Theo tinh thần ấy, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là kết hợpgiữa phát triển theo chiều rộng với chiều sâu và ngày càng hướng mạnh vàochiều sâu, phát triển bền vững, coi trọng n
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
1 TÍNH TẤT YẾU, NHỮNG RÀNG BUỘC, QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 3
1.1 Tính tất yếu của chuyển đổi mô hình tăng trưởng 3
1.2 Những ràng buộc với chuyển đổi mô hình tăng trưởng 5
1.3 Các quan điểm chuyển đổi mô hình tăng trưởng 7
1.4 Định hướng chung 10
2 PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG 17
2.1 Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp 17
2.2 Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp 20
2.3 Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành thương mại, dịch vụ 26
3 MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG 29
3.1 Yếu tố động lực và cơ chế vận hành để thực hiện mô hình 29
3.2 Những nguồn lực bảo đảm cho chuyển đổi mô hình 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 2LỰA CHỌN MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM:
LUẬN CỨ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH HƯỚNG
LỜI MỞ ĐẦU
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000 do Đại hội VII
(1991) thông qua đã xác định: “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển…Khai thác các yếu tố phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu” 1 Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 được thông qua tại Đại hội IX (2001) tiếp
tục khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường… Tăng nhanh năng suất lao động xã hội và nâng cao chất lượng tăng trưởng” 2
Theo tinh thần ấy, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là kết hợpgiữa phát triển theo chiều rộng với chiều sâu và ngày càng hướng mạnh vàochiều sâu, phát triển bền vững, coi trọng năng suất, chất lượng và hiệu quả.Nhưng đáng tiếc là mô hình được thực thi ở Việt Nam trong những năm qualại chủ yếu là tăng trưởng theo chiều rộng dựa trên cơ sở tăng vốn đầu tư, khaithác lợi thế về tài nguyên và sức lao động giản đơn, yếu tố tăng trưởng theochiều sâu còn khá mờ nhạt Tuy mang lại những hiệu ứng tích cực nhất định,nhưng mô hình ấy cũng đã bộc lộ ngày càng rõ những yếu kém, bất cập
Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá mô hình tăng trưởng hiện nay và đềxuất phương hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng thích ứng với điều kiện
và yêu cầu phát triển mới Trong chuyên đề này, xin đề cập một số ý kiến vềtính tất yếu của chuyển đổi mô hình tăng trưởng và đề xuất định hướngchuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới
1 Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới NXB Chính trị quốc gia, 2005, trang 338 – 339.
2 Văn kiện đã dẫn, trang 699.
Trang 31 TÍNH TẤT YẾU, NHỮNG RÀNG BUỘC, QUAN ĐIỂM VÀ
ĐỊNH HƯỚNG CHUNG VỀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1 Tính tất yếu của chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Trong giai đoạn 2001 - 2010, mặc dù nội lực kinh tế còn nhiều hạn chế
và bối cảnh quốc tế có những diễn biến bất lợi, Việt Nam vẫn đạt được nhữngkết quả tích cực trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Tốc độ tăngtrưởng GDP đạt bình quân trên 7%/năm, cao hơn so với nhiều nước trong khuvực và trên thế giới Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tiến bộ;nền kinh tế hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế khu vực và thếgiới; công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu ấn tượng Đếnnăm 2010, với GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD, Việt Nam đã thoátkhỏi nhóm nước nghèo và gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình thấp
Trong khi khẳng định những thành tựu to lớn đó, cũng cần thấy rằng,nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ những yếu kém và bất cập Chất lượng, năngsuất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp kém Tăng trưởng kinh
tế đạt được chủ yếu nhờ tăng đầu tư, khai thác các lợi thế về tài nguyên và sứclao động giản đơn, trình độ công nghệ và đóng góp của khoa học công nghệcòn thấp Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và kém hiệu quả Việc huy động,phân bổ và quản lý sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập Những điều ấydẫn đến hậu quả tất yếu là: nội lực kinh tế thấp kém, dễ bị tổn thương trướcnhững biến động bất lợi của nền kinh tế thế giới; các cân đối kinh tế vĩ môluôn ở trong tình trạng bấp bênh và căng thẳng; gia tăng tình trạng ô nhiễmmôi trường; nguy cơ cạn kiệt nhiều loại tài nguyên
Những hạn chế, yếu kém trên đây có phần nguyên nhân khách quan từtrình độ ban đầu thấp kém và những biến động bất lợi của kinh tế thế giới.Nhưng nguyên nhân chủ quan cơ bản là việc theo đuổi quá lâu mô hình tăngtrưởng theo chiều rộng dựa trên cơ sở tăng đầu tư, khai thác lợi thế về tài
Trang 4nguyên và sức lao động giản đơn Chính mô hình tăng trưởng này đã chi phốicông tác quản lý điều hành thiên về tốc độ tăng trưởng, không coi trọng đúngmức năng suất, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển
Với những bất cập nội tại ấy của nền kinh tế, việc chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng kinh tế được khẳng định là cần thiết Hơn nữa, khi Việt Nam hộinhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế thế giới, những yếu tố mangtính thời đại tạo ra những cơ hội to lớn và những thách thức gay gắt với ViệtNam càng đòi hỏi phải thúc đẩy mạnh hơn quá trình chuyển đổi mô hình tăngtrưởng Đó là:
- Sự phát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, hình thành nềnkinh tế tri thức, phát triển kinh tế xanh thân thiện với môi trường Những yếu
tố này không những chỉ là động lực chủ yếu, mà còn là đường hướng chủ đạocủa tăng trưởng kinh tế, tái cấu trúc kinh tế của các quốc gia Chủ động tiếpnhận quá trình này là yêu cầu với chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế củađất nước
- Toàn cầu hóa và liên kết kinh tế phát triển ngày càng sâu rộng, thúcđẩy quá trình quốc tế hóa sản xuất và phân công lao động, hình thành mạngsản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Trong bối cảnh đó, đánh giá đúng các lợithế và phát huy lợi thế của đất nước để tham gia một cách chủ động và cóhiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu cũng là một yêu cầutrọng yếu mà việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế cần phải hướngđến Kinh tế thế giới đã, đang và sẽ có những biến động khôn lường, trong đóxuất hiện ngày càng nhiều những biến động bất lợi tác động đến tăng trưởngkinh tế toàn cầu và của mỗi quốc gia Tạo lập nội lực mạnh trên nền tảng pháttriển bền vững là cách thức hữu hiệu ứng phó với những tác động bất lợi ấy
- Vai trò ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi, nhất là sự pháttriển mạnh mẽ cuả Ấn Độ và Trung Quốc làm thay đổi cán cân quyền lựckinh tế - chính trị trên thế giới Với vị thế địa chiến lược trọng yếu, ASEAN
Trang 5hội nhập ngày càng sâu rộng, tạo thuận lợi cho sự phát triển của các nướcthành viên và khẳng định vai trò chủ đạo trong một cấu trúc khu vực đangđịnh hình Tuy nhiên, khu vực này cũng là nơi tiềm ẩn những nguy cơ có thểảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của nước ta cũng như các nước trongkhu vực Những yếu tố đó chi phối trực tiếp và ngày càng mạnh mẽ đến quátrình tăng trưởng của Việt Nam với những cơ hội to lớn và những thách thứcgay gắt.
- Tình trạng suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu nhất là nước biểndâng mà Việt Nam là một trong số ít nước chịu tác động nặng nhất, là mộtyếu tố bất lợi vừa hiện hữu vừa tiềm tàng cần được tính toán đầy đủ trong xácđịnh mô hình tăng trưởng của Việt Nam
Với thực trạng nêu trên, điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế trongkhuôn khổ tái cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu tất yếu và cấp thiết đối với ViệtNam Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu cũng như tìnhtrạng suy giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm 2008 -
2009 chỉ cho thấy rõ hơn những yếu kém của nền kinh tế chứ không phải là lý
do chủ yếu, lại càng không phải là lý do duy nhất, đòi hỏi phải điều chỉnh môhình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
1.2 Những ràng buộc với chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Việc điều chỉnh mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phải tính
đến những ràng buộc cơ bản sau đây:
- Ràng buộc về yêu cầu toàn dụng lao động Với tốc độ tăng dân số
hiện nay, hàng năm số lượng lao động tăng thêm cần giải quyết việc làm lêntới 1,7 triệu người Giải quyết vấn đề có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế và chínhtrị - xã hội này là một bài toán hết sức phức tạp Nếu chỉ tập trung phát triểntheo chiều sâu, phát triển các ngành công nghệ cao, sẽ không có khả năng tạothêm nhiều việc làm mới và sẽ không giải được bài toán lao động Điều nàychắc chắn sẽ mang lại những hệ lụy xã hội khó lường
Trang 6- Ràng buộc về nguồn lực tài nguyên Với mỗi quốc gia, nguồn lợi do
tự nhiên mang lại không bao giờ được coi là vô tận Việt Nam không phải làmột ngoại lệ Việc lạm dụng những nguồn lợi tự nhiên với việc khai thác quámức các nguồn lợi tự nhiên, không những chỉ dẫn đến sự mất cân bằng sinhthái ngay ở thời điểm hiện tại, mà còn làm cạn kiệt khả năng phát triển củacác thế hệ tương lai
- Ràng buộc của phát triển khoa học công nghệ Trong thời đại ngày
nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng vàtrực tiếp đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội Trình độ khoa học côngnghệ cũng là yếu tố tạo nền tảng cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh ở cảcấp độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm Nhưng vấn đề không phảigiản đơn là đầu tư nâng cao trình độ công nghệ, mà còn là nâng cao năng lựccông nghệ nội sinh, tạo cơ sở để sử dụng có hiệu quả công nghệ mới và tiếptục phát triển công nghệ lên trình độ cao hơn
- Ràng buộc của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Dẫu rằng
trong thời gian gần đây, chủ nghĩa bảo hộ có chiều hướng gia tăng, nhưngcũng không thể đảo ngược được xu thế tất yếu của toàn cầu hóa Toàn cầuhóa đã biến nền kinh tế của mỗi quốc gia thành một bộ phận của nền kinh tếtoàn cầu và chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự biến động kinh tế toàn cầu Pháthuy lợi thế so sánh, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là đòi hỏi tất yếu trongphát triển kinh tế của mỗi quốc gia
- Ràng buộc của yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái Có thể khẳng
định rằng, hoạt động kinh tế không thể kiểm soát của con người là một trongnhững tác nhân trực tiếp gây nên sự biến đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất
và tình trạng ô nhiễm môi trường Đến lượt mình, những yếu tố đó lại đanggây những tác động tiêu cực ngày càng lớn đến chất lượng cuộc sống Conngười ý thức ngày càng rõ hơn trách nhiệm với bảo vệ môi trường sinh thái vàđang có những hành động cụ thể ngăn chặn tác động tiêu cực của tự nhiên
Trang 7Nhưng từ quyết tâm tới hành động cụ thể vẫn còn khoảng cách khá lớn Hơnlúc nào hết ngay từ bây giờ, việc lựa chọn một mô hình tăng trưởng bảo đảmhài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinhthái phải được mỗi quốc gia đặt ra như một mục tiêu ưu tiên hàng đầu.
1.3 Các quan điểm chuyển đổi mô hình tăng trưởng
Thứ nhất, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững
Phát triển bền vững với sự ràng buộc, ước định lẫn nhau giữa tăngtrưởng kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái là yêu cầuvừa mang tính cấp bách, vừa mang tính cơ bản của Việt Nam Trong nhữngnăm qua, với việc theo đuổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng đã dẫn đếnnhững hệ lụy về xã hội và môi trường, đe dọa trực tiếp sự phát triển bền vững.Trong giai đoạn phát triển mới, phát triển bền vững phải là quan điểm quantrọng hàng đầu trong xác định mô hình tăng trưởng của đất nước Điều này cónghĩa, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với pháttriển các lĩnh vực xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Trong khi coi pháttriển kinh tế và nhiệm vụ trọng tâm, xác định tốc độ tăng trưởng hợp lý, coitrọng năng suất, chất lượng và hiệu quả, cần chú trọng nhiệm vụ phát triển xãhội, đẩy mạnh vững chắc công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển văn hóa
và giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đồng thời áp dụng đồng bộ
và kiên quyết các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái Quan điểm này cầnđược quán triệt và thực thi từ phạm vi từng đơn vị cơ sở, từng địa phương đếnphạm vi toàn ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, phát huy có hiệu quả lợi thế so sánh của đất nước.
Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra những
cơ hội to lớn, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, trong đó thách thức lớnnhất là tình trạng cạnh tranh ngày càng gay gắt ở cả cấp độ quốc gia, ngành,sản phẩm và doanh nghiệp Để vượt qua thách thức đó, cần đánh giá đúng vàkhai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh sẵn có, chuyển lợi thế so sánh thành
Trang 8lợi thế cạnh tranh, đồng thời, tạo lập các lợi thế cạnh tranh mới Tài nguyênthiên nhiên, vị trí địa - kinh tế là những lợi thế so sánh sẵn có, tuy rất quantrọng nhưng không phải là quyết định nhất Thực tiễn đã khẳng định nguồnlực con người là yếu tố nội sinh năng động, quyết định lợi thế cạnh tranh dàihạn của một quốc gia Điều này phù hợp với điều kiện khoa học công nghệ -sản phẩm trí tuệ của con người đóng vai trò quyết định với tăng trưởng vàphát triển Việt Nam không chỉ có lợi thế về số lượng lao động dồi dào và laođộng trẻ, mà quan trọng hơn là con người Việt Nam cần cù, thông minh, cókhả năng tiếp thu nhanh kỹ thuật mới và khả năng thích nghi với sự thay đổi.Quán triệt quan điểm này, trong mô hình tăng trưởng mới cần thể hiện việckhai thác có hiệu quả các lợi thế của đất nước về vị trí địa lý và về tài nguyênthiên nhiên, đồng thời cần chú trọng phát huy tài nguyên nhân lực trên cơ sởkhông ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tạo động lực cho ngườilao động.
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế trên nền tảng ổn định các cân đối kinh tế vĩ mô.
Giữa tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô có quan hệ ràng
buộc, ước định lẫn nhau: một mặt, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng
kinh tế sẽ tạo nền tảng vững chắc cho các cân đối kinh tế vĩ mô giữ được sự
ổn định; mặt khác, sự ổn định của các cân đối kinh tế vĩ mô sẽ thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế bền vững Để thu hẹp khoảng cách phát triển với các nướctrong khu vực và trên thế giới, Việt Nam có nhu cầu đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao phải đạt được trong điều kiện cáccân đối kinh tế vĩ mô được bảo đảm ổn định Thực tế những năm qua chothấy, việc theo đuổi mô hình tăng trưởng theo chiều rộng với chất lượng vàhiệu quả thấp kém là một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạngbấp bênh và căng thẳng trong các cân đối kinh tế vĩ mô: bội chi ngân sách,
nợ công, nhập siêu và lạm phát ở mức cao tác động tiêu cực đến sản xuất vàđời sống
Trang 9Vấn đề là không phải đối lập mục tiêu tăng trưởng với mục tiêu ổn địnhkinh tế vĩ môm mà chủ yếu là phối hợp chúng trong điều hành chính sách đểvừa đạt được tốc độ tăng trưởng hợp lý, vừa giữ được sự ổn định kinh tế vĩ
mô Điều này cũng có nghĩa đạt được lợi ích dài hạn của nền kinh tế và bảođảm mỗi người dân được thụ hưởng những kết quả tích cực của tăng trưởngkinh tế
Thứ tư, phát triển lực lượng sản xuất gắn với xây dựng và hoàn thiện
quan hệ sản xuất phù hợp
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển lực lượng sảnxuất là quy luật khách quan của phát triển các phương thức sản xuất Trongviệc xác định mô hình tăng trưởng mới, việc quán triệt quy luật này phải đượcthể hiện ngay trong nội dung mô hình tăng trưởng và một số giải pháp cơ bảnthực hiện mô hình tăng trưởng Điều này có nghĩa:
- Phát triển mạnh lực lượng sản xuất, ứng dụng ngày càng rộng rãinhững thành tựu mới của khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng cơ bản
để nâng cao hiệu quả và chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh
ở cả cấp độ quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm
- Việc hoàn thiện quan hệ sản xuất phải quán triệt trong cả tư duy,
cơ chế chính sách và hành động thực tế chủ trương chiến lược về pháttriển nền kinh tế nhiều thành phần trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sởhữu, bảo đảm môi trường cạnh tranh và hợp tác bình đẳng giữa các thànhphần kinh tế
- Việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp vớiyêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩakhông phải vì mục đích tự thân, mà nhằm phát triển lực lượng sản xuất,huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoàinước vào đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế mộtcách có hiệu quả
Trang 10Thứ năm, mở rộng và nâng cao hiệu quả của hội nhập quốc tế.
Ngày nay, toàn cầu hóa đã thực sự trở thành một xu hướng khách quan.Phù hợp với xu thế này, kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận của kinh tếtoàn cầu, có ảnh hưởng và chịu sự tác động trực tiếp của những biến độngkinh tế toàn cầu Bởi vậy, xác định mô hình tăng trưởng mới phải đặt trongđiều kiện đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế - xã hộitoàn cầu Với trình độ phát triển còn thấp kém, mô hình tăng trưởng mới phảithể hiện việc phát huy lợi thế so sánh của đất nước, của từng ngành, từngnhóm sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong tham gia các quan hệ kinh tế quốc
tế Đồng thời, mô hình tăng trưởng mới cũng phải thể hiện yêu cầu và nộidung hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, giữ vững độc lập tựchủ và chủ quyền lãnh thổ quốc gia
1.4 Định hướng chung
Trên cơ sở các quan điểm cơ bản này, định hướng chung của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong thời gian tới sẽ phải là kết hợp giữa tăng trưởng theo chiều rộng với tăng trưởng theo chiều sâu, trong đó tăng trưởng theo chiều sâu là hướng đi chủ đạo, kết hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Trong những năm trước mắt, tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng trên
cơ sở khai thác lợi thế về nhân lực và tài nguyên tự nhiên vẫn cần được chútrọng Hướng đi này, một mặt, xuất phát từ yêu cầu toàn dụng lao động và tạothêm nhiều việc làm cho lao động; mặt khác, xuất phát từ thực tế là Việt Namchưa tạo lập được đầy đủ những điều kiện để chuyển ngay sang phát triểntheo chiều sâu, trong đó chủ yếu là sự hạn chế về chất lượng lao động, cơ sở
hạ tầng và khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trong
sự phát triển theo chiều rộng này đòi hỏi phải đặc biệt chú ý đến việc nângcao chất lượng và hiệu quả của sử dụng yếu tố lao động và tài nguyên
Trang 11Tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu dựa trên cơ sở trình độ công nghệ
hiện đại thích hợp, bảo đảm chất lượng và hiệu quả với mức đóng góp chủyếu của năng suất tổng hợp các yếu tố (TFP) được coi là hướng chủ đạo trong
mô hình tăng trưởng mới Hướng đi này không phải chỉ được thực hiện trongtrung hạn và dài hạn, mà phải được thực hiện ngay trong những năm đầu củaquá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng: tăng trưởng theo chiều sâu thể hiệnngay trong tăng trưởng theo chiều rộng thông qua yêu cầu coi trọng năng suất
và chất lượng; các ngành kinh tế trọng điểm, mũi nhọn phải đi ngay vào hiệnđại và phát huy ảnh hưởng lan tỏa đến sự phát triển các ngành kinh tế khác.Hướng đi này phải được bảo đảm bằng sự thay đổi căn bản trong chính sáchđầu tư: tăng cường đầu tư vào các yếu tố bảo đảm cho tăng trưởng theo chiềusâu, trong đó quan trọng hàng đầu là đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhânlực, đầu tư nâng cao năng lực công nghệ nội sinh, đầu tư hiện đại hóa cơ sở
hạ tầng Vai trò của khoa học và công nghệ trong tăng trưởng phải được coi làchìa khóa để có thể sớm thay đổi mô hình tăng trưởng với tiêu hao đầu vào(vốn, đất đai, nguyên liệu, năng lượng…) ở mức thấp hơn nhưng vẫn giữđược mức tăng trưởng, tiến tới tăng trưởng cao hơn
Qúa trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng cũng là quá trình chuyển từ
“nền công nghiệp gia công” hiệu quả thấp và phụ thuộc vào nước ngoài sangchủ động khai thác lợi thế cạnh tranh, thực hiện quan hệ liên kết chặt chẽ giữakhai thác và chế biến, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất và xuất khẩu cácsản phẩm có hàm lượng công nghệ cao Việc chú trọng phát triển công nghiệp
hỗ trợ không những chỉ là một trong những điều kiện cơ bản để thực hiện yêucầu này, mà còn là cách thức tham gia chủ động vào mạng sản xuất toàn cầu vàcải thiện vị trí trong mạng sản xuất toàn cầu
Mô hình tăng trưởng mới phải hướng tới mục tiêu phát triển con người.
Điều đó được thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau đây:
Trang 12- Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện các khía cạnh liên quan đến pháttriển con người: phát huy tác động của tăng trưởng kinh tế đến thúc đẩy pháttriển xã hội, trong đó trọng tâm là xóa đói giảm nghèo bền vững, giải quyết việclàm, phát triển giáo dục, y tế, thể dục thể thao, văn hóa nghệ thuật, bảo đảm bìnhđẳng dân tộc và bình đẳng giới.
- Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tạo điều kiện ngày càng công bằng chomọi người về cơ hội phát triển Điều này liên quan đến việc cần phải thực hiệncác chính sách tạo điều kiện cho mọi người dân nâng cao năng lực tham gia vàoquá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế luôn gắn với nâng cao mức sống chongười dân Điều này được thực hiện qua chính sách phân phối và phân phốilại thu nhập Mô hình tăng trưởng vì con người đặt ra yêu cầu sử dụng để và
có hiệu quả hai phương thức phân phối thu nhập: 1/ Phân phối thu nhập theochức năng, tức là thu nhập của mỗi người được xác định trên cơ sở đóng góp
về số lượng và chất lượng các nguồn lực mà họ đóng góp vào việc tạo ra thunhập cho nền kinh tế; 2/ Phân phối lại thu nhập dưới hình thức trực tiếp (thuế,trợ cấp) và gián tiếp (qua chính sách giá tiếp cận dịch vụ công) để góp phầnđiều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội
Mô hình tăng trưởng mới còn thể hiện tăng trưởng kinh tế theo hướng
thân thiện với môi trường Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo đảm sử dụng
hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, nâng cao khả năng tái sinh tài nguyên, phòng,chống suy thoái và ô nhiễm môi trường sinh thái Qúa trình chuyển đổi mô hìnhtăng trưởng ở Việt Nam cần chú ý tới định hướng coi trọng tăng trưởng kinh tếxanh, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng bền vững Tái cấu trúc các ngànhkinh tế trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại,công nghệ cao, tiêu tốn ít năng lượng và thân thiện với môi trường…
Để mô hình tăng trưởng nêu trên có tính khả thi, tức là đến năm 2030được vận hành đầy đủ, rất cần phải phân chia thành lộ trình Việc phân chia lộ
Trang 13trình, tức là xác định các giai đoạn thực hiện mô hình sẽ giúp xác định một
cách hợp lý mục tiêu cần đạt tới trong mỗi giai đoạn, phù hợp với xu thế và khảnăng thực hiện, có chú ý tốt đến các ràng buộc đặt ra trong quá trình tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam Mặt khác, trên cơ sở mục tiêu của từng giai đoạn,chúng ta có thể tập trung nguồn lực, giải pháp và sử dụng nó theo hướng ưutiên cho những nhiệm vụ cần đạt được của mỗi giai đoạn, giúp cho quá trìnhtiến đến mô hình hoàn chỉnh vào năm 2030 mang tính khả thi cao hơn
Giai đoạn 2011-2020:
- Nội dung: Chuẩn bị (tạo dựng và bắt đầu vận hành) các điều kiện để
thực hiện mô hình tăng trưởng tổng quát, dựa trên việc khắc phục những hạnchế của mô hình tăng trưởng hiện tại và tạo ra được những điểm cầu nối tíchcực cho thực hiện mục tiêu cuối cùng của mô hình tăng trưởng tổng quát đặt ra
- Phương thức thực hiện được xác định theo các điểm chính sau đây:
Nâng cao hiệu quả các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng
Theo nội dung này, trong giai đoạn 2011-2020, tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam, xét trên bình diện lớn, vẫn được tiếp tục dựa trên cơ sở khai thác cácyếu tố tăng trưởng theo chiều rộng nhưng phải được thực hiện với hiệu quảcao Hai yếu tố cần quan tâm nhất là nâng cao hiệu suất sử dụng vốn và năngsuất lao động Nâng cao hiệu suất vốn (vốn đầu tư và vốn sản xuất), bao gồm:
- Tái cơ cấu đầu tư: nhà nước và tư nhân, các vùng, ngành
- Tăng cường quản lý vốn đầu tư, nhằm nâng cao hiệu quả của vốn đầu
tư làm gia tăng nhanh năng lực tài sản sản xuất của nền kinh tế
- Sử dụng triệt để vốn sản xuất đã được trang bị
- Nâng cao năng suất lao động, trong giai đoạn này tập trung trước hếtvào việc sắp xếp, bảo đảm việc làm, giảm tối thiểu tỷ lệ thất nghiệp ở thànhthị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn; nâng cao hiệusuất làm việc của người lao động (gồm: đào tạo nghề, kỹ năng phù hợp vớiđiều kiện làm việc nhằm tạo điều kiện cho người lao động có thể tiếp nhận
Trang 14việc làm trong điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp và yêu cầu lao động caohơn; tăng cường ý thức, kỷ luật và phong cách người lao động nhằm nângcao hiệu suất việc làm; xúc tiến và hỗ trợ giải quyết việc làm nhằm tạo cơ hội
có việc làm phù hợp cho người lao động
Tạo dựng tốt các lợi thế cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát triển các ngành mũi nhọn và các vùng động lực
Để tạo dựng được các lợi thế cạnh tranh quốc tế, trước hết cần xác địnhcác lợi thế so sánh, và sau đó là tiến hành đầu tư để chuyển các lợi thế so sánh
thành lợi thế cạnh tranh Theo hướng này, có hai điểm nhấn về phương thức thực hiện:
- Nguồn lực tăng trưởng phải được phân bổ theo hướng tập trung
(không phân tán, dàn đều cho mọi ngành, mọi địa phương trong cả nước), chocác điểm động lực, bao gồm các ngành mũi nhọn và các vùng động lực
- Nếu xét trên bình diện chung toàn quốc, nội dung chính của giai đoạn
này là thực hiện nâng cao hiệu quả các hình thức đầu tư theo chiều rộng, thìcác điểm động lực lại cần được đầu tư vốn và lao động theo chiều sâu, để cóđược công nghệ cao và nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài) nhằm tạodựng vững chắc các lợi thế cạnh tranh quốc tế
Quá trình tạo dựng các lợi thế cạnh tranh quốc tế nói trên có liênquan trực tiếp đến việc hình thành và phát triển các ngành mũi nhọn vàvùng động lực tăng trưởng
Đối với các ngành mũi nhọn, lộ trình thực hiện: (i) Trước hết, xác định
danh mục các sản phẩm mũi nhọn quốc gia, đó là các sản phẩm gì, nằm trênđịa phương, vùng lãnh thổ nào có khả năng phát triển và lợi thế của sản phẩmnày là gì; (ii) thứ đến, đầu tư theo chiều sâu đối với các sản phẩm mũi nhọn
để chuyển lợi thế so sánh của các sản phẩm đó thành lợi thế cạnh tranh quốctế; (iii) cuối cùng, hình thành cơ cấu ngành kinh tế hợp lý từ các ngành, sảnphẩm mũi nhọn có có lợi thế cạnh tranh quốc tế
Trang 15Đối với các vùng động lực tăng trưởng: đây được coi là các hạt nhân
tăng trưởng theo không gian, có tác dụng giúp cho các sản phẩm mũi nhọnphát huy được các lợi thế cạnh tranh quốc tế Các vùng động lực tăng trưởng
ở Việt nam, chủ yếu bao gồm các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ), các khucông nghiệp (KCN) Nội dung đặt ra đối với phát triển các VKTTĐ và KCNtrong giai đoạn 2011-2020 là: chuyển xu hướng phát triển theo chiều rộng (cả
số lượng, phạm vi không gian, tính chất kinh tế), ngày càng kém hiệu quả củacác VKTTĐ, các KCN trong thời gian qua, sang mô hình phát triển theo chiềusâu với mật độ kinh tế (được đo bằng GDP/km2) ngày càng đậm đặc, đẩymạnh thu hút FDI kết hợp với thực hiện có hiệu quả các nghiên cứu và triểnkhai (R&D), chú trọng đến các mô hình tổ chức sản xuất và liên kết kinh tếhiện đại trong nội bộ vùng và giữa các vùng với nhau, kể cả mối liên kết với
vùng chậm phát triển Lộ trình thực hiện phát triển các vùng động lực theo hướng trên bao gồm: (i) sắp xếp tổ chức lại các VKTTĐ, KCN dựa trên các
yêu cầu nghiêm ngặt của quan điểm địa kinh tế mới, trong đó dấu hiệu về “thếđứng” và lợi thế cạnh tranh là quan trọng nhất, để lựa chọn mạng lưới các
vùng động lực tăng trưởng hợp lý; (ii) đầu tư đồng bộ và theo chiều sâu cho phát triển các VKTTĐ và KCN để tạo ra các đầu tàu tăng trưởng kinh tế thực
sự, nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh tăng trưởng của nền kinh tế
Giai đoạn 2: từ 2021-2030
Nội dung: đạt tới mục tiêu cuối cùng của mô hình tăng trưởng là bềnvững, hiệu quả và vì con người, trên cơ sở: (i) tập trung đầu tư vốn và laođộng theo chiều sâu trên phạm vi toàn nền kinh tế; (ii) phát huy lợi thế của cơcấu kinh tế mở hiện đại, được hoàn thiện theo các lợi thế cạnh tranh ngành sảnphẩm và vùng động lực được phát triển trong giai đoạn 2011-2020; (iii) vậnhành thông suốt cơ chế kinh tế thị trường và gắn chặt quá trình tăng trưởng vớithực hiện tiến bộ xã hội cho con người
Phương thức thực hiện xác định những điểm chính sau đây:
Chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
Trang 16Giai đoạn từ 2021 đến 2030, mô hình tăng trưởng của Việt Nam xét theoyếu tố đầu vào hoàn toàn được dựa trên yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu với
sự đóng góp 2/3 của yếu tố TFP (ngang với Hàn Quốc hiện nay) Trong giaiđoạn này, đi đôi với đầu tư vào công nghệ và lao động chất lượng cao dựa trên
cơ sở tiếp tục thực hiện đầu tư trực tiếp với nước ngoài theo các mô hình liênkết đầu tư trực tiếp, là việc đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước với
sự phát triển mạnh của các khu công nghệ cao của quốc gia và các “vườn ươmcông nghệ” ở các thành phố và khu đô thị lớn Tăng trưởng kinh tế trong giaiđoạn này nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh chất lượng với hiệu quả đạt đượccác chỉ tiêu tăng trưởng ngày càng cao hơn
Hoàn thiện và khai thác tốt các lợi thế cạnh tranh đã tạo dựng từ các sản phẩm mũi nhọn và vùng động lực tăng trưởng:
- Đối với các ngành mũi nhọn: Trên cơ sở của việc đầu tư vốn và lao
động theo chiều sâu cho các ngành có dấu hiệu lợi thế so sánh ở giai đoạn2011-2020, danh mục các ngành kinh tế mũi nhọn đã được hình thành rõ rệt.Giai đoạn 2021-2030 tiếp tục đầu tư theo chiều sâu cho các ngành này đểhoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, đầu tư phát triển cácngành công nghiệp hỗ trợ cho nó để hoàn thiện lợi thế cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường quốc tế Các ngành kinh tế mũi nhọn sẽ được địnhhướng bố trí, tổ chức sản xuất qua các mô hình hiện đại như tập đoàn kinh tế,công ty mẹ con, các công ty liên kết với nước ngoài trên phạm vi lớn hơn
- Đối với các vùng động lực tăng trưởng: Trên cơ sở sắp xếp, tổ chức
lại các VKTTĐ và các KCN trong giai đoạn trước, đến giai đoạn 2021- 2030,tiếp tục hoàn thiện và khai thác các lợi thế nhờ quy mô và nhờ mạng lưới củacác vùng động lực tăng trưởng Nội dung cụ thể bao gồm: tiếp tục hoàn thiệncác vùng động lực tăng trưởng này trên cơ sở thực hiện tốt mối liên kết giữacác vùng động lực với nhau; liên kết giữa vùng động lực và vùng không độnglực; hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực vớicác đầu mối trung tâm thương mại trong nước và các khu vực cảng biển, hàng
Trang 17không, cửa khẩu để phục vụ tốt cho quan hệ trao đổi ngoại thương; hoàn thiện
hệ thống đô thị với các dịch vụ hiện đại trong các VKTTĐ; phát triển các mô
hình tổ chức KCN hiện đại theo kiểu cụm ngành công nghiệp (cluster) nhằm
gia tăng nhanh mật độ kinh tế trên các khu vực động lực của nền kinh tế
TRONG CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG
2.1 Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp
Phát triển và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn 2030
- Điều chỉnh mô hình tăng trưởng công nghiệp theo hướng chuyển từ tăng trưởng công nghiệp về mặt số lượng sang chất lượng dựa trên năng suất, hiệu quả và sáng tạo
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng công nghiệp phải gắn với nâng cao hiệuquả huy động các nguồn lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh của công nghiệpViệt Nam Bên cạnh đó cần nâng cao trình độ công nghệ và tăng năng suất laođộng chuyển sang mô hình công nghiệp hóa phát huy lợi thế so sánh động,dựa vào thực lực và lợi thế mà Việt Nam có thể tiếp cận được
Trang 18Mô hình công nghiệp hóa giai đoạn dựa vào lợi thế động
Theo hình trên, các lợi thế so sánh bậc thấp và bậc cao được thể hiệntrên hai đường cong Đường thẳng nằm giữa thể hiện mức thu nhập trung bìnhcủa các quốc gia và là chỉ giới phân định hai giai đoạn phát triển trong côngnghiệp hóa Lợi thế so sánh bậc thấp bao gồm: (i) lao động giản đơn; (ii)nguyên liệu thô, sản phẩm sơ chế; (iii) vốn vừa và nhỏ; (iv) công nghệ phùhợp (thâm dụng lao động); và (v) sức mua thấp Các lợi thế so sánh bậc caobao gồm: (i) lao động chất lượng cao; (ii) nguyên liệu tinh chế; (iii) vốn lớn;(iv) công nghệ hiện đại; và (v) sức mua cao
Như vậy, trong giai đoạn hiện nay và vài năm sau đó, Việt Nam vẫn phảicòn phải dựa vào các lợi thế bậc thấp và dần chuyển sang các lợi thế bậc cao.Đặc biệt, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kết hợpgiữa công nghệ thâm dụng lao động và thâm dụng vốn và phát triển các ngànhcông nghiệp hỗ trợ cơ bản Với việc trở thành nước thu nhập trung bình, ViệtNam cần chuyển sang giai đoạn 2 và 3 của quá trình công nghiệp hóa
- Phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên
LTSS bậc cao
LTSS bậc thấp
TNTB thấp (1000 USD) TNTB trung bình (5 000 USD) (10 000 USD)TNTB cao
Trang 19Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên đã được xác địnhtrong chiến lược công nghiệp hóa Việt Nam – Nhật Bản bao gồm cơ khí,luyện kim; chế biến nông lâm thủy sản; điện tử và công nghệ thông tin; nănglượng; công nghiệp hóa chất; dệt may, da giầy.
- Phát triển các cụm ngành công nghiệp, tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Định hướng phát triển theo quy trình công nghệ
Khi hệ thống phân công lao động quốc tế vận hành theo nguyên lý
“chuỗi giá trị gia tăng”, định hướng cơ cấu ngành của Việt Nam đương nhiêncũng phải thay đổi Sự thay đổi này diễn ra theo hướng: sự phát triển cơ cấungành từ chỗ định hướng sản phẩm sang định hướng quy trình công nghệ.Khác với trước, ngày nay, việc sản xuất sản phẩm, nhất là các sản phẩm côngnghệ cao diễn ra theo cách: quy trình sản xuất được phân thành nhiều khâu,mỗi nước, mỗi doanh nghiệp chỉ đảm nhiệm một hay một vài khâu trong quytrình mà nước đó, doanh nghiệp đó có thế mạnh Theo nguyên tắc này, đểtham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, Việt Nam cũng phải địnhhướng tạo và tăng cường lợi thế cạnh tranh chỉ ở một số khâu nhất định trongquy trình sản xuất sản phẩm toàn cầu
Trong phạm vi quốc gia, chính sách công nghiệp cần có những giải pháp
và hình thức tổ chức công nghiệp phù hợp để hướng các doanh nghiệp thamgia hệ thống phân công lao động tổ chức theo quy trình, để chúng gắn kết vớinhau chặt chẽ theo quy trình để đạt hiệu quả liên kết tối đa Việc tổ chức cáckhu, cụm công nghiệp theo chuỗi liên kết dọc hay liên kết ngang của từngnhóm doanh nghiệp là cách tổ chức sản xuất hiện đại cần được áp dụng ở ViệtNam
Theo định hướng đó, các doanh nghiệp Việt Nam phải xác định đúng lợithế theo quy trình công nghệ để chen vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu vàkhẳng định vị trí trong đó
Trang 20Tuy nhiên, như vậy vẫn chưa đủ, nếu thỏa mãn với vị trí đã được xáclập, doanh nghiệp Việt Nam sẽ không thể leo lên bậc thang cao hơn trongchuỗi giá trị gia tăng quốc tế (ví dụ các doanh nghiệp dệt may sẽ dừng lại mãi
ở khâu gia công may), chấp nhận phần giá trị gia tăng thấp để cuối cùng chắcchắn sẽ bị loại ra khỏi quy trình Nhiệm vụ quan trọng hơn đặt ra là Việt Namphải luôn luôn có ý thức nỗ lực tạo lợi thế cạnh tranh mới, để nâng cao vị thếcủa mình trong mạng, "chiếm" được khâu tạo giá trị gia tăng cao trong toàn
bộ quy trình (ví dụ chuyển từ khâu gia công may sang khâu phân phối, haythiết kế mẫu, v.v.)
Định hướng phát triển cơ cấu theo quy trình nhằm vào những khâu tạogiá trị gia tăng lớn mà không bị giới hạn ở việc sản phẩm đó là “công nghệcao” hay “không cao” Cách tiếp cận này mở rộng cơ hội tham gia của cácdoanh nghiệp vào hệ thống phân công lao động quốc tế
Định hướng phát triển mạnh những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sang ngành sử dụng lao động có kỹ năng
Trong giai đoạn trước, sự phát triển cơ cấu ngành bị thiên lệch, nghiêng
về các ngành thâm dụng vốn Trong khi đó, Việt Nam lại dư thừa nhiều laođộng phổ thông tiền lương thấp Tình trạng mâu thuẫn này gây ra hậu quảnghiêm trọng kéo dài: sự “lệch pha” trong quá trình chuyển dịch cơ cấungành: cơ cấu sản lượng biến đổi tích cực và nhanh hơn nhiều so với cơ cấulao động Cũng vì thế, lợi thế tiềm năng to lớn của nguồn nhân lực (lợi thếtĩnh) không tận dụng được, gây căng thẳng xã hội
Việc giải quyết tình trạng bất cập này là một trong những ưu tiêu hàng đầucủa mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn tới Việc giải quyết vấn đề gắn với việc trả lời câu hỏi: lực lượng kinh tế nàogiúp cho quá trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển mạnh nhữngngành sử dụng nhiều lao động diễn ra một cách hiệu quả nhất? Kinh nghiệmthực tế đã đưa ra một phương án trả lời rất rõ: tạo điều kiện thuận lợi cho khu
Trang 21vực tư nhân phát triển Như vậy, trọng tâm vấn đề lại chuyển sang hệ thốngchính sách khuyến khích và cơ chế
2.2 Phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp
Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng đầu tư cơ sở vật chất, hệ thống hạ tầng
cho nông nghiệp, nông thôn thông qua thực thi Chương trình xây dựng nôngthôn mới một cách thiết thực, vững chắc, tránh chạy theo phong trào, hìnhthức gây lãng phí, hiệu quả kinh tế, xã hội thấp Hiện nay Chương trình xâydựng nông thôn mới đang ở giai đoạn đẩy nhanh
Theo mục tiêu của xây dựng nông thôn mới, đến năm 2015 có 20% số xãđạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới).Đến năm 2020, số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới là 50% Với mục tiêu này,công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn mới chỉ đủ điều kiện để hòa nhậpvào thực trạng phát triển kinh tế, xã hội chung để đạt trình độ bước đầu củanước công nghiệp
Để đạt được mục tiêu của Chương trình xây dựng nông thôn mới cầnphải đầu tư nguồn lực rất lớn lên đến 1.750.000 tỷ đồng (tính 5.000 xã, mỗi
xã cần 350 tỷ) Đây là nguồn lực lớn, nếu theo cơ chế huy động hiện nay sẽkhông thể thực thi nổi Vì vậy, theo chúng tôi, cần tập trung hơn nữa nguồnlực cho thực thi Chương trình xây dựng nông thôn mới Nhà nước cần thayđổi tỷ lệ đầu tư vốn ngân sách theo hướng tăng cường cho nông nghiệp, nôngthôn Cần tổng kết các mô hình thực thi tốt nhiệm vụ xây dựng nông thôn mớitheo từng vùng, với các điều kiện đặc thù để áp dụng theo từng nơi có cùngđiều kiện Rà soát lại các tiêu chí xây dựng nông thôn mới, các tiêu chí địnhchuẩn các lĩnh vực về hạ tầng, về y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao theo điềukiện cụ thể của từng vùng
Thứ hai, chuẩn bị các điều kiện về vốn, nguồn nhân lực, cơ chế chính
sách, đa dạng hóa các hình thức tổ chức kinh doanh đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 22Với điều kiện ở nông thôn, các điều kiện thực thi công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn là không thể đảm bảo Vì vậy chúng tôi kiến nghị cần đẩymạnh tạo dựng các điều kiện để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn Cụ thể:
- Vấn đề vốn cho công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn: Chính sáchvốn cần có sự thay đổi theo hướng tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nôngthôn Cụ thể, (i) tạo mọi điều kiện để huy động triệt để các nguồn vốn trongnước (vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn trong dân ) và nguồn vốn nướcngoài (vốn hợp tác liên doanh, liên kết với nước ngoài, vốn vay và vốn viêntrợ ) để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các ngành, lĩnh vực trongnông nghiệp, nông thôn; (ii) bên cạnh các chính sách thu hút vốn, quá trìnhcông nghiệp hóa cần nâng cao năng lực của các đơn vị cá nhân sử dụng vốn,khắc phục các đặc điểm sản xuất nông nghiệp và chất lượng lao động thấp
- Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn: Hiện tại, chất lượng nguồn lao động của nông nghiệp,nông thôn ở mức độ thấp nếu so với yêu cầu của công nghiệp hóa nôngnghiệp, nông thôn Vì vậy, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chonền kinh tế nói chung, cho nông nghiệp, nông thôn nói riêng là rất cần thiết.Đối với đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn cần lưu ý:
+ Trong xu hướng biến động nguồn lao động có lượng rất lớn lao độngnông nghiệp, nông thôn với chất lượng cao luôn muốn bứt và đã bứt ra khỏinông nghiệp, nông thôn Vì vậy, xác định nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp,nông thôn cần phải tính tới hiện tượng lao động với chất lượng cao chuyển rakhỏi khu vực này Nói cách khác cần tính tới nhiệm vụ của nông nghiệp, nôngthôn đào tạo cho các ngành và lĩnh vực khác để có sự đầu tư hợp lý
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn với chất lượngthấp như vậy, nên nội dung đào tạo rất lớn, đối tượng đào tạo phức tạp, sốlượng lớn, vì vậy cần có những hình thức và thời gian đào tạo hợp lý
Trang 23+ Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn với mức sống thấp, điều kiệnhọc tập khó khăn, vì vậy cần có chính sách hỗ trợ, thu hút trong đào tạo.Trước mắt cần rà soát lại chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôntheo Quyết định 1956 của Chính phủ Thực hiện tốt các chương trình phổ cậpnhững kiến thức kỹ thuật mới, các kiến thức kinh tế thị trường cho nông dânthông qua các tổ chức khuyến nông và các chương trình dự án.
- Về vấn đề đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất: Đẩy mạnh sắpxếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành; chú trọng sắp xếp, đổimới các nông trường, lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp nâng caohiệu quả sử dụng tài nguyên rừng và đất; đổi mới và nâng cao hiệu quả, tráchnhiệm của các công ty thủy nông; tiếp tục nghiên cứu hình thức tổ chức phùhợp hơn cho các doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển đổi thời gian qua.Khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, các nhóm kinh tế tự nguyện tham giavào sản xuất, kinh doanh nông nghiệp; nâng cao năng lực tổ chức quản lý vàhoạt động của hợp tác xã nông nghiệp trong việc cung cấp dịch vụ nôngnghiệp đầu vào, chế biến nông sản và tiếp cận thị trường cho các thành viên;chuyển giao một số chức năng dịch vụ công của nhà nước cho các hiệp hội(xúc tiến thương mại, khuyến nông, dự báo thị trường, tiêu chuẩn chất lượng,
xử lý tranh chấp ); đẩy mạnh mối quan hệ liên kết giữa nhà nước, nhà nông,nhà khoa học, nhà doanh nghiệp Phát triển và đa dạng hóa các hình thứckhuyến nông Hỗ trợ nông dân kết nối với các doanh nghiệp chế biến, hệthống tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành mạng lưới sản xuất và chuỗicung ứng kết nối sản xuất, chế biến, phân phối và bán sản phẩm; kết nối côngnghiệp phục vụ nông nghiệp với sản xuất nông nghiệp, kết nối “bốn nhà”trong sản xuất, tiêu thụ; khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp chế biếnnông, lâm, thủy sản theo hướng hiện đại, chế biến tinh, chế biến sâu; giảmdần và tiến tới hạn chế xuất khẩu nông sản thô
Thứ ba, đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng
khai thác tiềm năng, lợi thế và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 24Ngày 10 tháng 06 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề ántái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và pháttriển bền vững Đề án đã xác định rõ mục tiêu, định hướng và xác định khá cụthể các nội dung của tái cơ cấu Đặc biệt, đề án đã đề xuất các giải pháp kháđồng bộ, khả thi và có cơ sở khoa học, trong đó đã nhấn mạnh các vấn đềnhư: Nâng cao chất lượng quy hoạch, rà soát, gắn chiến lược với xây dựngquy hoạch, kế hoạch, quản lý giám sát nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đốivới quy hoạch Khuyến khích, thu hút đầu tư tư nhân; Nâng cao hiệu quả quản
lý và sử dụng đầu tư công; Cải cách thể chế, Cải cách hành chính và tiếp tụcsửa đổi, hoàn thiện hệ thống chính sách Để thực thi các giải pháp trên, chúngtôi kiến nghị:
Khi thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp cần phải lưu ý đến 3 nội dung quantrọng, đó là: tái cơ cấu không gian sản xuất nông nghiệp; tái cơ cấu chuỗingành hàng nông sản và tái cơ cấu đối tượng tham gia sản xuất nông nghiệp.Thực tế cho thấy, trên mỗi vùng của đất nước, nông nghiệp có lợi thế và chứcnăng, vai trò kinh tế, xã hội, sinh thái môi trường khác nhau Do vậy, cần thiết
có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng vùng Quá trình tái
cơ cấu cần định hình rõ cơ chế, chính sách, chiến lược phát triển các mô hìnhsản xuất phù hợp theo vùng miền Có như vậy, tiềm năng lợi thế của từngvùng mới được phát huy; sản phẩm nông nghiệp mới có sức cạnh tranh cao,nông nghiệp mới đạt được mục tiêu phát triển hiệu quả và bền vững
Thứ tư, đổi mới công tác xây dựng và tổ chức quy hoạch phát triển kinh
tế nông thôn Nâng cao chất lượng quy hoạch, rà soát, gắn chiến lược với xâydựng quy hoạch, kế hoạch, quản lý giám sát nâng cao hiệu lực quản lý nhànước đối với quy hoạch, cụ thể:
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp trên cơ sởphát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng miền; đảm bảo thực hiện chiến lượcphát triển xanh và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; loại bỏ các dự án
Trang 25treo, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
- Rà soát, đánh giá lại quy hoạch rừng, duy trì hợp lý diện tích rừng đầunguồn, rừng đặc dụng, đổi mới cơ chế và tổ chức quản lý rừng theo hướng nângcao quyền tự chủ cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, chuyển đổi số diện tíchrừng còn lại sang phát triển vùng rừng nguyên liệu tập trung, phát triển và khaithác rừng một cách có hiệu quả, bền vững, nâng cao thu nhập và đời sống củangười lao động lâm nghiệp
- Rà soát, quy hoạch và quản lý vùng nuôi an toàn môi trường, an toànthực phẩm; điều tra ngư trường, phân tích nguồn, trữ lượng hải sản và giámsát mức độ đánh bắt, bảo vệ nguồn lợi và môi trường
- Tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, nhất là sự kết hợpgiữa quy hoạch vùng với quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội; thực hiện công khai, minh bạch đối với các loại quyhoạch
Thứ năm, giải quyết một cách đồng bộ các vấn đề kinh tế với các vấn đề
xã hội ở nông thôn, đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng và côngbằng xã hội Để giải quyết mối quan hệ đó, cần tập trung vào các vấn đề sau:
- Phải lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, nỗ lực phát triển sức sản xuất,đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng tăng trưởng bền vững Của cải vậtchất phong phú là cơ sở vật chất thực hiện công bằng xã hội Chỉ có nỗ lựcphát triển sức sản xuất, sáng tạo ra của cải vật chất ngày càng phong phú,chúng ta mới có khả năng đáp ứng và nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân
- Giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường
và xây dựng văn hoá Kinh tế thị trường đã góp phần giải phóng các tiềmnăng kinh tế, làm năng động hoá đời sống kinh tế, tạo điều kiện phát triển chocác thành phần kinh tế, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuynhiên, kinh tế thị trường cũng dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc, hiện tượng