1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những hợp đồng dịch vụ du lịch mang bản chất là hợp đồng dân sự

94 4,2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những hợp đồng dịch vụ du lịch mang bản chất là hợp đồng dân sự
Tác giả Nguyễn Thị Yến
Trường học Khoa Luật Kinh Tế
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 162,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về Những hợp đồng dịch vụ du lịch mang bản chất là hợp đồng dân sự

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch kinh tế diễn ra ngày càngsôi động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với sự phát triển đó thì nhucầu tất yếu là cần phải có một cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm cho việc thực hiện cácgiao dịch này Hợp đồng là một là một lựa chọn hàng đầu đối với các nhà đầu tư.Hiện nay, đa số các giao dịch đều được cụ thể hóa dưới hình thức hợp đồng, nó làcăn cứ nhằm ràng buộc các bên vào những gì mà họ đã cam kết, để khi có tranhchấp xảy ra thì đó là một trong các căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm củacác bên Trong điều kiện nước ta mới gia nhập WTO, được hội nhập trong môitrường kinh tế cạnh tranh công bằng và lành mạnh, mà ở đó sự bảo hộ của nhà nước

là gần như không tồn tại vì vậy các doanh nghiệp phải tự mình vận động để tồn tại

và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như ngày nay Chính vì vậy vấn

đề pháp lí về hợp đồng được các bên đặc biệt chú ý, nhằm đảm bảo tính chặt chẽ vềmặt nội dung và hình thức trong tất cả các giao dịch và đem lại hiệu quả kinh tế caonhất

Hiện nay pháp luật về hợp đồng của nước ta đã hình thành và ngày cànghoàn thiện đồng thời cũng đang được điều chỉnh cho phù hợp với pháp luật hợpđồng của thế giới có như vậy mới bảo đảm khả năng hội nhập với nền kinh tế thếgiới Hiện nay các hợp đồng về mua bán hàng hóa, dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớntrong tổng số các loại hợp đồng mà các doanh nghiệp thực hiện, vì trên thực tế hiệnnay thì nền kinh tế dịch vụ và mua bán hàng hóa mang lại một doanh thu khổng lồcho nền kinh tế quốc dân các nước Với một khối lượng hàng hóa dịch vụ khổng lồlưu thông trên thị trường mà không có hợp đồng thì rất dễ gây ra sự hỗn loạn trongnền kinh tế Trên thực tế thì vai trò của hợp đồng là không thể phủ nhận nhưng cònrất nhiều vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện hành lang pháp lý

Trong công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Thăng Long GTC hàng năm đàm phán và kí kết một khối lượng hợp đồng tương đối lớn, đặcbiệt là các hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ

-Các hợp đồng này hàng năm đem lại cho công ty những khoản thu rất lớn vì

Trang 2

đây là một công ty nhà nước mà hoạt động chủ yếu là dịch vụ Trong đó các hợpđồng về dịch vụ du lịch chiếm tỷ trọng không nhỏ,gồm cả hợp đồng du lịch mangbản chất là dân sự và cả hợp đồng du lịch mang tính chất kinh doanh thương mại.

Do hoạt động du lịch của Công ty TNNHH Nhà nước một thành viên Thăng LongGTC là tương đối rộng nên trong phạm vi hạn hẹp của bài báo cáo chuyên đề nàytôi chỉ đề cập đến Những hợp đồng dịch vụ du lịch mang bản chất là

hợp đồng dân sự ( tức là những hợp đồng du lịch được ký kết giữa cá nhân

khách du lịch ( người tiêu dùng dịch vụ du lịch) với một bên là đại diện Công tyTNHH Nhà nước Thăng Long GTC

Nội dung chuyên đề: “PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ DU LỊCH

VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN THĂNG LONG -GTC”

Bài viết được chia làm 3 phần lớn là :

Chương I Pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch.

Chương II Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ du lịch tại Công ty TNHH Nhà nước Thăng Long GTC.

Chương III Nhận xét và một số kiến nghị.

Để bài viết được thành công tôi rất hi vọng nhận được sự giúp đỡ của cán bộcông ty và giáo viên hướng dẫn thực tập chuyên đề

Trang 3

CHƯƠNG I PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG.

Hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí giữa các cá nhân tổ chức có năng lực chủ thể

để từ đó làm xuất hiện những quyền và nghĩa vụ nhất định Như vậy hợp đồng là sự

cụ thể hóa ý chí của các bên trong quan hệ giao dịch, và là căn cứ để từ đó làm phátsinh các quyền và nghĩa vụ

1.1.1 Vai trò của hợp đồng trong đời sống xã hội.

Quan hệ trao đổi hàng hoá là quan hệ kinh tế giữa những người có hàng hoáđược thiết lập trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên mà hình thức thể hiện của nó

là bản giao kèo Bản giao kèo này là hợp đồng Quan hệ trao đổi sản phẩm hànghoá trở thành quan hệ pháp luật khi được pháp luật điều chỉnh và hợp đồng trởthành hình thức pháp lý của nó Sự ra đời của hợp đồng là đòi hỏi khách quan củanền sản xuất hàng hoá Đã có sản xuất hàng hoá tất yếu phải có hợp đồng để traođổi sản phẩm hàng hoá Sau đó cùng với sự phát triển của xã hội, hợp đồng pháttriển cả ngoài phạm vi trao đổi hàng hoá Người ta có thể thoả thuận thống nhất ýchí với nhau về việc làm một việc gì hoặc không làm một việc gì đó thì cũng là hợpđồng

Hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc quản lý nền kinh tế quốc dân, là

cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, xác lập mối quan hệ hợp tác giữa cácbên ký kết hợp đồng

Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như tổ chức phải tham gia nhiềuquan hệ xã hội khác nhau Trong đó việc các bên thiết lập với nhau quan hệ, để qua

đó chuyển giao cho nhau lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêudùng, đóng vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với đời sống xã hội Tuy nhiênviệc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản( vốn là hiện thân của lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến nhau để thiết lập cácquan hệ Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của chủthể Mác nói rằng:

Trang 4

“ Tự chúng hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được.

Muốn cho những vật đó trao đổi được với nhau, thì những người giữ chúng phải đối

xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong hiện vật đó” (1)

Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các chủthể kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng Nhà nước chỉ có thể ápdụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi ích chínhđáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích chính đáng của cácchủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích của toàn xã hội

Hợp đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của chínhcác chủ thể kinh doanh, làm cho các kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có thể đượcthực hiện nếu người sản xuất mua được nguyên vật liệu và kí được hợp đồng tiêuthụ sản phẩm của mình Đồng thời hợp đồng cũng được cụ thể hoá, chi tiết hoá kếhoạch sản xuất mua bán, giá cả, thời gian giao hàng… Như vậy nhu cầu sản xuấtkinh doanh là do người sản xuất kinh doanh quyết định và thỏa thuận với kháchhàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và thu lợi nhuận

Thông qua việc đàm phán kí kết hợp đồng, người sản xuất có thể nắm bắtđược nhu cầu của thị trường về sản phẩm của mình và kiểm tra tính hiện thực của

kế hoạch sản xuất kinh doanh có phù hợp với nhu cầu thị trường hay qua quá trình

kí kết hợp đồng các doanh nghiệp chủ động cân nhắc tính toán chênh lệch giữa chiphí và hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh

Thông qua hợp đồng mà Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết các quan hệkinh tế, xã hội, hướng các quan hệ phát triển trong trật tự pháp luật Khi hợp đồngđược kí kết đúng pháp luật thì đó là căn cứ pháp lý để bảo đảm quyền và lợi ích hợppháp của các bên tham gia ký kết và làm cơ sở để cơ quan tài phán giải quyết khi cótranh chấp

1.1.2 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với quan hệ hợp đồng.

Pháp luật đề cao nguyên tắc tự do kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh

tế thị trường Nguyên tắc này được Hiến pháp thừa nhận Tại Điều 15 hiến pháp

1992 nêu rõ: Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình

(1)(1) Các Mác: “Tư bản”, quyển 1, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội 1973, Tr.163

Trang 5

thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng (1)

Tại Điều 57 Hiến pháp 1992 thừa nhận quyền tự do kinh doanh của mọi công

dân: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” (2) Như

vậy mọi cá nhân tổ chức khi có đủ tư cách chủ thể đều có quyền tham gia giao kếtbất kỳ hợp đồng dân sự nào, nếu họ muốn mà không ai có quyền ngăn cản Nhưngbên cạnh việc chú ý đến quyền lợi của mình, các chủ thể phải hướng tới việc bảođảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi ích của toàn xã hội

Như vậy tự do kinh doanh không có nghĩa là muốn làm gì thì làm mà nó phảiđảm bảo sự tuân thủ pháp luật Mọi thành phần kinh tế trong xã hội đều bình đẳngtrước pháp luật, chịu sự quản lý của Nhà nước Mặc dù, mọi chủ thể trong nền kinh

tế khi có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi ( khi thoả mãn những điều kiện

do pháp luật quy định) theo quy định của pháp luật thì đều có quyền tham gia giaokết hợp đồng kinh tế nhằm mục đích nhất định mà không ai có quyền ngăn cản.Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền giao kết những hợp đồng đã đượcpháp luật quy định cụ thể cũng như những hợp đồng khác mà pháp luật chưa có quyđịnh Khi tham gia vào quá trình ký kết hợp đồng các chủ thể được tự do thể hiện ýchí của mình, tự do đưa vào hợp đồng những nội dung, điều khoản có lợi nhất chomình để đảm bảo khả năng thực hiện hợp đồng và giành được ưu thế khi có tranhchấp xảy ra

Hơn nữa tại Điều 50 Bộ luật dân sự 2005 cũng đã ghi nhận quyền tự do kinhdoanh:

“Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Cá

nhân có quyền lựa chọn lĩnh vực, hình thức, ngành nghề kinh doanh, lập doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù hợp với quy

(1)(1) Điều 15 Hiến pháp 1992

Trang 6

Những thoả thuận được coi là hợp đồng nếu nó phù hợp với ý chí của cácbên, tức là sự ưng thuận đích thực của các bên Hợp đồng phải là giao dịch hợppháp, do vậy sự ưng thuận ở đây phải hợp lẽ công bằng, hợp đạo đức và pháp luật.Các hợp đồng được giao kết dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc muachuộc không có sự ưng thuận đích thực, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng Nhưvậy, một sự thoả thuận không thể hiện ý chí đích thực của các bên thì không phátsinh quyền và nghiã vụ pháp lý của các bên Vì vậy, Nhà nước buộc các bên khi tiếnhành giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức xã hội, pháp luật, trật tự xã hội, trật

tự công cộng

Để hạn chế sự tự do thái quá của các chủ thể khi tham gia vào quá trình giaokết thực hiện hợp đồng thì cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật trong quan

hệ hợp đồng Vì sự tự do nào cũng phải nằm trong khuôn khổ nhất định Pháp luật

là sự cụ thể hoá ý chí của Nhà nước Bên cạnh chú ý đến quyền lợi của mình, cácchủ thể phải hướng tới việc bảo đảm quyền lợi của những người khác cũng như lợi

ích của toàn xã hội Vì vậy, tự do của mỗi chủ thể phải “ không trái pháp luật và

đạo đức xã hội” Nằm trong mối quan hệ tương ứng giữa quyền và nghĩa vụ, mỗi

chủ thể vừa “có quyền tự do giao kết hợp đồng” vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp

luật và đạo đức xã hội

Lợi ích cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được coi

là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi chủ thể trong việc giao kết hợp đồng.

Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không chophép tất cả các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng thành

(1)(1) Điều 50 Bộ Luật dân sự 2005

Trang 7

phương tiện bóc lột.

Vì vậy, để bảo đảm cho một nền kinh tế phát triển bền vững, ổn định và đặcbiệt là hiện nay khi nước ta đã ra nhập WTO thì cần phải có một hành lang pháp lýthông thoáng và đủ mạnh để làm kim chỉ nam cho việc giao kết và thực hiện hợpđồng nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cả doanh nghiệp trong và ngoài nướcnhưng đồng thời cũng ngăn chặn được các hành vi lợi dụng sức mạnh của doanhnghiệp nước ngoài nhằm chèn ép các doanh nghiệp trong nước Hiện nay, hầu hếtcác quan hệ kinh tế đều được thực hiện thông qua hợp đồng nên việc ban hành phápluật về hợp đồng là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay nhằm đáp ứng các yêucầu khách quan của nền sản xuất hàng hoá, vì khi nền kinh tế sản xuất hàng hoáphát triển thì nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa các tổ chức sản xuất, kinh doanh vớinhau ngày càng gia tăng Điều này không tránh khỏi việc cần phải có hình thức,biện pháp để ghi nhận, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia vào việc trao đổinhững hàng hoá đó Chính vì vậy việc ban hành pháp luật về hợp đồng trong đó nêu

rõ những thoả thuận của các bên phải thực hiện và việc giải quyết nếu có nhữnghành vi vi phạm các thoả thuận đó

1.1.3 Nguyên tắc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hợp đồng.

Trong quan hệ hợp đồng, khi giao kết các bên tham gia có vai trò quan trọngtrong việc xác định xem hợp đồng đó áp dụng luật nào để điều chỉnh

Nguyên tắc điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng có thể do các bên tựthoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật Khi tham gia vào quan hệ hợp đồngcác bên chủ thể đều có vị trí ngang hàng nhau không bên nào được đe dọa bên nàonhằm mục đích cưỡng chế bên kia giao kết thực hiện hợp đồng Vì vậy trong quátrình đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng các bên phải đảm bảo nguyên tắc tựnguyện bình đẳng, hợp tác đôi bên cùng có lợi Tuy nhiên tự do giao kết hợp đồngkhông được trái pháp luật và đạo đức xã hội

Đối với hợp đồng thì căn cứ để ràng buộc các bên là những gì các bên đãcam kết, và các văn bản pháp luật có liên quan Việc lựa chọn văn bản pháp luật nào

để điều chỉnh quan hệ hợp đồng phải căn cứ vào sự lựa chọn và tính chất của hợpđồng đó Ngoài việc áp dụng luật chung là Bộ Luật dân sự thì đối với từng loại hợpđồng cụ thể còn có những văn bản luật chuyên ngành điều chỉnh.Vì vậy đối với

Trang 8

từng loại hợp đồng nguyên tắc áp dụng pháp luật theo thứ tự ưu tiên như sau: Nếu

có luật chuyên ngành điều chỉnh thì áp dụng luật chuyên ngành, nếu luật chuyênngành và các lĩnh vực pháp luật khác có quy định mâu thuẫn thì áp dụng luậtchuyên ngành, nếu luật chuyên ngành không có quy định thì áp dụng Bộ luật dân sự

2005 Trong trường hợp có điều ước quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên có quyđịnh áp dụng điều ước quốc tế thì áp dụng điều ước quốc tế đó, mặc dù nó trái vớipháp luật trong nước

Ngoài ra các bên có thể áp dụng các tập quán và các quy định tương tự củapháp luật nếu pháp lụât không có quy định và các bên không có thỏa thuận (Điều 3Luật dân sự)

Trong phạm vi Chuyên đề tốt nghiệp này tôi chỉ đế cập đến mảng hợp đồng

dịch vụ du lịch với tư cách là một hợp đồng dân sự nên pháp luật áp dụng cho hợp

đồng dịch vụ du lịch là Bộ luật dân sự 2005, ngoài ra hoạt động du lịch còn chịu sựđiều chỉnh của Luật du lịch 2005 Nếu có những hoạt động du lịch nào mà Bộ lụâtdân sự 2005 không quy định hoặc quy định trái với văn bản của chuyên ngành du

lịch thì áp dụng Luật du lịch 2005, Ngoài ra hoạt động du lịch còn liên quan đến

hoạt đồng xuất nhập cảnh của người và hành lý nên hợp đồng dịch vụ du lịch còn

chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh xuất nhập cảnh năm 2000

1.2 PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG.

1.2.1 Hợp đồng dân sự.

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng dân sự.

1.2.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng dân sự.

Hợp đồng ra đời từ nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh và lưuthông hàng hoá, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Hợp đồng bảo đảm cho việc duy trì một nền kinh tế thị trường vận hành đúng

quy luật Trong nền kinh tế hàng - tiền thì mọi thoả thuận giữa các bên trong quan

hệ kinh tế đều phải hết sức rõ ràng và minh bạch có như vậy mới bảo đảm cho việcthực hiện hợp đồng và là căn cứ cho việc xác định trách nhiệm của các bên khi xảy

ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng

Từ vai trò quan trọng đó của hợp đồng thì ở mọi Nhà nước đều có nhữngquy định về hợp đồng nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng , tránh tìnhtrạng các bên tuỳ tiện đưa vào hợp đồng những nội dung vi phạm pháp luật và trái

Trang 9

với nguyên tắc hoạt động của Nhà nước.

Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 388 hợp đồng được

hiểu như sau: “ Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về viêc xác lập,

thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (1) Hợp đồng dân sự là một loại hợp

đồng nói chung và được hiểu theo nghĩa rộng Hợp đồng là sự thoả thuận giữa cácbên, tức là sự thống nhất về mặt ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợpđồng Nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấpnhận cũng không thể hình thành mối quan hệ hợp đồng để qua đó thực hiện việcchuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được Vì vậy, chỉ khi nào

có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên, thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chấtmới được hình thành Quan hệ đó được gọi là quan hệ hợp đồng dân sự

Như vậy cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thoả thuậnbằng ý chí tự nguyện của các bên Tuy nhiên hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật( tức là được pháp luật bảo vệ ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhànước Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng, nhưng sự tự do đó đượcđặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và lợi íchcông cộng

Khái niệm hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều khía cạnh khácnhau.Theo phương diện khách quan, thì hợp đồng dân sự là do các quy định củaNhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trìnhdịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau

Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự màtrong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhaulàm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định

Như vậy hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giaotài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thayđổi chấm dứt các nghĩ vụ đó Hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng dân sự làhai khái niệm không đồng nhất với nhau Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan làmột quan hệ được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để thoả mãn nhu cầu traođổi trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêucầu của Nhà nước đối với giao lưu dân sự đó

a) Đặc điểm của hợp đồng dân sự.

Trang 10

- Chủ thể của hợp đồng dân sự: Chủ thể tham gia vào hợp đồng dân sự là

những người tham gia vào quan hệ đó Vì hợp đồng dân sự chính là sự cụ thể hóacủa các quan hệ pháp luật dân sự Nên chủ thể của hợp đồng dân sự là chủ thể của

quan hệ pháp luật dân sự Như vậy chủ thể của hợp đồng dân sự gồm cá nhân, pháp

nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cũng là một chủ thể của quan hệ hợp đồng dân sự Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự các chủ thể này

độc lập với nhau về tổ chức và tài sản Để tham gia vào quan hệ dân sự cụ thể thìcác chủ thể phải có tư cách chủ thể theo quy định của pháp luật

Vì vậy chủ thể của hợp đồng dân sự là rất rộng nó bao gồm đại bộ phận dân

cư trong xã hội

- Mục đích của hợp đồng dân sự: Là cái mà các bên khi tham gia quan hệ

hợp đồng nhằm hướng tới Trong hợp đồng dân sự thì mục đích của các chủ thể khigiao kết hợp đồng là phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày

- Hình thức của hợp đồng dân sự: Theo điều 401 Bô luật dân sự 2005 đã nêu

rõ: Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi

cụ thể Trong trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được giao kết dưới hình

thức cụ thể thì các bên phải tuân theo hình thức đó Tại Điều 401 Bộ luật dân sự quy

định:

1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bảnhoặc hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phảiđược giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiệnbằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phảituân theo các quy định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác

Như vậy, hình thức của hợp đồng dân sự khá đa dạng tạo điều kiện cho cácchủ thể ký kết thuận lợi Đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật đã quy địnhbuộc phải giao kết theo hình thức nhất định, thì các bên phải tuân theo hình thức đó.Ngoài ra đối với những hợp đồng khác các bên có thể chọn một trong các hình thứcsau đây để giao kết:

+ Hình thức miệng ( bằng lời nói).

Trang 11

Thông qua hình thức này, các bên giao kết hợp đồng chỉ cần thoả thuậnmiệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng hoặc mặc nhiên thực hiện nhữnghành vi nhất định đối với nhau Hình thức này thường áp dụng trong những trườnghợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những trường hợp mà ngaysau khi giao kết sẽ được thực hiện và chấm dứt.

+ Hình thức viết ( bằng văn bản).

Nhằm nâng cao độ xác thực về những nội dung đã cam kết, các bên có thểghi nhận nội dung giao kết hợp đồng bằng một văn bản Trong văn bản đó, các bênphải ghi đầy đủ những nội dung cơ bản của hợp đồng và cùng ký tên xác nhận vàovăn bản Khi có tranh chấp xảy ra hợp đồng được giao kết bằng hình thức văn bảntạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn hơn so với hình thức miệng Nên đối với nhữnghợp đồng mà việc thực hiện không cùng lúc với việc giao kết thì các bên thường sửdụng hình thức này.Thông thường hợp đồng được thành lập thành nhiều bản vàmỗi bên giữ một bản coi như đã có trong tay một bằng chứng chứng minh quyềndân sự của mình

+ Hình thức có chứng nhận chứng thực.

Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đốitượng của nó là những loại tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát khichúng cần được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên phải lậpvăn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước, chứng thực của Uỷ ban nhân dân

có thẩm quyền Hợp đồng được lập ra dưới hình thức này có giá trị chứng thực caonhất Nên những hợp đồng mà Nhà nước không yêu cầu phải lập theo hình thức nàynhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm, các bên vẫn có thể chọn hình thức này

để giao kết hợp đồng

1.2.1.1.2 Phân loại hợp đồng dân sự

Hợp đồng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau Vì vậy, để phân loạihợp đồng thì ta cần phải căn cứ theo các tiêu chí đó để đảm bảo tính khách quan vàphù hợp với điều kiện thực tế đối với mỗi quốc gia Ở nước ta thì quan niệm về hợpđồng được thể hiện trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại có sự khác biệt do tínhchất của

quan hệ dân sự và quan hệ thương mại là khác nhau

Trang 12

Hợp đồng dân sự là bản giao kèo để ghi nhận những quyền và nghĩa vụ dân

sự giữa các bên Trong sự đa dạng của các hợp đồng dân sự, có thể dựa vào các dấuhiệu đặc trưng để phân chúng thành từng nhóm khác nhau

* Nếu dựa vào hình thức của hợp đồng, thì hợp đồng dân sự được phân thànhhợp đồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng chứng nhận, hợpđồng mẫu…

* Nếu dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên, thì hợpđồng được phân làm hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ:

- Hợp đồng song vụ: Là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ Hay

nói cách khác, mỗi một bên chủ thể của hợp đống song vụ là người vừa có quyền lạivừa có nghĩa vụ dân sự Trong loại hợp đồng này thì quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng là đối lập nhau

- Hợp đồng đơn vụ: là hợp đồng mà trong đó một bên chỉ có nghĩa vụ mà

không có quyền gì đối với bên kia và bên kia là người có quyền và không phải thựchiện một nghĩa vụ nào

* Nếu dựa vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các hợp đồng thì hợpđồng được phân làm hai loại theo khoản 3 Điều 406 BLDS 2005 thì hợp đồng gồm :

- Hợp đồng chính: là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng

khác Vì vậy các hợp đồng chính khi đã tuân thủ đầy đủ các điều kiện mà pháp luậtquy định thì đương nhiên phát sinh hiệu lực và có hiệu lực bắt buộc đối với các bên

từ thời điểm giao kết

- Hợp đồng phụ: là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính

( khoản 4 Điều 406 BLDS)

* Nếu dựa vào tính chất có đi có lại về các lơị ích của các chủ thể , hợp đồngdân sự được phân thành:

- Hợp đồng có đền bù: là loại hợp đồng mà trong đó mỗi chủ thể sau khi đã

thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận được từ bên kia một lợi ích tương ứng

- Hợp đồng không có đền bù: là hợp đồng mà trong đó một bên nhận được từ

bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một lợi ích nào

* Nếu dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực thì hợp đồng dân sự được phânthành:

Trang 13

- Hợp đồng ưng thuận: là hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, quyền

và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên thoả thuận với nhau xong vềnội dung chủ yếu của hợp đồng

- Hợp đồng thực tế: là những hợp đồng mà sau khi thoả thuận, hiệu lực của

nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng củahợp đồng

Tóm lại Việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa dựa vào sự quy

định của BLDS, vừa dựa trên phương diện lý luận Qua đó, nhằm xác định đượcnhững đặc điểm chung và riêng của từng nhóm hợp đồng, góp phần nâng cao hiệuquả trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự

1.2.1.2 Nội dung hợp đồng dân sự.

Nội dung của hợp đồng là các điều khoản do các bên thoả thuận, thể hiệnquyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Nội dung của hợp đồngcàng chi tiết cụ thể bao nhiêu thì càng có lợi cho việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu.Như vậy, nội dung của hợp đồng nó thể hiện ý chí của các bên trong quá trìnhthương lượng Yêu cầu đặt ra là nội dung của hợp đồng phải hợp pháp, có khả năngthực hiện, các điều khoản phải rõ ràng cụ thể, ý chí của các bên không được mập

mờ và mâu thuẫn

Bộ luật dân sự 2005 là luật chung, nên các quy định của nó về nội dung củahợp đồng là những quy định mang tính chất mở, và dùng làm định hướng cho cáclĩnh vực luật chuyên ngành

Tại Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng như sau (1)

“ Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dungsau:

- Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặckhông được làm

- Số lượng, chất lượng

- Giá phương thức thanh toán

- Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng

- Quyền, nghĩa vụ của các bên

- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

- Phạt vi phạm hợp đồng

Trang 14

- Các nội dung khác.

1.2.2.Dịch vụ và hợp đồng dịch vụ.

1.2.2.1 Vai trò của ngành dịch vụ trong xã hội.

Ngày nay, dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế có vai trò quan trọng trongnền kinh tế quốc dân, ở nước tiên tiến tỷ trọng của dịch vụ chiếm trong GDP là 70%

- 75%, ở Việt Nam tỷ lệ này là 40% Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam

lần thứ 9 đã chỉ rõ: “Toàn bộ các giá trị dịch vụ tính theo giá trị gia tăng đạt nhịp

độ tăng trưởng bình quân 7 -8% / năm và đến năm 2010 chiếm 42 – 43% GDP,

26 – 27% số lao động”(1) Mạng lưới dịch vụ hình thành từ nông thôn đến thành thị

và ngày càng phát triển mạnh mẽ để phục vụ nhu cầu của nhân dân Điều đó chứng

tỏ nền kinh tế đang trên đà phát triển và nhu cầu khách quan hình thành các loạihình dịch vụ Chính vì dịch vụ có vai trò quan trọng như vậy cho nên việc nghiêncứu các khái niệm về dịch vụ có ý nghĩa đặc biệt đối với việc nghiên cứu các cáchoạt động về dịch vụ du lịch và hợp đồng dịch vụ du lịch

1.2.2.2 Khái niệm dịch vụ và hợp đồng dịch vụ.

a) Dịch vụ.

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ Trong nền kinh tế thị trường

dịch vụ được coi là mọi thứ có giá trị, khác với hàng hoá vật chất, mà một người hoặc một tổ chức cung cấp cho một người hoặc một tổ chức khác để đổi lấy một cái gì đó (2) Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người hoặc một tổ chức

khác trong quá trình hình thành dịch vụ Khái niệm này cũng thể hiện quan điểmhướng tới khách hàng vì giá trị của dịch vụ do khách hàng quyết định

Trong lý luận Marketing, Dịch vụ được coi như là một hoạt động của chủ

thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tính vô hình và không làm thay đổi quyền sở hữu Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không nhất thiết phải gắn liền với quan hệ vật chất.( Nguồn Giáo trình kinh tế du lịch của Trường ĐHKTQD

trang 217)

Một khái niệm dịch vụ hiện được sử dụng rộng rãi là khái niệm dịch vụ theo

định nghĩa của ISO 9004: 1991 “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động

tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”

( Nguồn Giáo trình Kinh tế du lịch của trường ĐHKTQD trang 278).

(2)(2)Giáo trình Kinh tế Du lịch Tr 216, Tr 217 Nxb Thống kê

Trang 15

►Như vậy, Dịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng

sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế

b) Hợp đồng dịch vụ.

● Khái niệm hợp đồng dịch vụ

Trong BLDS 2005, hợp đồng dịch vụ là một hợp đồng có những đặc điểmriêng Các quy phạm của hợp đồng dịch vụ điều chỉnh các loại dịch vụ cụ thể như:Dịch vụ sửa chữa tài sản,dịch vụ pháp lý, dịch vụ cung cấp thông tin thương mại,dịch vụ quảng cáo…

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc cụ thể Người cung ứng dịch vụbằng công sức, trí tuệ của mình để hoàn thành công việc đã nhận Tuy nhiên, ngườicung ứng dịch vụ có thể sử dụng người cộng sự giúp việc cho mình và phải chịutrách nhiệm về những việc xảy ra do lỗi của người cộng sự Tuy vậy, bên cung ứngdịch vụ không được giao cho người khác làm thay công việc nếu không có sự đồng

ý của bên thuê dịch vụ Khi thoả thuận về việc thực hiện công việc dịch vụ phải đưa

ra các yêu cầu của mình về chất lượng kỹ thuật các thông số khác… Từ đó các bên

có cơ sở thoả thuận các điều kiện cung ứng dịch vụ

Theo Điều 518 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận

giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch

vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ”

● Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ

Từ định nghĩa trên ta có thể thấy hợp đồng dịch vụ có những đặc điểm sauđây:

- Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lý nhất định và

giao kết quả cho bên thuê dịch vụ Tức là bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện cácnghĩa vụ mà được bên thuê dịch vụ yêu cầu nhưng phải đảm bảo đúng quy định củapháp luật, và khi thực hiện xong thì phải thông báo cho bên thuê dịch vụ đến nhậnhoặc giao trực tiếp cho bên thuê dịch vụ

- Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng có đền bù Bên thuê dịch vụ phải trả

tiền công cho bên cung ứng dịch vụ, khi bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện côngviệc và mang lại kết quả như đã thoả thuận

- Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Cả bên cung ứng dịch vụ và

Trang 16

bên thuê dịch vụ đều có nghĩa vụ đối với nhau Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiệnhành vi pháp lý theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ có nghĩa vụtiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ.

● Đối tượng của hợp đồng dịch vụ

Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được Tức làcông việc ấy phải có thực, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội (Điều

Trong quá trình thực hiện dịch vụ nếu có những sai sót từ bên cung ứng dịch

vụ, bên thuê dịch vụ có quyền sửa chữa những sai sót đó Nếu sai sót nghiêm trọngđòi hỏi phải chi phí thêm, bên thuê dịch vụ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Bên thuê dịch vụ có quyền hủy hợp đồng nếu bên cung ứng dịch vụ hoànthành kết quả không như thỏa thuận Hoặc hoàn thành công việc không đúng thờigian mà công việc không còn ý nghĩa đối với bên thuê dịch vụ và yêu cầu bên cung

ứng dịch vụ bồi thường thiệt hại nếu có (Điều 521 BLDS 2005).

Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, sốlượng, địa điểm và các thỏa thuận khác Nếu bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêmtrọng nghĩa vụ thì bên thuê dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợpđồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại Bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền côngcho bên cung ứng dịch vụ như đã thỏa thuận

* Bên cung ứng dịch vụ.

Bên cung ứng dịch vụ có thể là cá nhân tổ chức dùng công sức của mình đểhoàn thành, thực hiện công việc do bên thuê dịch vụ chỉ định Trong thời gian thựchiện hợp đồng phải tự mình tổ chức thực hiện công việc Khi hết hạn của hợp đồng

Trang 17

phải giao lại kết quả của công việc mà mình đã thực hiện cho bên thuê dịch vụ.

Bên cung ứng dịch vụ có quyền bên thuê dịch vụ phải cung cấp thông tin, tàiliệu và phương tiện Được thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ,

mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ, nhưng phải báo cáo ngaycho bên thuê dịch vụ Yêu cầu bên thuê dịch vụ trả tiền công Sau khi hoàn thànhcông việc đúng kỳ hạn mà bên thuê dịch vụ không nhận kết quả của công việc, nếuxảy ra rủi ro, bên cung ứng dịch vụ không chịu trách nhiệm về những thiệt hại chobên thuê dịch vụ (Điều 523 BLDS)

Trong thời gian thực hiện dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có thể thay đổinhững điều kiện dịch vụ, nếu việc thay đổi đó không làm phương hại đến lợi ích củabên thuê dịch vụ Trong quy trình thực hiện nghĩa vụ, bên cung ứng dịch vụ phải tựmình chuẩn bị phương tiện kỹ thuật và tổ chức thực hiện công việc mà mình đãnhận Do vậy, điều kiện của dịch vụ có thể thay đổi cho phù hợp với khả năng của

bên cung ứng dịch vụ.Khoản 2 Điều 523 BLDS 2005 “Được thay đổi điều kiện

dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ, mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nhưng phải thông báo ngay cho bên thuê dịch vụ” (1)

Trong tình trạng bình thường, bên cung ứng dịch vụ không có quyền thay đổiđiều kiện của dịch vụ, nếu việc thay đổi đó không mang lại lợi ích cho bên thuê dịch

vụ Trường hợp này cần phải thỏa thuận với bên thuê dịch vụ Nhưng khi cung ứngdịch vụ nếu không thay đổi điều kiện của dịch vụ sẽ gây thiệt hại cho bên thuê dịch

vụ, việc thay đổi này phải hoàn toàn xuất phát từ lợi ích của bên thuê dịch vụ Trongtrường hợp này bên cung ứng dịch vụ được phép thay đổi điều kiện dịch vụ và phảithông báo cho bên thuê dịch vụ Khi thực hiện dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụbiết được việc tiếp tục làm dịch vụ sẽ có hại cho bên thuê dịch vụ thì bên cung ứngdịch vụ có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mặc dù bên thuê dịch vụkhông đồng ý Bên thuê dịch vụ có thể không thấy hoặc không lường trước hết đượchậu quả xảy ra nếu tiếp tục thực hiện công việc Bên cung ứng dịch vụ cần phải giảithích cho bên thuê dịch vụ sự cần thiết phải chấm dứt hợp đồng nếu không sẽ gâythiệt hại cho bên thuê dịch vụ Trong trường hợp này bên thuê dịch vụ phải thanh

Trang 18

toán chi phí cho bên cung ứng dịch vụ theo số lượng và chất lượng công việc mà họ

đã làm

Khi hợp đồng thực hiện một công việc mà các bên không thỏa thuận về kếtquả công việc đó và nếu hết hạn của hợp đồng mà công việc chưa hoàn thành thì vềnguyên tắc hợp đồng chấm dứt và cần thanh lý hợp đồng Nếu bên cung ứng dịch

vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến khi hoàn thành mà bên thuê dịch vụ không

có ý kiến gì về việc kéo dài thời gian đó thì hợp đồng khi đó được coi là kéo dàithời hạn Trong trường hợp này bên thuê dịch vụ phải thanh toán tiền công của thờigian đã kéo dài sau khi hết hạn hợp đồng (Điều 526 BLDS 2005)

Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà ở hợp đồngnày không cần thoả thuận nhưng ở một hợp đồng khác các bên lại buộc phải thoảthuận thì hợp đồng mới được coi là đã giao kết Mặt khác ngoài nội dung cụ thể cácbên còn phải thoả thuận để xác định với nhau thêm một số nội dung khác

Vì vậy, có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành 3loại như sau:

* Điều khoản cơ bản:

Các điều khoản cơ bản xác định nội dung cơ bản của hợp đồng Đó là nhữngđiều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng Nếu không thể thoảthuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được Điều khoản

cơ bản có thể do tính chất của hợp đồng quyết định hoặc do pháp luật quyết định

Có những điều khoản đương nhiên là điều khoản cơ bản vì nếu không thoả thuận tới

nó sẽ không hình thành hợp đồng Chẳng hạn, điều khoản về đối tượng luôn là điềukhoản cơ bản trong hợp đồng mua bán tài sản Nhưng có những điều khoản mà vốn

dĩ không phải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần thiết phải thoả thuậnđược điều khoản đó mới giao kết hợp đồng, thì những điều khoản đó cũng là nhữngđiều khoản cơ bản của hợp đồng

* Điều khoản thông thường:

Là những điều khoản được pháp luật quy định trước Nếu khi giao kết hợpđồng các bên không thoả thuận những điều khoản này, thì vẫn coi như hai bên đãmặc nhiên thoả thuận và được thực hiện như pháp luật đã quy định Khác với điềukhoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng đến quá trình

Trang 19

giao kết hợp đồng Để giảm bớt sự phức tạp trong giao kết hợp đồng thì các bên cóthể không đưa các nội dung đó vào hợp đồng nhưng vẫn thực hiện các nội dung đótrên thực tế.

* Điều khoản tuỳ nghi:

Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và nhữngđiều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các bên có thểthoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho nội dung củahợp đồng được cụ thể thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện Điều khoảntuỳ nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp đồng tự ý lựa chọn

và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên Thôngqua điều khoản tuỳ nghi bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong các cáchthức nhất định để thực hiện hợp đồng sao cho thuận lợi mà vẫn đảm bảo được yêucầu của bên kia

►Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều

khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường hoặc điều khoản tuỳ nghi

1.2.3 DU LỊCH VÀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ DU LỊCH.

1.2.3.1 Khái niệm, đặc điểm về du lịch.

a) Khái niệm du lịch.

Theo khoản 1 Điều 4 Luật du lịch 2005: “ Du lịch là hoạt động có liên quan

đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng, trong một khoảng thời gian nhất định” (1)

Theo định nghĩa đó thì hợp đồng du lịch là một loại hợp đồng được giao kếtnhằm đáp ứng các nhu cầu đó của khách du lịch ( là người đi du lịch hoặc kết hợp đi

du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến)

Du lịch là ngành kinh tế dịch vụ Sản phẩm của ngành du lịch chủ yếu là dịch

vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưu bãi, không chuyển quyền sởhữu khi sử dụng Do vậy nó cũng mang đặc trưng chung của dịch vụ Chính vì thế,trên cơ sở những khái niệm chung về dịch vụ, chúng ta có thể đưa ra khái niệm dịch

vụ du lịch như sau: Dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương

Trang 20

tác giữa những tổ chức cung ứng dịch vụ và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ du lịch.

Theo khoa học pháp lý, Tại khoản 11 Điều 4 Luật du lịch 2005: “ Dịch vụ

du lịch được hiểu là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú,

ăn uống, vui chơi, giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” (2)

Như vậy, hợp đồng du lịch chủ yếu đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng củakhách du lịch, người tiêu dùng dịch vụ cá nhân khi sử dụng dịch vụ du lịch do cáchãng lữ hành cung cấp không nhằm mục đích lợi nhuận mà chủ yếu để thoả mãnnhu cầu sinh hoạt của bản thân, nên thực chất hợp đồng du lịch mang yếu tố dân sựnhiều hơn đối với khách du lịch, còn đối với nhà cung cấp dịch vụ thì thông quaviệc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch để thu được lợi nhuận, nên mục đíchthương mại là rất rõ ràng Do có sự xung đột về mục đích giữa người tiêu dùng dịch

vụ và nhà cung cấp dịch vụ như vậy nên việc áp dụng pháp luật đôi khi cũng gặpnhững vấn đề khó khăn

Còn đối với người sử dụng dịch vụ du lịch là một pháp nhân, mua chươngtrình lữ hành cho cán bộ nhân viên Công ty mình thì đó lại là nhằm mục đíchthương mại, vì đó là chính sách hoạt động của Công ty, và cũng là chiến lược nhằmnâng cao năng suất lao động cho cán bộ nhân viên Công ty mình

Nếu khách du lịch sử dụng dịch vụ du lịch nhằm mục đích tiêu dùng thì khigiao kết hợp đồng luật áp dụng sẽ là Luật dân sự hiện hành, nhưng nếu bên cungứng dịch vụ và bên tiêu dùng dịch vụ thống nhất là áp dụng luật thương mại thìtrong trường hợp đó Luật thương mại sẽ được dung làm căn cứ pháp lý khi giao kếthợp đồng ( theo Điều 1 Luật thương mại 2005)

Trang 21

Cho nên đối với du khách thì dịch vụ du lịch là trừu tượng khi mà họ chưa một lầntiêu thụ nó Dịch vụ luôn đồng hành với những sản phẩm vật chất nhưng dịch vụmãi mãi tồn tại tính phi vật chất của mình Du khách rất khó đánh giá dịch vụ Từnhững nguyên nhân nêu trên, nhà cung ứng dịch vụ du lịch cần phải cung cấp đủthông tin và thông tin cần phải được nhấn mạnh tính lợi ích của dịch vụ chứ khôngchỉ đơn thuần mô tả quá trình dịch vụ, qua đó làm cho du khách phải quyết địnhmua dịch vụ của mình.

* Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ.

Khi mua hàng hoá, người mua có quyền được sở hữu đối với hàng hoá vàsau đó có thể sử dụng như thế nào, nhưng đối với dịch vụ khi được thực hiện thìkhông có quyền sở hữu nào được chuyển từ người bán sang người mua Người muachỉ là đang mua quyền đối với tiến trình dịch vụ

Chẳng hạn, khi đi du lịch, khách du lịch được chuyên chở, được ở khách sạn,được sử dụng bãi biển nhưng trên thực tế họ không có quyền sở hữu đối với chúng

* Tính không thể di chuyển của dịch vụ du lịch.

Vì các cơ sở du lịch vừa là nơi sản xuất, vừa là nơi cung ứng dịch vụ du lịchthuộc loại không thể di chuyển được, khách muốn tiêu dùng dịch vụ thì phải đến cơ

sở du lịch Do đó, để nâng cao chất lượng dịch vụ và đem lại hiệu quả kinh doanhkhi xây dựng các điểm du lịch cần chọn địa điểm thoả mãn các điều kiện tự nhiên:Địa hình, địa chất, thuỷ văn, khí tượng, tài nguyên, môi trường sinh thái và điềukiện xã hội, dân số dân sinh, phong tục tập quán, chính sách kinh tế, khả năng cungcấp lao động, cơ sở hạ tầng Đặc điểm này của họat động du lịch đòi hỏi các cơ sở

du lịch tiến hành các hoạt động xúc tiến, quảng bá mạnh mẽ để kéo được du kháchđến các địa điểm du lịch

* Tính thời vụ của dịch vụ du lịch

Dịch vụ có tính đặc trưng là tính thời vụ, có những mùa mà du khách rấtđông nhưng cũng có những thời điểm do yếu tố thời tiết mà hoạt động này kém sôiđộng hơn

* Tính chọn gói của dịch vụ du lịch.

Dịch vụ du lịch thường là dịch vụ chọn gói bao gồm dịch vụ cơ bản, dịch vụ

Trang 22

bổ sung, dịch vụ đặc trưng.

Dịch vụ cơ bản là dịch vụ chính mà nhà cung cấp du lịch cung cấp cho khách

hàng nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản không thể thiếu được đối với du khách nhưvận chuyển, nhà hàng…

Dịch vụ bổ sung: là những dịch vụ phụ cung cấp cho khách hàng nhằm thoả

mãn những nhu cầu không bắt buộc dịch vụ cơ bản nhưng phải có trong hành trìnhcủa du khách

* Dịch vụ đặc trưng: là những dịch vụ thoả mãn nhu cầu đặc trưng của du

khách như tham quan, tìm hiểu vui chơi giả trí Việc thoả mãn nhu cầu này cũngchính là nguyên nhân cũng chính là mục đích của chuyến du lịch

* Tính không đồng nhất dịch vụ du lịch.

Do khách hàng muốn được chăm sóc như những người riêng biệt nên dịch vụ

du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất

* Sự khác nhau giữa thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ:

Thương mại hàng hoá có thể gọi là thương mại liên quan đến sản phẩm vậtchất, còn thương mại dịch vụ là một sản phẩm phi vật chất Sự khác nhau giữa hailoại hình này được thể hiện như sau

Bảng 1 So sánh hoạt động dịch vụ và hoạt động kinh doanh vật chất

Sản phẩm vật chất Dịch vụ

Quyền sở hữu được chuyển giao khi mua bán Không có sự thay đổi về sở hữu

Được trưng bày trước khi mua bán Thông thường không được trưng bày hoặc

trưng bán nhưng không có hiệu quả trước khi mua bán

Có thể được cất giữ lưu kho Không cất giữ hay lưu kho được

Sản xuất được tạo ra trước khi tiêu dùng Sản xuất và tiêu dung được tiến hành đồng

thời cùng một thời gian

Có thể được bán tiếp theo Không bán được tiếp theo

Sản xuất tiêu dùng sẽ được tiến hành ở những

địa điểm khác nhau

Sản xuất và tiêu dùng thường xuyên gắn liền

về mặt không gian

Có thể vận chuyển được Không thể vận chuyển được ngay cả khi

người sản xuất mong muốn

Có thể quan hệ gián tiếp với khách hàng Trong đại đa số các trường hợp phải quan hệ

trực tiếp với khách hàng

Có thể xuất khẩu được Thông thường dịch vụ khó xuất khẩu được

Trang 23

nếu không có sự trợ giúp của sản phẩm vật chất

Khách hàng là một thành viên chỉ trong quá

Vì vậy việc phân biệt hợp đồng du lịch là hợp đồng dân sự hay hợp đồngthương mại còn phụ thuộc vào mục đích của các chủ thể khi giao kết hợp đồng

Đối với hợp đồng du lịch được giao kết giữa một cá nhân với bên cung cấpdịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của cá nhân thì đó là hợp đồng dânsự

Đối với hợp đồng du lịch được giao kết giữa một tập thể người sử dụng dịch

vụ du lịch với một bên là người cung ứng dịch vụ mà cả hai bên đều nhằm mục đíchthương mại thì đó được coi là hợp đồng thương mại

1.2.3.2 Hợp đồng dịch vụ du lịch

1.23.2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng du lịch.

a) Khái niệm hợp đồng du lịch

Theo điều 38 Luật du lịch 2005: Ngành nghề kinh doanh du lịch là ngành kinh

doanh dịch vụ bao gồm các ngành nghề sau đây:

- Kinh doanh lữ hành.

- Kinh doanh lưu trú du lịch.

- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.

- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch.

- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác.

Như vậy, dịch vụ du lịch bao gồm các nghiệp vụ nói trên nên khi giao kết hợp

Trang 24

đồng du lịch thì đó có thể là hợp đồng về một trong các nghiệp vụ đó Trong đó hợpđồng du lịch chủ yếu và mang lại doanh thu lớn cho các Công ty du lịch là hợp đồngkinh doanh lữ hành Hoạt động du lịch là hợp đồng được giao kết giữa Công ty dulịch với người sử dụng dịch vụ du lịch

Còn các hợp đồng liên quan đến hoạt động kinh doanh lưu trú, kinh doanh vậnchuyển, kinh doanh dịch vụ khác là những hợp đồng phụ của hợp đồng lữ hành, sự

vô hiệu của các hợp đồng phụ này không làm chấm dứt hiệu lực thi hành của hợpđồng chính là hợp đồng lữ hành Như vậy, nói đến hợp đồng du lịch thì tức là ta nóiđến hợp đồng lữ hành Trong các hợp đồng du lịch thì các bên phải có điều khoảnthoả thuận về các nội dung như: vận chuyển, lưu trú dịch vụ khác có liên quan Cácnội dung đó được thỏa thuận trong hợp đồng với khách du lịch, còn cụ thể cung cấpnhư thế nào thì Công ty du lịch lại ký hợp đồng với các hãng vận tải hành khách,đơn vị kinh doanh lưu trú, hoặc cơ quan quản lý về du lịch tại các địa điểm du lịch

sẽ đưa khách đến

Theo khoản 1 Điều 52 Luật du lịch 2005: “ Hợp đồng lữ hành là sự thỏa

thuận giữa doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và khách du lịch hoặc đại diện của khách du lịch về việc thực hiện chương trình du lịch” (1)

Như vậy, hợp đồng du lịch cũng mang bản chất của hợp đồng dân sự, khigiao kết hợp đồng các bên cũng thể hiện ý chí của mình thông qua các điều khoản

và được cụ thể hóa thành các quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể tự nguyện cam kếtthực hiện hoặc là những điều khoản mà pháp luật bắt buộc các chủ thể phải thựchiện khi giao kết hợp đồng Tự do hợp đồng nhưng không nằm ngoài khuôn khổpháp luật

Khách du lịch có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện để giao kết hợpđồng, người đại diện chỉ được phép giao kết hợp đồng trong phạm vi được ủyquyền

b) Phân loại hợp đồng du lịch

Trong hoạt động du lịch, Công ty du lịch không chỉ giao kết hợp đồng vớikhách du lịch mà còn giao kết hợp đồng với các đơn vị kinh doanh hoạt động du(1)(1)Khoản 1 Điều 52 Luật du lịch 2005

Trang 25

lịch khác Vì vậy ngoài hợp đồng du lịch mà Công ty ký với khách hàng, Công tycòn ký các hợp đồng khác nhằm mục đích thực hiện được hợp đồng ký với khách

du lịch Các hợp đồng bổ sung cho hợp đồng du lịch bao gồm:

Căn cứ vào ngành nghề kinh doanh du lịch quy định tại Điều 38 Luật du lịch

2005, hợp đồng du lịch bao gồm các loại hợp đồng sau:

- Hợp đồng kinh doanh lữ hành.

- Hợp đồng kinh doanh lưu trú du lịch Hợp đồng này được giao kết nhằm

đáp ứng nhu cầu ăn ở của du khách tại các địa điểm du lịch Hợp đồng này được kýkết giữa Công ty du lịch với đơn vị kinh doanh hoạt động lưu trú như khách sạn,nhà hàng, khu du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi vui chơi cho khách du lịch

- Hợp đồng kinh doanh vận chuyển khách du lịch Đây là loại hợp đồng mà

nội dung chủ yếu là các bên thỏa thuận về việc cung cấp dịch vụ vận chuyển chokhách du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch,

điểm du lịch, đô thị du lịch ( khoản 1 Điều 57 Luật du lịch).

- Hợp đồng kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch.

- Hợp đồng kinh doanh dịch vụ du lịch khác.

Hoạt động kinh doanh lữ hành gồm có hai hình thức cung cấp dịch vụ là:

dịch vụ lữ hành nội địa và lữ hành quốc tế Hai loại dịch vụ lữ hành này có những

đặc trưng riêng về phương thức cung cấp các dịch vụ Căn cứ vào hai hình thứccung cấp dịch vụ lữ hành nói trên ta có thể phân chia hợp đồng kinh doanh lữ hànhthành hai loại như sau: Hợp đồng kinh doanh lữ hành nội đia và hợp đồng kinhdoanh lữ hành quốc tế Hiện nay hầu hết các Công ty du lịch chủ yếu hoạt động về

mảng kinh doanh dịch vụ lữ hành nên trong chuyên đề thực tập này chỉ đề cập đến

mảng hợp đồng dịch vụ lữ hành với tư cách là hợp đồng dân sự.

1.2.3.2.2 Nội dung hợp đồng du lịch.

Nội dung của hợp đồng du lịch là những quyền và nghĩa vụ mà các bên camkết thực hiện sau khi giao kết hợp đồng cùng với những quy định mang tính bắt

buộc mà pháp luật có quy định Kinh doanh lữ hành gồm hai loại chủ yếu là: Kinh

doanh lữ hành nội đia và kinh doanh lữ hành quốc tế.

a) Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành.

a 1) Đối với hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa.

Trang 26

*) Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa.

Theo điều 44 Luật du lịch 2005: Điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa:

- Có đăng ký kinh doanh lữ hành nội địa tại cơ quan đăng ký kinh doanh cóthẩm quyền

- Có phương án kinh doanh lữ hành nội địa, có chương trình du lịch cho khách

du lịch nội địa

- Người điều hành hoạt đông kinh doanh lữ hành nội địa phải có thời gian ítnhất 3 năm hoạt động trong lĩnh vực lữ hành

*) Quyền và nghĩa vụ chung của doanh nghiệp kinh doanh du lịch.

Điều 40 Luật du lịch quy định về các nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh

du lịch như sau:

- Thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

- Kinh doanh du lịch theo đúng nội dung trong giấy đăng ký kinh doanh dulịch đối với ngành nghề cần có giấy phép

- Thông báo bằng văn bản với cơ quan Nhà nước về du lịch có thẩm quyền vềthời điểm bắt đầu kinh doanh hoặc khi có thay đổi nội dung trong giấy đăng ký kinhdoanh du lịch

- Thông tin rõ ràng, công khai, trung thực số lượng, chất lượng, giá cả các dịch

vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó cam kết vớikhách du lịch, bồi thường thiệt hại cho khách du lịch do lỗi cuả mình gây ra

- Áp dụng biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng sức khỏe, tài sản của khách

du lịch; thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về tai nạn hoặc nguy hiểm,rủi ro có thể xảy ra với khách du lịch

- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán lưu trữ hồ sơ, tài liệu theo quyđịnh của pháp luật

*).Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa.

Căn cứ vào Điều 45 Luật du lịch 2005, ngoài các quyền và nghĩa vụ của tổchức kinh doanh du lịch quy định tại Điều 39, 40 của Luật du lịch, doanh nghiệpkinh doanh lữ hành nội địa còn có các quyền và nghĩa vụ sau (1)

(1)(1)Điều 45 Luật du lịch 2005

Trang 27

- Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch chokhách du lịch nội địa.

- Mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch nội địa trong thời gian thực hiệnchương trình du lịch khi khách du lịch có yêu cầu

- Chấp hành phổ biến và hướng dẫn khách du lịch tuân tủ pháp luật các quyđịnh của nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn bảnsắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, quy chế nơi đến du lịch

- Sử dụng hướng dẫn viên để hướng dẫn cho khách du lịch khi khách có yêucầu hướng dẫn viên trong thời gian hướng dẫn khách du lịch theo hợp đồng vớidoanh nghiệp

- Thông tin rõ ràng, công khai, trung thực số lượng, chất lượng, giá cả các dịch

vụ, hàng hóa cung cấp cho khách du lịch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó cam kết vớikhách du lịch, bồi thường thiệt hại cho khách du lịch do lỗi cuả mình gây ra

- Áp dụng biện pháp bảo đảm an toàn tính mạng sức khỏe, tài sản của khách

du lịch; thông báo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền về tai nạn hoặc nguy hiểm,rủi ro có thể xảy ra với khách du lịch

- Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, kế toán lưu trữ hồ sơ, tài liệu theo quyđịnh của pháp luật

a 2) Kinh doanh lữ hành quốc tế

Ngoài các quyền và nghiã vụ mà doanh nghiệp kinh doanh du lịch phải tuântheo tại Điều 39, 40 Luật du lịch thì doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế cònphải tuân thủ các nghĩa vụ sau:

*) Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam.

- Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức các chương trình du lịch cho khách dulịch vào Việt Nam và khách du lịch nội địa

- Hỗ trợ khách du lịch làm thủ tục xuất nhập cảnh, quá cảnh, hải quan Đối vớihình thức du lịch chọn gói thì thủ tục hải quan là do Công ty du lịch làm hết, cácvấn đề phát sinh khi xuất - nhập cảnh của khách du lịch sẽ được Công ty du lịchtrực tiếp giải quyết Còn đối với hình thức du lịch lẻ thì du khách phải làm các thủtục hải quan, khi gặp trục trặc thì Công ty du lịch không chịu trách nhiệm giải quyết

Trang 28

mà chỉ có những can thiệp trong phạm vi trách nhiệm đã cam kết.

- Chấp hành, phổ biến khách du lịch tuân thủ pháp luật và quy định của Nhànước Việt Nam về an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn bảnsắc văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc, quy chế nơi đến du lịch

-Sử dụng hướng dẫn viên cho khách du lịch là người nước ngoài, chịu tráchnjiệm về hoạt động của hướng dẫn viên trong thời gian hướng dẫn khách du lịchtheo hợp đồng với doanh nghiệp

*) Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài.

- Xây dựng, quảng cáo, bán và tổ chức thực hiện chương trình du lịch chokhách du lịch ra nước ngoài và khách du lịch nội địa

- Phải mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài trongthời gian thực hiện chương trình du lịch

- Hỗ trợ khách du lịch làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hải quan

- Chấp hành và hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật và các quy địnhcủa nước đến du lịch

- Có trách nhiệm quản lý khách du lịch theo chương trình du lịch đã ký vớikhách du lịch

b) Quyền và nghiã vụ của khách du lịch.

Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đihọc, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến

Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế Trong

đó khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tạiViệt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Khách du lịch quốc tế làngười nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài cưtrú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

b 1) Quyền của khách du lịch

Theo Điều 35 Luật du lịch 2005 quyền của khách du lịch bao gồm:

- Lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc du lịch theo đoàn, lựa chọn một phầnhoặc toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịch của tổ chức cá nhân kinh doanh

du lịch

- Yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin cần thiết về chương trình du

Trang 29

lịch, dịch vụ du lịch.

- Được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hảiquan, lưu trú, được đi lại trên lãnh thổ Việt Nam để tham quan du lịch, trừ nhữngkhu vực cấm

- Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợp đồng giữa khách du lịch và tổchức kinh doanh, cá nhân kinh doanh du lịch, được hưởng bảo hiểm du lịch và bảohiểm khác theo quy định của pháp luật, được đối xử bình đẳng, được yêu cầu tổchức, cá nhân kinh doanh du lịch thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn về tínhmạng, sức khỏe ,tài sản khi sử dụng dịch vụ du lịch Được cứu trợ cứu nạn trongtrường hợp khẩn cấp khi du lịch trên lãnh thổ Việt Nam

- Được bồi thường thiệt hại do lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch gây

ra theo quy định của pháp luật

- Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành vi vi phạm pháp luật về du lịch

b 2) Nghĩa vụ của khách du lịch

Khi đi du lịch trên lãnh thổ Việt Nam hay nước ngoài khách du lịch phải tuânthủ các quy định của pháp luật quốc gia đó Tại Điều 36 Luật du lịch quy định rõkhách du lịch phải tuân thủ các nghĩa vụ sau:

- Tuân thủ quy định của pháp lụât Việt Nam về an ninh, trật tự, an toàn xã hội,tôn trọng và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên, danh lam, thắng cảnh, môi trường, tàinguyên du lịch, bản sắc văn hóa, thuần phong mỹ tục nơi đến du lịch

- Thực hiện nội quy , quy chế của khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch, cơ

sở lưu trú du lịch

- Thanh toán tiền dịch vụ theo hợp đồng và các khoản chi, lệ phí theo quy địnhcủa pháp luật

- Bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân kinh doanh

du lịch theo quy định của pháp luật

1.2.3.3 Đối tượng của hợp đồng dịch vụ du lịch.

Hợp đồng là sự thoả thuận của các bên, nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm

Trang 30

dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

Như vậy bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận, tức là sự thống nhất về mặt

ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng (đó là dựa trên sự tự do ý chí, nó dựa trênnền tảng của tự do cá nhân, lợi ích là cái thúc đẩy các bên trong quan hệ hợp đồng).Hợp đồng làm phát sinh hậu quả về mặt pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bêntrong quan hệ này được nhà nước bảo đảm thực hiện, tự do nhưng vẫn nằm trongkhuôn khổ của pháp luật nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội, đảm bảo lợi íchchung Các hợp đồng dịch vụ thường tạo ra những sản phẩm vô hình, nó không tạo

ra một sản phẩm vật chất mà đáp ứng những nhu cầu về tinh thần hoặc bổ trợ choquá trình tạo ra của cải vật chất, nó có thể là khâu trung gian trong quá trình tạo racủa cải vật chất

Nếu xét trên phương diện mục đích của hợp đồng thì có những hợp đồngnhằm mục đích kinh doanh thương mại vì vậy ngoài Luật dân sự những hợp đồng

đó còn chịu sự điều chỉnh của lĩnh vực Luật chuyên nghành là Luật thương mại

2005 hiện hành Còn những hợp đồng dịch vụ được giao kết nhằm thoả mãn nhu cầutiêu dùng sinh hoạt, đáp ứng về mặt tinh thần của người tiêu dùng dịch vụ thì đó làquan hệ dân sự va nó chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự

Theo Điều 518 BLDS 2005 thì “đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là

công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội”.

Như vậy, không phải công việc nào cũng trở thành đối tượng của hợp đồngdịch vụ, mà chỉ những công việc mà khi nhà cung cấp dịch vụ cung cấp cho ngườitiêu dùng dịch vụ thì nó mang lại lợi ích cho người tiêu dùng nhưng đồng thời nócũng không được trái với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội,cũng không được xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chức khác

Người cung ứng dịch vụ là người có trình độ nghiệp vụ có kỹ năng kỹ sảotrong một lĩnh vực ngành nghề nhất định mà người thuê dịch vụ không có khả năng

đó hoặc chưa đạt được kỹ năng đó

Theo khoản 11 Điều 4 Luật du lịch 2005 “ Dịch vụ du lịch là những dịch

vụ về lữ hành, vận chuyển lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng

Trang 31

dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” (1)

Từ khái niệm trên về dịch vụ du lịch thì ta có thể thấy rằng: đối tượng củahợp đồng du lịch là sự thoả thuận giữa nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùngdịch vụ du lịch về việc nhà cung cấp dịch vụ cung cấp các dịch vụ về du lịch nhưkhoản 11 Điều 4 luật du lịch 2005 Các dịch vụ du lịch này chỉ được coi là hợp phápnếu nó không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp phápcủa các chủ thể trong xã hội như: việc ăn uống phải đảm bảo các tiêu chuẩn về vệsinh an toàn thực phẩm, khẩu phần ăn phải được dảm bảo cho du khách trong suốtthời gian du lịch, các hoạt động vui chơi giải trí phải lành mạnh, hoạt động vậnchuyển phải đảm bảo sự an toàn cho khách hàng…

1.2.3.4 Hình thức hợp đồng du lịch.

Hợp đồng du lịch phải được thể hiện dưới hình thức văn bản ( khoản 1 điều 52Luật du lịch) Việc quy định hình thức hợp đồng như vậy là vì hợp đồng du lịch cónhững điều khoản về xuất nhập cảnh và bảo hiểm khách hàng nên nêu không đượcthể hiện dưới hình thức văn bản thì khi xảy ra tranh chấp rất khó có thể xác địnhđược phạm vi trách nhiệm của các bên

1.2.3.5 Giao kết hợp đồng du lịch.

Luật du lịch 2005 không quy định về việc giao kết hợp đồng du lịch Với bảnchất là một hợp đồng dân sự nên vấn đề giao kết hợp đồng du lịch được áp dụngtheo luật chung là Bộ luật dân sự 2005, vì luật chuyên ngành không có Điều khoản

cụ thể

Giao kết hợp đồng du lịch là việc Công ty du lịch và khách du lịch bày tỏ ýchí với nhau theo những nguyên tắc trình tự nhất định để qua đó xác lập quyền vànghĩa vụ về hoạt động du lịch

Trang 32

mọi cá nhân, tổ chức có tư cách chủ thể đều có quyền tham gia ký kết hợp đồng dulịch nói riêng cũng như các hợp đồng dân sự nói chung.

Tuy nhiên không có tự do hợp đồng tuyệt đối mà sự tự do ý chí phải nằmtrong khuôn khổ pháp luật nhất định, bên cạnh thỏa mãn lợi ích cá nhân khi giao kếthợp đồng các bên cũng phải tính đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân tổ chứckhác trong xã hội

- Các bên tự nguyện bình đẳng trong giao kết hợp đồng.

Nguyên tắc này thể hiện bản chất của quan hệ dân sự Trong xã hội mọingười đều bình đẳng không ai có quyền lấy lý do về sự khác biệt về thành phần dântộc, giới tính, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế…, để làm biến dạng quan hệ dân sự Nênhợp đồng được giao kết không bình đẳng và tự nguyện thì không được pháp luậtthừa nhận Ý chí tự nguyện là sự thống nhất về ý muốn chủ quan bên trong và sựbày tỏ ý chí đó ra bên ngoài

Như vậy tất cả những hợp đồng được giao kết do bị nhầm lẫn, bị lừa dốihoặc đe dọa đều là những hợp đồng không đáp ứng nguyên tắc tự nguyện giao kết

vì thế nó sẽ bị coi là vô hiệu

1.2.3.5.2 Trình tự giao kết hợp đồng.

Trình tự giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó các bên chủ thể bày tỏ ýchí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong việc cùng nhaulàm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau

*) Đề nghị giao kết hợp đồng.

Khi một người muốn thiết lập một hợp đồng du lịch thì ý muốn đó phải thểhiện ra bên ngoài bằng một hành vi nhất định, khi đó đối tác mới biết được ý muốn

đó như vậy mới có thể đi đến việc giao kết hợp đồng.Tại khoản 1 Điều 390 BLDS

2005 xác định “Đề nghị việc giao kết hợp đồng là việc thể hiện ý định muốn giao

kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể”

Việc đề nghị giao kết hợp đồng được thể hiện dưới nhiều hình thức khácnhau Người đề nghị và người được đề nghị có thể trực tiếp trao đổi thỏa thuận hoặcthông qua điện thoại Để bảo đảm quyền lợi cho người được đề nghị, Điều 390BLDS quy định

Trang 33

“ Trong trường hợp đề nghi giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết với bên thứ ba trong thời hạn trong thời hạn chờ bên được

đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh”

Như vậy lời đề nghị mặc dù chưa phải là một hợp đồng nhưng nó đã có sự ràngbuộc đối với bên đề nghị và bên đề nghị vẫn có thể rút lại hoặc thay đối đề nghịtrong trường hợp sau đây:

- Bên được đề nghị chưa nhận được đề nghị

- Bên đề nghị có nêu rõ điều kiện được thay đổi hay rút lại đề nghị và điềukiện đó đã đến

Ngoài ra đề nghị ký kết hợp đồng du lịch được coi là chấm dứt khi Công ty

du lịch trả lời không chấp nhận hoặc trả lời chậm Lời đề nghị giao kết có thể xuấtphát từ nhu cầu của nhà cung cấp hoặc từ người có nhu cầu sử dụng Trong hợpđồng du lịch lời đề nghị giao kết có thể do khách du lịch đặt ra hoặc có thể là doCông ty lữ hành nêu nên

Khách hàng có thể trực tiếp đến Công ty du lịch để đề nghị giao kết hợpđồng và tham khảo các chương trình du lịch mà Công ty có hấp dẫn hay không sau

đó mới tiến hành đàm phán ký kết hợp đồng Tuy nhiên khách có thể gián tiếp đưa

ra lời đề nghị giao kết hợp đồng du lịch thông qua việc gửi thư điện tử hoặc uỷquyền cho người khác đề nghị giao kết hợp đồng Công ty du lịch có thể tự mìnhđưa ra một lời đề nghị giao kết hợp đồng với mọi cá nhân tổ chức bằng các hìnhthức như: tờ rơi, quảng cáo, thông báo trên phương tiện báo chí truyền hình,… Saukhi đưa ra lời đề nghị đó thì mặc dù chưa biết khách hàng của mình là ai nhưngCông ty cũng phải chịu trách nhiệm với những thông tin mà họ đưa ra Công ty dulịch có thể cử nhân viên của mình đến từng cá nhân trong xã hội để đưa ra lời đềnghị giao kết hợp đồng

*) Chấp nhận giao kết hợp đồng.

Là việc bên được đề nghị nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành việc giao kếthợp đồng với người đề nghị giao kết Về nguyên tắc bên được đề nghị phải trả lờingay về việc có chấp nhận giao kết hợp đồng hay không Vì vậy, khi nhận được đềnghị giao kết hợp đồng du lịch của khách du lịch thì Công ty du lịch phải trả lời

Trang 34

ngay

Công ty du lịch có thể chấp nhận toàn bộ hay một phần nội dung của lời đềnghị Khi đó người được đề nghị có thể đưa ra một lời đề nghị mới và họ lại trởthành bên đề nghị mới Việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là cơ sở cho việcchuẩn bị thực hiện hợp đồng Sau khi hai bên trong quan hệ hợp đồng đồng ý vớitoàn bộ nội dung của đề nghị giao kết thì họ phải chịu trách nhiệm với những gì mà

họ đã cam kết, và nếu có bất cứ sự vi phạm nào thì đều phải chịu các hình thức chếtài của pháp luật và các bên thoả thuận trong nội dung hợp đồng

1.2.3.6 Thực hiện hợp đồng du lịch.

Sau khi các bên đã giao kết hợp đồng du lịch dưới hình thức nhất định phù hợpvới pháp luật và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật ( quy định tại Điều 122BLDS) thì hợp đồng có hiệu lực bắt buộc đối với các bên Thực hiện hợp đồng dulịch là việc bên cung ứng dịch vụ du lịch và bên tiêu dùng dịch vụ du lịch tiến hànhcác hành vi mà các bên đã tham gia hợp đồng phải thực hiện nhằm đáp ứng nhữngquyền dân sự tương ứng của bên kia

1.2.3.6.2 Nội dung thực hiện hợp đồng du lịch.

Khi thực hiên hợp đồng du lịch các bên tham gia hợp đồng phải thực hiệnđúng, đầy đủ các điều khoản về đối tượng, địa điểm, thời hạn, phương thức, và cácthỏa thuận khác mà nội dung của hợp đồng xác định

Ngoài ra việc thực hiện hợp đồng du lịch phải tuân theo những cách thức màpháp luật quy định đối với từng loại hợp đồng cụ thể

Hợp đồng du lịch là hợp đồng song vụ ( tức là hợp đồng mà ở đó cả bên cung

Trang 35

ứng dịch vụ du lịch và khách du lịch đều có quyền và nghĩa vụ với nhau) Thực hiệnhợp đồng du lịch là thực hiện hợp đồng song vụ, theo Điều 414 BLDS 2005 : Tronghợp đồng song vụ, mỗi bên đều phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn.Các bên không được lấy lý do bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình màhoãn việc thực hiện nghĩa vụ, ( trừ trường hợp việc không thực hiện nghĩa vụ củabên kia làm cho bên này không thực hiện được nghĩa vụ, vì vậy nếu khách du lịchkhông chịu thanh toán trước một phần hay toàn bộ chi phí chuyến du lịch thì Công

ty du lịch không thể có đủ kinh phí để ứng trước nên trong trường hợp này bên cungứng dịch vụ có thể không thực hiên nghĩa vụ đã cam kết mà không được coi là viphạm) Nếu hợp đồng song vụ không xác định bên nào phải thực hiện nghĩa vụtrước, thì cùng một lúc các bên phải đồng thòi thực hiện nghĩa vụ đối với nhau Mặtkhác, để bảo đảm tính công bằng và quyền lợi của các bên trong hợp đồng, phápluật còn quy định cho bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn việc thựchiện nghĩa vụ đó, nếu tài sản của bên kia giảm sút nghiêm trọng đến mức không cókhả năng thực hiện hợp đồng Khi nào bên kia khôi phục được khả năng để có thểthực hiện được hợp đồng hoặc đã có người bảo lãnh, thì người phải thực hiện nghĩa

vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng

1.2.3.6.3 Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng.

Để nâng cao trách nhiệm của các bên vào những gì mà họ đã cam kết thìtrong nội dung của hợp đồng có thể đưa vào đó những biện pháp bảo đảm thực hiệnhợp đồng Sau khi giao kết hợp đồng việc thực hiện những cam kết đó trước hết phụthuộc vào sự tự giác của các bên, nhưng trên thực tế không phải bất kỳ ai khi thamgia giao dịch đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ củamình Để khắc phục tình trạng trên pháp luật cho phép các bên thỏa thuận biện phápbảo đảm thực hiện hợp đồng Theo đó, người có quyền có thể chủ động tiến hànhcác hành vi của mình để tiến hành tác động trực tiếp đến tài sản của bên kia nhằmthỏa mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ đã cam kết

Theo BLDS 2005 các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng bao gồm:

- Cầm cố tài sản

- Thế chấp tài sản

Trang 36

và giá trị giàng buộc của hợp đồng sẽ bị giảm sút lớn.

1.2.3.7 Sửa đổi, chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng du lịch.

Khi giao kết hợp đồng để dự phòng các trường hợp điều kiện thực hiện hợpđồng có những biến đổi thì trong quá trình giao kết hợp đồng các bên có thể đưavào nội dung của hợp đồng những điều khoản để cho phép các bên thay đổi nộidung của hợp đồng cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế như: Giá cả thị trường có sựtăng lên sau khi giao kết hợp đồng làm cho chi phí để thực hiện hợp đồng tăng lêngây thiệt hại cho bên cung cấp dịch vụ thì họ có thể yêu cầu khách hàng phải tăngchi phí, hoặc trong trường hợp do điều kiện tự nhiên thay đổi như hạn hán, lũ lụt,động đất, làm chậm tiến độ thực hiện hợp đồng thì khách hàng cũng không đượcphạt nhà cung cấp dịch vụ mà phải ra hạn cho họ để hoàn thành nghĩa vụ.có thể xảy

ra sau khi ký kết hợp đồng Những biến động có tính chất bất khả kháng ấy nằmngoài sự mong muốn của các bên nên phải tạo điều kiện cho nhau để hoàn thànhnghĩa vụ trong một thời gian nhất định

1.2.3.7.1 Sửa đổi hợp đồng du lịch.

Hợp đồng du lịch sau khi giao kết và đã có hiệu lực nhưng để việc thực hiệnphù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của mỗi bên, các bên vẫn có thể thỏathuận để sửa đổi hợp đồng trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Sửa đổi hợp đồng du lịch là việc các bên đã tham gia giao kết hợp đồng bằng ýchí tự nguyện của mình thỏa thuận với nhau để thay đổi một số điều khoản trongnội dung đã giao kết Sau khi hợp đồng đã được sửa đổi, các bên thực hiện hợp

Trang 37

đồng theo những phần không bị sửa đổi trong nội dung của hợp đồng trước đó cùngvới những nội dung đã được sửa đổi Việc sửa đổi hợp đồng phải được thể hiệndưới hình thức văn bản Đối với hợp đồng được lập có công chứng chứng thực thìviệc sửa đối cũng phải tuân theo hình thức đó.

1.2.3.7.2 Chấm dứt hợp đồng du lịch.

Việc chấm dứt hợp đồng du lịch xuất phát từ ý chí chủ quan của các chủ thểhoặc theo quy định của pháp luật Theo Điều 424 BLDS 2005 căn cứ chấm dứt hợpđồng du lịch là:

- Khi hợp đồng đã được hoàn thành Tức là bên cung ứng dịch vụ du lịch và

khách du lịch đã thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ và do vậy, mỗi bên đềuđáp ứng được quyền dân sự của mình, thì hợp đồng được coi là hoàn thành

- Hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên Trong trường hợp bên có

nghĩa vụ không thực hiện được hợp đồng hoặc việc thực hiện hợp đồng gây thiệt hạivật chất cho một hoặc cả hai bên, thì các bên có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.Hợp đồng được giao kết được coi là chấm dứt tại thời điểm các bên đạt được sựthỏa thuận nói trên

- Hợp đồng sẽ chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết, tức là nếu khách

du lịch chết sau khi giao kết hợp đồng thì hợp đồng cũng được coi như chấm dứt, vàchỉ có người có quyền mới được phép hưởng các lợi ích vật chất sau khi người giaokết hợp đồng chết Vì có nhiều trường hợp có khách hàng được bảo hiểm hợp đồngnên trong thời gian thực hiện hợp đồng mà khách hàng chết thì sẽ được trả tiền bảohiểm: ví dụ như trong hợp đồng du lịch khách được bảo hiểm về tính mạng sứckhoẻ trong toàn bộ chương trình du lịch nên nếu khách bị tại nạn trong thời gian đókhách du lịch bị chết thì họ được hưởng tiền bảo hiểm, và mức bảo hiểm đã đượcquy định trong nội dung của hợp đồng Khi

một bên trong quan hệ hợp đồng chết thì một bên trong quan hệ hợp đồng khôngcòn nên không còn căn cứ để tiếp tục thực hiện hợp đồng và như vậy hợp đồng phảiđương nhiên chấm dứt

- Hợp đồng cũng chấm dứt khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng Theo

Điều 424 BLDS 2005 khi một bên vi phạm hợp đồng, thì bên kia có quyền đơnphương chấm dứt hợp đồng Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng được thực hiện

Trang 38

theo quy định tại Điều 426 BLDS 2005 Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thìphần hợp đồng chưa thực hiện chấm dứt Khi hợp đồng bị chấm dứt các bên khôngphải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình, nhưng các bên vẫn phải thanh toán phầnhợp đồng đã được thực hiện.

- Hợp đồng chấm dứt khi một bên hủy bỏ hợp đồng Để nâng cao tính kỷ luật

trong việc thực hiện hợp đồng, pháp luật cho phép các bên được thỏa thuận điềukhoản hủy bỏ hợp đồng nếu bên kia vi phạm hợp đồng Khi đó bên bị vi phạm cóquyền đơn phương hủy hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại Khihợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, cácbên phải hoàn trả cho nhau những lợi ích vật chất đã nhận, nếu không hoàn trả đượcbằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền

1.2.3.8 Tranh chấp và giải quyết tranh chấp.

Những tranh chấp có thể xảy ra trong các hợp đồng dịch vụ là những tranhchấp về việc các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ như đã cam kết, chẳng hạnnhư: khách du lịch không chịu thanh toán đầy đủ chi phí, không chấp hành quy địnhcủa đoàn du lịch, quy định của Công ty du lịch, không có trách nhiệm trong việcduy trì trật tự kỷ luật của chuyến đi, đối với du khách nước ngoài thì vi phạm phápluật của nước đến du lịch…, Còn từ phía Công ty du lịch thì không đáp ứng đầy đủcác nghĩa vụ như cam kết trong hợp đồng gây thiệt hại cho hành khách như: khôngđảm bảo an toàn cho hành khách, điều kiện, chất lượng dịch vụ không đảm bảo nhưcam kết, có sự lừa dối khách hàng….Để hạn chế những vi phạm này Nhà nước cónhững quy định về bồi thường thiệt hại và các trách nhiệm khác mà mức

cao nhất là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bên khi vi phạm hợp đồng gâythiệt hại nghiêm trọng cho bên kia hoặc cho quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

tổ chức khác trong xã hội Các quy định mà pháp luật nêu ra chỉ mang tính chất dựphòng Luật du lịch cũng có những quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh

chấp về du lịch tại khoản 2 Điều 86 như sau: “Tại khu du lịch, đô thị du lịch và nơi

có lượng khách du lịch lớn thì cơ quan Nhà nước về du lịch cấp tỉnh tổ chức việc tiếp nhận yêu cầu kiến nghị của khách du lịch” (1)

(1)(1)Khoản 2 Điều 86 Luật du lịch

Trang 39

Các tranh chấp của khách tại các khu du lịch khi phát sinh thì Công ty sẽ đứng

ra giải quyết, nếu khách gây ra thiệt hại vật chất thì Công ty sẽ phải bồi thường sau

đó yêu cầu khách phải hoàn trả số tiền mà Công ty đã trả cho bên bị thiệt hại Đó lànhững tranh chấp phát sinh ngoài hợp đồng Khi nảy sinh tranh chấp ngoài hợpđồng giữa khách du lịch với chủ thể khác thì đại diện của Công ty có nghĩa vụ đạidiện cho khách du lịch đứng ra để giải quyết các tranh chấp đó Trong chuyến dulịch khách du lịch tạm thời chịu sự quản lý và các quy định của đoàn du lịch Tranhchấp ngoài hợp đồng chủ yếu là do khách du lịch vi phạm quy định tại các địa điểm

du lịch, như làm ô nhiễm môi trường, gây mất trật tự an ninh nơi công cộng, hoặc

có thể bị xâm hại về tính mạng sức khoẻ Ở nơi hoàn toàn xa lạ như vậy nên khách

du lịch rất khó có khả năng tự bảo vệ nên phải nhờ đến sự can thiệp của Công ty lữhành Các tranh chấp ngoài hợp đồng rất hay xảy ra trong quá trình du lịch nên rấtcần đựơc quy định rõ ràng về trách nhiệm của Công ty du lịch là phải đứng ra đạidiện cho khách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Tuy nhiên đa số các tranh chấp lại phát sinh từ hợp đồng Tranh chấp nảysinh khi một trong hai bên hoặc cả hai bên không thực hiện đúng những cam kếtnhư đã nêu trong hợp đồng Cụ thể như,Công ty sau khi ký hợp đồng không thựchiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết, tự ý huỷ bỏ hợp đồng, thay đổi địa điểm dulịch, chất lượng bữa ăn không được đảm bảo, tuỳ tiện thay đổi lịch trình của đoàn

du lịch

Việc giải quyết các tranh chấp, yêu cầu kiến nghị của khách du lịch đầu tiênphải được gửi đến tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch hoặc tổ chức tiếp nhận yêucầu kiến nghị của khách du lịch quy định tại khoản 2 Điều 86 Luật du lịch để giảiquyết hoặc chuyển đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết Trường hợp tổchức cá nhân kinh doanh du lịch, tổ chức tiếp nhận yêu cầu, kiến nghị của khách dulịch quy định tại khoản 2 Điều 86 không giải quyết hoặc khách du lịch không đồng

ý với việc giải quyết đó thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định củapháp luật Việc thương lượng hoà giải giữa Công ty lữ hành với khách du lịch khi

có tranh chấp xảy luôn được đề cao và luôn được các bên sử dụng đầu tiên để giảiquyết khi có tranh chấp phát sinh Biện pháp giải quyết tranh chấp này thường đơngiản ít tốn kém cho cả hai bên cả về thời gian và chi phí nên được ưu tiên áp dụng

Trang 40

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng du lịch chủ yếu là tranh chấp mang bản chất dân

sự nên yếu tố thoả thuận luôn được đặt lên hàng đầu

CHƯƠNG II THỰC TIỄN KÝ KẾT VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DỊCH

VỤ DU LỊCH TẠI CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT

THÀNH VIÊN THĂNG LONG –GTC

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY.

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH nhà nước một thành viên Thăng Long – GTC.

Ngày đăng: 05/04/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự 2005 2. Luật Thương mại 2005 3. Luật Du lịch 2005 Khác
6. Giáo trình Luật Thương mại I + II - Đại học Luật Khác
7. Giáo trình Pháp luật kinh tế - Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
8. Giáo trình Nhu cầu của khách trong quá trình du lịch - Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
9. Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam - Khác
10. Báo cáo kết quả kinh doanh của công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thăng Long - GTC Khác
11. Lịch sử hình thành phát triển công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thăng Long - GTC Khác
12. Tài liệu của Phòng du lịch công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thăng Long - GTC Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 So sánh hoạt động dịch vụ và hoạt động kinh doanh vật chất - Những hợp đồng dịch vụ du lịch mang bản chất là hợp đồng dân sự
Bảng 1 So sánh hoạt động dịch vụ và hoạt động kinh doanh vật chất (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w