Cùng với việc đadạng hóa các nguồn năng lượng, phát triển ngày càng mạnh mẽ các nguồnnăng lượng sạch – thân thiện mới môi trường để đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của sản xuất và đời sống
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ DẦU 2
I- KHÁI QUÁT TIỀM NĂNG, SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG NĂNG LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI 3
1 Về nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên 3
2 Những vấn đề tồn tại trong sản xuất và tiêu dùng năng lượng 4
3 Vấn đề tiết kiệm năng lượng 9
4 Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng 15
II- TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM 18
1 Khái quát về nguồn nhiên liệu, năng lượng 18
2 Thực trạng sản xuất và tiêu dùng năng lượng ở Việt Nam 23
3 Tương quan tăng trưởng kinh tế và năng lượng ở Việt Nam 27
III-CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM 30
1 Quan điểm phát triển 30
2 Mục tiêu phát triển 31
3 Định hướng phát triển 34
4 Các chính sách 37
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 2XU HƯỚNG SẢN XUẤT, TIÊU DÙNG NĂNG LƯỢNG
TRONG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XXI VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM
LỜI MỞ DẦU
Bảo đảm năng lượng được coi là “chìa khóa” của tăng trưởng kinh tế
và cải thiện đời sống dân cư Bởi vậy, tất cả các quốc gia đều quan tâm xâydựng và thực thi chiến lược năng lượng để vừa đáp ứng được nhu cầu ngàycàng tăng và vừa bảo đảm được an ninh năng lượng đối phó với những biếnđộng bất lợi có thể xảy ra Tuy nhiên, việc phát triển năng lượng bằng mọigiá lại dẫn đến nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và gia tăng tình trạng ô nhiễmmôi trường
Nhận thức ngày càng rõ tính sống còn của bảo đảm năng lượng và anninh năng lượng, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học - côngnghệ, hướng tới yêu cầu phát triển bền vững, việc sản xuất và tiêu dùng nănglượng trong thế kỷ XXI có những thay đổi hết sức cơ bản Cùng với việc đadạng hóa các nguồn năng lượng, phát triển ngày càng mạnh mẽ các nguồnnăng lượng sạch – thân thiện mới môi trường để đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng của sản xuất và đời sống, tất cả các quốc gia đều hết sức coi trọng việc
sử dụng hợp lý và tiết kiệm năng lượng
Việt Nam tuy được đánh giá là có tiềm năng to lớn trong việc phát triển
đa dạng các nguồn năng lượng, nhưng trong những năm qua lại luôn phải đốiphó với tình trạng thiếu hụt năng lượng Điều đó đã có ảnh hưởng không nhỏđến phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Việc phát triển sản xuất
và tiêu dùng năng lượng của Việt Nam trong những năm tới phải đặt trong xuthế chung của thời đại
Chuyên đề này sẽ đề cập một số nét khái quát về xu thế phát triển sảnxuất và tiêu dùng năng lượng của thế giới và chiến lược phát triển sản xuất,tiêu dùng năng lượng của Việt Nam trong điều kiện phát triển mới
Trang 3I- KHÁI QUÁT TIỀM NĂNG, SẢN XUẤT VÀ TIÊU DÙNG NĂNG LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI
1 Về nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên
Dầu mỏ
Nguồn dầu mỏ được chia ra thành 3 loại chính: trữ lượng phát hiện(Proved reserve: dầu đã được tìm thấy nhưng chưa khai thác); gia tăng trữlượng (Reserve growth: sự tăng trữ lượng dầu mỏ do những yếu tố công nghệdẫn tới việc tăng hệ số thu hồi dầu); và trữ lượng chưa được phát hiện(Undiscovered: dầu mỏ được xem có khả năng tìm thấy nếu tiến hành thămdò) Trữ lượng dầu mỏ lớn nhất tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển,đặc biệt là ở Trung Đông, châu Phi, Trung và Nam Mỹ Trữ lượng dầu mỏcủa các nước OPEC chiếm tới 57% tổng trữ lượng của toàn thế giới Với đàkhai thác như hiện nay và dựa trên trữ lượng ước tính nắm được thì nguồndầu mỏ dự trữ cũng chỉ có thế đáp ứng cho thế giới một khoảng thời giankhông dài nữa Chính vì vậy, việc tìm kiếm nguồn năng lượng mới để thaythế cho dầu mỏ và các nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt là nhiệm
vụ vô cùng thiết yếu
Khí tự nhiên
Cùng với dầu mỏ, gần đây, khí thiên nhiên đã và đang được coi là mộttrong những nguồn nhiên liệu có nhu cầu tiêu thụ rất lớn trên thế giới với nhucầu hàng năm tăng nhanh nhất, trung bình 2,2% kể từ năm 2001 đến 2025, sovới nhu cầu tiêu thụ tăng 1,9% đối với dầu mỏ hàng năm và 1,6% hàng nămđối với than Nhu cầu tiêu thụ khí thiên nhiên vào năm 2025 ước tính sẽ là
151 nghìn tỷ feet khối, tăng lên gần 70% so với nhu cầu tiêu thụ của năm
2001 Như vậy, mức tiêu thụ khí thiên nhiên trong tổng các loại năng lượngtiêu thụ sẽ tăng từ 23% năm 2001 lên 25% vào năm 2025
Kể từ giữa những năm 1970, trữ lượng khí thiên nhiên của thế giới đãtăng lên hàng năm Tại thời điểm ngày 1/1/2004, trữ lượng khí tự nhiên phát
Trang 4hiện ước tính vào khoảng 6.076 nghìn tỷ feet khối, tăng hơn 10% so với năm
2003 Hơn 3/4 trữ lượng khí thiên nhiên trên thế giới tập trung ở Trung Đông,Đông Âu và Liên Xô cũ, trong đó Nga, Iran và Qatar chiếm khoảng 58%
Cho dù mức độ tiêu thụ khí thiên nhiên tăng cao, đặc biệt là trong thậpniên vừa qua, thì trữ lượng khí để sản xuất sản phẩm khí thiên nhiên ở hầu hếtcác khu vực vẫn còn khá lớn và ước tính sẽ dùng được trong khoảng 60 - 70năm nữa Từ đây đặt ra vấn đề làm thế nào để khai thác được tiềm năng củakhí tự nhiên để thay thế cho dầu mỏ trong thời gian trước mắt
Than
Là nguồn nhiên liệu hóa thạch được sử dụng từ lâu nhất trên thế giới.Tổng trữ lượng than trên toàn thế giới được ước tính là 1.083 tỷ tấn, đủ cungcấp cho khoảng 210 năm nữa với mức tiêu thụ như hiện nay Mặc dù phân bốrộng rãi nhưng 60% trữ lượng than của thế giới tập trung ở 3 quốc gia: Mỹ(25%); Liên Xô cũ (23%) và Trung Quốc (12%) Bốn quốc gia khác là Úc,
Ấn Độ, Đức và Nam Phi chiếm khoảng 29%
Các đặc trưng về chất lượng và địa chất của trầm tích than cũng là cáctham số rất quan trọng đối với trữ lượng than Than là loại năng lượng hóathạch hỗn tạp hơn rất nhiều so với dầu mỏ và khí tự nhiên và chất lượng của
nó biến đổi theo từng khu vực hay thậm chí ngay bên trong cùng một vỉathan
Một loại than có chứa hàm lượng Bitum thấp hơn gọi là “than nâu” haythan non, không có tính thương mại trên thị trường thế giới vì lượng nhiệt rất thấp
Từ khái quát tình hình trên cho thấy nguồn nhiên liệu hóa thạch đangdần cạn kiệt, các nước trên thế giới đang cố gắng khai thác thêm các nguồnnhiên liệu khác như hạt nhân, thủy lực, nguyên liệu gió, sinh học, năng lượngmặt trời, địa nhiệt, thủy triều hay pin năng lượng…
2 Những vấn đề tồn tại trong sản xuất và tiêu dùng năng lượng
Trang 5Thế giới vào những năm đầu của thế kỷ thứ 21 đang đứng trước nhiềuvấn đề cần phải đối mặt Trong đó, vấn đề được xem là nóng bỏng nhất và thuhút sự quan tâm của tất cả các quốc gia hiện là hiện tượng ấm lên toàn cầu dotác động của hiệu ứng nhà kính và sự khủng hoảng về năng lượng Theo dựbáo của Cơ quan thông tin về năng lượng (EIA) vào năm 2004, trong vòng 24năm kể từ năm 2001 đến năm 2025, mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thếgiới có thể tăng thêm 54% (ước tính khoảng 404 nghìn triệu triệu Btu năm
2001 tới 623 Btu vào năm 2025) mà nhu cầu chủ yếu sẽ rơi vào các quốc gia
có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, ví dụ như Trung Quốc hay Ấn Độ ởchâu Á
Các cuộc chiến để giành giật nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt làdầu mỏ, khí tự nhiên, nguồn nước đang có xu thế ngày càng gia tăng trên thếgiới như cuộc tranh chấp gần đây Thế giới ngày càng nổi cộm lên cuộc chơitranh giành các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu lửa, tuyếnđường vận chuyển cũng như thị trường sản xuất và tiêu thụ dầu lửa, thườngxảy ra ở các khu vực có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại cótình hình chính trị không ổn định như ở Trung Đông, Châu Phi…
Dân số tăng nhanh và tốc độ đô thị hóa chóng mặt trên toàn cầu cũng làmột yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu về năng lượng Do vậy, dù mức tăngtrưởng kinh tế ở những nước này phân bố đều ra cho số dân thì thu nhập bìnhquân đầu người vẫn giảm, cho dù tổng sản phẩm quốc nội có tăng lên Khidân số tăng thì số dân sốngở khu vực thành thị của các nước đang phát triểncũng tăng lên cộng thêm với quá trình đô thị hóa sẽ làm cho các đòi hỏi vềnăng lượng tăng cao, như năng lượng sử dụng cho thắp sáng, công nghiệp,giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ…
Tác động tới môi trường sinh thái
Khi đề cập về tình hình dự trữ, khai thác hay sử dụng các nguồn nănglượng nhất là nguồn năng lượng hóa thạch trên thế giới, không thể bỏ qua
Trang 6những tác động trực tiếp cũng như gián tiếp của các hoạt động đó đối với môitrường Hiện nay cũng như trong các thập kỷ sắp tới đây, việc làm sao đểgiảm thiểu khí nhà kính sinh ra trong quá trình sử dụng và đốt cháy nănglượng là một vấn đề vô cùng cấp thiết vì sự gia tăng lượng khí nhà kính sẽgây ra sự thay đổi khí hậu toàn cầu do trái đất nóng lên và làm cho không khítrở nên ô nhiễm nặng nề.
Căn cứ vào những kỳ vọng về tăng trưởng kinh tế khu vực và sự lệthuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch cho thấy, việc thải khí carbon dioxidetrên toàn cầu sẽ tăng nhanh hơn rất nhiều trong cùng một chu kỳ so với nhữngnăm 1990 Sự tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch tăng cao đặc biệt là ở những nướcđang phát triển phải có trách nhiệm rất lớn đối với việc tăng rất nhanh lượngkhí thải carbon dioxide bởi vì mức tăng trưởng kinh tế và sự gia tăng dân sốcao hơn nhiều lần so với ở các nước công nghiệp hóa, mà cùng với nó sẽ làviệc nâng cao mức sống, cũng như nhu cầu về năng lượng sử dụng trong quátrình công nghiệp hóa Thải khí nhà kính nhiều nhất trong số những nước nàychính là Trung Quốc, quốc gia có tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầungười cũng như sử dụng nhiên liệu hóa thạch cao nhất
Theo dự báo qua từng giai đoạn thì dầu vẫn là nguồn nhiên liệu chủ yếugây ra khí thải CO2 ở các quốc gia công nghiệp hóa vì nó vẫn là một phầnquan trọng được sử dụng trong ngành vận tải Sử dụng khí tự nhiên và lượngkhí thải sinh ra trong quá trình sử dụng cũng được dự đoán là sẽ tăng lên, đặcbiệt trong ngành công nghiệp điện và có thể lượng khí thải sinh ra trong quátrình sử dụng khí tự nhiên sẽlên tới 24% vào năm 2025
Dầu mỏ và than đã và đang được coi là năng lượng chính gây ra phầnlớn lượng khí thải CO2 ởcác nước đang phát triển Trung Quốc và Ấn Độ vẫnđược cho là hai nước sử dụng nguồn than nội địa để dùng trong việc phát điện
và các hoạt động công nghiệp Hầu hết các khu vực đang phát triển vẫn sẽ
Trang 7tiếp tục sử dụng chủ yếu là dầu mỏ để đáp ứng các nhu cầu về năng lượng đặcbiệt là năng lượng sử dụng trong lĩnh vực vận tải
Nhu cầu về năng lượng và cùng với nó là lượng khí thải CO2 và các khíkhác thường gọi chung là “khí nhà kính” đã và đang tăng lên trong suốt 50năm qua Sự tăng lên của lượng khí nhà kính này sẽ làm cho khí hậu toàn cầu
ấm lên và kéo theo nhiều vấn đề khác liên quan Sự thay đổi khí hậu là vấn đềquan tâm lớn nhất của toàn cầu có liên quan rất lớn đến việc sản xuất cũngnhư tiêu thụ năng lượng
Nghị định thư Kyoto nêu rõ việc ngăn ngừa biến đổi khí hậu là tráchnhiệm chung của tất cả các nước, song có phân biệt theo mức độ phát triển kinh
tế, trong đó buộc 38 quốc gia công nghiệp phải hạn chế thải khí nhà kính (chủyếu CO2) để ngăn chặn hiện tượng nóng lên toàn cầu Theo đó, chậm nhất làvào năm 2012, 38 nước phải cắt giảm ít nhất là 5% lượng khí thải với năm
1990, riêng Mỹ phải giảm 7% vì nước này chỉ chiếm 6% dân số thế giới,nhưng nền sản xuất khổng lồ của họ lại gây ra 25% tổng lượng khí thải toàncầu
Nghị định thư Kyoto về khí hậu sử dụng 3 cơ chế linh hoạt “flexiblemechanisms”để giúp cho các nước đạt được chỉ tiêu cắt giảm khí nhà kínhbằng một phương thức có hiệu quả thương mại nhất
- Cơ chế Buôn bán khí thải quốc tế: Phương thức này cho phép các nướcchuyển một lượng khí thải cho phép tới các nước khác với một mức giá cho phép
- Cơ chế Hợp tác thực hiện (JI): Phương thức này cho phép các nướcthông qua Chính phủ hay các tổ chức hợp pháp để đầu tư cho việc cắt giảmkhí thải cho chính nước mình hay thu nhận các cách thực hiện từ các nướckhác và áp dụng vào đất nước mình
- Cơ chế phát triển sạch (CDM): Phương thức này tương tự như Hợp tácthực hiện nhưng việc cắt giảm khí thải có thể thực hiện cả ở các nước
Trang 8Nhưng dù đã bắt đầu có hiệu lực, Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khínhà kính cũng không đủ sức để làm chậm bớt đi sự ấm lên toàn cầu, mộtthảm họa trước mắt của trái đất Trái đất ấm lên sẽ làm băng ở Bắc Cực tannhanh và gây ra lụt lội hay các tai biến thiên nhiên không lường trước được
Giảm bớt ô nhiễm khi sử dụng năng lượng
Rất nhiều nước hiện nay đề ra những chính sách tại chỗ để hạn chếnhững khí thải khác CO2 sinh ra do quá trình sử dụng năng lượng Ô nhiễmkhông khí liên quan tới năng lượng đang gây chú ý đặc biệt gồm có nitrogenoxides, sulfur dioxide, chì, các chất thải dạng hạt, các chất thải hữu cơ có thểbay hơi… bởi vì chúng sẽ bay lên tầng ozone và hình thành tầng khói, gâymưa acid và nhiều vấn đề khác liên quan đến sức khỏe con người Nitrogenoxide sinh ra trong quá trình đốt cháy ở nhiệt độcao như trong quá trình vậnhành xe hơi, máy móc và các nhà máy phát điện Sulfur dioxide sinh ra trongquá trình đốt cháy nhiên liệu có chứa hàm lượng lưu hùynh cao dùng cho phátđiện hay trong quá trình luyện kim, lọc dầu và các quá trình công nghiệpkhác; lượng khí thải từ các nhà máy nhiệt điện phần lớn là sulfur oxide Cácchất thải hữu cơ bay hơi được sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau như từ quátrình vận tải, nhà máy hóa chất, lọc dầu, các công xưởng Để hạn chế lượngkhí thải độc hại sinh ra do đốt cháy nhiên liệu, nhiều quốc gia đã chuyển từviệc sử dụng than sang sử dụng khí để phát điện Để giảm lượng khí độc hạisinh ra trong quá trình vận tải, một số nước áp dụng công nghệ cao để tạo ranhững loại máy móc hay ô tô đạt tiêu chuẩn cũng như hạn chế hàm lượngsulfur trong xăng, dầu để đảm bảo hạn chế đến mức tối đa lượng khí thải
Chất thải chì được tạo ra trong quá trình máy móc vận hành sử dụngxăng pha chì Ảnh hưởng độc hại của chì, đặc biệt là đối với trẻ em đã đượcnghiên cứu kỹ trong suốt 3 thập niên qua Những nước vẫn còn dùng nhiênliệu pha chì thì xăng pha chì là nguyên nhân chủ yếu chiếm 90% khí thải cóchì ở khu vực đô thị
Trang 9Thêm vào đó, ở nhiều nước chất thải có chứa thủy ngân sinh ra trongquá trình sử dụng năng lượng cũng đang trở thành một vấn đề đối với nhữngnước công nghiệp Thủy ngân là chất tích tụ bền vững trong cơ thể theo thờigian Mặc dầu thủy ngân có mặt cả ở trên đất liền cũng như ở ngoài biểnnhưng nó thường tập trung nhiều nhất trong hệ sinh thái biển Nguồn gây rathủy ngân do hoạt động của con người bao gồm các hoạt động: đốt cháy nănglượng tĩnh, sản xuất kim loại màu, sản xuất gang, thép, xi măng, chế biến dầukhí và tiêu hủy rác.
Để tóm tắt lại những nội dung đã trình bày ở trên, các vấn đề ô nhiễmmôi trường và biến đổi khí hậu có thể được giải quyết phần nào nếu lưu ý đếnmấy vấn đề sau trong quá trình sử dụng năng lượng:
- Cố gắng không sử dụng xăng dầu pha chì
- Kiểm soát và điều khiển lượng chất thải thủy ngân sinh ra trong quátrình sử dụng năng lượng
- Xây dựng quy chế kiểm sóat các khí thải, sao cho hạn chếtới mức tối đacác khí thải độc hại
3 Vấn đề tiết kiệm năng lượng
Giải quyết vấn đề năng lượng đòi hỏi không chỉ ưu tiên cho việc pháttriển các nguồn năng lượng thay thế mới mà còn cần chú ý đến khía cạnh bảotồn và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng Cả bảo tồn và nâng cao hiệusuất năng lượng đều nhằm một mục đích - tiết kiệm năng lượng Tiết kiệmnăng lượng sẽ đem lại những ích lợi đáng kể về kinh tế, giảm thiểu suy thoái
do việc khai thác và "để dành" được những tài nguyên quý giá cho mai sau
Giải pháp kỹ thuật
Nâng cao hiệu suất thiết bị
Đây là công việc hiển nhiên đối với các nhà làm kỹ thuật Tùy vào từngthiết bị, từng dây chuyền công nghệ cụ thể, các kỹ sư, công nhân kỹ thuậtphát triển khả năng nâng cao hiệu suất của thiết bị
Trang 10Phối hợp sử dụng các hệ thống năng lượng
Về mặt thiết bị: cần chế tạo sao cho có thể chuyển đổi dễ dàng từ sử
dụng dạng năng lượng này sang sử dụng dạng năng lượng khác
Về mặt đầu tư: cần khuyến khích mở các nhà máy tiêu thụ năng lượng
lớn nằm trong vùng có các nhà máy điện Điều này giúp giảm bớt áp lựctruyền tải điện năng của lưới điện quốc gia, đồng thời giảm tổn hao nănglượng từ việc truyền tải điện
Sử dụng các phương pháp điều khiển thông minh
Việc chế tạo các hệ thống điều khiển thông minh hiện nay không khóđối với phần lớn các nhà làm kỹ thuật, giá thành cũng rất rẻ Năng lượng đểcung cấp cho các bộ điều khiển này hầu như không đáng kể
Thiết kế xây dựng làm giảm thiểu tiêu thụ năng lượng và tận dụng năng lượng tự nhiên
Việc tiết kiệm năng lượng và tận dụng năng lượng tự nhiên cần đượccác kiến trúc sư, các kỹ sư xây dựng lưu ý Các văn phòng làm việc khôngphải đóng kín cửa để mở đèn làm việc, mở máy điều hòa nhiệt độ… Sự sángtạo trong việc giảm thiểu tiêu thụ năng lượng là không giới hạn Chẳng hạn:
- Thiết kế tận dụng nguồn ánh sáng tự nhiên; Bố trí chiếu sáng nhân tạothích hợp
- Thiết kế tận dụng làm mát từ sức gió tự nhiên
- Bố trí hệ thống điều hòa nhiệt độ hợp lý; thiết kế hệ thống điều hòanhiệt độ tập trung
- Lắp đặt bộ điều khiển thông minh
- Bố trí các bồn chứa nước
Giải pháp con người
Tuyên truyền, giải thích sự cần thiết của việc tiết kiệm năng lượng
Trang 11Tuyên truyền, giải thích, vận động tiết kiệm năng lượng trong cộngđồng dân cư sẽ góp phần tiết kiệm phần lớn năng lượng Thống kê cho thấy,tùy theo từng khu vực, mức độ sử dụng điện (năng lượng chính phục vụ chosinh hoạt) chiếm tỉ lệ không nhỏ trong việc tiêu thụ năng lượng.
Tuyên truyền, giải thích phải mang tính đại chúng Đối tượng của việc
tuyên truyền, vận động tiết kiệm năng lượng là đa số người dân, đủ mọi thànhphần trong xã hội Vì vậy công việc này cần mang tính đại chúng Ngôn ngữ
sử dụng càng đơn giản, dễ hiểu càng tốt Hiện nay trên truyền hình đã thấyxuất hiện các lời khuyên sử dụng bóng đèn compact, đèn huỳnh quang thaycho bóng đèn sợi đốt
Phổ biến kiến thức khoa học dưới dạng các cuộc thi Các cuộc thi trên
truyền hình ngày càng thu hút nhiều người quan tâm Đó chính là cơ hội phổbiến các kiến thức khoa học về việc tiết kiệm năng lượng
Hạn chế sử dụng điện trong các giờ cao điểm Hạn chế sử dụng điện
trong các giờ cao điểm giúp các nhà mày điện và các lưới truyền tải giảm áplực hoạt động
Giáo dục ý thức tiết kiệm năng lượng cho học sinh Đưa việc giáo dục ý
thức tiết kiệm năng lượng vào trong nhà trường sẽ có hiệu quả to lớn trongtương lai
Tổng kết và khen thưởng Tổ chức tổng kết hiệu quả của việc tiết kiệm
năng lượng hàng năm Như vậy người dân sẽ thấy được hiệu quả từ việc làmcủa họ có ảnh hưởng to lớn cho xã hội bên cạnh việc tiết kiệm chi tiêu chochính gia đình họ
Sử dụng các biện pháp chế tài nhằm hạn chế sự tiêu thụ năng lượng
Việc tiêu thụ năng lượng nhiều hay ít là quyền của mỗi người Nhưngảnh hưởng của việc tiêu thụ nhiều năng lượng thì buộc người tiêu thụ phải cótrách nhiệm Vì vậy, nhà nước cần đưa ra mức tiêu thụ năng lượng trung bình
và nếu vượt qua mức này thì người tiêu thụ phải chịu những khoản phí trách
Trang 12nhiệm Các khoản phí này cũng nên tăng một cách không tuyến tính với mứctiêu thụ năng lượng.
Giải pháp chiến lược: chính sách năng lượng
Quy hoạch phát triển năng lượng
Đối với các nước phát triển, xu hướng đầu tư ra nước ngoài các ngànhcông nghiệp tiêu tốn nhiều năng lượng cũng là một phần trong chính sáchnăng lượng của họ Các nước ấy giữ lại trong nước các ngành công nghệ cao
và tiêu tốn ít năng lượng hơn Việt Nam đang trong giai đoạn thu hút đầu tưnước ngoài nên không thể tránh khỏi việc tiêu thụ năng lượng lớn cho côngnghiệp Dù vậy tùy từng giai đoạn cụ thể có thể quy hoạch phát triển nănglượng sao cho tiết kiệm năng lượng đồng thời không ảnh hưởng đến phát triểnkinh tế
Xác định các nguồn năng lượng sơ cấp: đánh giá trữ lượng, hiệu quả
khai thác, vận chuyển, biến đổi thành các dạng năng lượng khác và mức độảnh hưởng đến môi trường Các nguồn năng lượng sơ cấp được xác định baogồm: than, dầu mỏ, khí đốt, sức nước, thủy triều, gió, địa nhiệt, củi gỗ, khísinh học, nguyên liệu cho năng lượng nguyên tử (Uranium)…
Đánh giá mức độ tiêu thụ của từng ngành, từng khu vực: có thể chia
việc tiêu thụ năng lượng thành các nhóm chính: công nghiệp, thương dịch vụ, sinh hoạt, giao thông vận tải, nông nghiệp Nông thôn Việt Nam tiêuthụ năng lượng dưới nhiều dạng, từ năng lượng thô đến năng lượng thứ cấp.Tuy điện ngày càng được dung nhiều hơn nhưng việc sử dụng than củi, rơm
mại-rạ cũng chiếm phần lớn trong cơ cấu năng lượng phục vụ sinh hoạt
Việc đánh giá mức độ tiêu thụ năng lượng của từng ngành, từng khuvực nhằm mục đích quy hoạch sử dụng năng lượng sao cho có lợi nhất Tỉ lệ
sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp, thứ cấp của từng ngành khác nhau theotừng giai đoạn, vì vậy quy hoạch cũng phải theo từng giai đoạn Ví dụ:
Trang 13- Đầu vào: năng lượng hạt nhân, địa nhiệt, sức nước, thủy triều phục vụsản xuất điện năng; năng lượng dầu mỏ dùng phát điện, chạy máy móc côngnghiệp, vận tải…
- Đầu ra: ngành vận tải sử dụng chủ yếu năng lượng từ dầu mỏ, khíđốt; công nghiệp sử dụng hầu hết các dạng năng lượng nhưng phần lớn từđiện năng…
Quy hoạch phát triển năng lượng là bài toán tối ưu về kinh tế - kỹ thuật.Giải quyết tốt vấn đề này làm cho việc sử dụng năng lượng hiệu quả cao, gópphần tiết kiệm năng lượng
Ứng dụng công nghệ mới
Ngày càng có nhiều giải pháp công nghệ mới nhằm giảm thiểu việc tiêutốn năng lượng cho một sản phẩm ra đời
Đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị và đầu tư mới thiết bị Đầu tư mới
thiết bị hiện đại giúp giảm thiểu chi phí nhiên liệu cho sản phẩm Chúng takhông thể kéo dài việc sử dụng các thiết bị lạc hậu Tuy vậy việc đầu tư phảiđược tính toán sao cho hợp lý giữa kinh tế và kỹ thuật Ngoài việc quy hoạchkinh tế của các doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ tài chính hoặc các ưu tiên từphía chính quyền Ví dụ như việc thay thế các tua bin hơi nước tại các nhàmáy nhiệt điện bằng các tua bin khí sử dụng chu trình hỗn hợp
Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao Bên cạnh việc đầu tư công nghệ
cao, cần có đội ngũ người làm kỹ thuật và quản lý trình độ cao nhằm nghiêncứu để có các thành quả công nghệ mới trong việc giảm tiêu thụ năng lượngtrong sản xuất Nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ cao với giá đắt làmgiảm hiệu quả của việc đầu tư này Việc đầu tư cho con người còn góp phầnnghiên cứu và ứng dụng các nguồn năng lượng đòi hỏi công nghệ cao nhưnăng lượng hạt nhân
Tận dụng khai thác các nguồn năng lượng tái tạo
Trang 14Sức nước: Nguồn năng lượng này vẫn đang còn chưa khai thác hết Tuy
nhiên, bên cạnh việc khai thác, phải chú ý đầu tư cho sự ổn định của nguồnnăng lượng này như phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, giải quyết việc làmcho người dân các vùng cao, giáo dục ý thức bảo vệ môi trường…
Sức gió: Để sử dụng được năng lượng điện phát từ sức gió, có chất
lượng điện năng cao như độ ổn định điện áp, ổn định tần số cao… đòi hỏi đầu
tư nhiều cho việc nghiên cứu Sức gió không ổn định như sức nước Tuy vậyngười viết bài này cũng có ý nghĩ tại sao không chuyển động năng không ổnđịnh của gió thành một dạng thế năng dự trữ, như thế năng của nước chẳnghạn Gió sẽ làm quay cánh quạt máy phát điện, cũng có thể làm quay máybơm nước vào hồ dự trữ để phát điện dưới dạng thủy điện Việc bơm nước cóthể không ổn định nhưng việc xả nước để phát điện là ổn định Nước sau khiđược xả để phát điện lại được sức gió bơm ngược vào hồ chứa trên cao
Năng lượng Mặt Trời: Chính quyền cũng cần hỗ trợ phát triển các thiết
bị sử dụng năng lượng Mặt Trời không dưới dạng điện năng, như các bồnchứa nước, hoặc các máy điều hòa nhiệt độ sử dụng năng lượng Mặt Trời…cũng như khuyến khích phát triển các thiết bị sử dụng năng lượng chuyển đổigiữa điện năng và năng lượng Mặt Trời
Nghiên cứu phát triển các dạng năng lượng khác như địa nhiệt, khí
sinh học…
Đầu tư nhà máy điện hạt nhân
Hiện nay có nhiều tranh cãi xung quanh việc đầu tư nhà máy điện hạtnhân Các nước phát triển đang có xu hướng giảm dần việc sản xuất điện từnăng lượng hạt nhân vì lý do an toàn và chất thải gây ô nhiễm môi trường.Xét về quy luật phát triển thì Việt Nam đang trong giai đoạn cần sử dụngnhiều năng lượng như các nước phát triển đã từng trải qua Hiện nay các nướcphát triển đã đưa các nhà máy sản xuất đòi hỏi tiêu tốn nhiều năng lượng sangcác nước đang phát triển, áp lực về năng lượng không còn nhiều như trong
Trang 15thời đại công nghiệp trước đây của họ Do đó giảm phát điện từ năng lượnghạt nhân là điều tất yếu.
Với sự phát triển quá nhanh của kinh tế thế giới hiện tại, nguồn dự trữnăng lượng từ thuở xa xưa đến nay gần đến ngày cạn kiệt Khủng hoảng nănglượng do cạn kiệt nguồn dự trữ là điều sẽ xảy ra nếu con người không nhanhchóng tìm các nguồn năng lượng thay thế
Nhưng trước tiên, khi vẫn chưa tìm ra nguồn năng lượng nào đó đủ sứcthay thế cho các nguồn năng lượng chính hiện nay như than, dầu mỏ, khíđốt…, ý thức tiết kiệm năng lượng cần nằm trong suy nghĩ của mọi công dân
Một khi đã có ý thức tiết kiệm năng lượng thì mỗi người dân, ở vị trícông việc của mình, sẽ giảm thiểu việc tiêu thụ năng lượng và luôn tìm tòi cácgiải pháp tiết kiệm năng lượng
Tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm tài nguyên cho mai sau, đó cũng là mộtthái độ sống có trách nhiệm với cộng đồng và với những thế hệ tương lai
4 Tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với gia tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng,đặc biệt là điện năng Tăng trưởng kinh tế càng nhanh đòi hỏi nguồn nănglượng sử dụng càng lớn Với tốc độ phát triển của kinh tế thế giới và nhu cầutiêu thụ năng lượng, nguồn năng lượng truyền thống đang cạn kiệt dần Sựphụ thuộc ngày một nhiều vào việc nhập khẩu nguyên nhiên liệu có thể làmkìm hãm tốc độ tăng trưởng kinh tế dẫn đến tình trạng bất ổn xã hội Vì lẽ đó,
an ninh năng lượng được xem là có quan hệ mật thiết tới sự tăng trưởng kinh
tế và ổn định chính trị - xã hội
Trong 3 thập kỷ (1976 - 2006), tổng nguồn năng lượng sơ cấp tiêu thụtrên thế giới đã tăng từ 6 tỷ tấn quy dầu (TOE) một năm lên tới 12 tỷ tấn quydầu (TOE) Trong đó, năng lượng hóa thạch chiếm 80% tổng năng lượng Từnăm 2000, tình trạng tiêu thụ năng lượng hóa thạch có tốc độ tăng trưởngngày càng cao cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế mới nổi
Trang 16Sự phát triển kinh tế “nóng” của các quốc gia châu Á đi kèm với nhucầu về năng lượng tăng cao Nhu cầu năng lượng của châu Á tăng khoảng40% (so với mức tăng chưa đến 5% của Bắc Mỹ) Theo Cơ quan Năng lượngQuốc tế (International Energy Agency - IEA), châu Á cần khoản đầu tư hơn10.000 tỷ USD vào ngành năng lượng trong giai đoạn (2012-2022)
Trung Quốc đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ) xét về tiêu thụ năng lượng.Cơn khát năng lượng ngày càng tăng của Trung Quốc là hậu quả của sự bùng
nổ kinh tế, sự mở rộng ngoại thương, gia tăng thu nhập, gia tăng dân số và đôthị hoá không ngừng khiến mức tiêu thụ năng lượng tính theo đầu người đanggia tăng Theo IEA, lượng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc sẽ tăng gấp 5lần (từ 2 triệu thùng dầu mỗi ngày lên gần 11 triệu thùng dầu mỗi ngày) vàonăm 2030 Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ buộc phải nhập khẩu80% lượng dầu mỏ tiêu dùng trong nước
Trong khu vực châu Á, ASEAN có mức tăng trưởng nhanh nhất nênluôn đòi hỏi nguồn cung ứng năng lượng nhiều để tiếp thêm nhiên liệu cho sựtăng trưởng kinh tế Mặc dù giá dầu mỏ tăng hiện nay không gây ảnh hưởngmạnh tới sự tăng trưởng của các nền kinh tế ASEAN, nhưng nếu giá dầu tiếptục tăng trong một khoảng thời gian dài sẽ gây ra những tác động bất lợi đốivới các nền kinh tế ASEAN Chi phí cung ứng năng lượng cao hơn sẽ gây ranhững áp lực lạm phát mạnh hơn, đẩy tỷ lệ lãi suất lên cao và làm đảo ngượccác hành vi tiêu dùng và đầu tư Chi tiêu nhập khẩu năng lượng tăng cao sẽgây ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô của ASEAN, làm cạn kiệt nguồn
dự trữ ngoại tệ, tỷ giá ngoại hối mất ổn định và cán cân thanh toán suy yếu.Theo đánh giá của Hãng Oxford Economic Forecasting Ltd, giá dầu mỏ tăngthêm 10 USD/thùng sẽ đẩy tỷ lệ lạm phát ở châu Á tăng lên 1%, làm giảm cáncân thương mại mất 0,3% và kiềm chế tăng trưởng GDP 0,6% Giá dầu mỏđẩy lên 20 USD/thùng sẽ làm cho kịch bản xấu đi và đẩy các nền kinh tếASEAN mất 1,2% tăng trưởng GDP, giảm 0,7% trong cán cân thương mại và
Trang 17trưởng từ 6% xuống 4,6% (năm 2013) do giá nhiên liệu tăng cao Xu hướnggiá dầu mỏ tăng đang gây nên một gánh nặng tài chính cho chính phủ cácnước ASEAN.
Việc sử dụng năng lượng không hiệu quả có nhiều nguyên nhân:
Thứ nhất, do rào cản kỹ thuật Công nghệ lạc hậu, các thiết bị sản xuất
cũ kỹ và chậm đổi mới, tỷ lệ hao hụt quá nhiều trong khâu chuyển tải; sựthiếu hiểu biết về tiết kiệm năng lượng, thiếu công cụ đo, thiếu thông tin vềcông nghệ tiết kiệm năng lượng, ý thức của cán bộ quản lý, cán bộ vận hànhthiết bị năng lượng kém là những lý do chủ yếu
Thứ hai, do rào cản kinh tế Đó là việc phân tích tài chính không phù
hợp, thiếu vốn đầu tư, thiếu vốn phát triển công nghệ trong ngành năng lượngtrong khi phần lớn công nghệ trong ngành năng lượng đều lạc hậu, cũ kỹ
Thứ ba, do rào cản về thể chế, chính sách Thiếu các chính sách thúc
đẩy việc sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm và hiệu quả
Trong bối cảnh hiện nay, việc cung cấp năng lượng hiện đang gặp một
số khó khăn:
Một là, tình trạng giá nhiên liệu tăng, đặc biệt giá nhiên liệu hóa thạch
tăng cao, trong khi năng lượng hóa thạch (đặc biệt là dầu mỏ) vẫn đang đượccoi là nguồn năng lượng quan trọng nhất chưa có dạng năng lượng nào thaythế được
Hai là, biến đổi khí hậu ảnh hưởng xấu đến vấn đề năng lượng Hành
tinh đang nóng dần lên và chưa có các giải pháp ứng phó hữu hiệu
Ba là, yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng về lâu dài Chỉ có an ninh
năng lượng mới có thể bảo đảm tăng trưởng kinh tế của các nước nghèo, cũngnhư bảo đảm để tất cả mọi người đều được tiếp cận với năng lượng
Trong lịch sử nhân loại, cuộc chiến năng lượng luôn ở vị trí trung tâm.Hiện nay cuộc chiến này đang ở mức khốc liệt hơn Kinh nghiệm của nhiềunước cho thấy, để tăng trưởng kinh tế không kéo theo mức tăng tiêu hao năng
Trang 18lượng cần có chiến lược táo bạo thay đổi năng lượng dựa theo 3 hướng chínhsau: Sử dụng năng lượng hợp lý; Nâng cao hiệu quả năng lượng và Phát triểnnăng lượng tái sinh
II- TÀI NGUYÊN NĂNG LƯỢNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU NĂNG LƯỢNG CỦA VIỆT NAM
Tài nguyên nhiên liệu và năng lượng là nguồn lực cơ bản đáp ứng nhucầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, quốc gia nào giàu có về nguồn tàinguyên này là cơ sở tiền đề tốt nhất cho đáp ứng đầu vào của hệ thống kinh
tế, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức về chính trị và an ninh quốc phòng.Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, có nguồntài nguyên nhiên liệu-năng lượng đa dạng đầy đủ các chủng loại như than, dầukhí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, nănglượng sinh khối, năng lượng địa nhiệt, năng lượng biển…Tuy nhiên thực tiễnphát triển kinh tế những năm vừa qua cho thấy sự biến động về nhiên liệu vànăng lượng diễn biến khá phức tạp, bên cạnh việc xuất khẩu than và dầu thô,chúng ta vẫn phải nhập khẩu sản phẩm dầu qua chế biến và điện năng Vấn đềđặt ra là làm thế nào để nguồn tài nguyên nhiên liệu và năng lượng của ViệtNam không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong những nămtới mà chúng ta còn có thể xuất khẩu nguồn tài nguyên này dưới dạng nănglượng và thành phẩm đã chế biến, thích ứng với sự biến động của thị trường
1 Khái quát về nguồn nhiên liệu, năng lượng
- Nguồn nhiên liệu và năng lượng của nước ta, trước hết phải kể đến đó
là than, khai thác và sử dụng than ở Việt Nam đã có một lịch sử lâu đời, từ khingười Pháp đến nước ta cách đấy hàng trăm năm, mức độ khai thác, sử dụng vàxuất khẩu ngày càng tăng Xét về trữ lượng, tính đến 1/1/2005 tổng trữ lượngthan đã tìm kiếm thăm dò khoảng 6,14 tỷ tấn Vê trữ lượng và chủng loại thanphân theo các cấp và của Việt Nam thể hiện thông qua bảng 1 dưới đây
Trang 19Nguồn: Trung tâm Tư vấn mỏ và Công Nghiệp-TVN, 2008 MPI, UNDP Nghiên cứu, xây dựng các mục tiêu định lượng giảm phát thải khí nhà kính trong ngành năng lượng Việt Nam, giai đoạn 2013-2030.
Về khả năng khai thác than, dựa trên cơ sở dự báo cho giai đoạn 2015-2030trong quy hoạch phát triển ngành than theo số liệu bảng 2 dưới đây cho thấy:
Mỗi chu kỳ kế hoạch 5 năm tổng sản lượng khai thác than tăng khoảng1-5 triệu tấn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Về dầu khí, cho đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia thuộcnhóm nước có nhiên liệu về dầu và khí Tổng trữ lượng dầu khí có thể đưavào khai thác ở nước ta khoảng 3,8-4,2 tỷ tấn quy đổi (TOE), trong đó trữ
Trang 20lượng đã được xác định khoảng 60%, chi tiết thể hiện cụ thể thông qua bảng
số liệu số 3 dưới đây về trữ lượng đã được xác minh và chưa được xác minh
Khả năng khai thác dầu thô so với năm 2010 dự báo đến năm 2020 sẽsụt giảm, còn 16-17 triệu tấn/năm Từ năm 2015-2025 khả năng khai thácđược thể hiện thông qua bảng 4 dưới đây
Sự sụt giảm về khai thác dầu thô sẽ phải thay thế và bù đắp vào cácnguồn nhiên liệu năng lượng tiềm năng khác nhằm đáp ứng nhu cầu tăngtrưởng của nền kinh tế Đối với khí đốt, khả năng khai thác sẽ tăng, giai đoạn2011-2015 sẽ đạt mức từ 10,7 tỷ m3 lên 19 tỷ m3
- Về Thủy điện, theo đánh giá của các nghiên cứu gần đây, tiềm năng
về kinh tế-kỹ thuật thủy điện của nước ta đạt khoảng 75-80 tỷ kWh với côngsuất tương ứng đạt 18000-20000MW Trong đó tiềm năng kinh tế của 10 lưuvực sông chính khoảng 85,9% của các lưu vực sông trong cả nước Như vậytổng trữ lượng kinh tế kỹ thuật của các lưu vực sông chính hơn 18.000MW,