Kể từ khi ban hành (năm 2005) đến nay Luật Đầu tư tại Việt Nam đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung và ngày càng tạo điều kiện hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Kết quả là thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, góp phần tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung và các vùng kinh tế cả nước nói riêng. Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái, những tác động tiêu cực của nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt của nền kinh tế Việt Nam nói riêng và đến tất cả những mặt khác của đời sống văn hóa chính trị nói chung. Mục tiêu hiện nay của kinh tế Việt Nam là duy trì sự ổn định và bền vững, do vậy kì vọng tăng trưởng nhanh hiện chưa được đề cao. Đây có thể coi là đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong thời điểm này nhằm giữ vững nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam duy trì ở mức thấp khoảng 5,3%5,4%, lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp so với các năm trước khoảng 5%, sự tăng trưởng của các ngành kinh tế có khởi sắc qua các năm nhưng thực tế vẫn ở mức cầm chừng. Cùng với các tỉnh, thành phố trong nước, những năm qua tỉnh Hải Dương đã có nhiều cố gắng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội. Nét nổi bật trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương là ngay từ đầu, tỉnh đã tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, xác định các khu, các cụm công nghiệp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đến với tỉnh Hải Dương để làm ăn, kinh doanh. Đến nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 252 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nhìn chung, các doanh nghiệp FDI hoạt động có hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, nâng cao trình độ khoa học công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý hiện đại; giải quyết việc làm cho người lao động; làm tăng thu nhập và cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Song so với yêu cầu thì hoạt động trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Dương chưa đồng đều, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI vẫn còn những mặt yếu kém, chất lượng cải cách hành chính ở một số bộ phận còn chưa cao.Do vậy, công tác quản lý của Chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh, giúp các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh vừa là vấn đề cấp bách, đồng thời cũng là vấn đề cơ bản lâu dài đối với tỉnh Hải Dương. Đây cũng là lý do chủ yếu để tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Tỉnh” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế và chính sách của mình.
Trang 1NGUYễN ĐìNH TIệP
Quản lý của chính quyền tỉnh hải dơng
đối với doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp
n-ớc ngoài trên địa bàn tỉnh
HÀ NỘI – 2013
Trang 2NGUYễN ĐìNH TIệP
Quản lý của chính quyền tỉnh hải dơng
đối với doanh nghiệp có vốn đầu t trực tiếp
n-ớc ngoài trên địa bàn tỉnh
Chuyờn ngành: Quản lý kinh tế và chớnh sỏch
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ THỊ HẢI HÀ
HÀ NỘI – 2013 LỜI CAM ĐOAN
Tụi xin cam đoan Luận văn với tờn gọi: " Quản lý của chớnh quyền tỉnh
Trang 3Các lý luận và dữ liệu trong Luận văn là trung thực và những thành quả nghiên cứu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Trang 4Xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh Hải Dương, Văn phòng UBND tỉnh Hải Dương, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Hải Dương, Ban Quản lý các KCN tỉnh Hải Dương đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi tham gia và hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô hướng dẫn: PGS.TS Đỗ Thị Hải Hà đã tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn thành Luận văn.
Tôi xin cảm ơn gia đình, các bạn đồng môn cũng như toàn thể bạn bè đã chia sẻ, giúp đỡ tôi trong lúc khó khăn, hỗ trợ tinh thần cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng 9 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Đình Tiệp
Trang 5TỈNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 10 1.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài 101.1.2 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
121.1.3 Tác động kinh tế - xã hội của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài đến địa bàn tiếp nhận đầu tư 14
1.2 Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh 18
1.2.1 Khái niệm quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 181.2.2 Mục tiêu quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài 201.2.3 Bộ máy quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh 221.2.4 Nội dung quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài 231.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh
Trang 6ngoài của một số địa phương trong nước 35
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 35
1.3.2 Bài học cho tỉnh Hải Dương 40
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH HẢI DƯƠNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 41
2.1 Điều kiện và tiềm năng ở tỉnh Hải Dương đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
2.2 Thực trạng phát triển doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bản tỉnh Hải Dương giai đoạn từ năm 2008 đến 2013 48
2.2.1 Về số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 48
2.2.2 Về lĩnh vực đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 50
2.2.3 Về quy mô của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 51
2.2.4 Kết quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI ở tỉnh Hải Dương 55
2.3 Thực trạng bộ máy quản lý doanh nghiệp FDI của chính quyền tỉnh Hải Dương 57
2.3.1 Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương 57
2.3.2 Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương 58
2.3.3 Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương 58
2.3.4 Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Hải Dương 59
2.3.5 Các Sở, ban, ngành liên quan khác 63
2.4 Thực trạng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của chính quyền tỉnh Hải Dương 64
2.4.1 Hướng dẫn doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Tỉnh .64
Trang 72.4.4 Kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
75
2.5 Đánh giá về quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh 77
2.5.1 Đánh giá việc thực hiện mục tiêu 77
2.5.2 Điểm mạnh trong quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 80
2.5.3 Điểm yếu trong quản lý của Chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 81
2.5.4 Nguyên nhân của các điểm yếu 84
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH HẢI DƯƠNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP FDI 87
3.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và mục tiêu thu hút FDI của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 87
3.2 Những giải pháp hoàn thiện quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 90
3.2.1 Giải pháp về hướng dẫn doanh nghiệp 90
3.2.2 Giải pháp về cấp và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư 93
3.2.2 Giải pháp về hỗ trợ doanh nghiệp 94
3.2.4 Giải pháp về kiểm soát doanh nghiệp FDI 96
3.2.6 Giải pháp khác 99
3.3 Kiến nghị 105
3.3.1 Đối với chính quyền tỉnh Hải Dương 105
3.3.2 Đối với chính quyền trung ương 106
3.3.3 Về phía các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 107
KẾT LUẬN 108
Trang 8PHỤ LỤC 2
Trang 9DN : Doanh nghiệp
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh Nghiệp FDI : Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
GCNĐT : Giấy chứng nhận đầu tư
KCN Khu công nghiệp
KH&CN : Khoa học và công nghệ
PCI : Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Sở KH&ĐT : Sở Kế hoạch và Đầu tư
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân
VCCI : Phòng Công nghiệp và thương mại Việt NamXHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 10SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý các doanh nghiệp FDI của tỉnh 22
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp FDI của tỉnh 70
BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2013 45
Bảng 2.2 Cơ cấu lao động theo khu vực sản xuất 47
Bảng 2.3 Gia tăng số lượng doanh nghiệp FDI đăng ký thành lập qua các năm từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2013 49
Bảng 2.4 Số lượng doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn tỉnh Hải Dương qua các năm từ năm 2008 đến tháng 6 năm 2013 49
Bảng 2.5 Tình hình đầu tư nước ngoài tại Hải Dương 51
Bảng 2.6 Cơ cấu vốn các nước đăng ký đầu tư vào Hải Dương đến cuối năm 2012 .52
Bảng 2.7 Tình hình thực hiện đầu tư của doanh nghiệp FDI tại tỉnh Hải Dương .53
Bảng 2.8 Cơ cấu đầu tư theo địa bàn năm 2012 54
Bảng 2.9 Đánh giá của doanh nghiệp FDI về xúc tiến đầu tư của tỉnh Hải Dương .65
Bảng 2.10 Đánh giá của doanh nghiệp FDI về hoạt động hướng dẫn của tỉnh Hải Dương 67
Bảng 2.11 Tình hình cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư tại tỉnh Hải Dương 73
Bảng 2.12 Đánh giá của doanh nghiệp FDI về cấp giấy chứng nhận đầu tư 74
Bảng 2.13 Đánh giá của doanh nghiệp FDI về hoạt động hỗ trợ đầu tư 75
Bảng 2.14 Đánh giá của doanh nghiệp FDI về cấp giấy chứng nhận đầu tư 76
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ khi ban hành (năm 2005) đến nay Luật Đầu tư tại Việt Nam đã quanhiều lần sửa đổi, bổ sung và ngày càng tạo điều kiện hấp dẫn hơn đối với các nhàđầu tư nước ngoài Kết quả là thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã đạt đượcnhiều thành tựu đáng kể, góp phần tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung và cácvùng kinh tế cả nước nói riêng Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu rơi vào suythoái, những tác động tiêu cực của nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt củanền kinh tế Việt Nam nói riêng và đến tất cả những mặt khác của đời sống văn hóa-chính trị nói chung Mục tiêu hiện nay của kinh tế Việt Nam là duy trì sự ổn định vàbền vững, do vậy kì vọng tăng trưởng nhanh hiện chưa được đề cao Đây có thể coi
là đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong thời điểm này nhằm giữ vữngnền kinh tế thoát khỏi suy thoái Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam duy trì ở mứcthấp khoảng 5,3%-5,4%, lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp so với cácnăm trước khoảng 5%, sự tăng trưởng của các ngành kinh tế có khởi sắc qua cácnăm nhưng thực tế vẫn ở mức cầm chừng
Cùng với các tỉnh, thành phố trong nước, những năm qua tỉnh Hải Dương đã
có nhiều cố gắng trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đẩy mạnh phát triểnkinh tế - xã hội Nét nổi bật trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại tỉnh Hải Dương
là ngay từ đầu, tỉnh đã tiến hành quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, xác định cáckhu, các cụm công nghiệp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuậnlợi thu hút các nhà đầu tư nước ngoài Nhờ đó, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đếnvới tỉnh Hải Dương để làm ăn, kinh doanh
Đến nay, trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 252 dự án có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài (FDI) đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ Nhìn chung, các doanhnghiệp FDI hoạt động có hiệu quả, góp phần vào tăng trưởng kinh tế và kim ngạchxuất khẩu của tỉnh, tăng thêm nguồn thu cho ngân sách, nâng cao trình độ khoa họccông nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý hiện đại; giải quyết việc làm cho người lao
Trang 13động; làm tăng thu nhập và cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhândân Song so với yêu cầu thì hoạt động trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp nước ngoài ởtỉnh Hải Dương chưa đồng đều, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI vẫn cònnhững mặt yếu kém, chất lượng cải cách hành chính ở một số bộ phận còn chưa cao.
Do vậy, công tác quản lý của Chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanhnghiệp FDI trên địa bàn tỉnh, giúp các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn,góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh vừa là vấn đề cấp bách,đồng thời cũng là vấn đề cơ bản lâu dài đối với tỉnh Hải Dương Đây cũng là lý do
chủ yếu để tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Tỉnh” làm luận
văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý kinh tế và chính sách của mình
2 Tổng quan nghiên cứu
Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài được nhiều nhà khoa học và hoạt động thực tiễn trong và ngoài nướcnghiên cứu Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
- Bài báo: “Môi trường và chính sách đầu tư nước ngoài tại Việt Nam” – Tác
giả Trần Xuân Giá, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư, Tạp chí Kinh tế và dự báo số3/2001 Trong công trình này tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm tạo môitrường đầu tư thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư
- Bài báo: “Cần tư duy và hành động mới về FDI”- Tác giả Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng đăng trên website http://nguyentandung.org, trong công trìnhnày, tác giả đã định hướng, vận dụng những nội dung về quản lý nhà nước đối với
sự vận động của FDI
- Công trình của tác giả Nguyễn Xuân Huy, 2007, luận văn thạc sĩ “Hoàn thiệnchức năng quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, bảo
vệ năm 2007 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tác giả đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đốivới các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài như: vai trò, nội dung, yêucầu quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài;
Trang 14phân tích, nghiên cứu vấn đề phân cấp quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI.Tuy nhiên tác giả chưa phân tích được toàn bộ tác động, ảnh hưởng của quá trìnhphát triển kinh tế đến việc phân cấp quản lý tại mỗi địa phương và trong toàn quốc.
Dù vậy, đây cũng là một nỗ lực đóng góp của tác giả
- Công trình của tác giả Trần Việt Tuấn, 2007, luận văn thạc sĩ “Một số giảipháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Hải Phòng”, bảo
vệ năm 2006 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tác giả đã đánh giá được những điều kiện thuận lợi trong việc thu hút, pháttriển doanh nghiệp FDI về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, giao thông; khắc phụcđược những thiếu sót về mặt pháp lý và các văn bản chính sách hỗ trợ doanh nghiệpcủa tỉnh Hải Phòng Tác giả đã phân tích thực tiễn và đề ra những giải pháp có tínhứng dụng nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác thu hút doanh nghiệp FDI trên địa bànvốn đã có nhiều ưu đãi Tuy nhiên, phương pháp định tính của tác giả cần được cụ thểhơn nữa bằng những số liệu cụ thể để tạo được tính thuyết phục cao cho công trình
- Công trình của tác giả Nguyễn Ngọc Quang, 2007, luận văn thạc sĩ
“Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển côngnghiệp tỉnh Bắc Ninh”, bảo vệ năm 2007 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân.Tác giả đã đi sâu vào việc nghiên cứu phân tích tình hình thực tế của tỉnh BắcNinh Các số liệu mà tác giả đưa ra có sự phân loại khoa học Vì vậy tác giả đã dựavào đó làm căn cứ định hướng phát triển các doanh nghiệp FDI để áp dụng mộtcách khả quan với điệu kiện của Bắc Ninh Nhưng tác giả có hạn chế trong việc đưa
ra những giải pháp và định hướng cụ thể, chưa nhấn mạnh được vai trò Quản lý nhànước của chính quyền quản lý trực tiếp địa bàn, bởi đây chính là chủ thể thực hiện
và ban hành các giải pháp nên đã hạn chế nhiều đóng góp của luận văn
- Công trình của tác giả Nguyễn Việt Khánh, 2008, luận văn thạc sĩ “Giải phápquản lý nhà nước nhằm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các khu công nghiệpcủa thành phố Hải Phòng”, bảo vệ năm 2008 tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân Tác giả đã cụ thể hóa không gian cho việc thực hiện đề tài Khả năng tiếp cận
và xử lý số liệu mang đến cái nhìn tổng quát cho nội dung của đề tài Những giải
Trang 15pháp của tác giả được đánh giá cụ thể hơn qua số liệu được để cập trong luận văn và
đã đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Phòng Đề tài có những đóng góp lớntrong cả lý luận và thực tiễn
Như vậy, các công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau củaquản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói chung và doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng Một số giải pháp kiến nghị củacác tác giả thực sự rất hữu ích, tùy từng điều hiện hoàn cảnh của mỗi địa phương
mà nó có thể nó trở thành những công cụ hữu hiệu cho các nhà quản lý, các nhàlãnh đạo của các tỉnh trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống vềquản lý của Chính quyền Tỉnh đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài tại tỉnh Hải Dương, đặc biệt với một tỉnh có số lượng doanh nghiệp FDIkhá lớn như Hải Dương Theo thống kê đến hết quý III năm 2013 là 252 dự án đầu
tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ Chính vì thế đây là một khoảngtrống nghiên cứu mà luận văn của tôi muốn đi vào tìm hiểu, làm rõ lý luận và thựctiễn đang đặt ra đối với sự phát triển doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng khung lý thuyết về quản lý của chính quyền cấp Tỉnh đối vớidoanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh;
- Tìm hiểu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài của một số địa phương trong nước, từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho tỉnh Hải Dương
- Phân tích thực trạng quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương đối với doanhnghiệp FDI trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2008 - 2012;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý của Chính quyền tỉnh HảiDương đối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn đến năm 2020
Trang 164 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài trên địa bàn tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung vào công tác quản lý của chính quyền cấptỉnh đối với các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh
- Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2008 đến 2012, sốliệu sơ cấp thu thập từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2013 và đề xuất giải pháp địnhhướng đến 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Hỗ trợ hoạt động đầu tư.
- Kiểm soát hoạt động đầu tư
Mục tiêu phát triển doanh
nghiệp FDI
Gia tăng số lượng Kết hợp nguồn lực Thu hút vốn đầu tư Phát triền nguồn nhân lực Phát triển kết cấu hạ tầng Chuyển giao công nghệ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Trang 175.2 Quy trình nghiên cứu
5.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
5.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
+ Báo cáoTình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
về phát triển kinh tế - xã hội, tháng 8 năm 2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnhHải Dương
Phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn trực tiếp các
cán bộ lãnh đạo tỉnh thực
hiện công tác quản lý
doanh nghiệp FDI trên địa
Điểm mạnh , điểm yếu trong quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dương nhằm phát triển doanh nghiệp FDI
Đề xuất các giải pháp quản lý của chính quyền tỉnh Hải Dươngđối với doanh nghiệp FDI trên địa bàn Tỉnh
Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI
Nghiên cứu tổng quan
- Nghiên cứu lý thuyết về
doanh nghiệp FDI và sự
phát triển doanh nghiệp
FDI
- Các văn bản pháp luật về
doanh nghiệp FDI
Trang 18+ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương đến năm 2020, tầm nhìnđến năm 2030.
+ Quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh HảiDương từ năm 2008 đến nay
+ Các số liệu thực trạng doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm
2008 đến nay
- Nguồn số liệu lấy từ Cục thống kê tỉnh Hải Dương và Tổng cục thống kê Các số liệu được thu thập qua Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương qua cácnăm từ năm 2008 đến nay
- Nguồn số liệu được lấy từ trang web của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương,các Sở, ban, ngành trên địa bàn tỉnh, Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam(VCCI) có liên quan đến công tác quản lý doanh nghiệp, cụ thể là các doanh nghiệpFDI và một số trang tin điện tử khác như tạp chí Đảng cộng sản, Kinh tế phát triển
* Số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn sâu: thông tin thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn sâu các
cán bộ quản lý, lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Ban quản lý các khucông nghiệp và giám đốc, cán bộ một số doanh nghiệp FDI để đánh giá thực trạngphát triển doanh nghiệp FDI, thực trạng các giải pháp quản lý của chính quyền tỉnhnhằm hỗ trợ phát triển và gợi ý các giải pháp quản lý phù hợp nhằm phát triểndoanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Đối tượng phỏng vấn gồm các cán bộ: Thạc Sỹ Nguyễn Dương Thái - PhóChủ tịch UBND tỉnh Hải Dương, Ông Vương Đức Sáng - Giám đốc Sở Kế hoạch &Đầu tư tỉnh Hải Dương, Tiễn sỹ Nguyễn Xuân Đoan - Phó Giám đốc Sở Kế hoạch
& Đầu tư tỉnh Hải Dương, Thạc sỹ Nguyễn Hữu Phúc - Giám đốc Trung tâm hỗ trợDoanh nghiệp - Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Hải Dương, Tiến sỹ Phạm MinhPhương - Phó Trưởng ban Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh Hải Dương, Thạc
sỹ Nguyễn Đức Dương - Phó phòng Tài chính tổng hợp - Văn phòng Ủy ban nhândân tỉnh Hải Dương
Trang 19Nội dung phỏng vấn bao gồm các vấn đề liên quan đến việc đánh giá thựctrạng doanh nghiệp FDI hiện nay trên địa bàn tỉnh; những giải pháp quản lý mà các
cơ quan đã thực hiện; kết quả của việc thực hiện và yếu điểm khi thực hiện, nguyênnhân của yếu điểm; kiến nghị cho xây dựng kế hoạch phát triển doanh nghiệp trongthời gian tới
Thời điểm thực hiện phỏng vấn: tháng 4-7/2013, tại cơ quan làm việc của cáccán bộ
- Điều tra khảo sát: đối tượng điều tra là các doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh.
Nội dung điều tra bao gồm các vấn đề liên quan đến việc đánh giá thực trạngquản lý của các cấp chính quyền đối với doanh nghiệp FDI hiện nay trên địa bàn tỉnhHải Dương
Phiếu điều tra các doanh nghiệp FDI được thiết kế bao gồm hai câu hỏi, câu hỏithứ nhất là đánh giá của các doanh nghiệp FDI đối với thực trạng quản lý của chínhquyền tỉnh Hải Dương đối với công tác quản lý doanh nghiệp FDI trên địa bàn tỉnh đốivới 05 nội dung quản lý theo thang điểm 5 tương ứng với 5 mức độ (mức độ 1 – rấtkém, mức độ 2 – kém, mức độ 3 – trung bình, mức độ 4 – khá, mức độ 5 – tốt), câu hỏithứ hai là các kiến nghị của doanh nghiệp FDI đối với các cấp chính quyền quản lý
Số phiếu phát đi: 100 phiếu, số phiếu thu về 100 phiếu, số phiếu hợp lệ: 98 phiếutrong đó có 35 doanh nghiệp FDI hoạt động trong Khu công nghiệp và 63 doanhnghiệp FDI hoạt động ngoài Khu công nghiệp
- Rút ra được những bài học có thể vận dụng vào thực tiễn của tỉnh Hải Dương
Trang 20từ kinh nghiệm quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài của một số địa phương trong nước
6.2 Đóng góp thực tiễn
- Đánh giá đúng thực trạng quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanhnghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương, rút ra đượcnhững thành công, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
- Luận văn đề ra một số giải pháp quản lý và kiến nghị nhằm thực hiện có hiệuquả trong công tác quản lý doanh nghiệp FDI đối với riêng Chính quyền tỉnh HảiDương Trước những khó khăn hiện nay các doanh nghiệp đang gặp phải, khi nềnkinh tế đất nước đang chịu những tác động bất lợi của suy thoái kinh tế, thì cácdoanh nghiệp FDI rất cần “bàn tay” nâng đỡ để doanh nghiệp có thể tồn tại, pháttriển lớn mạnh, và tham gia vào quá trình thực hiện những định hướng phát triểnkinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý của Chính quyền tỉnh Hải Dương đối
với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh giai đoạn từnăm 2008 đến năm 2013
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý của chính quyền tỉnh đối với
doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tìm hiểu, nghiên cứu khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài chúng ta thấy cónhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỗi khái niệm đều cố gắngkhái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếpnước ngoài Có thể thấy rõ qua một số khái niệm sau:
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 được chấp nhận khárộng rãi về đầu tư trực tiếp nước ngoài là: “số vốn đầu tư được thực hiện để thu đượclợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế củanhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả caotrong quản lý doanh nghiệp” Khái niệm này cho thấy, sự khác nhau cơ bản giữa đầu tưtrực tiếp nước ngoài với đầu tư gián tiếp là mục đích của các nhà đầu tư
Năm 2005, Luật đầu tư được điều chỉnh và đã đưa ra định nghĩa đầu tư nướcngoài như sau: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” Luật đầu
tư năm 2005 không đề cập cụ thể đến khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu
tư nước ngoài gián tiếp mà chỉ đưa ra khái niệm đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp Trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nhà đầu tư nước ngoài là chủthể quan trọng thành lập nên doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (hay còn gọi làdoanh nghiệp FDI) và có thể nói không có FDI tất yếu không có doanh nghiệp FDI.Doanh nghiệp FDI là phương tiện, là cách thức để nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp
bỏ vốn và tham gia quản lý kinh doanh ở một nước khác Đến nay vẫn có nhiềuquan niệm khác nhau về doanh nghiệp FDI như:
Trang 22- Doanh nghiệp FDI là những pháp nhân mới được thành lập tại nước nhận đầu
tư Quan niệm này nhấn mạnh đến vai trò sáng lập của nhà đầu tư nước ngoài trongdoanh nghiệp FDI
- Doanh nghiệp FDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nướcngoài và có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài Doanh nghiệp này hoạt độngtheo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thuđược lợi ích cho tất cả các bên
Ở Việt Nam, đến nay chưa có khái niệm chính thức nào khác về doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài những ghi nhận về doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài được đề cập trong Luật đầu tư nước ngoài năm 1996 và Luật đầu tư năm 2005.Tuy nhiên, Luật đầu tư nước ngoài 1996 cũng không đưa ra khái niệm về doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài mà chỉ thừa nhận doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàigồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Và vềmặt pháp lý, cả doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoàiđều hoạt động với tư cách công ty trách nhiệm hữu hạn
Luật doanh nghiệp 2005 đã phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí cách thức gópvốn và chịu trách nhiệm (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công tyhợp danh, doanh nghiệp tư nhân) mà không phụ thuộc vào nguồn gốc vốn góp (tức
là không phân biệt doanh nghiệp của nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài, củamột nhà đầu tư hay nhiều nhà đầu tư) Luật đầu tư 2005, khi định nghĩa về doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng không còn sử dụng khái niệm doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh nữa mà thay vào đó đã sửdụng khái niệm: “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp donhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanhnghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”
Qua phân tích ở trên, có thể hiểu: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài là một hình thức tổ chức kinh doanh, trong đó có một bên hoặc các bên mang quốc tịch khác nhau cùng góp vốn, cùng quản lý cơ sở kinh tế đó vì mục tiêu sinh lời, phù hợp với các quy định luật pháp của nước sở tại và thông lệ quốc tế”.
Trang 231.1.2 Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp FDI có nhiều loại hình, nhiều cách thức tổ chức hoạt động khácnhau Do vậy, nhận thức các đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này có vaitrò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với chúng Doanhnghiệp FDI ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:
- Doanh nghiệp FDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, chủ yếuđược thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc một phần sở hữunước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nước ngoài (doanhnghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) Quá trình thành lập và vận hành của doanhnghiệp FDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của các bên, đại diện cho lợi ích củacác quốc gia khác nhau và được các bên lấy phương châm “cùng có lợi” làm nguyêntắc cơ bản để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp FDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nước ngoài, quyềnquản lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều
là những pháp nhân Việt Nam, ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà nướcViệt Nam, đồng thời chịu sự chi phối của nhiều hệ thống pháp luật (bao gồm luậtpháp của các quốc gia xuất thân của các bên và luật pháp quốc tế);
- Doanh nghiệp FDI thường có phần sở hữu của các công ty đa quốc gia,nên các quyết định của nó không hoàn toàn phụ thuộc vào khuôn khổ pháp lý củaViệt Nam Phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài càng cao, thì hoạt động củadoanh nghiệp FDI có thể càng chịu nhiều sự ảnh hưởng của bên nước ngoài Mặtkhác, xu hướng tự nhiên của doanh nghiệp FDI bao giờ cũng coi lợi nhuận làmục tiêu duy nhất hàng đầu; trong khi đó, nước chủ nhà lại quan tâm nhiều đếnhiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể nền kinh tế Do vậy, quản lýnhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dung hòa được hailợi ích này, phải cho doanh nghiệp FDI trong khi phục vụ lợi ích của họ cũngđồng thời phải mang lại lợi ích cho bên Việt Nam nói riêng và Nhà nước ViệtNam nói chung;
Trang 24- Doanh nghiệp FDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý vĩ mô, chịuảnh hưởng của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam trên cácphương tiện môi trường sinh thái, môi trường chính trị, kinh tế - xã hội , đồng thờicũng có tác động trở lại đối với đất nước Việt Nam, có thể tích cực hoặc tiêu cực,tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng hay chệch hướng, hiệu quả, hay thua lỗ củadoanh nghiệp
- Doanh nghiệp FDI hoạt động trong một thời hạn nhất định do Chính phủnước Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường không quá
50 năm, trường hợp đặc biệt có thể dài hơn nhưng tối đa không quá 70 năm Hếtthời hạn qui định, doanh nghiệp FDI phải giải thể hoặc chuyển cho phía Việt Nam(theo hình thức bồi hoàn hoặc không bồi hoàn) Như vậy, chế độ sở hữu đối với bênnước ngoài chỉ giới hạn trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp, trừ số doanhnghiệp phải giải thể, khi hết thời hạn hoạt động những doanh nghiệp FDI đó dù tốt,xấu đều trở thành đơn vị kinh doanh và sở hữu của phía Việt Nam;
- Doanh nghiệp FDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá khác nhau,phản ánh sự pha trộn các yếu tố văn hoá của nhiều nước, thể hiện qua triết lý kinhdoanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen, lòng tin, thái
độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia Văn hoá kinh doanh của doanh nghiệpFDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, làm choquá trình triển khai và vận hành doanh nghiệp FDI hết sức phức tạp đòi hỏi ViệtNam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhàđầu tư nước ngoài một cách bình đẳng và đảm bảo hiệu quả, đồng thời hạn chế tớimức thấp nhất những thua thiệt có thể xẩy ra đối với nước mình;
Doanh nghiệp FDI được coi là loại doanh nghiệp không có cơ quan chủ quản,
cơ quan lãnh đạo cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp làHội đồng quản trị Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị.Hoạt động của doanh nghiệp FDI là hoạt động theo luật, trong khuôn khổ pháp luật
và các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý vềmặt Nhà nước đối với các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này
Trang 25Những đặc điểm trên cho thấy, để có thể tham gia kinh doanh với các nhàđầu tư nước ngoài một cách bình đẳng, đồng thời các doanh nghiệp FDI hoạtđộng đúng định hướng, có hiệu quả cao, phát huy được tác dụng tích cực đến đờisống chính trị, kinh tế - xã hội ở trong nước, ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấpnhất những ảnh hưởng tiêu cực, những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hợptác đầu tư Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết như hệ thống phápluật, cơ chế chính sách, phương thức và biện pháp quản lý thích hợp.
1.1.3 Tác động kinh tế - xã hội của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến địa bàn tiếp nhận đầu tư
1.1.3.1 Tác động tích cực
Doanh nghiệp FDI góp phần gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế, kích thích cáccông ty khác tham gia đầu tư vào nước chủ nhà, là một tác nhân để thu hút vốnODA; tăng thêm tỷ lệ huy động vốn trong nước; là phương tiện để tiếp nhận côngnghệ hiện đại; tạo thêm nhiều việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến củacác nước Cụ thể là:
- Thu hút vốn cho đầu tư phát triển: đối với những địa bàn thiếu vốn, tích lũy
từ nội bộ nền kinh tế thấp (thường là ở các nước đang phát triển) thì việc thành lậpcác doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, là biện pháp thu hút vốn đầu tư cóhiệu quả Lượng vốn này, đôi khi là “cú hích” từ bên ngoài khá hữu hiệu tạo nênmột loạt sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của nền kinh tế
- Tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ hiện đại: Hoạt động của FDI tác động rất
lớn đối với quá trình phát triển khoa học, công nghệ Bởi vì, các doanh nghiệp FDIkhi được thành lập luôn gắn liền với công nghệ, máy móc thiết bị, kỹ năng quản lýđảm bảo năng lực sản xuất và năng suất lao động nhằm thu được lợi nhuận tối đa.Đối với những địa bàn kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vực nông nghiệp thìviệc chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài
là một giải pháp khá tiết kiệm và an toàn Việc tiếp thu được các công nghệ tiên tiếncủa nước ngoài tạo điều kiện cho địa bàn nhận đầu tư mở những bước “đột phá” sâuvào những ngành nghề sản xuất kinh doanh quan trọng như điện tử, ô tô, công nghệluyện kim, công nghệ hóa chất, khai thác dầu khí
Trang 26- Tạo điều kiện học tập kinh nghiệp quản lý tiên tiến của nước ngoài: không
những trong doanh nghiệp liên doanh mà ngay cả trong doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài, các nhân viên của địa bàn nhận đầu tư nước ngoài có dịp tiếpxúc với một phong cách quản lý tiên tiến của nước ngoài, qua đó từng bước học tậpđược các mô hình quản lý, kỹ năng kinh doanh và thích nghi với cạnh tranh, thíchnghi với công nghệ đặc biệt là kỹ năng điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh.Hơn nữa, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài còn góp phần hình thành thế hệdoanh nhân mới trong nước có đầy đủ bản lĩnh và khả năng để thành lập và điềuhành các doanh nghiệp đương đầu với cạnh tranh trên thị trường Từ những bài họcđược tích lũy đó, địa bàn nhận đầu tư nước ngoài có thể áp dụng các mô hình quản
lý tiên tiến dựa trên các công cụ hiện đại vào công ty điều hành các cơ sở sản xuấtkinh doanh trong nền kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả việc áp dụng các kinh nghiệmquản lý tiến tiến này phụ thuộc rất lớn vào bản lĩnh và trình độ của đội ngũ cán bộcủa địa bàn tiếp nhận đầu tư nước ngoài Việc áp dụng dập khuôn đôi khi gây ra hậuquả phản tác dụng không phải là nhỏ Tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến củanước ngoài chính là một khoản lợi ích vô hình mà địa bàn đầu tư nước ngoài cóđược, nhưng nó cũng yêu cầu chính địa bàn nhận đầu tư nước ngoài phải có nhữngđiểu chỉnh phù hợp trong việc áp dụng
- Khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển thị trường và kích thích tăng trưởng kinh tế trên địa bàn nhận đầu tư:
Đối với địa bàn có nhiều tài nguyên khoáng sản nhưng không đủ khả năng khai thácthì việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo điều kiện đểkhai thác lợi thế về tự nhiên Sự phát triển của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nướcngoài cũng tạo sức ép và điều kiện để hiện đại hoá kết cấu hạ tầng như hệ thốngđường xá, kho tàng, sân bay, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp điện,nước đồng thời tăng năng lực sản xuất và năng suất lao động cho các cơ sở sảnxuất hiện có
- Tạo thêm việc làm, góp phần bồi dưỡng đội ngũ lao động có kỹ năng và tay nghề cao cho địa bàn tiếp nhận đầu tư: Chính hoạt động của các doanh
Trang 27nghiệp đầu tư nước ngoài và sự tăng trưởng kinh tế mà nó mang lại đã tạo ranhiều cơ hội việc làm, làm giảm thất nghiệp Bài toán khó về việc làm được giảiquyết một phần đáng kể nhờ vào doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài vànhững ảnh hưởng dây chuyền của nó đối với các ngành cung cấp nguyên liệu vàtiêu thụ sản phẩm Mặt khác, thông qua quá trình lao động trong các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài mà người lao động của địa bàn nhận đầu tư trực tiếp sẽtiếp thu được những kỹ năng sản xuất mới, tiên tiến góp phần nâng cao tay nghề
và tạo được thu nhập ổn định, đảm bảo đời sống
- Tiếp cận với thị trường thế giới: Thông qua doanh nghiệp đầu tư trực tiếp
nước ngoài, địa bàn tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị trường thế giới Bởi vìhầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều
do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếpcận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thân thế và
uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng của sản phẩm
- Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với
nhiều địa phương, thuế do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồnthu ngân sách quan trọng, đóng góp thị phần lớn trong GDP của địa phương Chẳnghạn, ở tỉnh Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phầntrăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006
Những tác động tích cực nói trên cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn tiếpnhận đầu tư
Trang 28cán bộ, “chảy máu chất xám” Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm nảy sinhnhiều vấn đề mới trong xã hội.
- Doanh nghiệp FDI thường lợi dụng, khai thác những mặt yếu kém của Chínhphủ và các doanh nghiệp sở tại, đặc biệt họ thường chú ý khai thác những sơ hở,yếu kém về luật lệ, thủ tục và cán bộ trong khâu quản lý, sự nắm bắt không kịp thờicác thông tin thị trường về công nghệ, giá cả của nước chủ nhà để khai khống giá trịmáy móc thiết bị công nghệ góp vốn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ không thíchhợp, lạc hậu, làm thiệt hại đến lợi ích của phía nhận đầu tư
- Doanh nghiệp FDI có thể làm tăng sự phụ thuộc về vốn, kỹ thuật và mạnglưới tiêu thụ của địa bàn nhận đầu tư vào phía nước ngoài, vì các qui trình kỹ thuật,công nghệ sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ hàng hoá do các nhà đầu tư nắm giữ
và chỉ được chuyển giao dần dần Sự phụ thuộc càng nhiều thì tính chủ động của địabàn nhận đầu tư càng yếu Do vậy, nếu không tranh thủ được những tác động tích cựccủa doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài để nhanh chóng phát triển công nghiệpnội địa, tạo nguồn tích lũy, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, tiếp nhận kỹ thuật mới, thìđịa bàn tiếp nhận đầu tư khó có khả năng giảm và loại bỏ được sự phụ thuộc
- Các nhà đầu tư nước ngoài có thể bằng nhiều cách làm tổn hại đến chủ quyềnkinh tế của địa bàn tiếp nhận đầu tư Thông qua các công ty xuyên quốc gia, cácdoanh nghiệp FDI, nhất là doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài có thể gâyảnh hưởng tới chính trị của địa bàn tiếp nhận đầu tư, gây sức ép đối với Chính phủ,tác động không lành mạnh đến cơ cấu xã hội Mục tiêu chiến lược của họ không phảibao giờ cũng thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế của địa bàn nhận đầu tư, do
đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể có quan điểm, ý kiến trái ngược hoặc có hành
vi vi phạm các chính sách quản lý tài chính, tiền tệ của địa bàn tiếp nhận đầu tư
- Trong điều kiện nền kinh tế mở, nếu sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nộiđịa trên địa bàn tiếp nhận đầu tư nước ngoài yếu thì sự xuất hiện của các doanh nghiệpFDI có thể dẫn đến sự lũng đoạn và làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp trong nước Bởi vì, các doanh nghiệp FDI thường chiếm ưu thế về kỹthuật, vốn và kinh nghiệm tổ chức quản lý so với doanh nghiệp trong nước
Trang 29Như vậy, doanh nghiệp FDI không chỉ mang lại những tác động tích cực màcòn ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tiếp nhận đầu tư.Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên quá lo ngại về điều này, bởi lẽ bất kỳ một loạihình doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường cũng đều có mặt trái của nó.Vấn đề đặt ra là, quản lý của Chính quyền đối với các doanh nghiệp FDI phải ngănchặn, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực các doanh nghiệp này, đồng thời tạođiều kiện hấp thu tối đa các tác động tích cực của chúng, thu hút ngày càng nhiềuhơn lượng vốn FDI, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa bàn tiếp nhận đầu
tư trong bối cảnh cạnh tranh thu hút FDI trên thế giới diễn ra ngày một khốc liệt
1.2 Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
1.2.1 Khái niệm quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Quản lý là một chức năng bắt nguồn từ tính xã hội của lao động trong điềukiện phát triển kinh tế, quản lý được xem là thước đo của hầu hết các hoạt động
xã hội
Từ khái niệm về quản lý chúng ta có thể hiểu, quản lý của chính quyền cấp
tỉnh là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan chính quyền cấp tỉnh được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật đối với doanh nghiệp FDI hoạt động trên địa bàn tỉnh nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triền kinh tế - xã hội của tỉnh gồm 5 nội dung quản lý: hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư; cấp, thu hồi và điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư; hỗ trợ hoạt động đầu tư; kiểm soát hoạt động đầu tư.
Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù các quốc gia trên thế giới có nhiều chế độchính trị khác nhau, nhưng đều có điểm chung là ngày càng coi trọng vai trò quản
lý, điều tiết của Nhà nước Như vậy, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó
có quản lý của Chính quyền đối với doanh nghiệp ngày càng được tăng thêm
Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp là một bộ phận, đồngthời là nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế, nên chính quyền cấp tỉnh
Trang 30có chức năng và nhiệm vụ quản lý đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế, nhưng không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung,doanh nghiệp FDI nói riêng hoàn toàn có quyền tự chủ khi tiến hành hoạt động kinhdoanh những gì mà pháp luật không cấm
Doanh nghiệp FDI cũng như các đơn vị kinh doanh khác, ngoài sự chi phối củathị trường, còn chịu sự điểu chỉnh bởi hệ thống pháp luật và quản lý vĩ mô của Nhànước kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể Quan hệ giữa chính quyền cấp tỉnh vớidoanh nghiệp FDI trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là quan hệ quản lý bằng phápluật, cơ chế chính sách, kế hoạch, định hướng, hỗ trợ, điều chỉnh và khống chế trongphạm vi cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của quốc gia
Như vậy, chính quyền cấp tỉnh với doanh nghiệp FDI có mối quan hệ qua lạivới nhau và tác động lẫn nhau, bởi vì:
- Về phía chính quyền cấp tỉnh, việc thiết lập quản lý đối với các doanh nghiệp
FDI trên địa bàn là cần thiết vì quan hệ giữa từng doanh nghiệp với nền kinh tế nóichung là quan hệ giữa bộ phận và tổng thể, nhiều khi quyền lợi giữa bộ phận và tổngthể là không thống nhất, thậm chí còn mâu thuẫn nhau Vai trò của quản lý của chínhquyền cấp tỉnh là để cho lợi ích của từng doanh nghiệp FDI trên địa bàn không lấn átnhau, không làm tổn hại tới lợi ích các quốc gia và của doanh nghiệp khác
- Về phía các doanh nghiệp FDI, cũng cần có sự quản lý của Chính quyền
các cấp nói chung và của chính quyền cấp tỉnh nói riêng, vì đó chính là chỗ dựa
về mặt pháp lý để doanh nghiệp hoạt động Chính quyền cấp tỉnh không nhữngđóng vai trò trong việc tạo lập môi trường kinh doanh, mà còn hỗ trợ, khuyếnkhích thúc đẩy doanh nghiệp FDI phát triển Phần lớn hoạt động này thực hiệnthông qua sự điều tiết, quản lý của chính quyền cấp tỉnh Mặt khác, trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp FDI, mỗi bước đi từ khi khởi đầu đến kếtthúc đều phải gắn liền vào quá trình quản lý liên tục cả dưới góc độ vĩ mô và vi
mô Doanh nghiệp FDI có thành công hay không, hoạt động có theo chiến lượcphát triển chung của xã hội hay không, không những phụ thuộc vào quản lýkinh tế vi mô của bản thân doanh nghiệp, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào quản
Trang 31lý kinh tế vĩ mô của Chính quyền.
Với những trình bày ở trên cho thấy, chính quyền cấp tỉnh với các doanhnghiệp FDI có mối quan hệ qua lại chắt chẽ với nhau Chính quyền có ảnh hưởngquyết định tới cách thức hoạt động của doanh nghiệp FDI; ngược lại, sự phát triển
và lớn mạnh của các doanh nghiệp FDI ảnh hưởng tới sức mạnh của Chính quyền
và tác động đến kinh tế - xã hội của địa phương Chính quyền có nhiệm vụ hướngcác doanh nghiệp FDI sản xuất kinh doanh theo định hướng mà Nhà nước đã chọn,đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, trên cơ sở pháp luật cho phép.Chính quyền cấp tỉnh với tư cách là chủ thể quản lý có những tác động đến hoạtđộng của doanh nghiệp, có thể khuyến khích giúp đỡ doanh nghiệp nếu đem lại hiệuquả kinh tế - xã hội; hoặc có thể ngăn cản, hạn chế nếu hoạt động của doanh nghiệpFDI không theo định hướng hay làm tổn hại đến lợi ích quốc gia
Trong hoạt động quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI,yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định đến mức độ thành công của quản lý là xácđịnh rõ mục tiêu quản lý, từ đó làm rõ nội dung quản lý của chính quyền cấp tỉnh đốivới doanh nghiệp FDI
1.2.2 Mục tiêu quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xác định mục tiêu quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệpFDI là điểm khởi đầu và là khâu rất quan trọng của quá trình quản lý, nhằm giảiquyết các vấn đề cơ bản trong quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài và suy chocùng là làm thế nào để cho các doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả phù hợpvới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa bàn tiếp nhận đầu tư Chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước ta là tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI phát triển thuậnlợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hútcông nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm Trên cơ sở đó, quản lý của chínhquyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI nhằm đạt các mục tiêu sau:
Thứ nhất, quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI nhằm
Trang 32phát triển doanh nghiệp FDI cả về chất lượng và số lượng.
Thứ hai, quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI nhằm
kết hợp tối ưu giữa nguồn lực bên ngoài với nguồn lực của địa phương, vừa mở cửarộng rãi với bên ngoài nhằm tranh thủ các lợi thế của nhà đầu tư, vừa tính đến bảo
hộ một cách hợp lý để các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước có thời gian thíchứng để phát triển và đủ khả năng hội nhập kinh tế quốc tế Do đó, phải làm sao pháthuy hết khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp FDI, tạo ra nhịp sống kinh tế cần thiết
để khơi dậy nguồn nội lực của địa bàn tiếp nhận đầu tư
Thứ ba, việc thành lập các doanh nghiệp FDI là biện pháp thu hút vốn đầu tư
hiệu quả Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn
mà không gây nợ cho bên nhận đầu tư Sự đóng góp của các doanh nghiệp FDI vàongân sách của tỉnh giúp giải quyết nhiều vấn đề khó khăn của tỉnh của liên quannguồn ngân sách
Thứ tư, doanh nghiệp FDI tạo cơ hội việc làm cho nguồn nhân lực ở địa
phương, nhất là các ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử, chếbiến, góp phần nâng cao phúc lợi xã hội, cải thiện đời sống của người lao động
Sự phát triển của các doanh nghiệp FDI giúp nâng cao chất lượng người laođộng Chính quyền cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc xây dựng lực lượnglao động có khả năng phù hợp với nhu cầu của nhà tuyển dụng
Thứ năm, các doanh nghiệp FDI có đóng góp cho sự phát triển của kết cấu
hạ tầng cơ sở Chính quyền cấp tỉnh có vai trò quản lý để sự phát triển kết cấu hạtầng do các doanh nghiệp FDI tạo nên mang tính định hướng và phù hợp
Thứ sáu, quản lý của chính quyền cấp tỉnh nhằm quản lý việc chuyển giao và
phát triển công nghệ, kinh nghiệp quản lý Các doanh nghiệp FDI khi được thành lậpluôn gắn liền với công nghệ, máy móc, thiết bị, kỹ năng quản lý đảm bảo năng lựcsản xuất và năng xuất lao động nhằm thu hút lợi nhuận tối đa Về lâu dài đây chính làlợi ích căn bản nhất đối với phía nhận đấu tư, doanh nghiệp FDI có thể thúc đẩy sựđổi mới kỹ thuật công nghệ, góp phần tăng sức sản xuất của lao động, thúc đẩy pháttriển các nghề mới đặc biệt là đối với các ngành kinh tế mới, có hàm lượng kỹ thuật
Trang 33cao, vì thế nó có vai trò lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ bẩy, quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI nhằm
thúc đẩy cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng chiều sau, góp phần vào quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.2.3 Bộ máy quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý các doanh nghiệp FDI của tỉnh
- HĐND - UBND cấp tỉnh có chức năng, nhiệm vụ chung trong quản lý đốivới doanh nghiệp FDI Dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theonhiệm kỳ phân công chức năng, nhiệm vụ đối với từng công việc, từng chức năng,nhiệm vụ của các sở, ban, ngành để thực hiện mục tiêu
Hội đồng nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu về việc thực hiện nhiệm vụ phát triểnkinh tế - xã hội trong đó có nội dung về đầu tư nước ngoài để UBND tỉnh thực hiện.Quyết định phê duyệt những vấn đề trọng yếu như doanh mục dự án đầu tư, chínhsách áp dụng cho doanh nghiệp FDI.v.v
Thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng nhân dân giao, UBND tỉnh tiến hành chỉ đạo
Hội đồng nhân dân –
Ủy ban nhân dân tỉnh
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa
bàn tỉnh
Sở, ban, ngànhliên quan
Ban quản lý các Khucông nghiệp tỉnh
Sở Kế hoạch và
Đẩu tư
Trang 34thực hiện các nhiệm vụ về quản lý đối với doanh nghiệp FDI bao gồm:
+ Công tác hướng dẫn doanh nghiệp FDI
+ Công tác cấp, thu hồi và điều chỉnh giấy Chứng nhận đầu tư
+ Công tác hỗ trợ doanh nghiệp FDI
+ Công tác kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp FDI
- Ban quản lý các Khu công nghiệp cấp tỉnh là cơ quan trực thuộc Ủy bannhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với khu côngnghiệp trên địa bàn tỉnh; quản lý, tổ chức thực hiện việc cung ứng dịch vụ hànhchính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất kinhdoanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạnkhác theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật
- Sở Kế hoạch – Đầu tư cấp tỉnh: Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chuyênmôn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dântỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư, gồm: tổng hợp vềquy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đề xuất về cơchế, chính sách quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đầu tư nước ngoài ở địaphương; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp thuộc phạm viquản lý nhà nước của Sở
- Sở, ban, ngành liên quan bao gồm: Sở Tài chính; Sở Tài nguyên và Môitrường; Sở Xây dựng và các cơ quan có liên quan khác có chức năng phối hợp với
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các Khu công nghiệp thực hiện nhiệm vụchung trong phạm vi quản lý nhà nước của mình
1.2.4 Nội dung quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI là việc các cơquan chính quyền cấp tỉnh sử dụng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách,pháp luật và thông qua bộ máy hành chính để quản lý doanh nghiệp FDI Đồng thời,quản lý của chính quyền cấp tỉnh tạo môi trường kinh doanh ổn định, các điều kiệncần thiết đảm bảo cho sự hình thành và hoạt động của doanh nghiệp FDI Vậy, quản
Trang 35lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI có các nội dung cơ bản sau:
1.2.4.1 Hướng dẫn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư và giải quyết những vướng mắc, yêu cầu của nhà đầu tư
Để doanh nghiệp FDI có được sự hòa nhập trong hoạt động sản xuất góp phầnvào sự phát triển chung thì công tác hướng dẫn, hộ trợ có vai trò qua trọng, bao gồmcác nội dung sau:
Thứ nhất, tư vấn và hướng dẫn chính sách, pháp luật về đăng ký kinh doanh thành lập doanh nghiệp.
- Tư vấn cho doanh nghiệp: Mục đích của việc tư vấn là cung cấp cho doanh
nghiệp thêm các thông tin liên quan về luật pháp, chính sách, thị trường để giúp chodoanh nghiệp đưa ra được quyết định về thành lập doanh nghiệp Và các thông tinliên quan khác: loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh, chính sách ưu đãi vềngành nghề khuyến khích đầu tư
- Hướng dẫn thủ tục thành lập doanh nghiệp: Nhà nước ban hành các văn bản
pháp luật về quy trình thủ tục thành lập doanh nghiệp Những rào càn cho việc thựchiện khiến cho doanh nghiệp cảm thấy khó khăn khi họ phải làm đi làm lại nhiềulần, đi lại nhiều lần, tốn kém nhiều chi phí và thời gian, công sức việc hướng dẫn rõràng, thực hiện có hiệu quả thì quá trình xử lý hồ sơ cũng nhanh chóng, hạn chế các
hồ sơ bị trả lại, giảm thời gian và chi phí đi lại cho doanh nghiệp, đồng thời hạn chếcác tiêu cực trong quá trình thực hiện
Thứ hai, thực hiện cải cách thủ tục hành chính, hỗ trợ doanh nghiệp trong quy trình thực hiện đăng ký kinh doanh: nhằm giúp doanh nghiệp thực hiện
những công việc để tiến hành thực hiện dự án tại địa bàn, tiếp nhận những ưuđãi, hỗ trợ của địa phương
1.2.4.2 Cấp, điều chỉnh và thu hồi giấy chứng nhận đầu tư
Thẩm định dự án FDI là một khâu quan trọng trong hoạt động quản lý củaChính quyền đối với doanh nghiệp FDI Thông qua thẩm định, các cơ quan Chínhquyền đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển chung của ngành,địa phương; các mặt lợi hại của FDI; cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ
Trang 36mô đối với doanh nghiệp FDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kết quả của việcthẩm định dự án FDI là căn cứ để quyết định cho doanh nghiệp FDI hoạt động trongnền kinh tế tại địa bàn tiếp nhận đầu tư Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định
dự án FDI sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý của Chính quyền đối vớidoanh nghiệp FDI Nếu thẩm định dự án FDI không tốt thì trong tương lai sẽ cónhững doanh nghiệp FDI hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ các doanh nghiệp giảithể trước thời hạn rất cao
Thẩm định cấp giấp chứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp FDI là việc nghiêncứu, phản biện một cách có tổ chức, khách quan và khoa học những nội dung cơbản của một dự án FDI nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thicủa dự án trước khi quyết định cấp giấy chứng nhận đầu tư Qua đó góp phần làmsáng tỏ các vấn đề về: thị trường, công nghệ, kỹ thuật, tài chính, xem doanh nghiệp
có khả năng hoạt động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cũng như giúp cho địa bàntiếp nhận đầu tư đạt hiệu quả kinh tế - xã hội hay không để tránh thu hút phải doanhnghiệp nước ngoài hoạt động không có hiệu quả, không phù hợp
Doanh nghiệp FDI được cấp giấp chứng nhận đầu tư khi đáp ứng đầy đủ yêucầu của bên tiếp nhận đầu tư và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, phù hợp với quyhoạch của từng ngành, từng vùng, từng địa phương cũng như chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội Đồng thời, doanh nghiệp FDI cũng phải thể hiện được lợi ích của
họ không tách rời lợi ích cộng đồng xã hội Do đó, công tác thẩm định cấp giấychứng nhận đầu tư cho doanh nghiệp FDI cần phải xuất phát từ lợi ích chung củatoàn xã hội, chú trọng đến phương châm hai bên cùng có lợi và bảo đảm tính độclập tự chủ của nhau trong quá trình hợp tác đầu tư Khi thẩm định, các cơ quanChính quyền cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp FDItrong quan hệ hài hoà với lợi ích chung xã hội và cần phải đưa ra các kết luận rõràng sau khi từng nội dung và toàn bộ dự án FDI được thẩm định xong Trong quátrình thẩm định, các cơ quan chức năng thường xem xét kỹ các nội dung sau: tưcách pháp lý, năng lực tài chính của đầu tư nước ngoài; mức độ phù hợp của mụctiêu dự án FDI với quy hoạch chung; trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng phù hợp
Trang 37với địa bàn tiếp nhận đầu tư; hiệu quả kinh tế - xã hội do doanh nghiệp FDI đi vàohoạt động tạo ra Các nội dung thẩm định cấp giấy chứng nhận đầu tư cho doanhnghiệp FDI nhiều hay ít và là những vấn đề gì tùy thuộc vào tình hình và sự lựachọn của mỗi địa bàn tiếp nhận đầu tư trong từng thời kỳ nhất định Ngoài bốn nộidung trên, ở Việt Nam các doanh nghiệp FDI trước khi được cấp giấy chứng nhậnđầu tư còn phải xem xét đến mức độ hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bùgiải phóng mặt bằng và vấn đề định giá tài sản
1.2.4.3 Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
* Ưu đãi đầu tư: Nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực và địa bàn ưu đãi
đầu tư theo quy định của Luật pháp được hưởng các ưu đãi theo quy định mà phápluật quy định Việc ưu đãi đầu tư này cũng được áp dụng đối với dự án đầu tư mới
và dự án đầu tư mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh, đổi mớicông nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường
Ưu đãi đầu tư gồm các hình thức sau:
- Ưu đãi về thuế: Nhà đầu tư có dự án thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi đầu
tư được hưởng thuế suất ưu đãi, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi, thời gian miễn,giảm thuế theo quy định của pháp luật về thuế Nhà đầu tư được hưởng ưu đãi vềthuế cho phần thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần vào tổ chứckinh tế theo quy định của pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế đó đã nộp đủthuế thu nhập doanh nghiệp Nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị,vật tư, phương tiện vận tải và hàng hóa khác để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Namtheo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Thu nhập từ hoạt độngchuyển giao công nghệ đối với các dự án thuộc diện ưu đãi đầu tư được miễn thuếthu nhập theo quy định của pháp luật về thuế
- Chuyển lỗ: Nhà đầu tư sau khi đã quyết toán thuế với cơ quan thuế mà bị lỗ
thì được chuyển lỗ sang năm sau; số lỗ này được trừ vào thu nhập chịu thuế thunhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Thời gianđược chuyển lỗ không quá năm năm
- Khấu hao tài sản cố định: Dự án đầu tư trong lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư và
dự án kinh doanh có hiệu quả được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định;
Trang 38mức khấu hao tối đa là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cố định.
- Ưu đãi về sử dụng đất:
Thời hạn sử dụng đất của dự án đầu tư không quá năm mươi năm; đối với dự
án có vốn đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiệnkinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn màcần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, thuê đất không quá bảy mươi năm Khihết thời hạn sử dụng đất, nếu nhà đầu tư chấp hành đúng pháp luật về đất đai và cónhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xétgia hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
Nhà đầu tư đầu tư trong lĩnh vực ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư đượcmiễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy định của phápluật về đất đai và pháp luật về thuế
- Ưu đãi đối với nhà đầu tư đầu tư vào khu công nghiệp: Căn cứ vào điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ và các nguyên tắc của văn bản quyphạm pháp luật, chính quyền cấp tỉnh quy định những ưu đãi cho các nhà đầu tư đầu
tư vào khu công nghiệp
Thủ tục thực hiện ưu đãi đầu tư: Đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài đápứng điều kiện được hưởng ưu đãi, cơ quan nhà nước quản lý đầu tư ghi ưu đãi đầu
tư vào Giấy chứng nhận đầu tư
* Hỗ trợ đầu tư: chính quyền cấp tỉnh thực hiện công tác hỗ trợ đầu tư gồm
các nội dung sau:
- Hỗ trợ chuyển giao công nghệ: chính quyền cấp tỉnh tạo điều kiện thuận lợi
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ, bao gồm
cả việc góp vốn bằng công nghệ, để thực hiện các dự án đầu tư tại địa bàn tỉnh theoquy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ
Chính quyền cấp tỉnh khuyến khích việc chuyển giao công nghệ tiên tiến, côngnghệ nguồn và các công nghệ để tạo ra sản phẩm mới, nâng cao năng lực sản xuất,năng lực cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nguyên
Trang 39liệu, nhiên liệu, năng lượng, tài nguyên thiên nhiên.
- Hỗ trợ và khuyến khích phát triển dịch vụ đầu tư: chính quyền cấp tỉnh
khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tiến hành các dịch vụ hỗ trợ đầu tưsau đây:
+ Tư vấn đầu tư, tư vấn quản lý;
+ Tư vấn về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ;
+ Cung cấp thông tin về thị trường, thông tin khoa học - kỹ thuật, công nghệ
và các thông tin kinh tế, xã hội khác mà nhà đầu tư yêu cầu;
+ Tiếp thị, xúc tiến đầu tư và thương mại;
+ Thành lập, tham gia các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao, khu kinh tế
Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao, khu kinh tế đã được Chính phủ phê duyệt, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh lập
Sở kế hoạch đầu tư và tổ chức xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạtầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khukinh tế thuộc phạm vi quản lý
Đối với một số địa phương có địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn và địa bànkinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Nhà nước hỗ trợ một phần vốn cho địa phương
để cùng với nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trong hàng rào khucông nghiệp, khu chế xuất theo quy định của Chính phủ
Nhà nước dành nguồn vốn đầu tư từ ngân sách và tín dụng ưu đãi để hỗ trợđầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong khu côngnghệ cao, khu kinh tế và áp dụng một số phương thức huy động vốn để đầu tư pháttriển kết cấu hạ tầng khu công nghệ cao, khu kinh tế
- Thị thực xuất cảnh, nhập cảnh
Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư, chuyên gia và lao động kỹ thuật làngười nước ngoài làm việc thường xuyên trong dự án đầu tư tại Việt Nam và cácthành viên gia đình họ được cấp thị thực xuất cảnh, nhập cảnh nhiều lần Thời hạn
Trang 40của thị thực tối đa là năm năm cho mỗi lần cấp.
1.2.4.4 Kiểm soát hoạt động đầu tư
Hoạt động của doanh nghiệp FDI được các cơ quan Chính quyền kiểm tra vàgiám sát chặt chẽ trên nhiều hình thức và phương pháp Mục đích của công tác kiểmtra, thanh tra, giám sát là hướng dẫn doanh nghiệp FDI chấp hành đúng pháp luật,phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện pháp luật để Chính quyền kịp thời
có biện pháp uốn nắn, sửa chữa và ngăn chặn sai phạm của doanh nghiệp FDI.Đồng thời thông qua việc thanh tra, kiểm tra và giám sát, còn tạo ra nguồn thông tinphản hồi từ doanh nghiệp FDI để các cơ quan quản lý nhà nước có căn cứ đánh giáhiệu quả và mức độ hợp lý của hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách đã ban hành.Thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp FDI là hoạt động thường xuyên liên tục của các
cơ quan quản lý nhà nước, nhưng không can thiệp quá sâu vào hoạt động tác nghiệp,làm mất quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp Như vậy, Chính quyền thực hiệnchức năng thanh tra, kiểm tra và giám sát đối với doanh nghiệp FDI không chỉ đảm bảo
sự nghiêm minh của pháp luật mà nhằm tạo điều kiện giúp đỡ và hỗ trợ doanh nghiệpFDI tháo gỡ khó khăn
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.5.1 Các yếu tố chủ quan
*Quan điểm của chính quyền cấp tỉnh đối với doanh nghiệp FDI
Căn cứ vào đường lối, chủ trương chung của Đảng và cơ chế chính sách chungcủa Nhà nước đặt ra nhiệm vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong mỗi thời kì,chính quyền các cấp xem xét đâu là yếu tố trọng tâm, để thông qua đó đặt ra nhiệm
vụ cho kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, trong đó đặt ra bàitoán phát triển doanh nghiệp sao cho hiệu quả Sự gắn kết, phù hợp giữa chủtrương, đường lối, cơ chế chính sách của chính quyền trung ương và các địa phương
sẽ tạo ra một chỉnh thế thống nhất trong thực hiện đường lối chung của Đảng vàChính phủ, tạo ra sự hiệu quả trong chỉ đạo thực thi
Và muốn thực hiện được điều này, trước hết đòi hỏi cần có một đội ngũ lãnh