1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An

130 565 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Người hướng dẫn TS. Bùi Thị Thu Hương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 4,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty cổ phần Tràng An là Công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhưng lĩnh vực chính là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm Công nghiệp thực phẩm – vi sinh, đặc biệt là sản xuất bánh kẹo. Các sản phẩm của công ty đa dạng, phong phú, giá cả hợp lý đang ngày càng một chiếm lĩnh thị trường, gần gũi hơn với người tiêu dùng.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, đặc biệt trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội thuận lợi

để hội nhập với nền kinh tế thế giới nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với không ít những khó khăn do nền kinh tế thị trường mang lại mà khó khăn lớn nhất có lẽ là sự cạnh tranh gay gắt không những của các doanh nghiệp trong nước mà còn của cả các doanh nghiệp nước ngoài Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư, sử dụng vốn, tổ chức sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm, phải biết tận dụng năng lực, cơ hội để lựa chọn cho mình một hướng đi đúng đắn Để có được điều đó, một trong những biện pháp là mỗi doanh nghiệp đều không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ; cải tiến mẫu mã và hạ giá thành

Trong công tác quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu vô cùng quan trọng, được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm vì nó có chức năng giám sát, phản ánh trung thực, kịp thời các thông tin

về chi phí sản xuất phát sinh trong thời gian nhất định Thông tin về chi phí và giá thành sẽ giúp cho nhà quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp phân tích đánh giá tình hình sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn có hiệu quả hay không, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành như thế nào… từ đó đưa ra được các phương án thích hợp về sản xuất kinh doanh, đề ra các biện pháp hữu hiệu hạ thấp chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và ra các quyết định phù hợp cho sự phát triển sản xuất kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp…Nó là căn cứ để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh Chính vì vậy, tổ chức tốt công tác

kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa vô cùng to lớn; là

Trang 2

khâu quan trọng nhất trong toàn bộ công tác kế toán vì thực chất của hạch toán quá trình sản xuất chính là hạch toán chi phí sản xuất và giá thành.

Công ty cổ phần Tràng An là Công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực nhưng lĩnh vực chính là sản xuất, kinh doanh các sản phẩm Công nghiệp thực phẩm – vi sinh, đặc biệt là sản xuất bánh kẹo Các sản phẩm của công ty đa dạng, phong phú, giá cả hợp lý đang ngày càng một chiếm lĩnh thị trường, gần gũi hơn với người tiêu dùng Qua quá trình tìm hiểu về mặt lý luận và trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Tràng An, cùng với sự hướng dẫn

nhiệt tình của cô Bùi Thị Thu Hương và các cô chú, anh chị trong phòng kế

toán của công ty em nhận thức được tầm quan trọng của công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong sản xuất hiện nay em đã quyết định chọn

đề tài : “Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty

cổ phần Tràng An” làm luận văn tốt nghiệp.

Kết cấu: ngoài Lời nói đầu và kết luận đề tài gồm 3 phần chính sau đây:

Chương 1 : Những lý luận cơ bản về tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2 : Thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Tràng An

Chương 3 : Một số ý kiến nhận xét và đề xuất nhằm hoàn thiện công tác

kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phẩn Tràng An

Đây là một đề tài khá rộng và phức tạp, nhận thức của bản thân lại mang nặng tính lý thuyết và thời gian thực tập chưa nhiều nên đề tài của em không thể tránh khỏi thiếu sót Bởi vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, và những người quan tâm để đề tài của em được

hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 4

6 Sơ đồ quy trình tính giá thành có tính giá thành nửa thành phẩm (sơ đồ 1.6)

7 Sơ đồ quy trình tính giá thành không tính giá thành nửa thành phẩm (sơ đồ 1.7)

toán máy (sơ đồ 1.8)

11 Sổ chi tiết xuất vật tư (bảng 2.1)

12 Chi tiết tài khoản 621 (bảng 2.2)

13 Sổ cái – in liên tục tài khoản 1521 (bảng 2.3)

15 Bảng báo cáo sử dụng vật tư tháng 01/2012 (bảng 2.5)

18 Bảng lĩnh tiền lương (bảng 2.9)

21 Sổ cái gộp – in liên tục TK 622 (bảng 2.12)

Trang 5

CHƯƠNG 1:

NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM

TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

1.1 Sự cần thiết và nhiệm vụ của kế toán tập hợp chi phí sản xuất và

giá thành sản phẩm

1.1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm

1.1.1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất

Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người, đây chính là điều kiện quyết định của sự tồn tại và phát triển trong mọi chế độ xã hội Trong nền kinh tế hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là quá trình tiêu dùng các yếu tố sản xuất kinh doanh (tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động) để tạo ra các sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định nhằm đáp ứng nhu tiêu dùng của xã hội

Trang 6

Các nhà kinh tế học thường quan niệm rằng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và tính cho một kỳ nhất định Như vậy, bản chất của chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là:

- Những phí tổn (hao phí) về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh gắn liền với mục đích kinh doanh

- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí

- Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đo bằng thước đo tiền tệ và được xác định trong khoảng thời gian xác định

Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận khác nhau

Theo Karl Marx khi phân tích chi phí ông cho rằng chi phí sản xuất hàng hoá là chi phí do tư bản đã thực hiện vào sản xuất hàng hoá cấu thành,

nó đúng bằng giá trị tư bản đã chi ra và hoàn toàn không phải là một khoản mục chỉ có trong kế toán tư bản chủ nghĩa tính độc lập chủ yếu đó trong giá trị thực tiễn không ngừng được biểu hiện ra trong quá trình sản xuất thực tế của hàng hoá Mặc dù các hao phí bỏ ra cho sản xuất xây dựng bao gồm nhiều loại khác nhau nhưng trong điều kiện tồn tại của quan hệ hàng hoá tiền tệ chúng cần được tập hợp và biểu hiện dưới hình thức tiền tệ

Trên góc độ của kế toán tài chính, chi phí được nhìn nhận như là những khoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh thông thường của

DN và các chi phí khác.Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền, các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị, được kế

Trang 7

toán ghi nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chứng minh việc phát sinh ra chúng

Trên góc độ kế toán quản trị chi phí không đơn thuần nhận thức như kế toán tài chính mà chi phí còn được nhận thức theo cả khía cạnh nhận diện thông tin để phục vụ cho việc ra quyết định Chi phí có thể là phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí có thể là phí tổn ước tính để thực hiện dự án, phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinh doanh

Trong đơn vị sản xuất, ngoài những chi phí có tính chất sản xuất còn có những chi phí không có tính chất sản xuất vì vậy chúng ta cần phân biệt chi phí với hao phí và chi tiêu Những chi phí bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất mới được gọi là chi phí sản xuất Chi tiêu là cơ sở phát sinh chi phí, không có chi tiêu thì không có chi phí, song giữa chúng lại có sự khác nhau

về lượng và thời gian, chi tiêu có thể là chi phí (như mua vật tư đưa ngay vào sản xuất) hoặc cũng có thể chưa phải là chi phí sản xuất (như mua vật tư đưa

về kho chưa xuất dùng…) mặt khác cũng có khoản chi tiêu chưa xảy ra ở kỳ hạch toán trước được tính vào chi phí ở kỳ này

1.1.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm

Xét về thực chất, thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh Vì vậy, để quản lý có hiệu quả

và kịp thời đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cần biết số chi phí chi ra cho từng loại hoạt động, sản phẩm, dịch vụ trong kỳ là bao nhiêu, số chi phí đã chi đó cấu thành trong số sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành là bao nhiêu Giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ sẽ giúp nhà quản trị doanh nghiệp trả lời được câu hỏi này

Trang 8

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hoá được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.

Giá thành được tính toán xác định cho từng loại sản phẩm lao vụ cụ thể và chỉ tính toán với số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ sản phẩm đã hoàn thành toàn bộ quá trình sản xuất (thành phẩm) hoặc kết thúc một số giai đoạn sản xuất (bán thành phẩm)

Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính khách quan, vừa mang tính chủ quan Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm hạ thấp chi phí, nâng cao lợi nhuận

Giá thành sản phẩm có 2 chức năng chủ yếu:

- Chức năng thước đo bù đắp chi phí: là toàn bộ chi phí mà Doanh nghiệp đã bỏ ra được bù đắp bằng số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm Căn

cứ vào đơn giá bán trên thị trường và giá thành đơn vị sản phẩm sẽ biết được Doanh nghiệp có bù đắp được chi phí đã bỏ ra hay không

- Chức năng lập giá: giá thành sản phẩm là cơ sở, là căn cứ để xác định giá bán của sản phẩm

1.1.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai chỉ tiêu có liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình sản xuất Việc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất quyết định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm Chi phí biểu hiện hao phí còn giá thành biểu hiện kết quả sản xuất Tiết kiệm được chi phí sẽ hạ được giá thành Đây là hai mặt thống nhất của một vấn đề, vì vậy chúng giống

Trang 9

nhau về chất: đều là hao phí về lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm Tuy nhiên do chi phí sản xuất giữa các kỳ là không giống nhau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có sự khác nhau

Chi phí sản xuất gắn liền với một thời kỳ nhất định, không phân biệt là loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa; còn giá thành sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã hoàn thành

Giá thành sản phẩm không những liên quan đến chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ mà còn liên quan đến cả chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ và cuối kỳ:Giá thành

Như vậy: việc tổ chức quản lý tốt chi phí sản xuất là cơ sở để tổ chức quản lý tốt giá thành

1.1.3 Yêu cầu quản lý kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

Trong công tác quản lý tại các doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng luôn được các doanh nghiệp quan tâm vì chúng gắn liền với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Tổ chức kế toán đúng, đủ, hợp lý, chính xác chi phí, giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, giá thành sản xuất sản phẩm Từ đó kiểm tra tính hợp pháp của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp nói chung, các đội sản xuất nói riêng Thông qua số liệu do bộ phận kế toán tập hợp chi phí, tính giá thành thực tế của sản phẩm, hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác trong doanh nghiệp Qua đó người quản lý có thể phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm, tình hình sử dụng lao động, vật tư,

Trang 10

tiền vốn có hiệu quả, tiết kiệm hay lãng phí để từ đó có biện pháp hạ giá thành, đề ra các quyết định phù hợp với sự phát triển sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản trị doanh nghiệp.

Việc phân tích, đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ

có thể dựa trên cơ sở nắm vững giá thành sản phẩm một cách chính xác Mặt khác tính chính xác của giá thành sản phẩm lại chịu ảnh hưởng của kết quả tổng hợp chi phí sản xuất Do vậy, tổ chức tốt công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm để đảm bảo xác định đúng nội dung, phạm vi chi phí cấu thành trong giá thành, định lượng giá trị các yếu tố chi phí đã chuyển dịch vào sản phẩm hoàn thành là yêu cầu cấp bách trong nền kinh tế thị trường

Yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm là :

- Chi phí chi ra phải cực kỳ cần thiết, hợp lý, tiết kiệm, không lãng phí

- Giá thành sản phẩm phải là nhỏ nhất, phải thực là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ những yếu tố chi phí hợp lý nhất mà doanh nghiệp phải chi ra

để sản xuất nên sản phẩm

- Tổ chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp phải phản ánh kịp thời, chính xác toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất Đồng thời, phải phân bổ hợp lý các chi phí sản xuất vào các đối tượng tập hợp chi phí

- Kiểm tra tình hình thực hiện các định mức về chi phí nguyên vật liệu, lao động, sử dụng máy, kiểm tra dự toán chi phí gián tiếp, phát hiện kịp thời các khoản mục chi phí chênh lệch ngoài định mức, ngoài kế hoạch

1.1.4 Ý nghĩa, nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản

phẩm

Trang 11

1.1.4.1 Ý nghĩa của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý Doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với Doanh thu, kết quả (lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh, do vậy được chủ Doanh nghiệp rất quan tâm

Tổ chức kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm một cách khoa học hợp

lý và đúng đắn có ý nghĩa rất lớn trong công tác quản lý chi phí, tính giá thành sản phẩm Việc tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanh nghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tư lao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả Mặt khác tạo điều kiện phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm Đó là một trong những điều kiện quan trọng tạo cho doanh nghiệp một ưu thế trong cạnh tranh

Giá thành sản phẩm cũng là cơ sở để định giá bán sản phẩm, là cơ sở để đánh giá hạch toán kinh tế nội bộ, phân tích chi phí, đồng thời cũng là căn cứ

để xác định kết quả kinh doanh Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm với nội dung chủ yếu thuộc về kế toán quản trị, cung cấp thông tin phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp Nó lại là khâu trung tâm của toàn bộ công tác kế toán ở doanh nghiệp, chi phối đến chất lượng của của các phần hành kế toán khác cũng như chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý kinh

tế tài chính doanh nghiệp

1.1.4.2 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định ra vai trò nhiệm vụ của mình

trong việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:

Thứ nhất, cần nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán tính giá thành

Trang 12

Thứ hai, căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toỏn chi phí sản xuất, lựa chọn phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp

Thứ ba, căn cứ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, đặc điểm của sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cụ thể của doanh nghiệp để xác định đối tượng tính giá thành cho phù hợp

Thứ tư, tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công rõ ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan đặc biệt bộ phận kế toán các yếu tố chi phí

Thứ năm, thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế toán phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứng được yêu cầu thu nhận, xử lý, hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành của doanh nghiệp

Và cuối cùng là tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra được các quyết định một cách nhanh chóng phù hợp với quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm

1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bào gồm nhiều loại khác nhau Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp Sau đây là một số cách phân loại chi phí sản suất :

1.2.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi

phí

Trang 13

Theo cách phân loại này, người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung

và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào Vì vậy, cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố

Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam, khi quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo 5 yếu tố sau:

Thứ nhất, chi phí nguyên liệu vật liệu: yếu tố nguyên liệu bao gồm giá

mua, chi phú mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất Yếu tố này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệụ khác

Thứ hai, chi phí nhân công: yếu tố này là các khoản chi phí về tiền lương

phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động

Thứ ba, chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Yếu tố chi phí này bao gồm

khấu hao của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp

Thứ tư, chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua

ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp như chi phí điện nước, điện thoại…

Thứ năm, chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh

trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên như như tiền thuê chuyên gia kĩ thuật,tiền nộp thuế tài nguyên,phí,lệ phí tiếp khách ở phân xưởng,đội thi công,ban chủ nhiệm công trình

Phân loại theo nội dung tính chất kinh tế có tác dụng thiết thực đối với công tác kế toán cũng như công tác quản lý chi phí sản xuất.Nó cho biết trong quá trình sản xuất doanh nghiệp đã chi những chi phí gì và chi bao nhiêu.Nó

Trang 14

cũng là cơ sở cho việc lập kế hoạch cung cấp vật tư,kế hoạch lao động tiền lương và tính toán nhu cầu vốn

1.2.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế

Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí để sắp xếp những chi phí

có cùng một mục đích và công dụng vào cùng một khoản mục chi phí, không xem xét nội dung kinh tế ban đầu của chi phí Chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành 3 khoản mục:

Thứ nhất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật

liệu được sử dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ

Thứ hai, chi phí nhân công trực tiếp : Bao gồm tiền lương và các khoản

phải trả trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội

Thứ ba, chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan

đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất

Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau:

cấp và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, nhân viên kinh tế…tại phân xưởng sản xuất

xuất chung tại phân xưởng (tổ, đội) sản xuất

nhu cầu sản xuất chung tại phân xưởng( tổ, đội) sản xuất

của TSCĐ hữu hình, vô hình, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất

Trang 15

• Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất.

ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất

Tác dụng của cách phân loại này là cho biết được chi phí đã chi ra cho sản xuất chế tạo sản phẩm trong một kì nhất định, qua đó kiểm tra, giám sát

dự toán chi phí sản xuất Đồng thời cách phân loại này còn cung cấp số liệu phục vụ cho việc tính giá thánh sản phẩm làm căn cứ để xác định giá bán

1.2.1.3 Một số cách phân loại khác về chi phí sản xuất:

• Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí sản xuất, chi phí sản xuất được chia thành: Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

chính: Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ

quá trình kinh doanh: gồm chi phí cơ bản và chi phí chung…

động gồm: chi phí biến đổi( biến phí),chi phí cố định( định phí) và chi phí hỗn hợp

Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí khác nhau đều có một mục đích chung đó là làm sao quản lý được tốt nhất chi phí sản xuất và qua đó thực hiện nhiệm vụ tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp

1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm

Trang 16

Cũng như chi phí sản xuất, tùy theo mục đích quản lý và yêu cầu hạch toán mà giá thành sản phẩm được phân thành các loại khác nhau dựa trên những tiêu thức nhất định

1.2.2.1.Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi chi phí trong giá thành:

Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành:

-Giá thành sản xuất toàn bộ hay còn được gọi là giá thành sản xuất đầy đủ: (Zsx toàn bộ) là loại giá thành mà trong đó bao gồm toàn bộ biến phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành

- Giá thành sản xuất theo biến phí (Zsxbp): là loại giá thành mà trong

đó chỉ bao gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm

Do giá thành sản xuất theo biến phí chỉ bao gồm biến phí sản xuất nên còn được gọi là giá thành sản xuất bộ phận

- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất (Zsxhl): là loại giá thành trong đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và một phần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức hoạt động theo công suất thiết kế(mức hoạt động chuẩn)

Zsxhl= Bpsx + Đpsx

Trong đó: N là mức hoạt động chuẩn, n là mức hoạt động thực tế

- Giá thành toàn bộ theo biến phí (Zbp): là loại giá thành sản phẩm trong đó bao gồm toàn bộ biến phí (biến phí sản xuất, biến phí bán hàng_Bpbh, biến phí quản lý doanh nghiệp_Bpqldn) tính cho sản phẩm tiêu thụ

Ztb = Zsxtb + Bpbh + Bpqldn

Trang 17

- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ (Ztb): là giá thành sản phẩm bao gồm giá thành sản xuất và chi phí ngoài giá thành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ.

Ztb = Zsxtb + CPBH + CPQLDN

1.2.2.2.Phân loại giá thành theo thời điểm và cơ sở số liệu tính giá thành:

Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành 03 loại

- Giá thành kế hoạch: là giá thành sản xuất sản phẩm được tính toán trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng kế hoạch Việc tính toán giá thành kế hoạch được tiến hành trước khi thực hiện sản xuất, chế tạo sản phẩm Chỉ tiêu này được xem là mục tiêu phấn đấu, là cơ sở để đánh giá, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp

- Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành định mức được tiến hành trước khi sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành định mức là thước đo chính xác kết quả kinh doanh các loại tài sản, vật

tư, tiền vốn trong doanh nghiệp Đó là căn cứ quản lý quan trọng, tạo cơ sở cho việc đánh giá tính hợp lý, hiệu quả của giải pháp kinh tế kỹ thuật đã áp dụng

- Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế phát sinh và tập hợp được trong kỳ với số lượng thực tế sản xuất được Khác với 2 loại giá thành trên, Giá thành thực tế chỉ được tính toán sau khi quá trình sản xuất đã hoàn thành

Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán,

từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức cho phù hợp

1.2.2.3.Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi tính toán chi phí

Theo tiêu thức này thì giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại sau:

- Giá thành toàn bộ sản phẩm

Trang 18

- Giá thành sản phẩm theo biến phí

- Giá thành sản phẩm có phân bổ hợp lý chi phí cố định

1.3.Tổ chức kế toán chi phí sản xuất

1.3.1.Đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất

1.3.1.1.Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể phát sinh ở nhiều điểm khác nhau liên quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm , lao vụ khác Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí phát sinh đó ở đâu, dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào…đó chính là đối tượng kế toán chi phí sản xuất

Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi và giới hạn để chi phí sản xuất được tập hợp theo đó nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành

Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong việc

tổ chức kế toán chi phí sản xuất Thực chất của việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…)

Như vậy, xác định đối tượng chi phí sản xuất một cách khoa học, hợp

lý là cơ sở để tổ chức kế toán chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết…

1.3.1.2.Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:

Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là cách thức mà kế toán sử dụng

để tập hợp, phân loại các khoản chi phí sản xuất phát sinh trong một kỳ theo các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định

Thông thường tại các Doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:

- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp

Trang 19

Phương pháp được áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh

có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất riêng biệt Theo phương pháp này chi phí sản xuất phát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí nên đảm bảo độ chính xác cao

Trang 20

- Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp

Áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tượng kế toán chi phí, mà không thể tổ chức ghi chép ban đầu riêng cho từng đối tượng Trong trường hợp đó phải tập hợp chung cho nhiều đối tượng Sau

đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng kế toán chi phí Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự sau:

T: Tổng tiêu chuẩn dùng để phân bổ

Ti : tiêu chuẩn dùng để phân bổ cho từng đối tượng i

Ci : chi phí phân bổ cho từng đối tượng i

1.3.2.Nội dung kế toán chi phí sản xuất

1.3.2.1.Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Chi phí nguyên, nhiên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về nguyên, nhiên vật liệu chính, nửa thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ… sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được quản lý theo các định mức do doanh nghiệp xây

Ci = Ti × H

Trang 21

dựng Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định căn cứ vào cáo yếu tố sau:

- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các lao vụ dịch vụ trong kỳ

- Trị giá nguyên vật liệu còn lại đầu kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất Đây là giá trị của bộ phận nguyên vật liệu trực tiếp đã xuất kho cho quá trình sản xuất ở kỳ trước nhưng chưa sử dụng đến được chuyển sang cho quá trình sản xuất kỳ này

- Trị giá nguyên vật liệu trực tiếp còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng sản xuất được xác định dựa vào phiếu nhập kho vật liệu không sử dụng hết hoặc phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ ở các bộ phận, phân xưởng hoặc địa điểm sản xuất

- Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có): đây là giá trị của phế liệu thu hồi được tại các bộ phận sản xuất trong kỳ, được xác định căn cứ vào số lượng phế liệu thu hồi và đơn giản phế liệu mà doanh nghiệp đã sử dụng trong kỳ hạch toán.Chi phí NVL trực tiếp thực tế trong kỳ được xác định theo công thức: Chi phí

+

Trị giá NVL xuất dùng trong kỳ

-Trị giá NVL trực tiếp còn lại cuối kỳ

-Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có)

Để tập hợp chi phí nguyên nhiên vật liệu trực tiếp công ty sử dụng tài khoản (TK) 621 – Chi phí nguyên nhiên vật liệu trực tiếp

Trang 22

Sơ đồ 1.1

NVL xuất kho sử dụng NVL sd không hết

trực tiếp cho sx cuối kỳ nhập lại kho

TK 111,112

Sơ đồ thực hiện và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

1.3.2.2.Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp:

Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm: tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo số tiền lương của công nhân sản xuất

Số tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất, đối tượng lao động khác thể hiện trên bảng tính và thanh toán lương, tổng hợp, phân bổ cho các đối tượng kế toán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương

Trang 23

Các khoản trích theo lương (BHYT,BHXH, KPCĐ, BHTN) tính vào chi phí nhân công trực tiếp theo quy định hiện hành.

Để tập hợp chi phí nhân cụng trực tiếp, kế toán sử dụng Tài khoản 622 – chi phí nhân công trực tiếp

TT tiền lương nghỉ phép cho CP NCTT vượt trên mức

Công nhân sản xuất bình thường

TK338

Tiền BHXH, BHYT

KPCĐ, BHTN

Sơ đồ thực hiện và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp

1.3.2.3.Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung:

Chi phí sản xuất chung là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Chi phí sản xuất chung bao gồm:

- Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh chi phí liên quan phải trả cho nhân viên phân xưởng, bao gồm: Chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp lương, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính cho nhân viên phân xưởng, như: quản đốc phân xưởng, nhân viên kinh tế, thống kê, thủ kho phân xưởng

Trang 24

- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng, như vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định (TSCĐ) thuộc phân xưởng quản lý, sử dụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xưởng

- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ dụng cụ sản xuất dùng cho phân xưởng sản xuất như khuôn mẫu, gá lắp, dung cụ cầm tay

- Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm khấu hao của tất cả tài sản cố định sử dụng ở phân xưởng sản xuất như khấu hao của máy móc thiết bị, khấu hao của nhà xưởng, phương tiện vận tải

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài được phục vụ cho các hoạt động của phân xưởng như chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí điện, nước, điện thoại

- Chi phí khác bằng tiền: phản ánh những chi phí bằng tiền ngoài những khoản chi phí kể trên, phuc vụ cho hoạt động của phân xưởng như chi phí tiếp khách, hội nghị ở phân xưởng

Chi phí sản xuất chung được tổ chức tập hợp theo từng phân xưởng, đội sản xuất, quản lý chi tiết theo từng yếu tố chi phí, mặt khác chi phí sản xuất chung còn phải được tổng hợp theo chi phí cố định và chi phí biến đổi Cuối

kỳ sau khi đã tập hợp được chi phí sản xuất chung theo từng phân xưởng, kế toán tính toán phân bổ chi phí sản xuất chung cho từng đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong phân xưởng theo những tiêu chuẩn phân bổ hợp lý Việc tính toán xác định chi phí sản xuất chung tính vào chi phí chế biến còn phải căn cứ vào mức công suất hoạt động thực tế của phân xưởng

Chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định phân bổ theo chi phí thực tế phát

Trang 25

sinh Trường hợp mức sản xuất sản phẩm thấp hơn công suất bình thường, thì chỉ được phân bổ theo mức công suất bình thường, phần chi phí sản xuất chung không phân bổ, được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết trong kỳ theo chi phí thực tế.

Để tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK 627 – Chi phí sản xuất chung

TK 627 không có số dư cuối kỳ và được mở 6 TK cấp 2 để tập hợp theo yếu tố chi phí:

• TK 6271: chi phí nhân viên

Trang 26

không được phân bổ

TK 214

Chi phí khấu hao TSCS

TK111,112,141,331

CP dịch vụ khác bằng tiền

Sơ đồ thực hiện và phân bổ chi phí sản xuất chung

1.3.2.4.Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp

Cuối kỳ kế toán, sau khi đã tập hợp CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC theo từng đối tượng trên TK621, TK622, TK627; kế toán sẽ tiến hành kết chuyển hoặc phân bổ các loại chi phí này đê tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất cho từng đối tượng chịu chi phí, tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm cuối

kỳ, thực hiện tính giá thành các loại sản phẩm, công việc, lao vụ doanh nghiệp

đã hoàn thành trong kỳ

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành cho sản phẩm hoàn thành theo 02 phương pháp là Kê khai thường xuyên và Kiểm kê định kỳ

Trang 27

a) Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên:

Theo phương pháp này, kế toán sử dụng TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang TK này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm

Tài khoản 154 được mở chi tiết theo từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm của các bộ phận sản xuất

Sơ đồ 1.4

TK 621 TK 154 TK 155 Chi phí NVL trực tiếp Giá thành TP nhập kho

Sơ đồ tập hợp chi phí sản xuất

b) Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo phương pháp kiểm kê định kỳ:

Theo phương pháp này, việc tổ chức kế toán các khoản mục chi phí vẫn giống như phương pháp kê khai thường xuyên, được thực hiện trên các tài khoản:

TK 157

Trang 28

- TK 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

- TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp

- TK 627 – Chi phí sản xuất chung

Toàn bộ qúa trình tổng hợp chi phí sản xuất cuối kỳ,tính giá thành sản phẩm được thực hiện trên tài khoản 631 – Giá thành sản xuất Tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chỉ được sử dụng để phản ánh và theo dõi chi phí sản xuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ

Trang 29

1.4.Tổ chức kế toán tính giá thành sản phẩm

1.4.1.Đối tượng tính giá thành

Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công vụ, lao vụ mà doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị

Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng, yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng loại sản phẩm

cụ thể

Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất đơn chiếc thì từng sản xuất được xác định là đối tượng tính giá thành Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm là đối tượng tính giá thành

Đối với quy trình công nghệ sản xuất giản đơn thì đối tượng tính giá thành sẽ là sản phẩm hoàn thành cuối cùng của quá trình công nghệ, còn các doanh nghiệp có quá trình công nghệ sản xuất và chế biến phức tạp thì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn và thành phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng và cũng có thể là từng bộ phận, chi tiết sản phẩm và sản phẩm đã lắp ráp hoàn thành

1.4.2.Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành

Đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành giống nhau về bản chất, đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích, kiểm tra chi phí, giá thành sản phẩm Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, việc xác định hợp lý đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là tiền đề, điều kiện để tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành trong doanh nghiệp

Trang 30

Trong thực tế, một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể trùng với một đối tượng tính giá thành sản phẩm hoặc một đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành sản phẩm và ngược lại.

Mối quan hệ giữa đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở một doanh nghiệp cụ thể sẽ quyết định việc lựa chọn phương pháp tính và kỹ thuật tính giá thành của doanh nghiệp đó

Trên thực tế, khi xem xét các loại nửa thành phẩm tự chế, các bộ phận, một chi tiết sản phẩm có là đối tượng tính giá thành hay không cần phải cân nhắc đến các mặt như: chu kỳ sản xuất sản phẩm dài hay ngắn, nửa thành

phẩm tự chế có phải là hàng hoá hay không để xác định cho phù hợp.

1.4.3.Đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ

Sản phẩm làm dở là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất, chế tạo (đang nằm trong quá trình công nghệ sản xuất hoặc đã hoàn thành 1 vài bước chế biến nhưng vẫn còn phải gia công chế biến tiếp mời hoàn thành)

Toàn bộ chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ theo từng đối tượng

đã xác định liên quan đến cả sản phẩm hoàn thành và sản phẩm dở dang Để

có thông tin phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm hoàn thành cũng như phục vụ yêu cầu quản lý, kiểm tra, kiểm soát chi phí, kế toán cần phải xác định số chi phí sản xuất đã bỏ ra có liên quan đến số sản phẩm chưa hoàn thành là bao nhiêu Đó là việc đánh giá sản phẩm làm dở

Như vậy, đánh giá sản phẩm dở dang là việc thanh toán, xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm làm dở cuối kỳ phải chịu Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang có thể được đánh giá theo 1 trong các phương pháp sau:

Trang 31

1.4.3.1.Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp hay chi phí vật liệu trực tiếp

Theo phương pháp này, giá trị SPDD chỉ bao gồm phần nguyên vật liệu (NVL) chính trực tiếp hoặc NVL trực tiếp, còn các CPSX khác được tính hết cho sản phẩm hoàn thành trong kỳ Để đơn giản, kế toán thường quan niệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CP NVLTT), chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp (CP NVLCTT) bỏ hết vào một lần ngay từ đầu quy trình sản xuất

Đối với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạpkiểu chế biến liên tục, sản phẩm trải qua nhiều giai đoạn chế biến liên tục, khi

áp dụng phương pháp này thì giá trị của SPDD cuối kỳ của giai đoạn 2 trở đi được đánh giá theo giá trị nửa thành phẩm giai đoạn trước chuyển sang

Chi phí sản xuất dở dang được xác định theo công thức:

Dck = x Qdck

Qht + QdckTrong đó:

Dđk, Dck: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ

nguyên vật liệu trực tiếp) phát sinh trong kỳ

Phương pháp này giản đơn, dễ tính toán, xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ được kịp thời phục vụ cho việc tính giá thành được nhanh chóng nhưng kết quả đánh giá sản phẩm dở mức độ chính xác thấp, do không tính chi phí chế biến cho sản phẩm dở cho nên giá thành của thành phẩm cũng kém chính xác Vì vậy phương pháp này được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp hoặc nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm

dở dang ít và tương đối ổn định giữa các kỳ.

Trang 32

1.4.3.2.Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương

Sản phẩm hoàn thành tương đương là sản phẩm được quy đổi từ sản phẩm dở dang cuối kỳ tính theo mức độ chế biến hoàn thành của chúng ở từng giai đoạn

Theo phương pháp này, căn cứ vào sản lượng sản phẩm làm dở kiểm

kê cuối kỳ và mức độ hoàn thành của chúng để tính đổi ra sản lượng sản phẩm hoàn thành tương đương, trên cơ sở sản phẩm hoàn thành tương đương

để tính chi phí sản xuất sản phẩm dở

Tuỳ theo yêu cầu quản lý, kiểm soát chi phí, doanh nghiệp có thể đánh giá theo phương pháp nhập trước xuất trước hoặc phương pháp bình quân gia quyền

Phương pháp này kết quả tính toán được chính xác và khoa học hơn nhưng tính toán phức tạp, khối lượng tính toán nhiều Vì vậy phương pháp này được áp dụng đối với doanh nghiệp có chi phí vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng chi phí sản xuất, khối lượng sản phẩm dở dang lớn

và không ổn định giữa các kỳ, đánh giá được mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang

1.4.3.3.Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí hoàn thành định mức

Phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở theo chi phí sản xuất định mức được tiến hành trên cơ sở các định mức chi phí sản xuất được xây dựng cho từng giai đoạn Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang, mức độ hoàn thành của sản phẩm dở dang ở từng công đoạn sản xuất và định mức từng khoản mục chi phí ở từng công đoạn sản xuất để tính ra giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức.Căn cứ vào định mức chi phí sản xuất ở từng giai đoạn và số lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ để tĩnh theo công thức sau:

Dck = Qdck x đm

Dck: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

Trang 33

Qdck: Khối lượng sản phẩm dở cuối kìđm: Định mức chi phí đơn vị

Phương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh chóng, thuận tiện, đáp ứng yêu cầu thông tin tại mọi thời điểm nhưng độ chính xác của kết quả tính toán không cao, khó áp dụng vì thông thường, khó xác định được định mức chuẩn xác; vì thế phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp đã xây dựng được định mức chi phí hợp lý hoặc sử dụng phương pháp tính giá thành theo định mức

1.4.4.Tổ chức kế toán tính giá thành sản phẩm

1.4.4.1.Phương pháp tính giá thành giản đơn(phương pháp trực tiếp)

Theo phương pháp này, đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp nhau, kỳ tính giá thành phù hợp kỳ báo cáo kế toán là hàng tháng Kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp được kết quả hạch toán nghiệp vụ về khối lượng sản phẩm hoàn thành và dở dang để đánh giá sản phẩm dở dang, từ đó, tính giá thành sản phẩm theo công thức:

Z = Dđk + C – Dck

C: tổng chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳDck: chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ

z: giá thành đơn vị sản phẩmQht: khối lượng sản phẩm hoàn thànhPhương pháp này có ưu điểm là tính toán nhanh, đơn giản, không đòi hỏi trình độ cao nhưng phạm vi áp dụng hẹp vì nó chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp có quy trình công nghệ giản đơn, toàn bộ quy trình khép kín trong một

z =ZQht

Trang 34

giai đoạn sản xuất từ khi đưa nguyên vật liệu vào chế biến cho đến khi hoàn thành ra sản phẩm, ngoài ra nó còn áp dụng cho doanh nghiệp có số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn.

1.4.4.2.Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước

Phương pháp này áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất kiểu chế biến liên tục, quy trình công nghệ gồm nhiều bước kế tiếp với một trình

tự nhất định, khi kết thúc 1 giai đoạn công nghệ có bán thành phẩm hoàn thành được cung cấp sang chế biến ở giai đoạn công nghệ tiếp theo

Đối tượng tính giá thành ở những doanh nghiệp này là thành phẩm, cũng có thể là bán thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ Do vậy có 2 phương pháp sau :

a) Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm:

Trước hết, kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất của từng giai đoạn đầu tiên

để tính giá thành nửa sản phẩm của giai đoạn 1 Sau đó, xác định chi phí sản xuất giai đoạn 1 chuyển sang cho giai đoạn sau, cùng với chi phí sản xuất của bản thân giai đoạn đó, tổ chức tính giá thành nửa thành phẩm của giai đoạn này, cứ kế tiếp liên tục Như vậy, cho đến giai đoạn cuối cùng sẽ tính được giá thành của thành phẩm Việc kết chuyển chi phí từ giai đoạn trước sang giai đoạn sau có thể được thực hiện tuần tự từng khoản mục chi phí hoặc tuần

tự tổng hợp chung cho tất cả các khoản mục chi phí

chuyển

CP CB giai đoạn n

Trang 35

+ + +

Sơ đồ quy trình tính giá thành có tính giá thành nửa thành phẩm

Theo phương pháp này, kế toán có thể tính được giá thành nửa thành phẩm tự chế ở mỗi giai đoạn công nghệ sản xuất, điều này thuận tiện cho việc tính toán kinh tế có hiệu quả ở từng giai đoạn phân xưởng, tổ đội sản xuất Mặt khác, khi có nửa thành phẩm bán ra ngoài, doanh nghiệp có cơ sở để tính giá vốn hàng bán, quyết định giá bán và xác định kết quả kinh doanh.Phương pháp này áp dụng với những doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán cao, có quy trình công nghệ phức tạp, nửa thành phẩm tự chế cũng là hàng hoá

b) Phương pháp tính giá thành sản phẩm phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm:

Đối tượng tính giá thành là thành phẩm, không cần tính giá thành nửa thành phẩm từng giai đoạn Nhưng, để sản xuất sản phẩm ở từng giai đoạn cuối cùng trong giá thành của thành phẩm sẽ chứa đựng chi phí sản xuất của tất cả các giai đoạn trong doanh nghiệp Vì vậy, trong trường hợp này, kế toán phải căn cứ vào chi phí sản xuất của giai đoạn đã tập hợp được để xác định phần chi phí của từng giai đoạn có trong giá thành của thành phẩm, sau đó tổng hợp lại và tính được giá thành thành phẩm

Sơ đồ tính giá thành thành phẩm có thể khái quát như sau:

Sơ đồ 1.7

Trang 36

=

Dđk+Ci Qi

Sơ đồ quy trình tính giá thành không tính giá thành nửa thành phẩm

Dđk, Ci: CP dở dang đầu kỳ và CP phát sinh trong kỳ của giai đoạn công nghệ i

Qi: khối lượng sản phẩm mà giai đoạn i đầu tư chi phí : khối lượng thành phẩm đã quy đổi về nửa thành phẩm gđ 1.Phương pháp này tính toán giá thành nhanh, chính xác,nhưng do không tính giá thành nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ, nên không phân tích được hiệu quả sản xuất kinh doanh, không có được số liệu để kế toán nửa thành phẩm trong trường hợp có sản phẩm nhập kho Vì vậy phương pháp này

CP Chế biến

giai đoạn 1

CP Chế biến giai đoạn 2

Giá thành thành phẩm

CP Chế biến giai đoạn nNVL chính

Trang 37

sử dụng cho các doanh nghiệp chế biến phức tạp, liên tục và đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở bước công nghệ cuối cùng.

1.5.Sổ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Sổ kế toán là tổ hợp những tờ sổ được thiết kế một cách khoa học, giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, được sử dụng để ghi chép các nghiệp

vụ kinh tế phát sinh theo đúng phương pháp kế toán trên cơ sở các số liệu của chứng từ kế toán

Theo chế độ kế toán hiện hành có bốn hình thức sổ kế toán mà Doanh nghiệp áp dụng Trong mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về

số lượng, kết cấu, mẫu sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các sổ kế toán:

- Hình thức kế toán Nhật ký chung: Trong hình thức này các sổ kế toán

sử dụng bao gồm:

+ Sổ Nhật kí chung

+ Các sổ nhật kí chuyên dùng: Sổ nhật kí thu tiền, chi tiền, sổ nhật kí mua hàng, sổ nhật kí bán hàng

+ Sổ Cái các tài khoản 621, 622 627, 154…

+ Các sổ chi tiết liên quan như 621, 622, 627…

- Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái: Hệ thống sổ kế toán sử dụng bao

gồm:

+ Sổ Nhật kí - Sổ cái

+ Các sổ kế toán chi tiết 621,622,627…

- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ:Các sổ kế toán sử dụng bao gồm:

+ Sổ đăng kí chứng từ ghi sổ

+ Sổ cái các tài khoản

+ Các sổ chi tiết liên quan

Trang 38

- Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ: Các sổ kế toán sử dụng bao gồm:

+ Sổ Nhật kí chứng từ

+ Sổ Cái các tài khoản

+ Sổ kế toán chi tiết

+ Các bảng kê, bảng phân bổ

Ngoài ra, ngày nay, cùng với sự phát triển của Khoa học công nghệ - Kĩ thuật, các doanh nghiệp đã ứng dụng phần mềm kế toán trong việc ghi chép, theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh Điều đó giúp giảm nhẹ khối lượng công việc cho kế toán viên, qua đó giúp họ có thể quản lý tình hình tài chính

và hoạt động của doanh nghiệp một cách sát sao, dễ dàng, đồng thời tránh được những sai sót đáng tiếc trong quá trình ghi chép

1.6.Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện doanh nghiệp áp dụng kế toán máy

1.6.1.Chức năng và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện doanh nghiệp ứng dụng phần mềm kế toán:

Trong điều kiện hiện nay, do cạnh tranh trong cơ chế thị trường ngày càng trở nên gay gắt, các doanh nghiệp luôn phải đáp ứng nhu cầu xử lý thông tin nhanh hơn, chính xác hơn Tự động hoá kế toán, quản trị doanh nghiệp dưới sự trợ giúp của công nghệ thông tin là việc làm tất yếu của mọi doanh nghiệp đứng vững trong thời đại cạnh tranh hôm nay Do đó, hiện nay tại các doanh nghiệp hầu như đều đã áp dụng tin học vào kế toán, thực hiện kế toán trên máy Tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể mà các doanh nghiệp sử dụng những phần mềm kế toán khác nhau nhưng đều phải đáp ứng được các yêu cầu cung cấp thông tin cho công tác quản trị doanh nghiệp

Để tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và giá thành

Trang 39

sản phẩm ở doanh nghiệp, kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện kế toán trên máy cần thực hiện tốt các nhiệm vụ:

- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tínhgiá thành sản phẩm phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý

từ đó tổ chức mã hoá, phân loại các đối tượng cho phép nhận diện, tìm kiếm một cách nhanh chóng, không nhầm lẫn các đối tượng trong quá trình xử lý thông tin

- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phâncông rõ ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán đặc biệt là bộ phận kế toán các yếu tố chi phí

- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho mà doanh nghiệp lựa chọn Tuỳ theo yêu cầu quản lý để xây dựng Danh mục tài khoản Kế toán chi tiết cho từng đối tượng để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm được sử dụng làm cơ sở để mã hoá, cài đặt chương trình phần mềm kế toán

- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúngtrình tự đã xác định.Tổ chức kiểm kê, xử lý, cập nhật số lượng sản phẩm dở dang cuối tháng, số lượng sản phẩm hoàn thành, số lượng sản phẩm dở dang đầu tháng… Xây dựng phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang khoa học hợp lý để xác định và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ một cách đầy đủ và chính xác

- Tổ chức xác định các báo cáo cần thiết về chi phí sản xuất và giá

thành sản phẩm để chương trình tự động xử lý Kế toán chỉ việc xem, in và phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

1.6.2.Nguyên tắc và các bước tiến hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong điều kiện sử dụng phần mềm kế toán:

Về nguyên tắc:

Trang 40

+ Việc tập hợp các chi phí sản xuất hoàn toàn do máy tự nhận số liệu từ các bộ phận kế toán liên quan và tự máy tính toán phân bổ chi phí sản xuất chung trong kỳ theo các tiêu thức phân bổ đã được doanh nghiệp lựa chọn và cài đặt Từng khoản mục chi phí đã được mã hoá ngay từ đầu tương ứng với các đối tượng chịu chi phí

+ Lập các thao tác bút toán điều chỉnh, bút toán khoá sổ, kết chuyển cuối

kỳ trên cơ sở hướng dẫn sẵn

+ Căn cứ vào yêu cầu của người sử dụng thông tin để tiến hành kiểm tra các báo cáo cần thiết

Trình tự xử lý kế toán tập hợp chi phí sản xuất trên các phần mềm kế toán máy có thể khái quát theo sơ đồ sau:

Ngày đăng: 05/04/2013, 22:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. website: http://www.mof.gov.vn Link
11. website: http://www.hvtc.edu.vn Link
9. Giáo trình Phân tích tài chính doanh nghiệp – Học viên tài chính Khác
12. website: http://webketoan.vn Khác
13.Các luận văn của anh chị khóa trên Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.1 (Trang 22)
Sơ đồ 1.2 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.2 (Trang 23)
Sơ đồ 1.3 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.3 (Trang 26)
Sơ đồ 1.4 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.4 (Trang 27)
Sơ đồ 1.5 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.5 (Trang 28)
Sơ đồ quy trình tính giá thành không tính giá thành nửa thành phẩm - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ quy trình tính giá thành không tính giá thành nửa thành phẩm (Trang 36)
Sơ đồ 1.8 - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 1.8 (Trang 41)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức CTCP Tràng An - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức CTCP Tràng An (Trang 51)
Bảng  kê - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
ng kê (Trang 57)
Bảng thanh toán lương khoán. - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
Bảng thanh toán lương khoán (Trang 82)
BẢNG TỔNG HỢP THANH TOÁN LƯƠNG - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
BẢNG TỔNG HỢP THANH TOÁN LƯƠNG (Trang 89)
BẢNG HỆ THỐNG ĐỊNH MỨC CP NVL  Tên sản phẩm: - Tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Tràng An
n sản phẩm: (Trang 124)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w