Với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế tri thức đã trở thành một xuhướng khách quan, xu hướng này chi phối cả quá trình công nghiệp hóa.Cách thức công ng
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC 3
1 Bản chất của nền kinh tế tri thức 3
2 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức 5
3 Tiêu chí phản ánh phát triển nền kinh tế tri thức 10
II NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC VỚI VIỆT NAM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC 14
1 Những cơ hội 17
2 Những thách thức 18
III BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ PHÁT TRIỂN NƯỚC CÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI 20
1 Bài học kinh nghiệm của một số quốc gia 20
2 Những điều kiện cơ bản cần bảo đảm để phát triển nền kinh tế tri thức gắn với đưa đất nước trở thành nước công nghiệp hiện đại 22
Tài liệu tham khảo 36
Trang 2PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC: THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC
VỚI VIỆT NAM TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XXI
LỜI MỞ ĐẦU
Trong khi đại bộ phận các nước trên thế giới đang trong quá trìnhcông nghiệp hóa, nghĩa là thực hiện quá trình chuyển tử nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, thì các nước công nghiệp phát triểnđang thực hiện quá trình chuyển từ nền kinh tế công nghiệp (hậu côngnghiệp) sang phát triển nền kinh tế tri thức Với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế tri thức đã trở thành một xuhướng khách quan, xu hướng này chi phối cả quá trình công nghiệp hóa.Cách thức công nghiệp hóa theo kiểu truyền thống với những bước đi tuần
tự ngày nay đã tỏ ra không thích hợp, nó làm cho khoảng cách chênh lệch
về trình độ phát triển giữa các nước ngày càng mở rộng Để rút ngắn quátrình công nghiệp hóa, việc kết hợp giữa bước đi tuần tự với bước đi nhảyvọt, thực hiện đồng thời hai quá trình: quá trình chuyển từ nền kinh tế nôngnghiệp sang phát triển nền kinh tế công nghiệp và quá trình đi thẳng từ nềnkinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế tri thức Song đó lại là vấn đề hoàntoàn không đơn giản Nếu không được bảo đảm các điều kiện tiền đề cầnthiết, tư tưởng này đồng nghĩa với tư duy chủ quan duy ý chí, không nhữngkhông đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển, mà thậm chí có thể dẫnđến những trì trệ của quá trình này
Chuyên đề “Phát triển kinh tế tri thức: Thời cơ và thách thức vớiViệt Nam trong nửa đầu thế kỷ XXI” trình bày khái quát những nét cơ bản
về nền kinh tế tri thức, những cơ hội và thách thức với Việt Nam, các điềukiện cơ bản để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Trang 3
I BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1 Bản chất của nền kinh tế tri thức
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, các nhà kinh tế và quản lý tạinhiều quốc gia trên thế giới đã đề cập đến khái niệm “Nền kinh tế trithức” Cở sở đưa ra khái niệm này dựa trên dự đoán về những bước tiếnnhảy vọt, chưa từng thấy về khoa học công nghệ trong thế kỷ XXI
Hiện đang tồn tại những cách diễn đạt khác nhau về kinh tế tri thức:Kinh tế tri thức là biểu hiện hay xu hướng của nền kinh tế hiện đại,trong đó tri thức, lao động chất xám được phát huy khả năng sinh lợi của
nó và mang lại hiệu quả kinh tế lớn lao trong tất cả các ngành kinh tế: côngnghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp và dịch vụ, phục vụ cho phát triển kinh tế
Từ đó, nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế chủ yếu dựa trên cơ sởtri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sử dụng tri thức, phản ánh sự pháttriển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao
Năm 1995, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa rakhái niệm: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập
và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế,tạo ra của cải nâng cao chất lượng cuộc sống”
Kinh tế tri thức còn được hiểu là một loại môi trường kinh tế - kỹthuật, văn hóa - xã hội mới, có những đặc tính phù hợp và tạo thuận lợinhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó, tri thức sẽtất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất, đóng góp vào sự pháttriển kinh tế - xã hội
Theo cách hiểu này, cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế trithức không phải chỉ đơn thuần là việc phát triển khoa học - công nghệ cao
mà là việc phát triển một nền văn hóa đổi mới, sáng tạo để đem lại những
Trang 4thuận lợi cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức, mọi loạihiểu biết của nhân loại.
Gần ba thập kỷ qua, năng lượng trí tuệ của con người ngày càng cóvai trò hết sức quan trọng trong việc tăng năng suất lao động trong sảnxuất, dịch vụ và kinh doanh, trở thành một lực lượng sản xuất quan trọngtrong nền kinh tế tri thức Hiện nay, trên thế giới, nhiều quốc gia, dân tộcđang có những bước đầu tiên trong việc xây dựng và phát triển kinh tế trithức Mỹ đang hoàn tất việc xây dựng những cơ sở ban đầu để phát triểnkinh tế tri thức Tiếp đến là các nước Anh, Pháp, Đức, Singapore…
Phát triển nền kinh tế tri thức có vai trò to lớn trong phát triển kinh tế
- xã hội của mỗi quốc gia và của toàn thế giới
- Kinh tế tri thức mang lại những cơ hội và thách thức lớn trong sự
phát triển chưa từng thấy của nhân loại.
Kinh tế tri thức có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển xã hộingày nay Phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để rút ngắn khoảng cách lạchậu Từ những tri thức, công nghệ kỹ thuật mới, các tư liệu lao động mới,
hệ thống máy móc thông minh, tự động hóa sẽ được tạo ra Quá trình đó sẽgiúp phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyênliệu mới, năng lượng mới,…có thể trước đây chưa từng xuất hiện, tạo ranhiều giá trị sử dụng mới, đáp ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốthơn, giảm bớt việc khai thác các ngường tài nguyên hiện hữu
- Kinh tế tri thức là động lực thúc đẩy tiến trình xã hội hóa quan
hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, làm cho phân công lao động
xã hội phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Kinh tế tri thức được hình thành, phát triển trên cơ sở các ngành sảnxuất sử dụng công nghệ cao Từ đó mà tác động mạnh mẽ đến quá trìnhphát triển của toàn bộ nền kinh tế
Trang 5Nó thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh thông qua các cuộc cáchmạng, cách mạng xanh, cách mạng sinh học…
Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng ra tăng hàm lượng khoa
học-kỹ thuật, công nghệ trong sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị
sử dụng, giá trị trao đổi của sản phẩm công nghiệp
Nó thúc đẩy trí nghiệp phát triển ở các ngành dịch vụ, thông tin,thương mại, tiền tệ,…với nhiều hình thức phong phú Nó thúc đẩy việcnâng cao đời sống xã hội, hướng đến một nền văn minh cao hơn
2 Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức
Ở góc độ kinh tế, nếu xét quá trình lịch sử của lực lượng sản xuất,chúng ta thấy rằng hàm lượng tri thức (chất xám) biểu hiện ngày càng rõ rệt
và trình độ tri thức ngày càng cao trong việc kiến tạo xã hội loài người, cóthể chia làm 3 thời kỳ lịch sử:
Thời kỳ nền kinh tế nông nghiệp
Nền kinh tế nông nghiệp, xuất hiện cách đây khoảng hơn 10 nghìnnăm, từ lao động thủ công thời trung cổ, đại công trường thủ công thờiphong kiến đến thời phục hưng và hiện nay Công cụ sản xuất lúc bấy giờ
là công cụ thủ công, năng lượng chủ yếu lànăng lượng cơ bắp con người,sức kéo của súc vật và các loại năng lượng sơ cấp khác Tri thức được sửdụng trong nông nghiệp ở mức độ rất thấp cho nên khoa học – công nghệchậm phát triển
Thời kỳ nền kinh tế công nghiệp
Là thời kỳ diễn ra hai cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vàlần thứ hai của thế giới (từ cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20) Sản xuất thủcông chuyển sang nền sản xuất dùng máy móc cơ khí, máy mọc điện cơkhí Khoa học công nghệ và tri thức của con người được phát triển mạnh
mẽ là động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội loài người mở rộng Nhiều nước
Trang 6công nghiệp ra đời Chủ nghĩa tư bản thịnh hành Tuy nhiên, nền sản xuấtđại công nghiệp chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên thiên nhiên, đặt ra cho loàingười nhiều thách thức mới về tài nguyên, môi trường, thị trường, bất bìnhđẳng xã hội… Trong đó vấn đề cạn kiệt tài nguyên và biến đổi khí hậu tácđộng đến sinh thái trái đất là những vấn đề cấp thiết của hành tinh xanh.Đểgiải quyết những vấn đề nêu trên, thì khoa học công nghệ và “chất xám”của loài người phải phát triển hơn nữa để đáp ứng yêu cầu mới về đời sống
và sản xuất xã hội
Thời kỳ nền kinh tế tri thức
Nền kinh tế tri thức sinh ra trên cơ sở đồng vốn và tài nguyên thiênnhiên của nền kinh tế công nghiệp, chủ yếu dựa vào “tri thức” con người vàkhoa học công nghệ hiện đại, tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhiều hơn,trình độ dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái đi dần vào ổn định.Khởi đầu là cuộc cách mạng khoa học công nghệ của thế giới và sự cho rađời sản phẩm điển hình là máy tính điện tử (điện toán) “computer” vàogiữa thế kỷ 20 Đặc trưng của giai đoạn này là phát triển hệ thống côngnghệ cao (vi điện tử, máy tính xách tay, điện thoại di động nhiều chứcnăng, quang điện tử, laze, nanô, gen, tế bào gốc…) cùng với việc xuất hiệntruyền thông vệ tinh, mở rộng xa lộ thông tin toàn cầu, cáp quang, truyềnhình kỹ thuật số, sử dụng người máy thông minh, máy tính siêu tốc để quản
lý và điều hành sản xuất kinh doanh cũng như phục vụ cuộc sống dân sinh.Nổi bật là tri thức khoa học tự nhiên hòa quyện với tri thức khoa học xã hộithành một thể thống nhất, bảo đảm cho sự tái tạo cuộc sống loài ngườiđược bền vững Vì vậy, sự hình thành kinh tế tri thức mang tính tất yếu lịch
sử, cho dù nó có thể phát triển không đồng đều trên trái đất với nhiều sắcthái đa dạng
Trang 72/ Tìm các công nghệ mới trở thành loại hình hoạt động quan trọngnhất Doanh nghiệp nào cũng có thể tìm ra công nghệ mới; không còn sựphân biệt giữa phòng thí nghiệm với công xưởng, đồng thời xuất hiện nhiềudoanh nghiệp chuyên về sản xuất công nghệ.
3/ Công nghệ thông tin được tiến hành rộng rãi trong mọi lĩnh vực,mạng thông tin phủ khắp nước và trên thế giới, liên kết các tổ chức, giađình và các quốc gia Thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan trọng.Mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều có sự tác động của thông tin
4/ Dân chủ hóa được thúc đẩy vì mọi người đều dễ dàng truy cậpthông tin mà mình cần Mọi người dân đều có thể biết được các chủ trương,chính sách một cách chính xác, kịp thời Các cơ quan chức năng không thểhoạt động trái luật Mối liên kết giữa chính quyền và người dân bền vững
Trang 85/ Về giáo dục và đào tạo (đầu tư cho con người): được đầu tư caohơn hẳn so với các dự án đầu tư về cơ sở vật chất (nhà máy, công xưởng,khai thác nguyên nhiên liệu ) Mọi người học tập thường xuyên bằng cácloại hình đào tạo đa dạng: học ở trường, học từ xa, học trên mạng thông tin.
6/ Tri thức trở thành vốn quý nhất và là nguồn lực hàng đầu để tăngtrưởng Vốn tri thức không giống như các loại vốn vật chất khác (máy móc,tiền, vàng ) dễ hư hao hoặc mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin dễchuyển giao và chia sẻ
7/ Chu kỳ đổi mới của xã hội ngày càng ngắn, càng nhanh, năng lựcsáng tạo của con người mở ra vô tận Công nghệ đổi mới rất nhanh, có khichỉ tính từng ngày, từng tháng Vì vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại phảiluôn đi tìm công nghệ mới và phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm
8/ Các doanh nghiệp vừa phải cạnh tranh, vừa phải hợp tác để pháttriển ở cả trong nước và quốc tế Triết lý "cả hai cùng có lợi" thấm rộngtrong mọi hoạt động của con người
9/ Các sản phẩm và thị trường ngày càng có tính toàn cầu Nhiềunước cùng tham gia vào sản xuất một sản phẩm Một sản phẩm được tiêuthụ ở nhiều thị trường nhiều nước
10/ Dù xu hướng thông tin, tri thức mang tính toàn cầu hóa nhưngbản sắc văn hóa dân tộc phải được chú ý giữ gìn để tránh bị hòa tan, để tạothêm sức mạnh nội sinh
Cũng có một số tài liệu khác tiếp cận phân tích đặc trưng của nềnkinh tế tri thức một cách toàn diện hơn
- Trong nền kinh tế tri thức, các yếu vật chất cũng như hàm lượngvật chất trong các sản phẩm ngày càng giảm, hàm lượng tri thức, lao độngchất xám, lao động trí óc tăng lên, chiếm tỷ trọng ngày càng cao lớn tronggiá trị sản phẩm
Trang 9Trong nền kinh tế tri thức, các sản phẩm trí tuệ dựa vào nguồn lựchàng đầu là tri thức Đây là nguồn vốn cơ bản của quá trình sản xuất và táisản xuất của xã hội, thay vì chỉ là đất đai, tài nguyên và vốn tiền tệ nhưtrước đây.
Thông tin, kiến thức lao động có trình độ cao được sử dụng nhiều, ít
sử dụng tài nguyên thiên nhiên Những trung tâm công nghệ cao được hìnhthành Đặc biệt tri thức khoa học và công nghệ cùng với lao động kỹ thuậtcao là thành phần quan trọng của lực lượng sản xuất, là lợi thế phát triềnkinh tế Nguồn nhân lực nhanh chóng được tri thức hóa Sự sáng tạo đổimới trở thành yêu cầu thường xuyên đối với mọi người
- Cơ cấu kinh tế kỹ thuật thay đổi một cách sâu sắc, theo hướng trithức hóa, làm thay đổi phương thức tổ chức và quản lý không chỉ trong cácngành đó mà còn tác động đến các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế
Do những thay đổi trong cơ cấu kinh tế - kỹ thuật sẽ làm thay đổi
về chất trong cơ cấu sản phẩm, làm thay đổi cơ cấu giá trị sản phẩm; điềunày tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu lao động xã hội Nếu nhưtrước đây, lao động nông nghiệp chủ yếu bằng tay chân tay, thì sau đó laođộng sản xuất công nghiệp, lao động “ cổ xanh” hầu hết là bằng máy móc.Nhưng từ những năm 1970 đến nay, do lao động và công nghệ phát triển,
đã là xuất hiện một đội ngũ “công nhân cổ trắng” và trong cơ cấu giá trịhàng hóa, lao động trí óc đã chiếm tỷ trọng lớn
- Qui trình công nghệ trong sản xuất luôn luôn được thay đổi, làmcho năng xuất lao động ngày càng tăng, cường độ lao động ngày cànggiảm, chủng loại sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, chất lượng sảnphẩm ngày càng cao, giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của cuộcsống…sự cạnh tranh được tạo điều kiện đầy đủ, sự tăng trưởng kinh tế theochiều sâu, tạo ra lợi thế cho quốc gia, tác động lớn đến đời sống xã hội
Trang 10- Siêu xa lộ thông tin trong hệ thống mạng toàn cầu được hình thành,
có ảnh hưởng to lớn đến lĩnh vực khoa học, kinh tế và văn hóa, quan hệquốc tế, đặc biệt giúp mở rộng thị trường cho các nước… bởi vì nó đảmbảo sự tham gia đông đảo của tất cả các quốc gia trên thế giới Siêu xa lộthông tin sẽ tạo ra một xã hội tri thức, xã hội thông tin mà không có biêngiới Trong nền kinh tế tri thức, khoa học và công nghệ, đặc biệt là côngnghệ thông tin, lựu lượng sản xuất và các hoạt động kinh tế của mỗi conngười, của mỗi quốc gia đều mang tính toàn cầu
- Trong điều kiện của kinh tế tri thức, các thành tựu khoa học – côngnghệ, nhất là công nghệ thông tin được phổ biến và ứng dụng hết sứcnhanh chóng, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Các ngành kinh tếđược tri thức hóa đều phải dựa vào công nghệ mới để đổi mới và phát triển
Chỉ khi nào các ngành công nghệ cao, ứng dụng các tiến bộ khoa học– kỹ thuật hiện đại, có giá trị mới do tri thức đem lại chiếm trên 2/3 tổnggiá trị thì kinh tế tri thức mới được tỏ rõ Tiêu chí của kinh tế tri thức: hơn70% GDP phải được tạo ra từ các ngành sản xuất dịch vụ áp dụng côngnghệ cao; hơn 70% giá trị gia tăng là do trí tuệ mang lại; hơn 70% côngnhân tri thức trong cơ cấu lao động; hơn 70% cơ cấu vốn là vốn con người
3 Tiêu chí phản ánh phát triển nền kinh tế tri thức
Tiêu chí của nền kinh tế tri thức được biểu hiện qua hai nhóm: nhómtiêu chí về cấu trúc kinh tế và nhóm tiêu chí xã hội
Nhóm tiêu chí về cấu trúc kinh tế
Lực lượng sản xuất và tư liệu sản xuất là hai nhóm yếu tố tác độngtới tiến trình phát triển của một quốc gia Lực lượng sản xuất xã hội baogồm người lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động Trong nềnkinh tế tri thức, khoa học kỹ thuật tiến bộ được thể hiện trong cả ba yếu tố
Trang 11của lực lượng sản xuất Dĩ nhiên, trong các yếu tố của lực lượng sản xuất,con người là yếu tố “động nhất”, quan trọng nhất
Tư liệu sản xuất thay đổi, phù hợp với từng xã hội Trong xã hộinông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất; trong xã hội côngnghiệp, công xưởng và nguyên liệu thay thế đất đai Còn trong xã hội thôngtin, cơ sở hạ tầng thông tin và nguồn tài nguyên tin tức sẽ là tư liệu sản xuấtquan trọng nhất Để xây dựng và phát triển thành nền kinh tế tri thức cầnphải đầu tư và phát triển bốn cột trụ quan trọng của nó: công nghệ cao;nhân lực chất lượng cao; cơ sở hạ tầng thông tin và nguồn tài nguyên tintức; thị trường
Thông tin thống kê phản ánh cấu trúc kinh tế của nền kinh tế tri thứcnên chia thành hai nhóm: nhóm chỉ tiêu phản ánh ở tầm vĩ mô và nhóm chỉtiêu phản ánh tầm vi mô
Đối với tầm vĩ mô bao gồm các chỉ tiêu: chi cho nghiên cứu và triểnkhai các công trình khoa học vào thực tiễn so với tổng chi ngân sách nhànước; chi mua và nhận chuyển giao công nghệ so với tổng chi ngân sáchnhà nước; chi cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao so với tổng chicho giáo dục của toàn xã hội; năng suất nhân tố tổng hợp (TFP),v.v…
Đối với tầm vi mô bao gồm các chỉ tiêu: chi cho nghiên cứu và triểnkhai các công trình khoa học vào thực tiễn so với tổng vốn đầu tư của khuvực doanh nghiệp; tỷ lệ cán bộ làm nghiên cứu và triển khai công nghệ củakhu vực doanh nghiệp so với tổng số lao động của khu vực doanh nghiệp;
số lượng máy tính dùng trong khu vực doanh nghiệp,v.v…
Nhóm tiêu chí về xã hội
Từ định nghĩa của nền kinh tế tri thức, có thể khẳng định tri thức vàthông tin là hai yếu tố then chốt và nó quyết định bản chất xã hội của nền
Trang 12kinh tế này - đó là “xã hội thông tin” Xã hội thông tin đòi hỏi năm điềukiện sau đây:
- Cơ cấu sức lao động có sự thay đổi căn bản, những người làmcông tác thông tin chiếm hơn 50% tổng số người đang làm việc;
- Trong tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế, kinh tế thông tin chiếmhơn 50%;
- Công nghiệp thông tin phát triển đầy đủ, xây dựng được mạnglưới thông tin tiên tiến;
- Thông tin hóa đời sống xã hội;
- Tri thức trở thành nguồn tài nguyên to lớn và động lực thúc đẩy chủyếu cho xã hội phát triển
Năm điều kiện của xã hội thông tin gợi cho các nhà Thống kê đưa ra
hệ thống chỉ tiêu để phản ánh, đo lường nền kinh tế tri thức qua các chỉ tiêu
về lao động như: tỷ lệ lao động làm công tác thông tin so với tổng số laođộng đang làm việc trong nền kinh tế, tỷ lệ lao động trí óc so với lao độngchân tay; các chỉ tiêu về tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng thông tin trong đờisống hằng ngày của dân cư
Để phát triển đất nước theo hướng nền kinh tế tri thức, việc hoạchđịnh chính sách của Chính phủ đóng vai trò quan trọng Kinh nghiệm củaHàn Quốc trong phát triển năng lực công nghệ của đất nước thực hiện qua
ba giai đoạn: giai đoạn bắt chước sao chép công nghệ; giai đoạn bắt chướcsáng tạo công nghệ (hai giai đoạn này các tri thức cần có có thể sao chéphoặc mua) và giai đoạn đổi mới công nghệ (giai đoạn phát minh), đáng đểcho chúng ta tham khảo Đi cùng với chính sách của Chính phủ, ngànhThống kê nên chủ động nghiên cứu, đưa ra các thông tin thống kê phục vụkịp thời cho nhu cầu quản lý và phát triển
Trang 13Trên góc độ thống kê, các nhà thống kê học đã đưa ra một số chỉ tiêuthống kê phản ánh nền kinh tế tri thức:
Các chỉ tiêu vĩ mô
1/ Chi nghiên cứu và triển khai các công trình khoa học vào thực tiễn
so với tổng chi ngân sách nhà nước;
2/ Chi cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao so với tổng chicho giáo dục của toàn xã hội;
3/ Tỷ lệ vốn đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin so với tổng vốnđầu tư;
4/ Giá trị chuyển giao công nghệ so với tổng chi ngân sách nhà nước;5/ Tỷ lệ doanh thu của ngành công nghệ thông tin so với tổng giá trịsản xuất của nền kinh tế;
6/ Tỷ lệ doanh thu bán phần mềm so với tổng doanh thu của khu vựcdoanh nghiệp trong nền kinh tế;
7/ Tỷ lệ giá trị tăng thêm của các ngành thông tin so với tổng sảnphẩm trong nước;
8/ Tỷ lệ của sản nghiệp tri thức so với tổng giá trị tài sản của nềnkinh tế;
9/ Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP);
10/ Hệ số đổi mới tài sản cố định;
11/ Nhân tử đầu ra của ngành văn hóa, du lịch văn hóa, du lịch trithức đối với các ngành sản xuất vật chất và tiêu dùng của dân cư;
12/ Hệ số liên hệ xuôi (Fordward linkage), hệ số liên hệ ngược(Backward linkage) của ngành văn hóa, du lịch văn hóa, du lịch tri thức đốivới các ngành sản xuất vật chất và tiêu dùng của dân cư;
Trang 1413/ Tỷ lệ lao động làm công tác thông tin so với tổng số lao độngđang làm việc trong nền kinh tế;
14/ Tỷ lệ lao động trí óc so với lao động chân tay;
15/ Số lượng các đơn vị khoa học công nghệ trong nền kinh tế
18/ Số máy tính dùng trong khu vực doanh nghiệp;
19/ Tỷ lệ doanh nghiệp có Website và truy cập internet;
20/ Tỷ lệ dân cư truy cập internet so với tổng dân số;
21/ Tỷ lệ dân cư tham gia hoạt động thương mại điện tử so với tổngdân số;
22/ Số điện thoại thuê bao tính cho 1000 dân;
23/ Các chỉ tiêu về tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng thông tin trongđời sống hằng ngày của dân cư
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Khoa học và công nghệ Việt Nam là một bộ phận cấu thành của hệthống kinh tế - xã hội Việt Nam, đồng thời vận động và phát triển trong sựtác động mạnh mẽ của những xu thế lớn trên thế giới và khu vực, đặc biệt
là trong bối cảnh của hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới - nềnkinh tế tri thức Bài viết dưới đây nêu lên những cơ hội và thách thức đốivới khoa học công nghệ Việt Nam trong quá trình hội nhập, đặc biệt là khi
Trang 15chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thếgiới (WTO).
Việt Nam hội nhập
Toàn cầu hoá và hội nhập là quá trình vận động mang tính hệ thống
và khách quan trên phạm vi toàn cầu, bao trùm tất cả các mặt đời sống kinh
tế - xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới Hiện tại, Việt Nam đã làthành viên chính thức của WTO, điều này đánh dấu một bước phát triểncao hơn trong quá trình hội nhập - đây là kết quả tất yếu khi mà quá trìnhtoàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi mặt, tác động tới toàn bộ sựphát triển của mỗi quốc gia Trục cốt lõi của xu thế toàn cầu hóa đa diệnnày là toàn cầu hóa về kinh tế Toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra hết sứcmạnh mẽ trên các lĩnh vực sản xuất, thương mại, đầu tư, tài chính Nềnsản xuất thế giới ngày càng mang tính toàn cầu với sự phân công lao độngquốc tế hiện đại, tính tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng lên, tínhđộc lập kinh tế của mỗi quốc gia sẽ trở nên tương đối Không một nướcnào, dù đó là siêu cường kinh tế, có thể phát triển một cách biệt lập Tự dohoá thương mại, đầu tư và tài chính là một xu thế khách quan, chứa đựngnhững yếu tố thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển, đồng thời luôn tiềm ẩnnhững yếu tố bất ổn: Khủng hoảng tài chính, khủng hoảng kinh tế, khủnghoảng môi trường, khủng hoảng văn hóa Trong điều kiện của bất kỳ loạikhủng hoảng nào, thì kẻ thua thiệt nhất vẫn luôn là các nước có cấu trúckinh tế kém bền vững (cứng nhắc, cấu trúc yếu) và kém nhạy cảm vớinhững thay đổi đột biến
Thế giới hội nhập đang và sẽ chứng kiến những tiến bộ thực sự có ýnghĩa về công nghệ thông tin và phát triển cơ cấu thông tin quốc gia; vềcông nghệ vật liệu mới (trong đó có công nghệ nano); về công nghệ sinhhọc (với nền tảng là công nghệ gen) Và kết quả là loài người đang tiến tớingưỡng cửa của xã hội thông tin - tri thức
Trang 16Xã hội thông tin toàn cầu và sự phát triển của nền kinh tế tri thức mở
ra cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam những cơ hội tiếpcận và tiếp nhận những thành quả của tiến bộ khoa học công nghệ để xâydựng những ngành nghề mới có hàm lượng kỹ thuật và tri thức cao, đồngthời cũng đặt ra những thách thức về vốn, đào tạo nguồn nhân lực có trình
độ, tay nghề cao để xây dựng hạ tầng cơ sở thông tin Nhiều thay đổi đangdiễn ra, từ khái niệm đến phương châm hoạt động, từ phương thức tư duy,
ra quyết định đến phương thức học tập Trong khi đó, thời gian vật chất củacon người lại giới hạn Mỗi cá nhân muốn tồn tại và phát triển, phải học tậpthường xuyên và phải thích nghi cao độ với những biến động thườngxuyên Vì vậy, xã hội thông tin mới phải hướng tới học tập thường xuyên,trong đó nền giáo dục phải là một hệ thống mở, đa dạng, linh hoạt, hiện đại
Xu thế hướng tới xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức sẽ làm đổithay sâu sắc diện mạo xã hội: Làm thay đổi phương thức làm việc, học tập
và giải trí của con người; thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân và Nhà nước;thay đổi các phương thức thương mại quốc tế cũng như các phương tiệnsản xuất trong nền kinh tế; và về lâu dài sẽ làm thay đổi các đặc tính vănhoá - giáo dục đã hình thành qua nhiều thế kỷ
Xã hội hóa thông tin - tri thức
Đặc điểm nổi bật của xã hội thông tin - tri thức trong điều kiện hộinhập là sự phát triển không dựa chủ yếu vào các nguồn dự trữ tự nhiên nhưtrong xã hội công nghiệp, mà chủ yếu dựa vào 2 nhân tố quan trọng nhất:Một là, các nguồn lực tri thức khoa học công nghệ - nhân tố động lực chophát triển, nhân tố này có khả năng tái tạo, tự sản sinh và không bao giờcạn kiệt (nếu biết phát huy) Hai là, sức sống của các nền văn hóa trongcộng đồng dân tộc - nhân tố nền cho sự phát triển của cả dân tộc
Chỉ có điều, 2 nhân tố trên mới chỉ là điều kiện cần phải có nếumuốn hội nhập một cách hiệu quả Để minh chứng cho nhận định này, hãy
Trang 17nhìn một chút về quá khứ của Liên Xô, với các nguồn lực tri thức khoa họccông nghệ to lớn; và với sức sống của các nền văn hóa trong cộng đồng dântộc mạnh mẽ Nhưng, thực tế cho thấy phát triển theo kiểu cũ (mặc dù rấtnhiều sáng kiến được thực hiện trong nhiều chục năm) đã bị sụp đổ
Điều kiện đủ là một môi trường lành mạnh, minh bạch và tạo điềukiện cho mọi hình thức lao động sáng tạo có chỗ cạnh tranh và phát triển(sau đây gọi tắt là “môi trường phát triển lành mạnh”) Thiếu điều kiện đủnày, thì mọi nỗ lực phát triển khoa học công nghệ sẽ đưa chúng ta mãi mãidừng ở tiềm năng, mà ở dạng tiềm năng lâu dài, sẽ rơi vào tình trạng hìnhthức và chung quy là: Không hiệu quả
Môi trường phát triển là tổng hòa các yếu tố văn hóa, chính trị, xãhội và kinh tế, tạo nên cơ chế vận hành toàn bộ sự phát triển xã hội nóichung trong giai đoạn lịch sử cụ thể Các yếu tố đó là: Niềm tin của dântộc; Phong cách sống và tư duy; Trình độ dân trí; Kết cấu hạ tầng xã hội;Mặt bằng giá trị kinh tế Mỗi một yếu tố đều là một lĩnh vực rộng lớn Bàiviết này sẽ không đi sâu vào khái niệm của các yếu tố trên
Một điều rõ ràng, môi trường phát triển phụ thuộc cơ bản là vào tàinăng của các nhà lãnh đạo quốc gia ở giai đoạn hiện nay, khi Việt Namvừa gia nhập WTO, có thể nói rằng, môi trường phát triển của Việt Nam sẽ
đi vào quỹ đạo, sẽ lành mạnh với sự phấn đấu thực hiện các cam kết trướckhi gia nhập WTO
Trong điều kiện đó, việc phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam cónhững cơ hội và những thách thức cơ bản nào?
Khả năng tiếp cận thông tin nhanh và khách quan.
Trong bối cảnh hội nhập, chúng ta có nhiều khả năng hơn để tiếpcận nhanh, đầy đủ và khách quan những thành tựu khoa học công nghệ
Trang 18hiện đại của thế giới, tiếp nhận sự chuyển giao những công nghệ thích hợp
mà trong nước chưa đủ năng lực tự làm lấy, nhằm nâng cao trình độ côngnghệ quốc gia, mở mang những ngành nghề mới phục vụ phát triển kinh
tế - xã hội, cho phép tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa bằng conđường được rút ngắn
Khả năng hợp tác quốc tế để nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ
Trong điều kiện trình độ khoa học công nghệ trong nước còn thấpkém, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu chophép chúng ta gửi người đi đào tạo và nghiên cứu ở những nước tiên tiến,nhằm nâng cao trình độ nhân lực khoa học công nghệ, bổ sung các nguồnlực (tri thức, tài chính, thông tin ) để nhanh chóng xây dựng tiềm lực khoahọc công nghệ quốc gia
Khả năng rút ngắn khoảng cách, phát triển nhanh và bền vững
Trong điều kiện của nền kinh tế toàn cầu và hội nhập quốc tế (tức làchấp nhận điều kiện cạnh tranh gay gắt về kinh tế, về khoa học công nghệ
và những đòi hỏi về sự tương hợp với thông lệ quốc tế), với trình độ dân trí
và truyền thống hiếu học của dân tộc, Việt Nam có khả năng rút ngắnkhoảng cách trong phát triển so với các nước trong khu vực và trên thếgiới Song đó mới chỉ là điều kiện cần Điều kiện đủ để khả năng này có thểtrở thành hiện thực là Việt Nam cần có nỗ lực đổi mới mang tính hệ thống,tương xứng với tầm cao nhất của trí thức dân tộc Việt Nam, có khả tạo môitrường phát triển lành mạnh và năng động cho tư duy sáng tạo và cho mọitầng lớp lao động
2 Những thách thức
Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô còn bất cập
Những gì đã làm được trong thời kỳ đổi mới là đáng khích lệ nhưngchỉ là những thay đổi mang tính khai phá, còn thiếu chủ thuyết phát triển xã