhưng năngsuất đánh bắt không tăng Trên phạm vi cả nước, Nhà nước đã đầu tư hơn 5.000 tỷđồng cho Chương trình đánh bắt xa bờ Chỉ riêng ở Thanh Hoá, Nhà nước đã đầu tưcho Chương trình này gần 600 tỷ đồng, nhưng hiệu quả rất thấp, đứng thứ 10 trongcác địa phương được đầu tư đánh bắt xa bờ

+ Đối với lĩnh vực giống: Những xu hướng nhập nội, lai tạo và sản xuất giống

trước đây vẫn tiếp tục phát huy ưu thế trong giai đoạn này Bên cạnh đó, công tácgiống còn có những biến đổi dưới sự tác động của khoa học và công nghệ theo cáchướng và lĩnh vực sau: (i) Cùng với xu hướng nhập nội, lai tạo và sản xuất cácgiống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, nỗ lực khôi phục các giống có chất

18

Trang 19

lượng tốt đã được chú trọng và đang trở thành chương trình lớn như: Chương trìnhxây dựng vùng lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu; Chương trình xây dựng cácdoanh nghiệp sản xuất giống lợn hướng nạc phục vụ xuất khẩu ở Hải Dương, NinhBình, Thái Bình và Hải Phòng; Chương trình khôi phục các giống chè Sand cổ ởYên Bái, các giống lúa cổ truyền ở Nam Định, Thái Bình (ii) Đã sử dụng cáccông nghệ sản xuất giống tiên tiến như công nghệ cấy tế bào trong sản xuất giốnghoa, lai đơn tính trong sản xuất lúa lai, lai tạo bằng phương pháp cấy phôi trongchăn nuôi, các công nghệ sản xuất giống thuỷ sản nhân tạo với quy mô lớn và chủđộng về thời gian Những công nghệ này vừa rút ngắn quá trình sản xuất giống,vừa sản xuất hàng loạt với quy mô lớn, vừa phát huy được ưu thế của giống lai.Công nghệ sản xuất giống mới là cơ sở quan trọng hình thành ngành sản xuất mớitrong nông nghiệp, đặc trưng cho trình độ công nghệ cao - ngành sinh vật cảnh, tạonên diện mạo mới của sản xuất nông nghiệp theo xu hướng sản xuất hàng hóa (iii)

Đã có sự gắn kết giữa các cơ sở sản xuất giống với các cơ sở sản xuất làm cho cácchương trình giống gắn với thực tiễn hơn, rút ngắn được quá trình truyền tải tiến bộcủa khoa học và công nghệ đến sản xuất kinh doanh nông nghiệp Tính xã hội hoátrong các hoạt động sản xuất giống được mở rộng Nhiều hộ nông dân với cácphương pháp nhân giống được chuyển giao đã trở thành các cơ sở sản xuất giốngvới quy mô lớn, có thu nhập rất cao như các hộ nông dân sản xuất giống cây ăn quả

ở Tiền Giang, Bến Tre Nhiều giống cây ăn quả quý (bưởi Năm Roi, Sầu riêng Cơmvàng Hạt Lép, Soài nghịch vụ) được phổ biến trên quy mô rộng, trở thành các vùngsản xuất hàng hoá Hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và hiệu quả của sản xuấtgiống được nâng cao

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu của công tác giống dưới sự tác động củakhoa học và công nghệ, quá trình chuyển giao này còn bộc lộ những hạn chế sau: (i)Sản xuất giống chỉ tập trung vào một số trung tâm khoa học lớn, ở thành phố lớn,chưa có truyền tải trên phạm vi rộng, nhất là với những công nghệ đòi hỏi chi phílớn; (ii) Việc truyền tải giống tự phát không gắn với quy hoạch đã dẫn tới tình trạnglộn xộn trong sản xuất một số cây có hiệu quả kinh tế cao; (iii) Cơ chế thị trường đãchi phối rất lớn đến quá trình nhập nội, lai tạo và sản xuất giống Trên thực tế,những loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao được các nhà nghiên cứu, các

Trang 20

nhà kinh doanh chú trọng nên đã có những chuyển biến mạnh Ngược lại, nhữnggiống cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế thấp chưa thực sự được chú ý.

+ Đối với cách mạng hóa học: Các thành tựu của công nghiệp hoá chất đã

được áp dụng mạnh mẽ theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực

* Về tích cực: Đã xuất hiện những quy trình sản xuất theo công nghệ của sản

xuất an toàn của nền nông nghiệp bền vững theo các yêu của của nông nghiệp sinhthái Theo đó, các chất hoá học như phân đạm hoá học, thuốc trừ sâu hoá học đãđược giảm và thay thế bằng các loại phân hữu cơ, phân vi sinh, thuốc trừ sâu thảomộc và các biện pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM) như: Mô hình trồng lúađạt hiệu quả cao, bền vững ở nông trường Sông hậu, nông trường Cờ đỏ, viện lúaĐBSCL ở ô Môn (tỉnh Cần Thơ), đã đưa ra được những biện pháp nhằm giảm chiphí sản xuất lúa bằng cách tiếp cận theo hướng bền vững hệ thống sinh thái đã giảmchi phí từ 20-30% Mô hình sử dụng phân hữu cơ trong sản xuất rau sạch, sử dụngphân vi sinh trong trồng lúa ở Hà Nội Sử dụng chế phẩm EM (hỗn hợp vi sinh vậthữu hiệu) trong chăn nuôi, trồng trọt, xử lý phế thải, chống đất bạc màu đã đượcphổ biến và áp dụng ở nhiều địa phương như Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng, HàNam, Tiền Giang

Những công nghệ sản xuất tiên tiến với những thiết bị khống chế các tác hạicủa tự nhiên, tăng cường hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào trong sản xuất nôngnghiệp như: Sản xuất trong nhà lưới, sử dụng các màng nilon che phủ đất chống cỏdại, giảm thoát hơi nước trong trồng hoa, cây cảnh, trồng rau an toàn và trồng câycông nghiệp, cây ăn quả Phương thức nuôi tôm trên cát nhờ sử dụng thành tựu củahoá chất (nilon) trải trên cát hình thành các đầm nuôi tôm ở các vùng cát trắng…cũng từng bước triển khai ở các địa phương

* Về tiêu cực: Tính chủ động trong áp dụng công nghệ hóa học cho phát

triển nông nghiệp sinh thái mới diễn ra trên phạm vi hẹp và thường gắn với cácChương trình, dự án với sự hỗ trợ của Nhà nước hoặc các tổ chức phi chínhphủ Ngay ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, phạm vicủa áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ hóa học đến sản xuất vẫn còn hạnchế Sản xuất rau sạch (rau an toàn) đã được triển khai ở Hà Nội từ năm 1996.Thành phố đã quy hoạch, xây dựng chương trình, tập trung chỉ đạo và có hỗ trợ

20

Trang 21

về kinh phí, nhưng đến nay chỉ đạt 1/3 so với kế hoạch và chiếm khoảng 1/10diện tích trồng rau của Thành phố Sản xuất nông nghiệp nói chung, sản xuất raunói riêng vẫn còn sử dụng thuốc trừ sâu và phân đạm hoá học ở mức độ khá cao.

Có một số vùng sản xuất, nhờ tác động của khoa học và công nghệ đã tiến hànhsản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế lớn, hiệu quả kinh tế cao (vùng venbiển với nghề nuôi trồng thuỷ sản, vùng Tây nguyên với việc trồng các loại câycông nghiệp) đã khai thác không tương xứng với bảo vệ nên đã làm cho môitrường bị tàn phá, gây những hậu quả nghiêm trọng

+ Đối với lĩnh vực bảo quản và chế biến nông sản: Những thành tựu trong sản

xuất nông nghiệp đã tạo nên những sức ép mạnh mẽ đối với các hoạt động bảo quản

và chế biến nông sản và tạo nên các chuyển biến như: (i) Bảo quản và chế biếnnông sản ở quy mô lớn và mang tính công nghiệp đã diễn ra một cách mạnh mẽ.Sản xuất chè, cao su, bông có sự chuyển biến trong công nghệ chế biến với sự đadạng hơn về công nghệ chế biến và thị trường xuất khẩu Đặc biệt, bảo quản và chếbiến thuỷ sản có sự chuyển biến mạnh nhất Hầu hết, các tỉnh đều có dịch vụ phục

vụ cho đánh bắt xa bờ, các tỉnh nuôi trồng thuỷ sản đều xây dựng các nhà máy chếbiến với công nghệ hiện đại và đa dạng về chủng loại sản phẩm chế biến Đối vớisản phẩm cây ăn quả, các công nghệ bảo quản kéo dài thời gian tiêu dùng tươi củasản phẩm, công nghệ chế biến công nghiệp được mở rộng đối với các cây dứa, xoài,chuối, dừa, vải, mía đường từng bước hạn chế tính thời vụ của sản xuất nôngnghiệp, nâng cao hiệu quả sản xuất; (ii) Các sản phẩm lương thực truyền thống cũng

đã được chú trọng trong bảo quản và chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu Lúa là sản phẩm truyền thống có quy mô lớn, các giống lúa hiện tại cũng đã

và đang đặt ra những yêu cầu với vấn đề bảo quản và chế biến ở những vụ cần tạmtrữ và giá cả thấp Bên cạnh lúa, sản phẩm ngô với các giống ngô lai đã không cònthích hợp với các phương pháp bảo quản cổ truyền ở vùng miền núi phía Bắc vàvùng Tây Nguyên Tình trạng ngô lai năng suất cao, nhưng bị sâu mọt phá hoại hết

đã đặt ra cho các nhà khoa học nghiên cứu các chất và xác định quy trình bảo quản

là một ví dụ; (iii) Đã có sự chuyển biến trong liên kết kinh doanh trong các khâubảo quản và chế biến, nhất là chế biến nông sản Những năm qua một số ngành đãthực hiện phương thức này, làm cho các hoạt động chế biến có điều kiện truyền tải

Trang 22

các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất Hoạt động bảo quản và chế biếnnông sản rất vững chắc ở các liên doanh sản xuất với Đài Loan, Nhật trong ngànhchè đã chứng minh điều này.

Bên cạnh những xu hướng chuyển biến tích cực trên, trong bảo quản và chếbiến nông sản còn có những hạn chế sau: (i) Quy mô bảo quản và chế biến nông sảnchưa đáp ứng yêu cầu quy mô sản xuất nông nghiệp về số lượng sản phẩm và chấtlượng Lượng nông sản được bảo quản và chế biến chiếm tỷ trọng nhỏ so với sảnphẩm sản xuất ra Chất lượng bảo quản và chế biến chưa được đảm bảo kể cả bảoquản và chế biến phục vụ tiêu dùng trong nước Tình trạng sử dụng các chất bảoquản và phụ gia trong chế biến đã gây nên hàng loạt các vụ ngộ độc thực phẩm và

ẩn chứa những nguy cơ gây tổn hại về sức khoẻ có xu hướng gia tăng; (ii) Chưa cóchiến lược cho công nghiệp bảo quản và chế biến nông sản Đặc biệt chưa có sự đầu

tư thoả đáng cho nghiên cứu quy trình, lựa chọn thiết bị công nghệ (ví dụ ở ngànhmía đường ) nên nhìn chung các hoạt động bảo quản và chế biến nông sản vẫnchưa đáp ứng yêu cầu thực tế; (iii) Quản lý nhà nước về bảo quản và chế biến nôngsản vẫn còn yếu, nhiều hoạt động không kiểm soát được

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu NN, NT

- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp có xu hướng chậm lại

Trong những năm đổi mới, nông nghiệp là ngành có vai trò rất quan trọng,với nhiều thành tựu rất nổi bật Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức khá cao,nhiều năm ở mức trên 5%, trong đó năm 2002 đạt 6,2%, năm 2008 ở mức 7,0% Từmột quốc gia luôn thiếu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu lương thực thứ 2thế giới Nông nghiệp là chỗ dựa vững chắc cho phát triển kinh tế xã hội một cáchbền vững khi giải quyết tốt an ninh lương thực, tạo việc làm, bảo đảm thu nhập cho

đa phần dân cư của đất nước

Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế quốc dân theo hướng CNH, HĐH

tỷ trọng của các ngành nông, lâm thủy sản có xu hướng giảm khá nhanh trong cơ cấutổng sản phẩm trong nước ở giai đoạn 1990 đến 2000 Năm 1990, nhóm ngành nônglâm thủy sản chiếm 38,74%, các ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 22,67% vàcác ngành dịch vụ chiếm 38,59% Đến năm 2000, các tỷ trọng biến đổi tương ứng là

22

Trang 23

24,53%; 36,73% và 38,74% Tuy nhiên giai đoạn từ 2001- 2012, giai đoạn thực hiện

CN rút ngắn, thì tỷ trọng NN lại giảm đi với một tốc độ rất chậm, gần như ở mức trìtrệ, đến đến năm 2012 tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản vẫn còn tới hơn 20%.Như vậy, trong vòng 22 năm tỷ trọng của ngành nông, lâm, thủy sản đã giảmtới 19,07% bình quân mỗi năm giảm 0,87%, một mức giảm khá nhanh so với cácgiai đoạn trước đây và gần bằng với mức giảm của các nước trong khu vực Tuynhiên, nếu theo dõi giai đoạn thực hiện CNH rút ngắn, tỷ trọng GDP nông nghiệpgiảm trong cơ cấu ngành lại rất chậm, trong 13 năm chỉ giảm được 5 %, bình quânnăm chỉ đạt con số 0,4% giảm tỷ trọng NN

Xét về cơ cấu lao động, mức độ giảm của tỷ trọng lao động nông, lâm, thủysản trong cơ cấu tổng lao động xã hội khá nhanh Năm 1995, tỷ trọng lao động nôngnghiệp ở mức 71,25% trong tổng lao động xã hội; năm 2000 giảm còn 65,09%, năm

2005 còn 55,1%, năm 2010 còn 51,5% và năm 2012 giảm còn 47,4% Trong 18 năm,

tỷ trọng lao động các ngành nông, lâm, thủy sản đã giảm tới 22,85% trong tổng số laođộng xã hội Tính bình quân, mỗi năm tỷ trọng lao động nông, lâm, thủy sản đã giảm1,27% Tuy nhiên, do tỷ trọng lao động nông lâm, thủy sản trước đây vốn ở mức caonên mức độ giảm trên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của nước trong giai đoạn đẩy mạnhCNH, HĐH Về cơ bản dưới góc độ lao động, Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp ởtình trạng lạc hậu vì tỷ lệ lao động nông lâm, thủy sản ở mức cao; Năng suất lao độngnông nghiệp thấp Đặc biệt, tuy tỷ trọng lao động nông, lâm, thủy sản giảm, nhưng làgiảm về tương đối Xét về tuyệt đối, lao động nông, lâm, thủy sản tăng lên hơn 2 triệungười, lao động nông thôn tăng 3.359 ngàn người

Tuy chuyển dịch của tỷ trọng nông, lâm, thủy sản theo xu hướng giảm về tỷtrọng, nhưng vai trò của nông nghiệp vẫn được phát huy Tạo tính chủ động, giảmbớt tác động tiêu cực do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu Mở rộng côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn từng bước liên kết theo chuỗi vàngành hàng nông sản…

Đi sâu vào nhóm ngành nông, lâm, thủy sản: Chuyển dịch cơ cấu theo hướngkhai thác tiềm năng lợi thế, từ nông nghiệp sang thủy sản…Trong các năm 2000 -

2007, tỷ trọng nông nghiệp từ 79,04% trong cơ cấu các ngành nông, lâm, thủy sản

đã giảm xuống 69,93%; tỷ trọng ngành thủy sản từ 16,26% lên 26,49%

Ngày đăng: 06/05/2015, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. NXB Chính trị quốc gia, 2005 Khác
2. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia, 2006 Khác
3. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI. NXB Chính trị quốc gia, 2011 Khác
4. Đỗ Hoài Nam (Chủ biên): Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, 2003 Khác
5. Nguyễn Văn Thường (Chủ biên): Tăng trưởng kinh tế Việt Nam – Những rào cản cần phải vượt qua. NXB Lý luận chính trị, 2005 Khác
6. Nguyễn Kế Tuấn: Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tạp chí Kinh tế và phát triển (đặc san), 10/2006 Khác
7. Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên): Chất lượng tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế. NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2007 Khác
8. Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Thị Minh: Tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu và chính sách kinh tế ở Việt Nam thời kỳ đổi mới. NXB Khoa học kỹ thuật, 2008 Khác
9. Nguyễn Kế Tuấn: Tái cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam theo yêu cầu phát triển bền vững. Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 145, 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trên cho thấy bức tranh tổng thể về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam trong hơn một thập niên thực hiện mô hình CNH rút ngắn. - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG
Bảng s ố liệu trên cho thấy bức tranh tổng thể về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam trong hơn một thập niên thực hiện mô hình CNH rút ngắn (Trang 3)
Bảng trên đây cho thấy trong giai đoạn 2001 – 2011, giá trị tuyệt đối của MVA của Việt Nam tăng trung bình 11,11%, gần bằng Trung Quốc và cao hơn một - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG
Bảng tr ên đây cho thấy trong giai đoạn 2001 – 2011, giá trị tuyệt đối của MVA của Việt Nam tăng trung bình 11,11%, gần bằng Trung Quốc và cao hơn một (Trang 8)
Bảng 2.11: Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ Việt 2001-2012 (Đơn vị: 1000 USD) - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG
Bảng 2.11 Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ Việt 2001-2012 (Đơn vị: 1000 USD) (Trang 33)
Bảng 2.13: Tăng trưởng XK sang một số nước, vùng lãnh thổ chủ yếu (%) - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG
Bảng 2.13 Tăng trưởng XK sang một số nước, vùng lãnh thổ chủ yếu (%) (Trang 39)
Bảng 2.14: Nhập khẩu chia theo các nhóm hàng giai đoạn 2000 – 2010 - CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ  NHỮNG YẾU TỐ TIỀN ĐỀ VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VIỆT NAM THÀNH NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI THEO ĐỊNH HƯỚNG
Bảng 2.14 Nhập khẩu chia theo các nhóm hàng giai đoạn 2000 – 2010 (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w