Do đóđể đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệpcần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thôngqua các báo cáo tài chính đ
Trang 1Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoài Lam
Líp: Quản trị doanh nghiệp Việt Pháp Khoá: II Kho¸: II
Họ và tên giáo viên hướng dẫn: Trần Thị Ngọc Lan
1 Tên đề tài tốt nghiệp:
Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
2 Các số liệu ban đầu:
- Thu thập tại Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
- Mét số tài liệu có liên quan
3 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
- Lời mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận TCDN và phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp
- Chương 2: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Thương mại dịch vụ vàXây dựng Hải Phòng
- Chương 3: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Thương mại dịch vụ và Xâydựng Hải Phòng
- Chương 4: Một số đề xuất nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thươngmại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
4 Số lượng và tên các bảng biểu, bản vẽ: (kích thước Ao):
- Tù chọn để bảo vệ
5 Ngày giao nhiệm vụ thiết kế:
6 Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
Trang 2TRƯỞNG BỘ MÔN
Hà nội, ngày….tháng….năm 2002 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoài Lam Líp: Quản Trị Doanh Nghiệp
Tên đề tài: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
Tính chất của đề tài:………
I NỘI DUNG NHẬN XÉT: 1 Tiến trình thực hiện đồ án:………
2 Nội dung của đồ án:………
- Cơ sở lý thuyết:………
- Các số liệu, tài liệu thực tế:………
- Phương pháp và mức độ giải quyết các vấn đề:………
3 Hình thức của đồ án:………
- Hình thức trình bày:………
- Kết cấu của đồ án:………
4 Những nhận xét khác:………
II ĐÁNH GIÁ VÀ CHO ĐIỂM: - Tiến trình làm đồ án: ………./10
- Nội dung đồ án: ………/30
- Hình thức đồ án: …… /10
Tổng cộng: …… /50 (Điểm:…… )
Ngày tháng Năm 2002 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN DUYỆT
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Hoài Lam Líp: Quản Trị Doanh Nghiệp Tên đề tài: Phân tích tình hình tài chính và một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng
Tính chất của đề tài:………
I NỘI DUNG NHẬN XÉT: 1 Nội dung của đồ án: ………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4………
………
………
………
………
………
…
2. Hình thức đồ án: ………
………
………
………
………
……
3. Những nhận xét khác: ………
………
………
………
………
…………
II ÁNH GIÁ VÀ CHO I M:ĐÁNH GIÁ VÀ CHO ĐIỂM: ĐÁNH GIÁ VÀ CHO ĐIỂM: ỂM: - Nội dung đồ án: …… /40
- Hình thức đồ án: …… /10
Tổng cộng: ……./50 ( Điểm :…… )
Ngày tháng năm 2002 GIÁO VIÊN DUYỆT
Trang 5M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 11
1.1 Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp thương mại 11
1.6 Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp 19
I.2- Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 242.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp 242.2 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp 27
2.4 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh 35
ChươngII:QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÔNGTY THƯƠNG MẠI DỊCHVỤ VÀ XÂYDỰNG HẢIPHÒNG 38I.SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN
PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY
DỰNG HẢI PHÒNG
38
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 38
1.4.1 Số lượng lao động, thời gian sử dụng lao động, định mức lao động 45
1.4.3 Tổng quỹ lương, lương bình quân của doanh nghiệp 48
Trang 61.6 Đặc điểm chung về thị trường và mặt hàng kinh doanh của Công ty 58
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG 62III- ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG 62
1.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công ty 68
1.3.2 Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán 73
1.3.4 Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản lưu động: 761.4 Phân tích hiệu quả hoạt động SXKD và khả năng sinh lợi của vốn 77
CHƯƠNG IV: MÉT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM CẢI THIỆN TÌNH
HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ
XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
81
IV.1 NHẬN XÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG 81
IV.2- MỘT VÀI Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH VÀ CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
Trang 7Lời mở đầuDoanh nghiệp là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm sản xuất cungứng các sản phẩm hàng hoá dịch vụ trên thị trường với mục đích đem lại lợinhuận.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải có một lượngvốn nhất định bao gồm vốn cố định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác.Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức huy động và sử dụng vốn sao cho cóhiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc tài chính, tín dụng và chấphành luật pháp Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp các nhàdoanh nghiệp và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng hoạt động tàichính, xác định đầy đủ đúng đắn nguyên nhân mức độ ảnh hưởng của các nhân
tố đến tình hình tài chính Từ đó có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăngcường tình hình tài chính
Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đềubình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh, bởi vậy nhiều đối tượng quan tâmđến tình hình tài chính của doanh nghiệp trên những góc độ khác nhau
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp cần chủ động về hoạt động sảnxuất kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng Điều này đã đặt racho các doanh nghiệp những yêu cầu và đòi hỏi đáp ứng kịp thời với những thayđổi tồn tại và tiếp tục phát triển Bởi vậy chủ doanh nghiệp phải có những đốisách thích hợp, nhằm tạo ra nguồn tài chính đáp ứng cho yêu cầu sản xuất kinh
Trang 8doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả Nếu như vậy việc cung ứng sản xuất vàtiêu thụ được tiến hành bình thường, đúng tiến độ sẽ là tiền đề đảm bảo cho hoạtđộng tài chính có hiệu quả và ngược lại việc tổ chức huy động nguồn vốn kịpthời, việc quản lý phân phối và sử dụng các nguồn vốn hợp lý sẽ tạo điều kiệntối đa cho hoạt động SXKD được tiến hành liên tục và có lợi nhuận cao Do đó
để đáp ứng một phần yêu cầu mang tính chiến lược của mình các doanh nghiệpcần tiến hành định kỳ phân tích, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp thôngqua các báo cáo tài chính để từ đó phát triển mặt tích cực, mặt hạn chế của hoạtđộng tài chính, tìm ra những nguyên nhân cơ bản đã ảnh hưởng đến các mặt này,
từ đó đề xuất được các biện pháp cần thiết để cải tiến hoạt động tài chính tạotiền đề để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Như vậy phân tích tình hình tài chính không những cung cấp thông tin quantrọng nhất cho chủ doanh nghiệp trong việc đánh giá những tiềm lực vốn có củadoanh nghiệp, xem xét khả năng và thế mạnh trong sản xuất kinh doanh mà cònthông qua đó xác định được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, tìm ra nhữngbước đi vững chắc, hiệu quả trong một tương lai gần Việc phân tích tài chính làmột công cụ quan trọng cho công tác quản lý của chủ doanh nghiệp nói riêng vàhoạt động sản xuất kinh doanh nói chung
Không nằm ngoài những đối tượng xem xét kể trên Công ty Thương mạidịch vụ và xây dựng Hải Phòng là một doanh nghiệp kinh tế độc lập, có tìnhhình tài chính rất đáng được quan tâm như nguồn vốn chủ ở hữu thấp, các khoảnphải trả cao, chi phí lãi vay cao, khả năng thanh toán nhanh kém
Sau một thời gian đi sâu tìm hiểu thực trạng hoạt động sản xuất kinhdoanh ở Công ty Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng cho thấy hiệu quả
sử dụng vốn của công ty cần phải được nâng cao đặc biệt là nguồn vốn chủ sởhữu Do đó phân tích tình hình tài chính có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng qua
đó có thể tìm ra những phương hướng mang tính đề xuất và những biện pháp khả
Trang 9thi nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đồng vốn của xí nghiệp góp phầnlàm cho xí nghiệp đứng vững phát triển trong cơ chế thị trường.
Xuất phát từ ý nghĩa cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phân tích tàichính với mong muốn được kết hợp giữa kiến thức quý báu thu được từ học tập,những kinh nghiệm bổ Ých được tiếp thu qua đợt thực tập tốt nghiệp tại Công tyThương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng, cùng với sự hướng dẫn tận tình
của cô giáo Trần Thị Ngọc Lan em đã lùa chọn đề tài “Phân tích tình hình tài chính ở Công ty Thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng và một số định hướng nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công ty Thương mại dịch vụ
và xây dựng Hải Phòng” làm đồ án tốt nghiệp của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận đồ án tốt nghiệp được chia làm 4 chương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN
TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY
THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 3: PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH
VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG
Chương 4: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG.
Trang 10CHƯƠNG I
Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp
VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
I.1- Tài chính của doanh nghiệp thương mại:
1.1 Khái niệm và bản chất của tài chính doanh nghiệp thương mại:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp không chỉ là mối quan tâm của cácdoanh nghiệp thương mại sau mỗi quá trình kinh doanh mà còn là điểm chú ýnhất của các đối tượng khác trong nền kinh tế thị trường Bởi lẽ tài chính khôngchỉ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà nó còn chothấy được quy mô, cách thức kinh doanh, kết quả kinh doanh cũng như khả năngphát triển hay suy thoái của mỗi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp chính làtài chính của các tổ chức sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, nó là mộtkhâu trong hệ thống tài chính, là cái gốc của nền tài chính Quốc gia, Chính tạidoanh nghiệp - cá thể của nền kinh tế - các quá trình tạo lập và chu chuyển vốndiễn ra đồng thời với nó là quá trình sản xuất, đầu tư, tiêu thụ và phân phối kếtquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các quá trình, hoạt động này đượctạo lập và được phản ánh trên cơ sở các mối quan hệ kinh tế phát sinh của doanhnghiệp
Vậy tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trongphân phối các nguồn lực tài chính Quốc gia nhằm hình thành và sử dụng nhữngquỹ tiền tệ của doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh và các yêu cầu kháccủa xã hội Nếu chỉ xét trong phạm vi mét doanh nghiệp thì tài chính doanhnghiệp là một bộ phận cấu thành các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp, nó còn
có mối liên hệ hữu cơ và quan hệ qua lại với các mặt hoạt động kinh tế khác.Mối liên hệ này phản ánh sự tác động gắn bó thường xuyên giữa phân phối vớisản xuất và tiêu thụ sản phẩm phân phối vừa phản ánh kết quả của sản xuất và
Trang 11trao đổi, lại vừa là điều kiện để sản xuất và trao đổi có thể tiến hành bình thường
và liên tục
Như vậy, tài chính doanh nghiệp qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
sẽ tạo ra những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp đầy đủ tư liệu sản xuất, sứclao động để doanh nghiệp không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh của mình
Và ngược lại kết quả sản xuất kinh doanh cũng tác động trở lại tìnhhình tàichính doanh nghiệp bởi để có được nguồn vốn thường xuyên nhằm đáp ứng mọinhu cầu chi tiêu của doanh nghiệp thì công việc sản xuất kinh doanh phải đượctiến hành ổn định và liên tục Điều này thể hiện rất rõ ràng khi giá thành và chiphí lưu thông giảm do tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư và chi phí khác
sẽ tạo khả năng tích luỹ và giảm bớt nhu cầu tiền tệ của doanh nghiệp Tuynhiên ta cũng cần phải phân biệt tài chính doanh nghiệp với khả năng tài chínhcủa doanh nghiệp Khả năng tài chính của doanh nghiệp chính là tiền và các quỹtiền tệ và các quỹ tiền tệ mà doanh nghiệp hiện có và có khả năng huy độngđược để đáp ứng cho các nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp Hay nói mộtcách khác đó chính là mục tiêu trước mắt, mục tiêu trực tiếp của tài chính doanhnghiệp Tài chính doanh nghiệp không phải là tiền hoặc là các quỹ tiền tệ nóichung mà chính tiền chỉ là phương tiện cho hoạt động tài chính nói chung vàcho hoạt động tài chính doanh nghiệp nói riêng Nhờ có nó mà các doanh nghiệpthực hiện được các hoạt động sản xuất kinh doanh, trao đổi, tính toán và so sánhtrên cơ sở thước đo là đồng tiền Mặt khác tài chính doanh nghiệp phải được vậndụng một cách năng động và đo lường hiệu quả toàn bộ các hoạt động sản xuấtkinh doanh của từng doanh nghiệp một cách chính xác và trung thực, đáp ứnglại sự quan tâm của các đối tượng của doanh nghiệp trong nền kinh tế
1.2.Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp:
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ nắm vững tình hình kiểm soát vốnSXKD hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn nhu cầu
Trang 12vốn trong từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản
lý và thực hiện có hiệu quả
Tài chính doanh nghiệp có nhiệm vụ tổ chức khai thác và động viên kịpthời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình SXKD, không để cho vốn bị
ứ đọng và sử dụng kém hiệu quả Để làm điều kiện này tài chính doanh nghiệpphải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có củadoanh nghiệp, làm sao với lưng vốn nhất định phải tạo ra một lượng lợi nhuậnlớn trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có
1.3 Chức năng của tài chính doanh nghiệp:
Mỗi một thành viên, một đơn vị trong nền kinh tế đều mang một hoặc một
số chức năng nhất định Xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế hay của đơn vị đó,khi muốn hoạt động có hiệu quả thì phải thực hiện tốt, đầy đủ và thực hiện mộtcách sáng tạo những chức năng, nhiệm vụ của mình Một là đối với doanhnghiệp là một thực thể của nền kinh tế, được tổ chức một cách chặt chẽ, khoahọc thì việc thực hiện chức năng, chủ yếu là chức năng tài chính, là một yêu cầu,một đòi hỏi bắt buộc không chỉ từ bên ngoài mà còn cả trong nội bộ của doanhnghiệp
Tài chính doanh nghiệp mang hai chức năng trọng yếu, chức năng phânphối và chức năng giám đốc Tuy là hai chức năng riêng biệt nhưng chúng luônluôn có mối liên hệ biện chứng, chúng tác động lẫn nhau trong một phạm vi nào
đó, giúp đỡ cho nhau Qua tìm hiểu hai chức năng này ta càng có thể thấy rõđiều đó hơn
1.3.1 Chức năng phân phối:
Phân phối là một thuộc tính phản ánh bản chất của tài chính doanh nghiệp,
nó vốn có trong phạm trù tài chính doanh nghiệp Tuy nhiên khi nói đến chứcnăng ta càng cần phân biệt việc thực hiện chức năng đó trong công việc tài chínhdoanh nghiệp Nói đến chức năng phân phối là nói đến biểu hiện khả năng khách
Trang 13quan của doanh nghiệp, nói đến chủ đề phân phối các nguồn tài chính, đến đốitượng phân phối của tài chính doanh nghiệp, đến kết quả của quá trình phânphối đó Còn khi đề cập tới việc thực hiện chức năng thì phải nói đến con ngườivận dụng chức năng đó trong thực tiễn như thế nào.
Trong phạm vi chức năng phân phối, hoạt động của tài chính bao gồm 3nhóm lớn:
- Phân phối các nguồn tài chính để hình thành vốn kinh doanh của doanhnghiệp Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng của chức năng phân phối bởi nóquyết định đến kết quả, tiến trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp do mét doanh nghiệp muốn hoạt động được cần phải có vốn Đối vớidoanh nghiệp Nhà nước, ngoài nguồn tài chính được ngân sách cấp khi thành lậphoặc cấp bổ sung hàng năm thì doanh nghiệp còn có một nguồn tài chính khác
Đó là nguồn vốn tự bổ sung của doanh nghiệp sau một quá trình hoạt động sảnxuất kinh doanh có lãi hoặc do nhận đóng góp tham gia liên doanh của các đơn
vị khác để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.Đối với các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty tưnhân thì ngoài nguồn vốn tự đóng góp và vốn tự bổ sung ra thì Công ty đókhông có nguồn vốn nào khác nữa Muốn tăng thêm vốn thì các Công ty này chỉcòn cách kêu gọi các cổ đông đóng góp thêm hoặc đi vay của Ngân hàng
- Hoạt động phân phối hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đã huyđộng được để hình thành các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, các tài chính củadoanh nghiệp như tài sản cố định, tài sản lưu động , hoặc để đầu tư ở khâunày yếu tố hiệu quả sử dụng vốn được đặt lên hàng đầu Việc bố trí tỷ trọng hợp
lý giữa tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp phải tuỳ thuộc vàotừng loại hình doanh nghiệp, việc bổ sung vào các quỹ tiền tệ còn phải tuỳ thuộcvào nhu cầu và tình hình tổ chức của doanh nghiệp thời gian tới Do vậy vớichức năng phân phối nguồn vốn của mình, tài chính doanh nghiệp phải xác địnhđược cơ cấu vốn hợp lý Tuy nhiên có được một cơ cấu vốn hợp lý không phải
Trang 14đơn giản, một phần là do lượng vốn của doanh nghiệp biến động thường xuyênđược bổ sung thêm do làm ăn có lãi hoặc bị giảm bớt neéu làm ăn thua lỗ, mộtphần khác là do hoàn cảnh và điều kiện kinh doanh cũng thường xuyên biến đối.Mặc dù vậy mỗi ngành kinh doanh cũng đều đưa ra một tiêu chuẩn chung nhất.Đối với ngành kinh doanh thương mại thì do đặc điểm riêng có của hoạt độngkinh doanh, cơ cấu vốn hợp ký là tỷ trọng vốn lưu động phải lớn hơn vốn cốđịnh Tỷ trọng này lớn hơn bao nhiêu thì còn phải tuỳ thuộc vào tình hình đặcđiểm nghiệp vụ kinh doanh và điêù kiện hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.
- Hoạt động phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp đều thực hiện công việc phân phốihoặc phân phối lại kết quả hoạt động kinh doanh (nếu doanh nghiệp đã tiến hànhphân phối trước theo kết quả dự tính) Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp thểhiện thông qua doanh nghiệp, qua lợi nhuận sau khi trừ chi phí và được phân bổtheo quy định của Nhà nước Đầu tiên là các khoản nép cho ngân sách Nhà nước,các khoản góp vào quỹ, lãi chia cho cổ đông (nếu là Công ty cổ phần)
Tóm lại, chức năng phân phối là chức năng chủ yếu của tài chính doanhnghiệp, nó xoay quanh nhiệm vụ cơ bản là làm cơ sở cho công tác và tổ chứchoạch định tài chính của nhà quản trị tài chính của Công ty đó
1.3.2 Chức năng giám đốc:
Nếu chức năng phân phối đưa ra biện pháp để tổ chức hoạch định tài chínhthì chức năng giám đốc lại chính là biện pháp để kiểm tra giám sát tính mụcđích, tính hiệu quả của chức năng phân phối Nó được định nghĩa như là mộtkhả năng khách quan sử dụng tài chính doanh nghiệp như một công cụ kiểm tra,giám đốc hiệu quả quá trình phân phối các nguồn tài chính để hình thành và sửdụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vậy theo định nghĩa trên thì chức năng giám đốc của tài chính doanhnghiệp là một chức năng khách quan mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng
Trang 15tiền được thực hiện đối với quá trình phân phối sản phẩm xã hội và thu nhậpthành các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo mục đích đã định Hàng ngày hoặchàng kỳ quyết toán, doanh nghiệp luôn phải theo dõi sát sao hệ thống tiền tệ củamình, hay nói cách khác công cụ của chức năng giám đốc là tiền tệ Nhà tàichính doanh nghiệp sử dụng công cụ đó để thực hiện chức năng giám đốc thôngqua các chỉ tiêu kinh tế tài chính của mọi hoạt động của doanh nghiệp mình.Qua việc kiểm tra giám đốc đó thì phải tìm ra các ưu nhược điểm của quá trìnhphân phối và sử dụng vốn của doanh nghiệp để nghiên cứu đưa ra biện pháp tốtnhất thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Một điểm cuối đáng ghi nhận trong nội dung chức năng giám đốc của tàichính doanh nghiệp bởi vì đây chính là công việc giám đốc thông qua các chỉtiêu giá trị Tài chính là một phạm trù giá trị sử dụng đồng tiền làm thước đo nênmuốn giám đốc được bằng đồng tiền thì phải thực hiện được quy luật giá trị vàcác nội dung của giám đốc tài chính như: giám đốc nguồn vốn, quá trình chuchuyển vốn và hiệu quả sử dụng vốn, giám đốc quá trình hình thành và sử dụngtiền tệ, quá trình thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về kinh tế tiền
tệ
Vậy, qua tìm hiểu về hai chức năng phân phối và giám đốc của tài chínhdoanh nghiệp ta càng thấy rõ mối liên quan mật thiết giữa chúng, thấy được sựnâng đỡ, phụ thuộc lẫn nhau giữa giám đốc và phân phối Để thực hiện tốt chứcnăng phân phối thì chức năng giám đốc cũng phải được chú ý, đề cao và ngượclại Phân phối chỉ hợp lý nếu giám đốc có hiệu quả và giám đốc chỉ được nângcao nếu phân phối luôn được thực hiện tốt
1.4 Vai trò của tài chính doanh nghiệp:
Các chức năng của tài chính doanh nghiệp được thể hiện trong thực tế quacác hoạt động của con người Do vậy việc thực hiện nó phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tè mà trước hết là cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị
Trang 16trường Tiếp theo đó là chế độ hạch toán kế toán và quản lý tài chính của Nhànước, yếu tố thị trường tài chính và trình độ quản lý tài chính của doanh nghiệp.Trong nền kinh tế thị trường, tài chính doanh nghiệp giữ nhiệm vụ trọngyếu Tuy nhiên ta có thể thấy tài chính doanh nghiệp có 4 vai trò lớn:
+ Đảm bảo vốn và nâng cao hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp qua việcthực hiện hai chức năng nêu trên Nó là điều kiện để cho hoạt động sản xuấtkinh doanh được thực hiện thuận lợi theo mục đích đã định hoặc thông qua tổchức khai thác nguồn vốn và sử dụng vốn
+ Vai trò là đòn bẩy kinh tế: nhờ có các công cụ tài chính như đầu tư, lãisuất, cổ tức, lãi tức, giá bán, tiền lương, tiền thưởng mà tài chính doanh nghiệptrở thành biện pháp kích thích đầu tư, nâng cao năng suất lao động của doanhnghiệp, kích thích tiêu dùng, kích thích quá trình sản xuất kinh doanh và điềutiết sản xuất kinh doanh
+ Vai trò kích thích tiết kiệm và kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao Nhờ
có tài chính tiền tệ hoá tất cả các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp thông quacác chỉ tiêu bằng tiền trên các sổ sách kế toán mà ta có thể phân tích, giám sátkiểm tra được quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thựchiện được chế độ tiết kiệm, giảm chi phí, thúc đẩy sản xuất kinh doanh pháttriển từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh
+ Vai trò cuối cùng: tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểmtra và giám sát mọi hoạt động kinh tế của doanh nghiệp
1.5 Vốn và cấu thành vốn của doanh nghiệp:
Ta có thể thấy các vấn đề của tài chính doanh nghiệp đều xoay quanh vấn
đề là vốn và cơ cấu vốn của doanh nghiệp Vậy trước khi đi sâu tìm hiểu vềquản trị tài chính ta cũng phải biết rõ về vốn, các loại vốn của doanh nghiệp.Vốn chính là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản của doanh nghiệp, gồm tàisản lưu động và tài sản cố định Các tài sản này được biểu hiện dưới hai hình
Trang 17thái: vật chất và giá trị Dưới hình thái vật chất, các tài sản của doanh nghiệp baogồm: những công cụ, dụng cụ, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, hàng hoá Còndưới hình thái giá trị, hay nói rõ hơn là dưới thước đo tiền tệ thì giá trị tài sảncủa doanh nghiệp sẽ được đánh giá và mang một lượng giá trị nào đó Tài sảncủa doanh nghiệp được chia làm hai phần Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiềncủa tất cả các tài sản lưu động của doanh nghiệp, còn vốn cố định là biểu hiệnbằng tiền của tất cả các tài sản cố định Tài sản lưu động là những tài sản có tốc
độ và thời gian chu chuyển dưới một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh Do đócác loại vốn cũng mang đặc điểm của những tài sản mà nó biểu hiện Vì chuchuyển nhanh nên vốn lưu động được bù đắp một cách nhanh chóng còn vốn cốđịnh luôn phải được phân bổ khấu hao làm nhiều lần trong nhiều kỳ kinh doanh.Dùa trên đặc điểm các loại vốn của doanh nghiệp ta có thể thấy được rằngtính chất và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp sẽ quyết định cơ cấu vốn củadoanh nghiệp Thật vậy, trong mét doanh nghiệp sản xuất thì khối lượng tài sản
cố định như máy móc, thiết bị nhiều nên tỷ trọng vốn cố định rất lớn Doanhnghiệp thương mại thì lại khác, do đặc điểm kinh doanh là mua để chuyển bán,
số lượng là tài sản lưu động đầu tư cho mua hàng hoá là rất nhiều và chiếm tỷtrọng rất lớn, nhiều khi tới 70-80% tổng tài sản của doanh nghiệp Do đó sẽkhông có một chuẩn mực nào cho cơ cấu vốn trong doanh nghiệp mà vẫn đềchính ta cần xem xét ở đây là sự tài trợ cho các nguồn vốn của doanh nghiệp cóđược vững vàng không, lấy từ nguồn nào sự phân bổ loại vốn đã phù hợp vớitình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa Một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của tài trợ vốn đó là doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn dàihạn để hình thành tài sản cố định và nguồn vốn ngắn hạn để hình thành tài sảnlưu động Cách tài trợ này mang lại cho doanh nghiệp sự ổn định và an toàn vềmặt tài chính Do vậy phải hết sức tránh điều này
Trong doanh nghiệp thương mại, ta đã biết rằng tỷ trọng vốn lưu động luônchiếm đa số trong tổng tài sản của doanh nghiệp đó nên một nghiên cứu thêm về
Trang 18nó là rất cần thiết Quá trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng
do đó vốn lưu động của doanh nghiệp cũng tuần hoàn liên tục và traỉ qua rấtnhiều các giai đoạn biến đổi hình thái biểu hiện, từ tiền tệ đến hiện vật và từ hiệnvậy trở lại thành tiền tệ Sự vận động của nó được thể hiện chính bằng công tácT-H-T’, chứa trong nó chính là quá trình vận động và chu chuyển của hàng hoá.Quá trình này mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp để từ đó doanh nghiệp tiếptục tái sản xuất mở rộng Do vậy vốn lưu động chính là yếu tố quan trọng gópphần nâng cao hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp Việc sử dụng vốn lưu độnghợp lý cho phép doanh nghiệp có khả năng khai thác tối đa năng lực làm việccủa tài sản lưu động, góp phần làm giảm chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận chodoanh nghiệp Mặt khác, nó còn góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triểnvốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.6 Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp:
Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp là xem xét kiểm tra đối chiếu
và so sánh số liệu về tài chính hình thành vơí quá khứ Thông qua việc phân tíchhoạt động tài chính, người sử dụng thông tin (chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư, cácnhà cho vay tín dụng, các nhà cung cấp vật tư hàng hoá, dịch vụ và các nhómngười quan tâm) Có thể đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các luồng tiềnmặt vào ra và tình hình sử dụng vốn kinh doanh tình hình khả năng thanh toáncũng như khả năng tiềm năng hiệu quả sản xuất kinh doanh, rủi ro trong tươnglai của doanh nghiệp
* Mục tiêu phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp:
Trong điều kiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu khác nhau đềubình đẳng trước pháp luật như các nhà đầu tư, nhà cho vay, nhà cung cấp, kháchàng Mỗi đối tượng này quan tâm đến tình hình tài chính trên mỗi một góc độkhác nhau, song nhìn chung họ đều quan tâm đến khả năng tạo ra các dòng tiềnmặt, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và mức lợi tức tối đa Vì vậy phân
Trang 19tích tình hình tài chính của doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu chủ yếusau:
- Thứ nhất: Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ những thôngtin hữu Ých cho chủ doanh nghiệp các đối tượng khác như các nhà đầu tư, hộiđồng quản trị doanh nghiệp, các nhà cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên vànhững người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có quyết định đúng đắnkhi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay
- Thứ hai: Phân tích tài chính phải cung cấp những thông tin về tình hình sửdụng vốn, khả năng huy động nguồn vốn, khả năng sinh lời cho các chủ doanhnghiệp, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tàichính khác trong việc đánh giá khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền mặtvào ra và tình hình sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh tình hình và khả năngthanh toán của doanh nghiệp Giúp cho doanh nghiệp thấy rõ những tồn tại để cóbiện pháp hữu hiệu khắc phục và phát huy những thành tichs đã đạt được
- Thứ bai: Phân tích tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốnchủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, khả năngtiêu thụ sản phẩm, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và cáckhoản nợ của doanh nghiệp trong điều kiện sản xuất kinh doanh và các điều kiệnkhác giúp cho chủ doanh nghiệp dự đoán chính xác quá trình tổ chức sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm
Các mục tiêu trên đây có quan hệ mật thiết với nhau và nó góp phần cungcấp thông tin nền tảng quan trọng giúp những người sử dụng ra quyết định lùachọn phương án sản xuất kinh doanh và đánh giá thực trạng tiềm năng củadoanh nghiệp
* Ý nghĩa của phân tích tình hình tài chính:
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinhdoanh, do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến
Trang 20tình hình tài chính của doanh nghiệp Ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấuđều có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh.Hoạt động tài chính là nội dung chủ yếu của hoạt động sản xuất kinhdoanh, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tìnhhình các mặt hoạt động củadoanh nghiệp, các báo cáo tài chính phản ánh kết quả và tình hình các mặt hoạtđộng của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu kinh tế Những báo cáo này do kế toánsoạn thảo định kỳ, nhằm mục đích cung cấp thông tin về kết quả và tình hình tàichính của doanh nghiệp cho người cần sử dụng chúng Các thông tin có đượcđều phải qua phân tích các bao cáo tài chính kế toán.
Việc thường xuyên tiến hành phân tích tài chính sẽ giúp cho các nhà quản
lý doanh nghiệp và cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ thực trạng của hoạt độngtài chính xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởngcủa từng nhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích cácbáo cáo tài chính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống cácphương pháp công cụ và kỹ thuật phân tích nhằm giúp ngươì sử dụng thông tin
từ các góc độ khác nhau vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát lại, vừa xemxét một cách chi tiết hoạt động tài chính doanh nghiệp để nhận biết phán đoán,
dự báo và đưa ra quyết định đầu tư phù hợp
Trang 21- Phương pháp liên hệ (liên hệ cân đối, liên hệ trực tiếp)
Có nhiều phương pháp phân tích tài chính nhưng trên thực tế tại các doanhnghiệp người ta đang sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp theo tỷ lệ
* Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được dùng để xác định xu hướng phát triển và mức
độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế
Sử dụng phương pháp này cần đảm bảo các điều kiện có thể so sánh đượccủa các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian và thời gian, nội dung, tínhchất và đơn vị tính toán) và theo mục đích tính chất mà:
- Xác định so sánh, gốc so sánh được chọn là gốc về mặt không gian, thời gian
- Kỳ phân tích được chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch
- Giá trị so sánh có thể được chọn là số tuyệt đối hoặc tương đối bình quân.Trong nội dung so sánh gồm:
+ So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xuhướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp thấy được tình hình tài chính năm
kế hoạch được cải thiện hay xấu đi để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới, đánhgiá sự tăng trưởng hay thụt lùi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp
+ So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy được mức độ phấn đấucủa doanh nghiệp
+ So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số trung bình ngành và cácdoanh nghiệp cùng ngành khác để thấy được tình hình tài chính của doanhnghiệp mình tốt hay không tốt, được hay chưa được
+ So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng số
so với tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nihều kỳ để thấy được sự biến đổi
Trang 22về cả số lượng tương đối và số lượng tuyệt đối của khoản mục nào đó qua cácniên độ kế toán liên tiếp.
* Phương pháp phân tích tỷ lệ
Phương pháp dùa trên ý nghĩa chuẩn mực, các tỷ lệ của đại lượng tài chínhtrong quan hệ tài chính Sự biến đối các tỷ lệ đương nhiên là sự biến đổi các đạilượng tài chính Về nguyên tắc phương pháp tỷ lệ yêu cầu xác định được cácmức các giới hạn để nhận xét đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp trên cơ
sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu sẽ đượcphân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng phản ánh những nội dung cơ bản theo cácmục tiêu hoạt động của doanh nghiệp Đó là các nhóm tỷ lệ về khả năng thanhtoán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn và nguồn vốn, nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt độngkinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời
1.8 Tài liệu để phân tích tình hình tài chính:
Để tiến hành phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp người ta phân tíchphải sử dụng rất nhiều tài liệu khác nhau Trong đó tài liệu quan trọng nhất được
sử dụng đó là các báo cáo tài chính trong hệ thống báo cáo tài chính doanhnghiệp được quy định theo QĐ1141 TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động SXKD
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Báo cáo thuyết minh, báo cáo tài chính và tình hình cụ thể của doanh nghiệp.Báo cáo tài chính rất hữu Ých đối với việc quản lý doanh nghiệp, là nguồnthông tin chủ yếu đối với người ngoài doanh nghiệp Báo cáo tài chính là báocáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách tổng hợp nhất về tìnhhình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài chính cũng nhưkết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
Trang 23I.2- Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp:
Chuẩn mực dùng để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt haychưa tốt là những chỉ tiêu trung bình của ngành Nếu một doanh nghiệp có cácchỉ tiêu tài chính phù hợp với mức trung bình ngành được gọi là chuẩn thì tìnhhình tài chính được đánh giá là ổn định và vững chắc
Nội dung phân tích hoạt động tài chính ở doanh nghiệp tập trung vào cácvấn đề sau:
- Đánh giá khái quát tình hình hoạt động tài chính doanh nghiệp thông quaviệc phân tích các báo cáo kế toán
- Phân tích tình hình khả năng thanh toán của doanh nghiệp
- Phân tích các tỷ suất nhằm phản ánh tình hình hiệu quả và khả năng sinhlợi của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Phân tích tốc độ chu chuyển của vốn lưu động
2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp:
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cáchtổng quát nhất tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay khôngkhả quan Điều đó cho phép chủ doanh nghiệp thấy rõ thực chất của quá trìnhhoạt động sản xuất kinh doanh và dự đoán được khả năng phát triển hay chiềuhướng suy thoái của doanh nghiệp Trên cơ sở đó có những giải pháp hữu hiệu
để tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp trước hết cần căn cứvào các số liệu đã phản ánh trên bảng cân đối kế toán để so sánh tổng số tài sản(Vốn) và tổng số nguồn vốn của doanh nghiệp thì chưa thể thấy rõ tình hình tàichính của doanh nghiệp được Vì vậy c
ần phải phân tích các mối quan hệ giữa các khoản mục của bảng cân đối kếtoán
Trang 24a, Phân tích tình hình phân bổ tài sản
Theo quan điểm luân chuyển vốn thì toàn bộ tài sản của doanh nghiệp baogồm 2 loại cơ bản: TSCĐ loại B và TSLĐ loại A được hình thành chủ yếu lànguồn vốn của các chủ sở hữu
Rõ ràng các khoản mục riêng biệt trên, phần tài sản của bảng cân đối kếtoán thường không có nhiều ý nghĩa, song giữa các khoản mục và các nhómkhoản mục cùng với sự biến động phát sinh lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng,qua đó đánh giá tính thích hợp của sự biến động
Để phân tích sự phân bố tài sản cần lập bảng phân tích tình hình phân bổvốn, bảng phân tích này không những cung cấp những thông tin về sự tăng lênhay giảm đi cả về số tuyệt đối và số tương đối của mỗi loại tài sản mà còn chobiết cơ cấu của từng loại trong tổng số Từ đó có thể đánh giá được mức độ hợp
lý hay chưa hợp lý của việc phân bổ vốn và dùa vào đây để nhận định xu hướngbiến động trong tương lai của từng khoản mục
Phân tích kết cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số vốn cuối kỳ so với đầunăm còn phải xem xét từng khoản vốn (Tài sản) của doanh nghiệp chiếm trongtổng số để thấy được mức độ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Tuỳ theo từng loại hình kinh doanh để xem xét tỷ trọng từngkhoản vốn (Tài sản) chiếm trong tổng số là cao hay thấp Nếu là doanh nghiệpsản xuất phải có lượng dự trữ về nguyên vật liệu đầy đủ với nhu cầu sản xuất,nếu là doanh nghiệp thương mại phải có lượng hàng hoá đủ để cung cấp cho nhucầu bán ra kỳ tới Đối với khoản nợ phải thu tỷ trọng càng cao thể hiện doanhnghiệp bị chiếm dụng nhiều, hiệu quả sử dụng vốn thấp
Ngoài ra khi nghiên cứu đánh giá sự phân bổ cuả TSCĐ và đầu tư dài hạntrong tổng tài sản cần kết hợp sự biến động của nó với tỷ suất đầu tư để phântích chính xác rõ ràng hơn, qua đó có thể đánh giá xem xét doanh nghiệp sửdụng hợp lý và hiệu quả TSCĐ hay không, quy mô Êy có đủ đảm bảo cho
Trang 25SXKD trong thời gian tới hay chưa Nói chung TSCĐ trong tổng số tài sản phảnánh tiềm lực ở hiện tại và tương lai gần.
Tỷ suất đầu tư được xác định bằng công thức
Tỷ suất đầu tư = TSCĐ + Đầu tư dài hạn x 100%
Tổng số tài sảnPhân tích tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp chỉ là đáp ứng yêu cầucủa việc đánh giá khái quát, nên cũng không thể đi sâu để đánh giá một cách tỷ
mỉ được Với cách nhìn của các chủ doanh nghiệp, các nhà đầu tư thông quabảng cân đối kế toán sẽ có những giải pháp tốt hơn trong việc sắp xếp phân bổvốn của doanh nghiệp mình hợp lý hơn, tối ưu hơn Do đó ngoài việc xem xéttình hình phân bổ vốn của các chủ doanh nghiệp, kế toán trưởng, các nhà đầu tư,các đối tượng quan tâm khác cần phân tích cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giáđược khả năng tự tài trợ về mặt tài chính của doanh nghiệp cũng như mức độ tựchủ, chủ động trong kinh doanh hay những khó khăn mà doanh nghiệp phảiđương đầu
b, Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Đối với nguồn hình thành tài sản, khi phân tích cần xem xét tỷ trọng từngloại chiếm trong tổng số cũng như xu hướng biến động của chúng nhằm đánhgiá mức độ chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh Điều đó được phản ánh thểhiện qua việc xác định tỷ suất tự tài trợ
Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu x 100%
Tổng nguồn vốn
Tỷ suất tự tài trợ càng cao thể hiện khả năng độc lập cao về mặt tài chínhhay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp càng tốt Nhưng để có thể phân tích chitiết hơn cần lập bảng phân tích cơ cấu nguồn vốn Qua bảng phân tích cơ cấunguồn vốn có thể biết được sự tăng lên hay giảm xuống của tổng nguồn vốncũng như những bộ phận hợp thành tổng đó, nợ phải trả và nguồn CSH giữa đầu
Trang 26năm và cuối năm Hơn thế nữa ta còn xác định được cơ cấu của từng loại vốnquỹ trong tổng số để đánh giá tài chính của doanh nghiệp là khoẻ hay yếu.
Ngoài tỷ suất tự tài trợ, khi phân tích cơ cấu nguồn vốn cần kết hợp so sánh
tỷ số nợ và hệ số nợ dài hạn:
+ Tỷ số nợ dùng để đo lường sự góp vốn của doanh nghiệp so với vốn vay,
nó được tính bằng thương số giữa số nợ và tổng nguồn vốn
Tỷ số nợ = Tổng nợ phải trả (A) x 100%
Tổng nguồn vốn+ Hệ số nợ dài hạn: Phản ánh toàn bộ lượng vay nợ dài hạn chiếm trongtổng số nguồn vốn
Hệ số nợ dài hạn = Tổng sè vay nợ dài hạn
Tổng nguồn vốn
Nợ dài hạn là những khoản nợ có thời gian đáo hạn lớn hơn 1 năm Trongkhoản thời gian đó, khoản vốn vay này được sử dụng như vốn vay thường xuyên(Vốn CSH) do vậy phần tài sản được hình thành bằng vốn vay dài hạn rõ ràng
có hệ số an toàn cao hơn phần tài sản được hình thành bằng vốn vay ngắn hạn.Các chủ doanh nghiệp vẫn ưa thích tài sản của mình có được từ nguồn dài hạn
và sau đó họ mong muốn cho hệ số nợ dài hạn lớn hơn hệ số nợ ngắn hạn
Cuối cùng trong quá trình phân tích khái quát tình hình tài chính của doanhnghiệp cần xem xét lại chỉ tiêu vốn luân chuyển (Vốn hoạt động thuần) Vốnluân chuyển có thể được hiểu là số tiền chênh lệch của tài sản lưu động với nợngắn hạn Vốn luân chuyển phản ánh tài sản hiện hành được tài trợ từ các nguồnlâu dài mà không đòi hỏi sự chi trả trong thời gian ngắn
Vốn luân chuyển = TSCĐ - Nợ ngắn hạnTóm lại: Đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấpcho ta những thông tin khái quát nhất, xem xét tình hình tài chính của doanhnghiệp có khả quan hay không khả quan Tuy nhiên để thấy rõ bản chất tài chính
Trang 27của doanh nghiệp cần đi sâu phân tích những nội dung bên trong của nó như tìnhhình các khoản phải thu, các khoản phải trả, khả năng thanh toán, hiệu quả sửdụng tài sản.
2.2 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp:
Doanh nghiệp phải duy trì một mức vốn luân chuyển hợp lý để đáp ứng kịpthời các khoản nợ ngắn hạn và duy trì các loại tồn kho để đảm bảo quá trình sảnxuất kinh doanh thuận lợi
Tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh chấtlượng công tác tài chính
* Phân tích tình hình công nợ
Để biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay không tốt cầnphải xem xét khả năng thanh toán của doanh nghiệp như thế nào Nếu tình hìnhtài chính tốt, doanh nghiệp sẽ Ýt công nợ, khả năng thanh toán dồi dào, Ýt đichiếm dụng vốn Điều đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động về vốn đảmbảo cho quá trình kinh doanh thuận lợi Ngược lại nếu tình hình tài chính gặpkhó khăn doanh nghiệp nợ nần, dây dưa kéo dài, mất tính chủ động trong kinhdoanh và đôi khi dẫn đến tình trạng phá sản
Khi phân tích ta cần lập bảng phân tích để có thể thấy rằng khi nguồn bùđắp cho tài sản dự trữ thiếu doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn Nếu phần vốn đichiếm dụng nhiều hơn phần vốn bị chiếm dụng thì doanh nghiệp có thêm mộtphần vốn đưa vào quá trình SXKD Ngược lại doanh nghiệp sẽ giảm bớt vốn.Khi phân tích cần phải chỉ ra những khoản đi chiếm dụng và bị chiếm dụng hợp
lý Những khoản đi chiếm dụng hợp lý là những khoản còn đang trong hạn trảnhư khoản tiền phải trả cho người bán chưa hết hạn thanh toán, tiền phải trả chongân sách chưa đến hạn trả Những khoản bị chiếm dụng hợp lý là những khoảnchưa đến hạn thanh toán như khoản tiền bán chịu cho khách hàng đang nằmtrong thời hạn thanh toán, khoản phải thu của các đơn vị trực thuộc và phải thu
Trang 28khác Trong các quan hệ thanh toán này doanh nghiệp phải chủ động giải quyếttrên cơ sở tôn trọng kỷ luật tài chính, kỷ luật thanh toán.
Tuy nhiên để có nhận xét, đánh giá đúng đắn về tình hình công nợ (phảithu, phải trả) của doanh nghiệp ngoài số liệu trên bảng cân đối kế toán và báocáo thuyết minh, báo cáo tài chính không đủ mà còn phải sử dụng các tài liệuhạch toán ngày để:
+ Xác định tính chất thời gian và nguyên nhân các khoản phải thu, phải trả+ Các biện pháp mà đơn vị áp dụng để thu hồi nợ hay thanh toán nợ
* Phân tích nhu cầu và khả năng thanh toán
Để thấy rõ tình hình tài chính doanh nghiệp trong tương lai gần, cần đi sâuphân tích nhu cầu và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tìm ra nguyên nhâncủa mọi sự ngưng trệ khê đọng các khoản thanh toán nhằm tiến tới làm chủ vềtài chính
Khi phân tích cần dùa vào các tài liệu hạch toán liên quan để sắp xếp cácchỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định, trình tự này phải thể hiện đượcnhu cầu thanh toán ngay, chưa thanh toán ngay cũng như khả năng huy độngvốn để thanh toán ngay và huy động để thanh toán trong thời gian tới
* Cùng với việc lập các bảng phân tích ta cần tính toán phân tích một số
tỷ suất thanh toán.
- Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả Để xem xét các khoảnphải thu, các khoản phải trả có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanhnghiệp như thế nào, cần tính và so sánh các chỉ tiêu sau:
Trang 29Nếu tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả > 1 chứng tỏ khảnăng thanh toán và tình hình tài chính ổn định hoặc khả quan.
Nếu tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoản phải trả < 1 doanh nghiệpkhông có khả năng thanh toán, tình hình tài chính gặp khó khăn, doanh nghiệpcàng mất dần khả năng thanh toán Tỷ lệ các khoản phải thu so với các khoảnphải trả dần đến 0 doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản
- Tỷ lệ và khả năng thanh toán so với TSLĐ: Là tỷ số giữa vốn bằng tiền vàcác khoản đầu tư ngắn hạn với TSLĐ của doanh nghiệp
Hệ số khả năng thanh toán = Vốn bằng tiền + Đầu tư ngắn hạn
Tổng tài sản lưu độngKhi tính toán chỉ tiêu này, nếu kết quả tính toán lớn hơn 0,5 hoặc nhỏ hơn0,1 đều không tốt Vì tỷ lệ này quá lớn thể hiện lượng tiền quá nhiều, gây hiệntượng sử dụng vốn không có hiệu quả, còn nếu tỷ này quá nhỏ, doanh nghiệpthiếu vốn thanh toán
- Hệ số quay vòng các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi cáckhoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp
HS vòng quay các khoản phải thu = Tổng giá trị các khoản có thể thanh toán
Tổng nợ ngắn hạn
- Hệ số thanh toán nhanh: Thể hiện khả năng về tiền mặt và các loại tài sản
có thể chuyển ngay thành tiền để thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ sè thanh toán > 0,5 là doanh nghiệp có khả năng thanh toán
Hệ số thanh toán nhanh = Vốn bằng tiền + Đầu tư ngắn hạn + Khoản phải thu
Tổng nợ ngắn hạnTrị số của chỉ tiêu này cũng không nên quá cao hay quá thấp vì đều làmgiảm hiệu quả sử dụng vốn, mức trung bình để đánh giá chỉ tiêu này cũng đượcxây dựng tuỳ theo vào đặc điểm của từng ngành, từng lĩnh vực riêng biệt
Trang 30- Hệ số quay vòng hàng tồn kho: Chỉ tiêu này phản ánh thời gian hàng hoánằm trong kho trước khi được bán ra Nó thể hiện số lần hàng tồn kho bình quânđược bán ra trong kỳ Hệ số quay vòng càng cao thể hiện tình hình bán ra càngtốt và ngược lại Ngoài ra hệ số này còn thể hiện tốc độ luân chuyển vốn hànghoá của doanh nghiệp.
Hệ sè quay vòng hàng
tồn kho =
Giá vốn hàngbánHàng tồn khobình quân
2.3 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụngnguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp Đây là vấn đề phức tạp, có quan hệđến nhiều yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như lao động, tư liệu laođộng, đối tượng lao động Vì vậy khi phân tích cần phải xem xét qua nhiều chỉtiêu như hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh (Gồm vốn cố định, vốn lưu động) sứcsinh lời của vốn Chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh thường được sử dụngkhi phân tích được tính bằng công thức
Hiệu quả kinh doanh
=
Kết quả đầu raNguồn lực đầu vào Kết quả đầu ra được đo bằng chỉ tiêu giá trị tổng sản lượng doanh thu, lợitức Còn chi phí đầu vào được đo bằng chỉ tiêu lao động, tư liệu lao động, đốitượng lao động, vốn lưu động Có một chỉ tiêu được dùng để giúp người phântích đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp, đó là chỉ tiêu sứcsinh lợi của tổng tài sản
Sức sinh lợi của tổng tài
sản =
Lợi nhuậntrước thuế
Trang 31Tổng tài sảnBQSức sinh lợi của tổng tài sản phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt độngkinh doanh Chỉ tiêu biểu hiện một đơn vị tài sản bình quân đem lại mấy đơn vịlợi nhuận thuần trước thuế Sức sinh lợi của tổng tài sản càng lớn thì hiệu quả sửdụng tổng tài sản càng cao.
Một chỉ tiêu quan trọng nữa xem xét đánh giá hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp suất hao phí của tổng tài sản Chỉ tiêu này phản ánh một đồngdoanh thu thuần doanh nghiệp cần phải bao nhiêu đồng tổng tài sản bình quân
và được xác định bằng công thức sau:
Suất hao phí của tổng tài
sản =
Tổng tài sảnbình quânDoanh thuthuầnSuất hao phí càng lớn thì hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng thấp và ngược lại
Để thể hiện được việc phân tích đánh giá hiệu quả và khả năng sinh lời củahoạt động kinh doanh, ngoài việc sử dụng 2 chỉ tiêu trên người phân tích cầnphải tính toán, nghiên cứu chỉ tiêu sức sản xuất của tổng tài sản Sức sản xuấtcủa tổng tài sản, thể hiện qua doanh thu thuần sinh ra từ tài sản đầu tư đó Chỉtiêu này phản ánh 1 đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng tài sản (Gồm cả TSCĐ
và TSLĐ) qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản củadoanh nghiệp Cách tính như sau:
Sức sản xuất của tổng tài
sản =
Doanh thu thuầnTổng tài sảnbình quânNói chung, sức sản xuất của tổng tài sản càng cao thì doanh nghiệp sử dụngtài sản càng hiệu quả Tuy nhiên khi đánh giá sức sản xuất của tổng tài sản phải
Trang 32kết hợp xem xét bản chất của ngành kinh doanh thì kết quả so sánh giữa các kỳmới có tính thuyết phục cao.
Phân tích khả năng sinh lời của quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩaquan trọng luôn được các nhà quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các nhà tindông quan tâm đặc biệt vì nó vừa liên quan đến lợi Ých của họ ở hiện tại vừaảnh hưởng tới quyết định của họ trong tương lai
a, Phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cố định
TSCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước vềTSCĐ, đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong chu kỳ sản xuấtkinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng.TSCĐ của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sản xuất kinh doanh
Việc đầu tư đúng hướng vào TSCĐ sẽ mang lại hiệu quả và năng suất rấtcao trong kinh doanh giúp cho doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn và đứng vữngđược trong cơ chế thị trường
Việc phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp là điều quantrọng, cho phép doanh nghiệp và các nhà quản lý tài chính biết được những ưuđiểm và những mặt còn tồn tại trong công tác quản lý tài chính vốn và tài sản tạidoanh nghiệp
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng nguyên giáBQTSCĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần
Sức sản xuất của TSCĐ
=
Doanh thu thuầnNguyên giá BQTSCĐ
- Sức sinh lợi TSCĐ (vốn cố dịnh): Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồngnguyên giá BQ TSCĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận thuần
Sức sinh lợi TSCĐ = Lợi nhuận thuần
Trang 33Nguyên giá BQTSCĐ
- Suất hao phí của TSCĐ: là nghịch đảo của sức sản xuất của TSCĐ Chỉtiêu này phản ánh để tạo 1 đồng doanh thu thuần thì cần bao nhiêu đồng nguyêngiá BQ TSCĐ
Suất hao phí TSCĐ =
Nguyên giá BQTSCĐDoanh thu thuần
b, Phân tích hiệu quả sử dụng TSLĐ
Tài sản lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động
và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệpđược thực hiện thường xuyên liên tục
Hiệu quả về sử dụng TSLĐ (vốn lưu động) được phản ánh qua các chỉ tiêu
- Sức sản xuất của TSLĐ: Chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá trình độ sửdụng vốn lưu động của doanh nghiệp là số vòng luân chuyển của vốn lưu độngtrong kỳ (thường là 1 năm) Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng TSLĐ BQ bỏ vào sảnxuất kinh doanh đem lại mấy đồng doanh thu thuần Số vòng quay TSLĐ trong
kỳ càng lớn, trình độ sử dụng TSLĐ càng cao
Sức sản xuất của TSLĐ = Doanh thu thuần
TSLĐ bình quânNếu như doanh thu thuần được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinhdoanh thì TSLĐ bình quân có nhiều cách tính Song để đơn giản có nhiều cáchtính như sau:
TSLĐ bình quân =
TSLĐ đầu kỳ +TSLĐ cuối kỳ
2
- Sức sinh lời của TSLĐ: Chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 đồng tài sản lưu động
bỏ vào sản xuất kinh doanh đem lại mấy đồng lợi nhuận thuần Nó phản ánh
Trang 34chính xác và hợp lý hơn so với chỉ tiêu “Sức sản xuất của TSLĐ” bởi chỉ tiêu lợi
nhuận thuần có độ tinh lớn hơn so với tổng doanh thu
Sức sinh lợi của TSLĐ
=
Lợi nhuận thuầnTSLĐ bình quânKhi phân tích hiệu quả sử dụng tài sản cần tính ra các chỉ tiêu trên rồi so
sánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc để xem nó tăng lên hay ngược lại Tuy vậy, 2
chỉ tiêu trên vẫn chưa phản ánh được hiệu quả sử dụng TSLĐ, để thấy rõ và kết
luận chính xác hơn về TSLĐ cần tiến hành phân tích tốc độ luân chuyển vốn
c, Phân tích tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên trong quá trình sản
xuất kinh doanh nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động liên tục Do đó đẩy nhanh
tốc độ luân chuyển vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết nhu
cầu về vốn cho doanh nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói
chung và VLĐ nói riêng
* Đánh giá chung tốc độ luân chuyển
Phân tích chung tốc độ luân chuyển VLĐ là để xem xét đánh giá sự biến
động chỉ tiêu số ngày của 1 vòng quay vốn trong kỳ sản xuất kinh doanh và mức
đảm nhiệm của vốn lưu động Để làm việc này cần tính ra và so sánh các chỉ
tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển của kỳ phân tích với kỳ gốc
- Chỉ tiêu kỳ luân chuyển BQ (số ngày trung bình của 1 vòng luân chuyển)
Kỳ luân chuyển BQ =
Số ngàycủa kỳphân tích
x
Vốn lưu động
BQ trong kỳ
Doanh thuthuần
Nếu kỳ phân tích là 1 năm thì
Trang 35Doanh thuthuầnNâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ của doanh nghiệp có nghĩa là sử dụng cácbiện pháp tổ chức, kỹ thuật làm tăng nhanh vòng quay VLĐ, giảm số ngày luânchuyển bình quân tiết kiệm tương đối vốn lưu động và nâng cao doanh lợi VLĐ.
* Xác định nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển VLĐ
Thường sử dụng phương pháp loại trừ để xác định sự ảnh hưởng của từngnhân tố tới các chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn chỉ tiêu thời gian của 1 vòng luânchuyển tăng lên hay giảm đi do ảnh hưởng của số VLĐ bình quân và tổng sốdoanh thu thuần của kỳ phân tích tăng lên hay giảm đi
Sau khi xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển ta sẽ tínhđược số vốn lưu động tiết kiệm được hay lãng phí do tốc độ luân chuyển vốnthay đổi theo công thức
Số VLĐ tiết kiệm (-) hay lãng phí
(+) do thay đổi tốc độ luân chuyển =
Doanh thu thuần kỳ phân tích
x AtThời gian kỳ phân tích
At: Thời gian của một vòng luân chuyển kỳ phân tích - Thời gian của mộtvòng luân chuyển kỳ gốc
2.4 Phân tích khả năng sinh lợi của vốn kinh doanh:
* Phân tích khả năng sinh lợi của vốn
Trang 36Ngoài việc xem xét hiệu quả kinh doanh của vốn dưới góc độ sử dụng tổngtài sản, TSCĐ, TSLĐ người quản lý cũng cần phải xem xét hiệu quả sử dụngvốn dưới góc độ sinh lợi Đây là một trong những nội dung phân tích được cácnhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông quan tâm đặc biệt vì nó gắn liền lợiÝch của họ cả về hiệu tại và tương lai Để đánh giá khả năng sinh lợi vốn người
- Chỉ tiêu hệ số doanh lợi doanh thu thuần: Chỉ tiêu này phản ánh một đồngdoanh thu thuần đem lại mấy đồng lợi nhuận, hệ số càng lớn chứng tỏ khả năngsinh lợi càng cao
HS doanh lợi doanh thu
thuần =
Lợi nhuậnDoanh thuthuần
- Chỉ tiêu suất hao phí vốn: Là chỉ tiêu phản ánh để có 1 đồng lợi nhuậnthuần thì doanh nghiệp phải hao phí mấy đồng vốn Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng
tỏ khả năng sinh lợi càng cao
Suất hao phí của vốn =
Vốn kinhdoanh Lợi nhuận
* Phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu
Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu quan trọng tổng quát phảnánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu nói riêng và khả năng sinh lợi của
Trang 37toàn bộ vốn doanh nghiệp nói chung Khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữuđược xác định bằng công thức sau:
HS doanh lợi vốn chủ
sở hữu =
Lợi nhuậnVốn chủ
sở hữuTóm lại: Quá trình phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp kết thúc
sẽ cung cấp những thông tin quan trọng giúp cho những người ra quyết định lùachọn phương án sản xuất kinh doanh tối ưu, và đánh giá chính xác thực trạngtiềm năng của doanh nghiệp Những thông tin này không chỉ là mối quan tâmcủa chủ doanh nghiệp trong việc quản trị doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đặcbiệt tới những người, những nhà đầu tư có liên quan đến lợi Ých của doanhnghiệp Tuy mỗi người đều có mối quan tâm, cách tiếp cận và khai thác thôngtin không giống nhau Vì vậy tuỳ thuộc vào mục đích và phạm vi nghiên cứu mà
có thể giảm bớt hoặc phân tích sâu thêm vào những chỉ tiêu, những tỷ suất cóliên quan Song những thông tin thu được thông qua quá trình phân tích nàycũng đã cung cấp những đánh giá khái quát nhất và sát thực, phù hợp nhằm raquyết định
Trang 38Chương II
Quá trình hình thành và phát triển của Công ty thương mại dịch vụ và xây dựng Hải Phòng
I - SƠ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VÀ XÂY DỰNG HẢI PHÒNG:
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty :
Tiền thân của Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng làCông ty dịch vụ và chế biến hàng xuất nhập khẩu được thành lập tháng 11/1991trên cơ sở sát nhập cửa hàng ăn uống Lạch Tray với Công ty vật tư thủ côngnghiệp quận Ngô Quyền
Trụ sở của Công ty đặt tại 90 Lương Khánh Thiện - quận Ngô Quyền - HảiPhòng
Từ tháng 7/1992 UBND quận Ngô Quyền có quyết định sát nhập thêmCông ty Vật tư và dịch vụ Công nghiệp quận Ngô Quyền vào Công ty dịch vụ
và chế biến hàng xuất khẩu Từ năm thành lập đến năm 1992 Công ty trực thuộcUBND quận Ngô Quyền quản lý
Là một Công ty mới được xác nhận là doanh nghiệp Nhà nước nhưng đã cóquá trình hoạt động kinh doanh buôn bán lâu dài, có bề dày kinh nghiệm cao với
sự phát triển mạnh mẽ về tiềm năng kinh tế như đầu tư mở rộng các cơ sở bánhàng, mở rộng quy mô chế biến hàng xuất khẩu Trong những năm này, Công ty
đã cố gắng nỗ lực phát huy hết khả năng của mình để giữ được vị trí của Công
ty trên thị trường, giúp cho Công ty ngày càng phát triển mạnh
Trang 39Ngày 19/1/1993, với sự đồng ý của UBND quận Ngô Quyền - Hải Phòngtheo nghị định 388 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Hội đồng Chính phủ) quyếtđịnh thành lập Công ty dịch vụ và chế biến hàng xuất khẩu dưới sự quản lý của
Sở Thương mại Hải Phòng Là một Công ty hạch toán độc lập có pháp nhân kinh
tế, mở tài khoản tại Ngân hàng, có con dấu riêng theo quy định của Nhà nước.Đến ngày 15/3/2000 theo nghị định 50/CP ngày 28/8/1996 của Chính phủ
về thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp Nhà nước Công tydịch vụ và chế biến hàng xuất khẩu được đổi tên thành Công ty Thương mạidịch vụ và xây dựng Hải Phòng (theo Nghị quyết 439/QĐ ngày 15/3/2000 củaUBND thành phố Hải Phòng)
Hiện tại Công ty có 5 cơ sở sản xuất và bán hàng trên thành phố HảiPhòng, cụ thể đó là:
+ Cơ sở 1: Trung tâm Thương mại dịch vụ Lương Khánh Thiện
+ Cơ sở 2: Trung tâm Thương mại dịch vô Trần Quốc Toản
+ Cơ sở 3: Trung tâm Thương mại dịch vô Đồ Sơn
+ Cơ sở 4: Trạm Kinh doanh vật tư số 90 Lương Khánh Thiện
+ Cơ sở 5: Trạm Kinh doanh bia và các đồ uống giải khát
1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty:
Công ty Thương mại dịch vụ và Xây dựng Hải Phòng là một doanh nghiệpNhà nước quản lý có nhiệm vụ chính là sản xuất và kinh doanh các sản phẩm sau:+ Kinh doanh các sản phẩm đồ gỗ
+ Chế biến hàng nông sản
+ Kinh doanh các dịch vụ khác như: Bia, rượu, nước ngọt
+ Kinh doanh thuốc lá điếu
+ Kinh doanh vật tư và vật liệu
Trang 40Sản phẩm của Công ty không những phục vụ cho nhu cầu trong nước màcòn xuất khẩu ra nước ngoài Trong bao năm qua mặc dù đã bước sang hạchtoán độc lập nên phải chịu những khó khăn và sự cạnh tranh gay gắt của cácCông ty khác Trong nền kinh tế thị trường và những khó khăn trước mặt nhưngCông ty đã cố gắng khắc phục những khó khăn để củng cố và phát triển để dầndần thích ứng với thị trường bằng cách Công ty đã sản xuất ra nhiều loại sảnphẩm có uy tín trên thị trường và đạt kết quả không nhỏ, do vậy Công ty vẫnlàm ăn phát đạt và đứng vững trên thị trường.
Sau đây là một số dữ liệu phản ánh tình hình hoạt động sản xuất kinhdoanh của Công ty năm 2000
Ở các đơn vị dùa vào số liệu chi phí sản xuất kinh doanh chính và thu nhập sảnxuất kinh doanh chóng ta thấy Công ty luôn kinh doanh phát đạt không thua lỗ,