Có nghĩa là các chủ đề nội dung giữa các khối lớp có sự liên hệ mật thiết, kế thừa và phát triển xoay xung quanh một trục kiến thức từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội; từ đại cương đến châ
Trang 118
Nguyễn Quốc Lập – THPT Chuyên Hà Tĩnh
A - MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Chương trình Địa lí được thiết kế theo nguyên tắc đồng tâm với 3 mạch nội dung: Địa lí đại cương, Địa lí thế giới và Địa lí Việt Nam Có nghĩa là các chủ đề nội dung giữa các khối lớp có sự liên hệ mật thiết, kế thừa và phát triển xoay xung quanh một trục kiến thức từ tự nhiên đến kinh tế - xã hội; từ đại cương đến châu lục, khu vực, quốc gia và vùng, địa phương Chính vì vậy, kiến thức địa lí giữa lớp dưới và lớp trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
Chương trình Địa lí lớp 10 và chương trình Địa lí lớp 12 cũng có mối liên
hệ chặt chẽ như thế với nhau Chương trình Địa lí lớp 10 tìm hiểu về địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội đại cương, tức là tìm hiểu về các khái niệm, các đặc điểm, nhân tố ở mức độ lí luận, cơ sở đại cương Còn Địa lí lớp 12 tìm hiểu về địa lí Việt Nam; tức là địa lí một quốc gia cụ thể Chính vì vậy, có rất nhiều vấn
đề trong chương trình Địa lí lớp 12 cần phải sử dụng các kiến thức từ Địa lí lớp
10 để bổ sung, liên hệ, so sánh đối chiếu, làm cho vấn đề tường minh hơn, nổi bật hơn
Tuy nhiên, có một thực tế trong quá trình dạy học môn Địa lí do không nắm vững cấu trúc chương trình, do một số giáo viên thường xuyên chỉ giảng dạy một khối lớp trong thời gian dài nên ít có mối liên hệ giữa các khối lớp từ
đó dẫn tới sự thiếu liền mạch của chương trình địa lí
Trên cơ sở đó, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Sử dụng kiến thức Địa lí lớp 10 vào việc hỗ trợ giảng dạy Địa lí 12” Hy vọng đề tài sẽ góp một phần
nhỏ bé vào việc nâng cao hiệu quả dạy học môn Địa lí cho học sinh lớp 12 nói riêng và việc dạy học Địa lí nói chung Qua đó, giúp giáo viên có cái nhìn mới
về việc vận dụng kiến thức địa lí để làm sáng tỏ các vấn đề
II Mục đích nghiên cứu
- Giúp cho học sinh vận dụng những kiến thức cơ sở, mang tính chất đại cương để giải quyết một vấn đề cụ thể ở quốc gia, địa phương mà mình sinh sống Từ đó hình thành ở học sinh kỹ năng liên hệ, vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng đã được học từ các lớp trước cho học sinh
Trang 218
- Giúp các em thấy được tính hệ thống của chương trình địa lí để có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn
- So sánh, đối chiếu giữa thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới để từ đó có ý thức phấn đấu vươn lên, xây dựng đất nước ngày càng văn minh, giàu đẹp
- Phục vụ thêm cho quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp quốc gia
III Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cấu trúc chương trình Địa lí lớp 10 và lớp 12
- Chỉ ra được những mối liên hệ giữa chương trình Địa lí lớp 10 và chương trình Địa lí lớp 12
- Vận dụng kiến thức Địa lí lớp 10 vào việc làm sáng tỏ những nội dung kiến thức trong chương trình Địa lí lớp 12
- Trong trường hợp ngược lại là dùng kiến thức Địa lí lớp 12 để làm rõ kiến thức, minh họa nội dung của Địa lí 10 Ngoài ra đây còn là biện pháp rèn luyện thái độ, tình cảm yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước cho học sinh
- Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức, kỹ năng của môn Địa lí để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh
- Một số kiến nghị đề xuất trong quá trình dạy học môn Địa lí trên cơ sở vận dụng kiến thức giữa các khối lớp
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng của đề tài là phục vụ cho giáo viên đang giảng dạy ở bậc THPT, ngoài ra giáo viên THCS cũng có thể tham khảo
Phạm vi của đề tài không phải là toàn bộ chương trình Địa lí lớp 12 mà chỉ chọn một bài cụ thể làm mẫu Đó là bài 21 “Đặc điểm dân số và phân bố dân cư” trong SGK Địa lí 12 - chương trình Nâng cao
Trang 318
B - NỘI DUNG
I CƠ SỞ Lí LUẬN
I.1 Cấu trỳc chương trỡnh mụn Địa lớ
Chương trỡnh Địa lớ được thiết kế theo mạch nội dung sau:
Lớp
I Địa lí đại cương
3 Địa lí kinh tế - xã hội đại
cương
4 Môi trường địa lí và hoạt
động của con người trên Trái
Đất
*
II Địa lí thế giới
1 Thiên nhiên, con người ở
các châu lục
2 Khái quát chung về nền
3 Địa lí khu vực và quốc
gia
III Địa lí Việt Nam
1 Thiên nhiên và con người
3 Địa lí kinh tế - xã hội
Việt Nam
4 Các vấn đề phát triển kinh
tế - xã hội theo ngành và theo
vùng của Việt Nam
Cụ thể hơn, chỳng ta cú thể thấy mạch nội dung của Địa lớ 10 và Địa lớ 12 được thiết kế như sau:
Đối với chương trỡnh Địa lớ 10, cấu trỳc chương trỡnh gồm: địa lí tự nhiên (bản đồ, Vũ Trụ - Hệ quả các chuyển động chính của Trái Đất, cấu trúc của Trái
Đất, thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển, một
số quy luật chủ yếu của lớp vỏ địa lí); địa lí kinh tế xã hội (địa lí dân cư, cơ cấu nền kinh tế, địa lí nông nghiệp, địa lí công nghiệp, địa lí dịch vụ, môi trường
và sự phát triển bền vững)
Trang 418
Đối với chương trỡnh Địa lớ 12, cấu trỳc chương trỡnh gồm: địa lí tự nhiên (vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ; lịch sử hình thành và phát triển lãnh thổ; đặc
điểm chung của tự nhiên; vấn đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên); địa lí dân cư (đặc
điểm dân số và phân bố dân cư; lao động và việc làm; đô thị hoá; chất lượng cuộc sống); địa lí các ngành kinh tế (chuyển dịch cơ cấu kinh tế; một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp; một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp; một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ); địa lí các vùng (vấn đề khai thác thế mạnh ở Trung du và miền núi Bắc Bộ; vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở Đồng bằng sông Hồng; vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở Bắc Trung Bộ; vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở Duyên hải Nam Trung Bộ; vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên; vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ; vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở
Đồng bằng sông Cửu Long; vấn đề phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng ở Biển
Đông và các đảo, quần đảo; các vùng kinh tế trọng điểm); địa lí địa phương (tìm hiểu địa lí địa phương theo chủ đề)
Như vậy, ở lớp 10, tỡm hiểu chủ đề nội dung Địa lớ đại cương (tự nhiờn và kinh tế - xó hội), nhằm giỳp học sinh cú được một hệ thống kiến thức mang tớnh phổ thụng về bản đồ, Trỏi Đất - mụi trường sống của con người, về dõn cư và những hoạt động của dõn cư trờn Trỏi Đất làm cơ sở cho việc học địa lớ thế giới
và địa lớ Việt Nam
Ở lớp 12, tỡm hiểu chủ đề nội dung Địa lớ Việt Nam nhằm giỳp học sinh nắm được những đặc điểm nổi bật về thiờn nhiờn, dõn cư, kinh tế, và cỏc vấn đề đặt ra đối với đất nước, cỏc vựng, địa phương nơi học sinh đang sống; chuẩn bị cho học sinh ra đời, tham gia lao động sản xuất
Chớnh vỡ vậy, vận dụng kiến thức Địa lớ lớp 10 vào việc bổ sung, so sỏnh đối chiếu, giải thớch cỏc kiến thức của chương trỡnh Địa lớ lớp 12 là một việc làm hết sức cần thiết
I.2 Thực trạng của vấn đề
Trờn thực tế là hiện nay là mặc dự đó cú chương trỡnh địa lớ, cú chuẩn kiến thức của từng lớp học, cấp học; tuy nhiờn do cỏc bộ sỏch giỏo khoa được biờn soạn với những nhúm tỏc giả khỏc nhau nờn quan điểm, cỏch tiếp cận và triển khai chương trỡnh nhiều khi vẫn chưa đồng bộ Chớnh vỡ vậy, cú nhiều khi, cựng một vấn đề, cựng một nội dung nhưng lại triển khai theo những cỏch riờng, nhiều khi cú sự khỏc biệt lớn Đõy chớnh là khú khăn lớn nhất khi chỳng ta tiến hành xõu chuỗi cỏc nội dung kiến thức
Ngoài ra, trong việc phõn cụng giảng dạy, vỡ muốn phõn cụng một giỏo viờn dạy một khối lớp trong thời gian dài cho thuận tiện cũng dẫn đến nhiều giỏo viờn thiếu sự liờn hệ nội dung chương trỡnh giữa cỏc khối lớp
Trang 518
II VẬN DỤNG VÀO BÀI HỌC
Ở đây, tác giả không áp dụng cả chương trình Địa lí lớp 12 mà chỉ chọn một bài cụ thể đó là bài “Đặc điểm dân số và phân bố dân cư” Ở mỗi mục bài, tiêu đề, nội dung sẽ trình bày nội dung kiến thức ở Địa lí lớp 12 trước, sau đó dùng kiến thức Địa lí 10 để bổ sung, giải thích, so sánh đối chiếu để làm rõ vấn
đề
II.1 Đông dân và có nhiều thành phần dân tộc
- Ở chương trình Địa lí lớp 12 có nêu, dân số Việt Nam năm 2006 là
84156 nghìn người, đứng thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới
Vận dụng kiến thức Địa lí lớp 10, ở mục dân số thế giới ta bổ sung thêm Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, tính đến giữa năm 2005 dân số thế giới là 6 477 triệu người trong tổng số trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ Quy
mô dân số giữa các nước rất khác nhau Có 11 nước đông dân nhất với số dân vượt quá 100 triệu người mỗi nước (chiếm 61% dân số toàn thế giới) Trong khi
đó có 17 nước chỉ có số dân từ 0,01 - 0,1 triệu người mỗi nước (1,18 triệu người, chiếm 0,018% dân số toàn thế giới)
Sau đó bổ sung danh sách 12 quốc gia có số dân lớn hơn Việt Nam
Bảng: 13 quốc gia có số dân đứng đầu thế giới, năm 2005
TT Quốc gia Dân số (triệu người)
Dân số đông là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế đất nước Với
số dân đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào, đồng thời là thị trường tiêu thụ
Trang 618
rộng lớn Song trong điều kiện của nước ta hiện nay, số dân đông là một trở ngại lớn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân
II.2 Dân số tăng nhanh
II.2.1 Chứng minh
Ở sách giáo khoa lớp 12, trích dẫn: Dân số nước ta tăng nhanh, đặc biệt là vào nửa cuối thế kỉ XX, đã dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số Tuy nhiên, sự bùng nổ dân số diễn ra giữa các giai đoạn, các vùng lãnh thổ, các thành phần dân tộc với tốc độ và quy mô khác nhau
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên ở mức cao, tuy đã giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn còn chậm
+ Thời kì 1931 - 1960 tốc độ gia tăng trung bình là 1,85%
+ Thời kì 1965 - 1975 tốc độ gia tăng trung bình là 3,0%
+ Thời kì 1979 - 1989 tốc độ gia tăng trung bình là 2,1%
+ Thời kì 1989 - 1999 tốc độ gia tăng trung bình là 1,7%
+ Thời kì 1999 - 2005 tốc độ gia tăng trung bình là 1,32%
Do quy mô dân số đông nên mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình hơn 1 triệu người
Thời gian dân số tăng gấp đôi ngày càng rút ngắn Từ năm 1921 - 1960 dân
số tăng từ 15,6 triệu người lên 30,2 triệu người trong vòng 39 năm Từ năm 1960 -
1989 dân số tăng từ 30,2 triệu người lên 64,0 triệu người trong 29 năm
Ở đây, liên hệ với kiến thức Địa lí 10 để học sinh so sánh được tốc độ gia tăng dân số của nước ta so với thế giới Trước đây, dân số thế giới tăng thêm 1
tỉ người phải mất 123 năm (từ 1804 đến 1927) Hiện nay, dân số thế giới tăng thêm 1 tỉ người chỉ mất 12 năm (từ năm 1987 đến 1999)
Thời gian dân số thế giới tăng gấp đôi được rút ngắn từ 123 năm (từ 1804 đến 1927) xuống còn 47 năm (từ năm 1927 đến năm 1974)
Như vậy so với thế giới, thời gian dân số tăng gấp đôi ở nước ta ngắn hơn:
29 năm so với 47 năm
II.2.2 Nguyên nhân
Ở chương trình lớp 12 chỉ viết: do kết quả của việc thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình nên mức gia tăng dân số có giảm nhưng còn chậm, mỗi năm dân số nước ta vẫn tăng thêm trung bình hơn 1 triệu người
Ở đây, cần vận dụng kiến thức Địa lí 10 để giải thích nguyên nhân dân số nước ta tăng nhanh, liên quan đến các nhân tố: tỉ suất sinh thô, tỉ suất tử thô, gia tăng tự nhiên, gia tăng cơ học và gia tăng dân số
Trang 718
- Gia tăng tự nhiên: Sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hay giảm đi) là do hai nhân tố chủ yếu quyết định: sinh đẻ và tử vong
- Tỉ suất sinh thô là tương quan giữa số trẻ em được sinh ra trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm Tỉ suất sinh thô được tính theo đơn vị phần nghìn (‰)
Hiện nay, tỉ suất sinh thô ở các nước phát triển khoảng 11‰, của toàn thế giới là 21‰ và của các nước đang phát triển là 24‰
Các yếu tố tác động đến tỉ suất sinh làm cho nó thay đổi theo thời gian và không gian, trong đó quan trọng nhất là các yếu tố tự nhiên - sinh học, phong tục tập quán và tâm lí xã hội, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các chính sách phát triển dân số của từng nước
- Tỉ suất tử thô là tương quan giữa số người chết trong năm so với dân số trung bình ở cùng thời điểm Tỉ suất tử thô được tính theo đơn vị phần nghìn (‰)
Hiện nay, tỉ suất sinh thô ở các nước phát triển khoảng 10‰, của toàn thế giới là 9‰ và của các nước đang phát triển là 8‰
Tỉ suất tử thô trên toàn thế giới nói chung, ở các khu vực và trong từng nước nói riêng có xu hướng giảm đi rõ rệt so với thời gian trước đây nhờ các tiến bộ về mặt y tế và khoa học kỹ thuật, nhờ sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các điều kiện sống và thu nhập ngày càng được cải thiện Tuy nhiên, vẫn
có sự khác nhau giữa các nước
Các nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tỉ suất tử thô: kinh tế - xã hội (chiến tranh, đói kém, bệnh tật ) và các thiên tai (động đất, núi lửa, hạn hán, bão lụt )
Tỉ suất tử thô còn liên quan chặt chẽ đến tuổi thọ trung bình của dân số Tuổi thọ trung bình của dân cư trên thế giới ngày càng tăng
- Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên là nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng quyết định đến biến động dân số của một quốc gia và trên toàn thế giới,
vì vậy nó được coi là động lực phát triển dân số Tỉ suất gia tăng tự nhiên trên thế giới có sự thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội Ngay trong cùng một thời kì, giữa các nước có trình độ phát triển khác nhau, gia tăng tự nhiên diễn ra không như nhau
Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên là sự chênh lệch giữa tỉ suất sinh thô và tỉ suất tử thô Tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên được tính bằng đơn vị phần trăm (%)
Trang 818
- Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư (những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những người đến nơi cư trú mới) Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và nhập cư được gọi là gia tăng cơ học
Những nguyên nhân chính gây nên các luồng di chuyển của dân cư là do
“lực hút - lực đẩy” tại vùng nhập cư và vùng xuất cư cùng các nguyên nhân khác Các nguyên nhân bị hút đến các vùng nhập cư là đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, môi trường sống thuận lợi; dễ kiếm việc làm, thu nhập cao, điều kiện sinh hoạt tốt, có triển vọng cải thiện đời sống; môi trường xã hội tốt hơn Còn các nguyên nhân đẩy dân cư ra khỏi vùng cư trú là
do điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó kiếm việc làm; đất đai canh tác quá ít, bạc màu, không có tiền vốn và kĩ thuật để chuyển đổi ngành nghề, cải thiện đời sống hoặc do chiến tranh
Các nguyên nhân khác có thể nhắc tới là: hợp lí hóa gia đình, nơi ở cũ bị giải tỏa để xây dựng công trình
Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng có học không có ảnh hưởng lớn đến vấn đề dân số nói chung, nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia thì lại có ý nghĩa quan trọng
- Gia tăng dân số là thước đo phản ánh trung thực, đầy đủ tình hình biến động dân số của một quốc gia, một vùng Nó thể hiện bằng tổng số giữa tỉ suất gia tăng tự nhiên và tỉ suất gia tăng cơ học (tính bằng %) Mặc dù gia tăng dân
số bao giờ cũng gồm hai bộ phận cấu thành, song động lực phát triển dân số vẫn
là gia tăng dân số tự nhiên
Như vậy, ta có thể kết luận, dân số nước ta tăng nhanh hay chậm chủ yếu
do hai nhân tố quyết định là tỉ lệ sinh, tỉ lệ tử
Trước đây, dân số nước ta tăng nhanh, dẫn đến bùng nổ dân số là do tỉ lệ tử
đã giảm xuống và ở mức thấp còn tỉ lệ sinh vẫn còn ở mức cao
+ Tỉ lệ tử giảm là nhờ những tiến bộ về y tế, việc nâng cao mức sống cho người dân, nhận thức ngày càng được nâng lên…
+ Tỉ lệ sinh vẫn còn cao là do:
Cơ cấu dân số trẻ, số phụ nữ trong tuổi sinh đẻ nhiều, dẫn đến dân số tăng nhanh
Tâm lí, phong tục, tập quán, nhận thức của người dân ở nhiều nơi, đặc biệt là nông thôn, miền núi còn nhiều hạn chế
Chính sách dân số chưa triệt để, tuổi kết hôn sớm, khả năng sinh đẻ của phụ nữ Việt Nam…
Ngoài ra, dân số nước ta tăng nhanh còn do quy mô dân số của nước ta lớn nên mặc dù tỉ lệ gia tăng dân số giảm thì số dân tăng thêm hàng năm vẫn lớn
Trang 918
Những năm gần đây, dân số nước ta tăng chậm hơn, tốc độ gia tăng giảm xuống là do tỉ lệ sinh ngày càng giảm nhờ thực hiện tốt chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, do nhận thức của người dân ngày càng được nâng cao Những năm gần đây, gia tăng cơ học nếu xét trên bình diện cả nước là không lớn, nhưng đối với các từng vùng, từng tỉnh thì nhiều khi có ý nghĩa rất lớn (điển hình là Tây Nguyên, Đông Nam Bộ)
II.2.3 Hậu quả
Ở sách giáo khoa lớp 12 có nêu hậu quả của gia tăng dân số nhanh một cách rất chung, ngắn gọn: Gia tăng dân số nhanh đã tạo nên sức ép rất lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, với việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của từng thành viên trong xã hội
Vận dụng kiến thức phần địa lí kinh tế - xã hội đại cương, chúng ta chi tiết các hậu quả của gia tăng dân số nhanh bằng sơ đồ sau:
Như vậy, ta có thể kết luận về hậu quả của gia tăng dân số nhanh là: làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, hạn chế khả năng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, chậm chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo ra sức ép rất lớn đối với vấn đề việc làm, giáo dục, y tế, chất lượng cuộc sống, tài nguyên môi trường, phát triển bền vững…
II.2.4 Giải pháp
Ở đây cũng cần bổ sung các giải pháp để giải quyết vấn đề dân số tăng nhanh
ở nước ta hiện nay, cụ thể như:
- Đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình
- Kết hợp các giải pháp nhằm giảm tỉ suất sinh thô và tổng tỉ suất sinh + Giải pháp về giáo dục dân số (trong và ngoài nhà trường), truyền thông dân
số
+ Giải pháp đòn bẩy kinh tế
+ Giải pháp hành chính
+ Giải pháp kĩ thuật (y tế), các giải pháp khác
Hậu quả dân số
Môi trường
Xã hội Kinh tế
Tiêu dùng
và tích lũy
Lao
động
và
việc
làm
Tốc
độ
phát
triển
kinh
tế
Phát triễn bền vững
Cạn kiệt tài
nguyên
Ô nhiễm môi trường
Thu nhập
- mức sống
Giáo dục
Y tế
và chăm sóc sức khỏe
Trang 1018
- Tập trung vào các vùng lãnh thổ, các bộ phận dân cư hiện đang có mức
tăng dân số cao: vùng núi, nông thôn, ngư dân
II.3 Cơ cấu dân số trẻ
Ở sách giáo khoa Địa lí lớp 12 chỉ nêu rất khái quát về cơ cấu dân số của nước ta: Dân số nước ta thuộc loại trẻ, nhưng đang có sự biến đổi nhanh chóng
về cơ cấu dân số theo nhóm tuổi của cả nước
Bảng: Sự biến đổi cơ cấu dân số theo nhóm tuổi ở nước ta, năm 1999 và năm 2005 (Đơn vị: %)
Ở chương trình Địa lí 10 trình bày khá đầy đủ về cơ cấu dân số theo tuổi:
- Cơ cấu dân số theo tuổi là sự tập hợp những nhóm người sắp xếp theo những nhóm tuổi nhất định Trong dân số học, cơ cấu dân số theo độ tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh, tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia
- Trên thế giới người ta thường chia dân số thành ba nhóm tuổi:
+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 - 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động: 15 - 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi)
+ Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên
Theo Luật lao động ở Việt Nam, tuổi lao động được quy định đối với nam
từ 15 đến hết 59 tuổi, với nữ từ 15 đến hết 54 tuổi
- Người ta cũng có thể phân biệt những nước có dân số trẻ và dân số già dựa vào bảng sau:
Nhóm tuổi Dân số già (%) Dân số trẻ (%)
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi còn được thể hiện qua hình dạng của tháp tuổi Những nước có kết cấu dân số trẻ sẽ có kiểu mở rộng với đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, các cạnh thoai thoải; thể hiện tỉ suất sinh cao, trẻ em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh
Kiểu thu hẹp với tháp có hình dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và đỉnh tháp; thể hiện chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh, nhóm trẻ em ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần
Qua việc liên hệ ta thấy:
- Thứ nhất, nước ta có kết cấu dân số trẻ thể hiện ở nhóm tuổi 0 - 14 mặc
dù đã giảm nhưng vẫn còn khá cao, nhóm tuổi từ 60 trở lên vẫn dưới 10% Tháp dân số nước ta vẫn thuộc kiểu mở rộng với đáy rộng, đỉnh nhọn thể hiện tỉ suất sinh cao, số trẻ em đông