Xuất phát từ vấn đề đó nên tôi mạnh dạn viết kinh nghiệm : "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp 3B 2 , Trường Tiểu học Mỹ Phước D" với các dạng bài “Nghe - Kể lại
Trang 1MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẦM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TẬP LÀM CHO HỌC SINH LỚP 3B2,
TRƯỜNG TIỂU HỌC MỸ PHƯỚC D.
Mục tiêu của giáo dục Tiểu học đặt ra là: “ giúp học sinh hình thànhnhững cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ,phẩm chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học
cơ sở ”
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng củamôn Tiếng Việt Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiếnthức tổng hợp từ nhiều phân môn trong môn Tiếng Việt Để làm được mộtbài văn không những học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe – nói – đọc– viết mà còn phải vận dụng các kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thựctiễn
Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh tạo lập văn bản, góp phần dạyhọc sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt Vì vậy Tập làm văn làphân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoàiphương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đờisống thực tế Học tốt Tập làm văn sẽ giúp học sinh học tốt các môn học khácđồng thời giáo dục các em những tình cảm lành mạnh, trong sáng; rèn luỵênkhả năng giao tiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trongsáng của Tiếng Việt, hình thành nhân cách con người Việt Nam
2 Cơ sở thực tiễn:
Chắc rằng mỗi giáo viên ai cũng hiểu : Phân môn Tập làm văn là mộtphân môn có vai trò quan trọng trong việc dạy học sinh hình thành văn bảnnói và viết Đây là một môn khó dạy trong chương trình Tiếng Việt tiểu học.Dạy phân môn Tập làm văn được tốt tức là người giáo viên đã thâm nhập cảchuỗi kiến thức từ các phân môn: tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu Chính
vì thế mà phân môn tập làm văn có tính chất tổng hợp, là kết quả lĩnh hội cáckiến thức của môn Tiếng Việt Trong chương trình tiểu học hiện nay, mục
Trang 2tiêu chính của môn Tiếng Việt là hình thành và phát triển cho học sinh các kỹnăng: nghe, nói, đọc, viết Đặc biệt ở lớp 3, phân môn tập làm văn rèn bốn kỹnăng: nói, nghe, đọc và viết Trong giờ tập làm văn học sinh được cung cấpkiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết) xây dựng các loại vănbản và các bộ phận cấu thành văn bản Bên cạnh đó học sinh còn tập kể lạiđược những mẫu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp Qua từng nội dungbài dạy, phân môn tập làm văn nhằm bồi dưỡng thái độ ứng xủ có văn hoá,tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh tốt đẹpcho học sinh.
Để thực hiện tốt mục tiêu của môn học đòi hỏi người thầy phải biết vậndung linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học saocho phù hợp với khả năng sử dụng ngôn ngữ và tâm lí lứa tuổi học sinh (HS)
để giờ học diễn ra tự nhiên nhẹ nhàng và có hiệu quả Trong giảng dạy giáoviên phải có nghệ thuật sư phạm, biết dẫn dắt, gợi mở đưa học sinh giải quyếtcác tình huống và thông qua việc xử lí các tình huống đó học sinh lĩnh hộiđược kiến thức bài Qua thực tế chỉ đạo công tác giảng dạy trong nhà trường;qua dự giờ thăm lớp của anh chị em giáo viên đặc biệt là khi dự giờ tiếp tậplàm văn lớp 3 trong trường tiểu học ( kể cả dự giờ giáo viên giỏi) tôi thấy cónhiều chỗ băn khoăn, trăn trở Giáo viên chưa biết cách khai thác dẫn dắt họcsinh tìm tòi kiến thức nhất là với hai dạng bài: “Nghe - Kể lại chuyện” và
“Kể hay nói, viết về một chủ đề” lại càng băn khoăn hơn Xuất phát từ vấn đề
đó nên tôi mạnh dạn viết kinh nghiệm : "Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp 3B 2 , Trường Tiểu học Mỹ Phước D" với các dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện” và “Kể hay nói, viết về một chủ đề”.
II Mục đích, đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
1 Mục đích nghiên cứu
Việc dạy cho học sinh nắm được cách nghe, kể lại được nội dung câuchuyện và kể hay nói, viết về một chủ đè có hiệu quả trong phân môn Tậplàm văn ở lớp 3 là rất quan trọng Dạy tốt vấn đề này giúp học sinh rèn luyệncác kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết một cách linh hoạt để biết kể lại câu chuyện
đã nghe hay làm bài văn kể hay nói, viết về một chủ đề cho trước có hiệuquả Giúp học sinh mạnh dạn, tự tin và ham thích học văn Vậy mục đíchnghiên cứu trong đề tài này tập trung vào các nội dung chủ yếu sau:
- Tìm hiểu các bài tập về nghe, kể lại chuyện; Kể hay nói, viết về một chủ đề
có trong chương trình tập làm văn lớp 3
- Thực trạng việc dạy của giáo viên và việc học của hoc sinh về phân mônTập làm văn lớp 3 ở trường tiểu học hiện nay
Trang 3- Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giờ học tậplàm văn ở lớp 3 với dạng bai: Nghe- kể lại chuyện; Kể hay nói, viết về mộtchủ đề
2 Đối tượng nghiên cứu:
Học sinh lớp 3B2 trường tiểu học Mỹ Phước D, lớp mà tôi trực tiếpchủ nhiệm
3 Các phương pháp nghiên cứu:
Trong qua trình nghiên cứu, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
1 - Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận
2 - Phương pháp phân tích, tổng hợp
3 - Phương pháp điều tra, khảo sát
4 - Phương pháp luyện tập, thực hành
5 - Phương pháp thống kê
6 - Phương pháp trao đổi, tranh luận
Trong các phương pháp trên, khi nghiên cứu tôi vận dụng hài hoà các phươngpháp để tìm ra các giải pháp của mình đạt kết quả tối ưu nhất
III Giới hạn của đề tài:
Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy tập làm văn lớp 3B2 ,Trường Tiểu học Mỹ Phước D
IV Các giả thuyết nghiên cứu
Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác.Qua tiết tập làm văn học sinh có khả năng xây dựng một văn bản đó là bàinói, bài viết Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan trọng, thôngqua đó con người thực hiện quá trình tư duy - chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tưtưởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau, cùng hợp tác trongcuộc sống lao động Ngôn ngữ (dưới dạng nói - ngôn bản và dưới dạng viếtvăn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội Chính vì vậyhướng dẫn học sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụnặng nề đó phụ thuộc rất lớn vào việc giảng dạy môn tiếng việt nói chung vàphân môn tập làm văn nói riêng, cụ thể tìm hiểu ở đây là chương trình tậplàm văn lớp 3
Trang 4Giáo viên luôn ý thức quan tâm, chăm chút học sinh trong từng tiếthọc Với mỗi loại bài tập, giáo viên đã nghiên cứu kĩ kế hoạch bài dạy để lựachọn và tổ chức những hình thức luyện tập sao cho phù hợp với đối tượnghọc sinh Bên cạnh đó, giáo viên luôn động viên khuyến khích, khơi gợi ởhọc sinh trí tưởng tượng, óc sáng tạo Từ đó kích thích được sự tìm tòi hamhọc hỏi ở học sinh, hình thành thói quen học tập tốt phân môn Tập làm văn.
Để giúp học sinh viết được những bài văn hay, ý tưởng phong phú,sáng tạo giáo viên luôn chú trọng rèn kĩ năng nói cho học sinh vì học sinh nóitốt sẽ trình bày bài viết tốt
Qua các phương tiện thông tin đại chúng: xem đài, đọc sách báo, tàiliệu… giáo viên thường xuyên được tiếp cận với việc đổi mới phương pháp
- Học sinh:
Ở lứa tuổi học sinh lớp ba, các em rất ham tìm tòi học hỏi
Nội dung chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tậplàm văn nói riêng rất phong phú; kênh hình Sách giáo khoa được trình bàyđẹp, phù hợp tâm sinh lí lứa tuổi các em
Học sinh đã nắm vững kiến thức, kĩ năng tạo lập văn bản, kể chuyện,miêu tả từ các lớp dưới Đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làmvăn lớp ba
2.Khó khăn:
Tập làm văn là phân môn khó so với các phân môn khác của môn Tiếng
Việt, vì vậy việc dạy – học ở phân môn này có những hạn chế nhất định
Trong việc rèn kĩ năng nói – viết cho học sinh, giáo viên có đầu tưnghiên cứu mục tiêu các tiết dạy để lựa chọn các phương pháp và hình thức
tổ chức dạy học sao cho phù hợp từng đối tượng học sinh, nhưng sự đầu tưchưa sâu nên hiệu quả dạy học phân môn Tập làm văn chưa cao Một số bàitrong chương trình đề ra chưa gần gũi với học sinh như: Lễ hội, tin thể
Trang 5thao…Dụng cụ trực quan thiếu, giáo viên chỉ nói suông nên học sinh khônghiểu, không nắm bắt được thông tin vì vậy bài làm không đạt hiệu quả cao.
Chất lượng phân môn Tập làm văn đầu năm rất thấp, học sinh chưabiết viết đoạn văn có ý tưởng phong phú, sáng tạo mà chỉ biết trả lời theo câuhỏi gợi ý Đấy là vấn đề nan giải đòi hỏi giáo viên phải có biện pháp thíchhợp để từng bước giảng dạy đạt kết quả
Qua khảo sát chất lượng đầu năm, năm học 2013 - 2014 ở môn toán vàtiếng việt ở lớp 3B2 cho thấy:
Tổng Số
Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệ Số HS Tỉ lệTLV
III Các biện pháp giải quyết vấn đề:
1 Trang bị kiến thức cho học sinh luôn chú trọng việc lồng ghép kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt:
Với thể loại nói – viết trong phân môn Tập làm văn lớp 3, học sinhđược rèn luyện kĩ năng nói dựa trên những gợi ý ở sách giáo khoa và viếtmột đoạn văn ngắn khoảng 5 đến 6 câu với các chủ đề: nói về quê hương, giađình, người lao động, kể vể lễ hội, trận thi đấu thể thao, bảo vệ môi trường…
Do khả năng tư duy của học sinh còn hạn chế, óc quan sát, trí tưởngtượng không phong phú lại chưa chịu khó rèn luyện, nên đa số các em chỉbiết trình bày đoạn văn một cách hạn hẹp theo nội dung đã gợi ý Từ đó bàivăn nói – viết nghèo nàn về ý, gò ép, thiếu sự hồn nhiên Ví dụ “Kể lại việc
em đã làm để bảo vệ môi trường”, các em chỉ kể “ trên đường đi học, emthấy một cây xanh còn non bị ngã, em đỡ cho cây đứng dậy Trưa tan học vềthấy cây xanh tốt, em rất vui mừng vì đã bảo vệ môi trường” Bên cạnh đó,đôi lúc các em còn trình bày lệch lạc, thiếu chính xác do ít kiến thức về vốnsống
Việc sử dụng và mở rộng vốn từ còn nhiều hạn chế, các em chưa chú ýcách sử dụng từ hoặc trau chuốt thế nào cho từ đó hay hơn trong câu văn Cómột số từ do được nghe và nói trong sinh hoạt hằng ngày thành quen thuộc,các em vẫn vô tư sử dụng trong bài văn của mình
Như vậy, để khắc phục những hạn chế trên, giáo viên cần hiểu rõ tínhtích hợp kiến thức giữa các phân môn Tiếng Việt để từ đó giúp các em trang
bị vốn kiến thức cơ bản cần thiết cho mỗi tiết học Khi dạy các phân môn:Tập đọc, Chính tả, Tập viết Luyện từ và câu có nội dung phù hợp tiết Tậplàm văn sắp học; giáo viên cần dặn dò hướng dẫn học sinh quan sát tìm hiểu
kĩ đối tượng cần nói đến và ghi chép cụ thể hình ảnh, hoạt động ấy vào sổtay; với những sự việc hoặc hoạt động các em không được chứng kiến hoặctham gia, giáo viên khuyến khích các em quan sát qua tranh ảnh, sách báo,
Trang 6trên tivi,…hoặc hỏi những người thân hay trao đổi với bạn bè Khi đượctrang bị những kiến thức cơ bản như thế, học sinh sẽ có những ý tưởng độclập từ đó các em có thể trình bày được bài văn chân thực, sinh động và sángtạo Trong việc trang bị kiến thức cho học sinh, giáo viên không nên áp đặtcác em vào một khuôn mẫu nhất định như chỉ định học sinh phải quan sátmột bức tranh, một sự vật, con người hay một công việc cụ thể như thế sẽhạn chế năng lực sáng tạo của các em Vì vậy, với bất cứ một đề tài nào củamột tiết Tập làm văn, giáo viên cần cho học sinh liên hệ mở rộng để các emphát huy được năng lực sáng tạo trong bài văn của mình.
2 Tìm hiểu nội dung đề bài:
2.1 Xác định rõ yêu cầu các bài tập:
Ở mỗi đề tài của loại bài Tập làm văn nói – viết, giáo viên cần cho họcsinh tự xác định rõ yêu cầu các bài tập Giúp học sinh tự xác định đúng yêucầu bài tập để khi thực hành các em sẽ không chệch hướng, đảm bảo đúngnội dung đề tài cần luyện tập
2.2 Nắm vững hệ thống câu hỏi gợi ý:
Sách giáo khoa lớp 3, bài Tập làm văn nói – viết thường có câu hỏi gợi
ý, các câu hỏi này sắp xếp hợp lí như một dàn bài của một bài Tập làm văn;học sinh dựa vào gợi ý để luyện nói, sau đó viết thành một đoạn văn ngắn.Giáo viên cần cho học sinh đọc toàn bộ các câu gợi ý để hiểu rõ và nắm vữngnội dung từng câu; từ đó giúp các em trình bày đoạn văn rõ ràng, mạch lạc đủ
ý, đúng từ, đúng ngữ pháp Giúp học sinh nắm vững nội dung từng câu hỏigợi ý sẽ hạn chế được việc trình bày ý trùng lặp, chồng chéo, không có sựliên kết giữa các ý với nhau trong đoạn văn
2.3 Tìm hiểu các câu gợi ý:
Trước khi học sinh thực hành bài tập luyện nói, giáo viên cần giúp các
em hiểu nghĩa của các từ ngữ có trong câu hỏi để học sinh hiểu và trình bàyđúng yêu cầu, các từ ngữ này có thể là các từ khó hoặc từ địa phương Nếu là
từ địa phương, giáo viên có thể cho học sinh sử dụng từ địa phương mình đểhọc sinh làm bài dễ dàng hơn
2.4 Chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ:
Trong các câu gợi ý có một số câu dài hoặc ngắn gọn khiến học sinhlúng túng khi diễn đạt ý, do đó ý không trọn vẹn, bài văn thiếu sinh độngsáng tạo Giáo viên cần chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ để giúp các em cónhững ý tưởng phong phú, hồn nhiên Việc chia thành nhiều câu gợi ý nhỏ sẽ
có nhiều học sinh được rèn kĩ năng nói, giúp các em thêm tự tin và giáo viên
dễ dàng sửa chữa sai sót cho học sinh
Như vậy qua hệ thống câu hỏi, giúp học sinh bày tỏ được thái độ, tìnhcảm, ý kiến nhận xét đánh giá của mình về vấn đề nêu ra trong bài học Songsong với quá trình đó giáo viên cần hỏi ý kiến nhận xét của học sinh về câutrả lời của bạn để học sinh rút ra được những câu trả lời đúng cách ứng xửhay.Từ đó giúp học sinh mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, lôgíc, câuvăn có hình ảnh có cảm xúc Trên cơ sở đó bài luyện nói của các em sẽ trôichảy, sinh động, giàu cảm xúc đồng thời hình thành cho các em cách ứng xử
linh hoạt trong cuộc sống
Trang 73 Hướng dẫn tìm ý:
Do đặc điểm tâm lí lứa tuổi nên đa số bài văn của học sinh lớp 3 có ýtưởng chưa phong phú, sáng tạo, các em thường trình bày hạn hẹp trongkhuôn khổ nhất định Giáo viên cần giúp các em tìm ý để thực hành một bàivăn nói – viết hoàn chỉnh về nội dung với những ý tuởng trong sáng giàuhình ảnh và ngây thơ chân thật Để thực hiện được điều đó, giáo viên sẽhướng dẫn học sinh một cách chặt chẽ từ sự liên tưởng về các sự vật, cáchoạt động Từ đó học sinh dễ dàng tìm ý và diễn đạt bài văn rõ ràng, mạch
lạc hơn Trong một tiết Tập làm văn với một đề tài nào đó, học sinh có thể
quên một số hình ảnh, sự việc…mà các em đã quan sát hoặc tìm hiểu quathực tế Giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại bằng những câu hỏi nhỏ cóliên quan đến yêu cầu bài tập, phù hợp thực tế và trình độ học sinh để các em
dễ dàng diễn đạt Nếu trong một bài Tập làm văn, học sinh chỉ biết diễn đạtnội dung bằng những gì đã quan sát; hoặc thực hành một cách chính xác theocác gợi ý; bài làm như thế tuy đủ ý nhưng không có sức hấp dẫn, lôi cuốnngười đọc, người nghe Vì vậy, với từng đề bài giáo viên nên có những câuhỏi gợi ý, khuyến khích học sinh liên tưởng, tưởng tượng thêm những chi tiếtmột cách tự nhiên, chân thật và hợp lí qua việc sử dụng các biện pháp sosánh, nhân hoá, để từ đó học sinh biết trình bày bài văn giàu hình ảnh, sinhđộng, sáng tạo
4 Hướng dẫn diễn đạt:
Như đã nói, do tâm lí lứa tuổi nên bài văn thực hành của học sinh lớp
Ba tuy có ý tưởng, nhưng vẫn còn nhiều sai sót về diễn đạt như: dùng từ chưachính xác, ý trùng lắp, các ý trong đoạn văn chưa liên kết nhau nên trình bàychưa rõ ràng mạch lạc Vì vậy, khi học sinh trình bày, giáo viên phải hết sứcchú ý lắng nghe, ghi nhận những ý tưởng hay, ý có sáng tạo của học sinh đểkhen ngợi; đồng thời phát hiện những sai sót để sửa chữa Giáo viên cần đặt
ra tiêu chí nhận xét thật cụ thể để học sinh làm cơ sở lắng nghe bạn trình bày;phát hiện những từ, ý, câu hay của bạn để học hỏi và những hạn chế của bạn
để góp ý, sửa sai
4.1 Hướng dẫn sửa chữa từ:
Trường hợp học sinh dùng từ chưa chính xác như các từ ngữ chưa phùhợp, nghĩa từ chưa hay hoặc từ thông dụng địa phương…ví dụ: ‘thầy em rấtchăm chỉ trong giảng dạy ”, “ cô em thường bận đồ xanh ”… khi học sinhphát hiện sai sót đó, giáo viên giúp các em sửa chữa thay đổi từ phù hợp Đốivới từ học sinh dùng trùng lặp nhiều lần trong một câu, ví dụ: “Bác ba làngười hàng xóm của em, bác ba rất tốt với em, bác ba luôn giúp em họcbài…”, giáo viên hướng dẫn học sinh lượt bớt từ hoặc dùng từ phù hợp đểthay thế Trong trình bày bài văn, học sinh vẫn thường dùng từ ngôn ngữ nói,giáo viên nên hướng dẫn học sinh thay thế bằng từ ngôn ngữ viết trong sánghơn
4.2 Hướng dẫn sửa chữa đặt câu:
Học sinh nói viết câu chưa hay chưa đủ ý, giáo viên cần hướng dẫnhọc sinh sửa chữa bổ sung ý vào cho đúng; câu dài dòng ý chưa rõ ràng mạch
Trang 8lạc cần cho học sinh sửa sai lượt bỏ ý dư ý trùng lắp Giáo viên khuyến khíchhọc sinh tự sửa câu văn chưa hay của mình bằng những câu văn hay của bạn.
4.3 Hướng dẫn sửa chữa đoạn văn:
Với mỗi chủ đề của bài Tập làm văn nếu học sinh trình bày đủ nộidung theo gợi ý đã cho thì bài văn của các em xem như hoàn chỉnh Nhưng
để có một đoạn văn mạch lạc rõ ràng, ý tưởng liên kết chặt chẽ nhau thu hútđược người đọc; giáo viên cần giúp các em biết viết đoạn văn có mở và kếtđoạn, biết dùng từ liên kết câu, dùng câu liên kết đoạn một cách hợp lí vàsáng tạo Ví dụ với gợi ý kể về trận thi đấu thể thao, từng gợi ý phần mởđoạn có rời rạc, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh liên kết các ý với nhau,khi kể không theo trình tự từng ý nhưng vẫn đảm bảo nội dung và làm chophần mở đoạn sinh động lôi cuốn người đọc hơn Hoặc hướng dẫn học sinhdùng những câu mở đầu đoạn văn để nói hoặc kể một cách sáng tạo
Khi kể về một việc làm một hoạt động nào đó, giáo viên cần khuyếnkhích học sinh sử dụng những từ liên kết câu thể hiện trình tự diễn biến của
sự việc như: “đầu tiên”; “kế tiếp”; “sau đó”; “cuối cùng”… để đoạn văn gắnkết chặt chẽ liên tục từng ý với nhau Do đặt điểm lứa tuổi và trình độ từngđối tượng học sinh không đồng đều nhau nên các em chưa hiểu nhiều về từ,câu liên kết trong đoạn văn viết; vì
vậy giáo viên cần hướng dẫn bằng những gợi ý giản đơn dễ hiểu, có thể chohọc sinh khá giỏi làm mẫu để giúp các em trình bày tốt hơn đoạn văn viết củamình Trong việc hướng dẫn học sinh sửa chữa bài viết, giáo viên cần đưa ratiêu chí đánh giá cụ thể giúp học sinh phát hiện những đoạn văn hay, ý tưởngphong phú sáng tạo đồng thời phát hiện những hạn chế còn vấp phải trongbài viết Từ đó học sinh có sự suy nghĩ để sửa chữa cách diễn đạt ý tưởngtrong bài viết của mình một cách hợp lí và sáng tạo
5 Dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện ” ; Dạng bài “Kể hay nói, viết về một chủ đề” giáo viên cần tiến hành:
5.1 Dạng bài “Nghe - Kể lại chuyện”
Đây là một đạng đề khá khó trong chương trình tập làm văn lớp 3 Ngữ liệuhọc tập của dạng đề này phần lớn là các chuyện vui nên năm học này BộGiáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình giảm tải nhằm bỏ bớt một sốbài tập không yêu cầu học sinh thực hành( Phần này đã được nêu ở trên)Trong sách giáo viên, hầu hết các tiết dạy dạng đề này được triển khai theocùng một hướng như sau:
- Giáo viên kể chuyện 2 hoặc 3 lần
- Giáo viên đưa ra câu hỏi gợi ý chi tiết để học sinh làm điểm tựa nhớ lại nộidung truyện
- Một vài học sinh kể: Học sinh kể theo nhóm ; Đại diện vài nhóm học sinh
kể lại chuyện trước lớp
Trang 9Để hoạt động của tiết học dạng đề trên đa dạng hơn, học sinh vui và tích cực học hơn, giờ học có hiệu quả hơn nhất là những học sinh trung bình và yếu Tôi xin đề nghị thêm một số phương án dạy học như sau:
Cách 1:
- Cho học sinh xem tranh và đoán nội dung truyện Giáo viên ghi vài điều
cơ bản (nhân vật, một vài sự kiện) mà học sinh đoán được lên bảng (cho học sinh làm viẹc toàn lớp hay nhóm )
- Học sinh nghe giáo viên kể chuyện hai lần
- Học sinh đối chiếu giữa nội dung chuyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán để điều chỉnh những điều đã đươc ghi trên lớp (cho học sinh làm vào phiếu học tập)
- Học sinh trao đổi về một vài điều thú vị trong truyện hay ý nghĩa của truyện
- Học sinh kể lại chuyện theo cặp ( theo nhóm)
- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể)
- Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
Ví dụ: Nghe kể lại câu chuyện: Dại gì mà đổi (BT1-TV3 - tập 1- tr36)
Nội dung câu chuỵên trong SGV như sau : “Có một cậu bé bốn tuổi rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu doạ sẻ đổi cậu để lấy một đứa trẻ ngoan về nuôi Cậu bé nóí:
- Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!
Mẹ ngạc nhiên hỏi:
- Vì sao thế?
Cậu bé trả lời:
- Vì chẳng ai muốn đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm đâu, mẹ ạ”
1.Chuẩn bị
- Tranh vẽ ở SGK phóng to
- Phiếu bài tập: Em hãy xem tranh và đoán thử xem nội dung chuyện theo bảng sau và điều chỉnh lại khi nghe chuyện
Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung
khi nghe kể
Câu chuyện có
mấy nhân vật
Họ đang làm gì?
Người mẹ đã nói với con điều gì? người con trả lời
Trang 10
mẹ ra sao?
Kết quả câu
chuyện như thế
nào?
2.Cách tiến hành:
- Giáo viên treo tranh vẽ trên bảng, chia nhóm học sinh và phát phiếu học tập cho các nhóm, cho học sinh đọc yêu cầu của bài tập ghi trên phiếu và tiến hành làm bài tập a
- Giáo viên theo dõi và gọi đại diện các nhóm nêu một số ý và giáo viên ghi lên bảng
- Giáo viên kể chuyện 2 lần ( nội dung truyện có trong SGV như trên) học sinh đối chiếu giữa nội dung truyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán để điều chỉnh ở phần b của bài tập
Ví dụ :
Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung khi
nghe kể
Câu chuyện có mấy
nhân vật
Chuyện có hai nhân vật Chuyện có hai nhân vật
Họ đang làm gì? Họ đang nói chuyện với
nhau
Người mẹ dọa sẽ đổi cậu bé
để lấy một đưa con ngoan về nuôi
Người mẹ đã nói với
con điều gì? người con
trả lời mẹ ra sao?
Người mẹ nói với con phải ngoan, nghe lời
mẹ Người con ngồi
im lặng
Người mẹ nói sẽ đối con để lấy đứa con ngoan về nuôi Người con trả lời với mẹ là
mẹ chẳng bao giờ đổi được đâu vì không ai dại gì mà đổi đứa con ngoan lấy đưa con nghịch ngợm cả
Kết quả câu chuyện như
thế nào?
Người con không nghe lời mẹ
Dại gì mà đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch
- Giáo viên bao quát lớp, kèm cặp thêm cho học sinh trung bình và yếu
- Cho học sinh trao đổi về một điều thú vị trong truyện hay nêu ý nghĩa truyện: câu chuyện buồn cười ở chổ nào? (Truyện buồn cười vì cậu bé nghịch ngợm mới 4 tuổi cũng biết rằng không ai muốn đổi một đứa con
Trang 11ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm.) Giáo viên chốt lại nội dung: Không aidại gì mà đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm cả.
- Cho học sinh kể lại chuyện theo nhóm
- Đại diện nhóm kể lại trước lớp Cả lớp nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xétchung
Cách 2: Giáo viên kể một phần đầu của câu chuyện sau đó đặt câu hỏi đề
nghị học sinh đoán sự kiện gì có thể xảy ra tiếp theo Giáo viên ghi một vài ýhọc sinh đoán lên bảng
- Học sinh nghe giáo viên kể tiếp rồi trao đổi đối chiếu điêu được nghe vớiđiều đã đoán để điều chỉnh phần được ghi trên bảng
- Giáo viên kể lại chuyện 2 lần đề nghị học sinh nêu thêm một số tình tiết nữaphần đầu của truyện( ở hoạt động này giáo viên có thể dùng thẻ từ ghi các sựkiện thể hiện trong phần đầu của ttruyện và học sinh chọn đưa vào dàn ý đã
có trên bảng)
- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị trong chuyện
- Học sinh kể lại chuyện( theo nhóm hay cặp)
- Đại diện vài nhóm học sinh kể lại chuyện trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung và nhận xét chung
Ví dụ minh hoạ: Nghe kể lại chuyện: Dại gì mà đổi (BTTV3 - tập
1-tr36)
Nội dung câu chuyện trong SGV đã trình bày ở ví dụ trên
1.Chuẩn bị: Tranh vẽ ở SGK phóng to
2.Cách tiến hành:
- Giáo viên treo tranh vẽ lên bảng
Giáo viên kể phần đầu của chuyện kết hợp chỉ tranh: “Có một cậu bé 4 tuổinhưng rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu doạ sẻ đổi cậu để lấy một đứa trẻngoan về nuôi.”
- Giáo viên hỏi: Các em thử đoán xem cậu bé trả lời như thế nào?
- Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoán lên bảng :
Ví dụ :
+ Cậu bé òa khóc
+ Cậu bé hét lên
+ Cậu bé mừng rỡ
+ Cậu bé không đồng ý dổi
- Giáo viên kể tiếp câu chuyện và cho học sinh đối chiếu điều được nghevới điều đã đoán để điều chỉnh phần ghi ở bảng
- Giáo viên kể chuyện lần 2, đề nghị học sinh nêu lên một số tình tiết nửaphần đầu của truyện Giáo viên có thể đưa lên một số thẻ từ ghi một số tìnhtiết của chuyện
Ví dụ:
+ Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!
Trang 12+ Vì sao thế?
+ Chẳng ai muốn đổi đứa con ngoan để lấy đứa con nghịch
- Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị của chuyện
- Học sinh kể lại chuyện (theo nhóm hay cặp) kết hợp câu hỏi gợi ý ở SGK
- Đại diện vài nhóm học sinh kể trước lớp
- Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung
Sau khi hoàn thành sơ đồ trình tự câu chuỵện, học sinh trao đổi sửa chữa
- Học sinh dựa vào trình tự câu chuyện để kể lại chuyện theo nhóm (haycặp)
- Đại diện nhóm kể lại trước lớp
- Học sinh trao đổi ý nghĩa câu chuyện, cả lớp theo dõi nhận xét, giáo viên
bổ sung nhận xét chung
Ví dụ minh hoạ:
Nghe - kể lại chuyện: Không nỡ nhìn.(BT1- SGK - TV3 - Tập 1 - Tr.61)
Nội dung câu chuyện trong sách giáo viên như sau: “Trên một chuyến xebuýt đông người, có anh thanh niên đang ngồi cứ lấy hai tay ôm mặt Một
bà cụ ngồi bên thấy thế bèn hỏi:
- Cháu nhức đầu à? Có cần dầu xoa không?
Anh thanh niên nói nhỏ:
- Không ạ Cháu không nỡ nhìn các cụ già và phụ nữ phải đứng.”
1.Chuẩn bị :
1
45
32