Vì vậy em đã chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long” Ngoài phần mở đầu và kết luận
Trang 1Kinh tế càng phát triển, đời sống nhõn nhõn càng cao thì nhu cầu bảo hiểmcàng lớn và các loại hình bảo hiểm ngày càng được hoàn thiện Cùng với việc hộinhập nền kinh tế giữa các nước đã mở ra cơ hội phát triển mạnh cho ngành bảohiểm nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, đặc biệt là bảo hiểm cháy vàcác rủi ro đặc biệt Khi hỏa hoạn xảy ra, nó không chỉ thiệt hại trực tiếp về người vàcủa mà còn để lại những tổn thất khổng lồ cho các cá nhân, doanh nghiệp sản xuấtkhi phải khôi phục lại hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Hàng loạt các vụcháy lớn tại các nhà xưởng, công ty, các khu công nghiệp hay các chung cư caotầng…gây thiệt hại hàng trăm tỉ đồng mỗi năm Năm 2010 tớnh riờng cho thànhphố Hồ Chí Minh, toàn thành phố xảy ra 190 vụ cháy , thiệt hại hỏa hoạn tăng304% so với năm 2009, thiệt hại ước tính trên 108,3 tỉ đồng, 5 người chết, 48 người
bị thương
Vì vậy, bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt ngày càng trở nên hết sứccần thiết Tính đến hết năm 2010, tính trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, bảohiểm cháy và các rủi ro đặc biệt đã đạt doanh thu 1.436 tỉ đồng, tăng trưởng 23%,trong đó BH cháy nổ bắt buộc đạt doanh thu 304 tỉ đồng tăng 67,5% với sự cạnhtranh gay gắt của các doanh nghiệp Đây là một trong những nghiệp vụ chủ chốttrong mảng phi nhân thọ của các công ty bảo hiểm Vậy làm thế nào để hoạt độngkinh doanh đem lai hiệu quả cao mà vẫn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng vàphức tạp của các tổ chức, doanh nghiệp và các cá nhân trong lĩnh vực bảo hiểm này
Trang 2đang là mỗi quan tâm lớn của mỗi doanh nghiệp, trong đó có công ty bảo hiểm dầukhí Thăng Long.
Qua thời gian thực tập ở công ty nhận thấy được nếu kinh doanh hiệu quảnghiệp vụ này thì không những góp phần nâng cao được doanh thu, lợi nhuận choCông ty mà còn giỳp Công ty có một vị trí vững chắc trên thị trường bảo hiểm Vì
vậy em đã chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh nghiệp vụ bảo
hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt tại Công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan chung về nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro
đặc biệt và hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
Chương 2: Đánh giá hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ tại
công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng hiệu quả kinh doanh
nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt tại công ty bảo hiểm dầu khíThăng Long
Do trình độ kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên chuyên
đề này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự đóng góp ý kiến củacác thầy cô và các bạn để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn Th.S Tô Thiên Hương cùng các anh chị ở phòngKinh doanh 2- Công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long đã tận tình hướng dẫn, chỉbảo để em có thể hoàn thành bản chuyên đề này!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3CHƯƠNG I TỔNG QUAN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY NỔ
VÀ CÁC RỦI RO ĐẶC BIỆT VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
NGHIỆP VỤ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.1 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
1.1.1 Lịch sử ra đời bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
Ngày nay cụm từ “ bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt ” (gọi tắt là bảohiểm chỏy) đó quỏ quen thuộc với chúng ta Lịch sử ra đời của loại hình bảo hiểmnày cũng có từ rất lâu đời và được bắt nguồn từ Châu Âu
Vào thời kì Trung đại, Phục hưng, ở Châu Âu vẫn chưa có hệ thống phũngcháy , chữa cháy hiệu quả Khi hỏa hoạn xảy ra thì người bị hại thường dựa vào sựgiúp đỡ của các phường hội Phải đến năm 1666, sau vụ đại hỏa hoạn tại Luân Đôn(2/9/1666) kéo dài trong 5 ngày đã phá hủy gần như toàn bộ khu vực phố cổ LuânĐôn với khoảng 13.200 căn nhà, gần 90 nhà thờ, 6 nhà nguyện và 4 nhà tù bị pháhủy thì người ta mới ý thức được tầm quan trọng của việc thiết lập hệ thống phũngcháy , chữa cháy và bồi thường cho người bị thiệt hại Sau đó những nhà kinhdoanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hoả hoạn bằng cáchđứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm cháy như: " Fire Office" (năm 1667),
"Friendly Society" (năm 1684), "Hand and Hand" (năm 1696), "Lom Bard House"(năm 1704) Tiếp đó là sự ra đời của hàng loạt các công ty khác và lan rộng ra khắpcác nước khỏc trờn lục địa Châu Âu như “ Company L’assuarance CentreeL’incedie ”, “Company Royade”( Pháp năm 1788) Ngày nay nghiệp vụ bảo hiểmcháy nổ được tiến hành ở hầu hết các nước trên thế giới và ngày càng phát triển
Ở Việt Nam, nghiệp vụ bảo hiểm cháy nổ ban đầu được triển khai từ cuốinăm 1989, sau khi có quyết định số 06/TCQD ngày 17/01/1989 của Bộ trưởng BộTài chính về bảo hiểm cháy nổ Qua một thời gian thực hiện, nghiệp vụ ngày càngphát triển Xét về con số tuyệt đối, năm 2005, doanh thu đối với bảo hiểm hỏa hoạn
và các rủi ro đặc biệt mới đạt 5.678 tỷ đồng thì đến năm 2009, con số này đã là13.641 tỷ đồng Ngày càng có nhiều công ty bảo hiểm tham gia cung cấp dịch vụtrong thị trường bảo hiểm hỏa hoạn, các sản phẩm bảo hiểm hỏa hoạn thì ngày càngphong phú, ngày càng khẳng định được vai trò là tấm lá chắn cho các tổ chức,
Trang 4doanh nghiệp , cá nhân tham gia bảo hiểm Đặc biệt, từ khi Luật phòng cháy chữacháy (số 27/2001/QH10) và Nghị định 130/2006/NĐ-CP (ban hành 8/11/206) vềbảo hiểm cháy nổ bắt buộc có hiệu lực thi hành đã có tác động nhất định đối với ýthức phòng cháy chữa cháy và tham gia bảo hiểm cháy nổ bắt buộc của người dân
và các tổ chức Nghị định quy định chế độ bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với tàisản của các cơ sở có nguy hiểm về cháy nổ, đồng thời khuyến khích các cơ quan, tổchức và cá nhân không thuộc đối tượng bắt buộc mua bảo hiểm chảy nổ Nhưngphải đến 24/04/2007 sau Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC của Bộ Tài chính thì bảohiểm cháy nổ bắt buộc mới chính thức đi vào đời sống
1.1.2 Sự cần thiết và vai trò của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
1.1.2.1 Sự cần thiết khách quan
Khihoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển thì nhu cầu tập trungvật tư, hàng hóa càng lớn, quy trình công nghệ ngày càng phức tạp và việc ứngdụng máy móc kĩ thuật hiện đại càng nhiều hơn Tuy nhiên, tốc độ phát triển củakhoa học kỹ thuật trong sản xuất nhanh hơn rất nhiều so với kỹ thuật công nghệ về
an toàn, nguồn vốn chi cho các biện pháp an toàn cũng thường rất nhỏ so với cácnguồn vốn chi cho phát triển sản xuất Thêm vào đó con người sử dụng ngày càngnhiều nguyên nhiên liệu dễ cháy như gas, xăng dầu, các loại hoá chất Khí hậu ngàycàng khắc nghiệt , lượng chất thải vào bầu khí quyển ngày càng lớn đã gây nên hiệntượng hiệu ứng nhà kính, El Nino…đó làm số vụ cháy ngày càng gia tăng
Theo thống kê trên thế giới mỗi năm có khoảng 5 triệu vụ hỏa hoạn lớn nhỏgây thiệt hại hàng trăm tỉ đô la Các vụ hoả hoạn không chỉ xảy ra ở các nước chậmphát triển mà ngay cả các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Phỏp…nơi
mà nền khoa học công nghệ đã đạt tới đỉnh cao của sự hiện đại và an toàn thì hoảhoạn vẫn xảy ra ngày một tăng về số lượng và mức độ nghiêm trọng Như ở Mỹ,các vụ chỏy đó gây thiệt hại khoảng 1,5 tỷ USD mỗi năm, hay ở Anh là khoảng 1,8
tỷ USD
Ở Việt Nam, trong vòng 30 năm từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnhphòng cháy chữa cháy (4/10/1961) thỡ đó xảy ra 566.036 vụ cháy (không kể cháy
do chiến tranh) làm chết 2.574 người ,bị thương 4.479 người, gây thiệt hại ước tính
948 tỷ đồng Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế phát triển hơn thì số lượngcác vụ cháy cũng ngày càng gia tăng Theo thống kê của Cục Cảnh sát
Trang 5PCCC&CNCH, trong giai đoạn 2000-2010 cả nước xảy ra gần 16.000 vụ cháy, làm2.581 người chết cháy và bị thương, gây thiệt hại trực tiếp về tài sản trị giá hơn3.291 tỉ đồng Đáng chú ý, vụ cháy Trung tâm thương mại Quốc tế ITC tại TP HồChí Minh ngày 29/10/2002 đã cướp đi sinh mạng của 60 người, làm 70 người khác
bị thương, Khảo sát riêng tại 1.209 cơ sở trong KCN, khách sạn, chợ, siêu thị,trung tâm thương mại, các cơ sở trọng điểm quốc gia ở 5 thành phố lớn cho thấy,trong giai đoạn 2004-2008 tại các cơ sở này đã xảy ra 86 vụ cháy làm 11 ngườichết, 15 người bị thương, gây thiệt hại vật chất trực tiếp trên 98 tỉ đồng
Vì vậy hỏa hoạn thực sự gây thiệt hại nghiêm trọng với hậu quả rất nặng nề
Để đối phó với hỏa hoạn, con người đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau như:phũng chỏy, chữa cháy, đào tạo nâng cao trình độ kiến thức và ý thức, thông tin vềPCCC Tuy nhiên, họa hoạn vẫn xảy ra với hậu quả không lường trước được Mặtkhác, trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì mỗi tổ chức, doanh nghiệp phải tựchủ về tài chính Nếu xảy ra hoả hoạn, họ sẽ phải đương đầu với rất nhiều khó khăn
về tài chính thậm chí có thể bị phá sản Vậy làm sao có thể đảm bảo được vốn sảnxuất kinh doanh, đảm bảo đời sống công ăn , việc làm cho người lao động, làm sao
để ổn định nhanh chóng và tiếp tục hoạt động sau khi xảy ra hỏa hoạn
Khi tham gia bảo hiểm cháy nổ, ngay sau khi hỏa hoạn xảy ra, họ đã có thểnhanh chóng ổn định đời sống sản xuất và tiếp tục kinh doanh nhờ vào khoản tiềnbồi thường nhận được từ phớa cỏc nhà bảo hiểm Do vậy, bên cạnh việc tích cựcphòng cháy chữa cháy thì bảo hiểm hoả hoạn chính là một giá đỡ cho mỗi cá nhân,mỗi doanh nghiệp tham gia bảo hiểm
1.1.2.2 Vai trò của bảo hiểm cháy nổ
Hỏa hoạn được coi là rủi ro mang tính thảm họa, nó không chỉ ảnh hưởngđến việc sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đến đời sống của người laođộng mà còn gây ảnh hưởng nặng nề về tâm lý Vì vậy bảo hiểm cháy nổ ra đời đógiỳp cỏc cá nhân, tổ chức kinh tế- xã hội nhanh chóng ổn định cuộc sống, ổn địnhhoạt động sản xuất kinh doanh khi không may xảy ra rủi ro, từ đó góp phần ổn địnhtrật tự xã hội Điều đó thể hiện:
- Việc mua bảo hiểm cháy, nổ sẽ giúp doanh nghiệp bảo toàn được vốn và táisản xuất kinh doanh trong trường hợp không may xảy ra sự cố cháy, nổ Bằng việcđóng góp một khoản phí bảo hiểm hỏa hoạn định kì, khi rủi ro xảy ra thì người tham
Trang 6gia bảo hiểm sẽ được bồi thường cho các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm Do đó
họ sẽ nhanh chóng khác phục được những khó khăn ban đầu về tài chính
- Tham gia bảo hiểm các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ trong công tác đềphòng và hạn chế tổn thất, công tác phũng chỏy, chữa cháy, các biện pháp giảmthiểu rủi ro để đảm bảo an toàn cao nhất.Để giảm xác suất xảy ra rủi ro hỏa hoạn thìviệc đề phòng hạn chế tổn thất là vô cùng quan trọng Nhưng để đạt hiệu quả caonhất thì đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa hai bên: bên mua bảo hiểm và bên bán bảohiểm Bên bán sau khi cung cấp sản phẩm bảo hiểm cháy nổ sẽ trở thành người tưvấn, kiểm tra, kiểm soát và hỗ trợ bên mua trong công tác phũng chỏy và chữa cháy
- Bên cạnh các lời ớch trờn, bảo hiểm cháy nổ còn góp phần quan trọng trongviệc ổn định và phát triển kinh tế Bởi thông qua việc hướng dẫn các doanh nghiệptham gia bảo hiểm cháy thực hiện các biện pháp an toàn, các công ty bảo hiểm đãlàm giảm thiểu tổn thất, rủi ro trong sản xuất kinh doanh Mặt khác triển khainghiệp vụ này còn tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động Phí bảo hiểmnhàn rỗi sẽ được tái đầu tư vào nền kinh tế góp phần không nhỏ vào tăng trưởng vàphát triển kinh tế , số tiền bồi thường sẽ giỳp cỏc cá nhân, tổ chức nhanh chóng trởlại sản xuất kinh doanh góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội Mặt khác mộtphần nguồn vốn thu được sẽ đón góp vào ngân sách nhà nước để sử dụng vào cácmục đích phúc lợi xã hội Vì vậy, bảo hiểm còn là chỗ dựa tinh thần cho mọi người,mọi tổ chức giúp họ yên tâm trong cuộc sống, trong sinh hoạt sản xuất kinh doanh,bảo hiểm thể hiện tính cộng đồng tương trợ và nhân văn sâu sắc
1.2 Nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
1.2.1 Các khái niệm liên quan đến bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
Bảo hiểm hỏa hoạn là nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, nhằm bảo hiểm cho cácloại tài sản của các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hội Đây là nghiệp vụ bảo hiểmkhá phức tạp nên khi triển khai nghiệp vụ này cần phải thống nhất một số khái niệm
có liên quan đến bảo hiểm cháy như sau:
- Cháy : Hiểu theo nghĩa thông thường thỡ chỏy là phản ứng hóa học có tỏanhiệt và phát sang
- Hỏa hoạn: Là cháy không kiểm soát được ngoài nguồn lửa chuyên dùnggây thiệt hại cho tài sản và người ở xung quanh
Trang 7- Đơn vị rủi ro: Là nhóm tài sản tách biệt khỏi nhóm tài sản khác với khoảngcách không cho phép lửa từ nhóm này lan sang nhúm khỏc( khoảng cách gần nhấtkhông dưới 12m )
- Tổn thất toàn bộ:
Tổn thất toàn bộ ở đây cũng được quan niệm theo 2 loại:
+ Tổn thất toàn bộ thực tế: Là tài sản được bảo hiểm bị phá hủy hoặc hưhỏng hoàn toàn, có thể số lượng còn nguyên nhưng giá trị không còn gì
+ Tổn thất toàn bộ ước tính: Là tài sản được bảo hiểm bị phá hủy hoặc hưhỏng đến mức sửa chữa phục hồi thì chi phí sửa chữa phục hồi bằng hoặc lớn hơn
số tiền bảo hiểm
Thống nhất được các khái niệm cơ bản này sẽ giúp công tác triển khai nghiệp
vụ bảo hiểm cháy dễ dàng và chuyên nghiệp hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.2 Đặc điểm của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt.
Bảo hiểm chỏy đó ra đời rất lõu trờn thế giới nhưng mốc triển khai nghiệp
vụ này với mỗi nước lại khác nhau Do đó khi tổ chức triển khai nghiệp vụ này tacần phải chú ý đến một số đặc điểm cơ bản của bảo hiểm cháy
- Thiệt hại do hỏa hoạn gây ra là rất lớn và không ai có thể lường trước được
Vì vậy khi triển khai nghiệp vụ công tác đề phòng và hạn chế tổn thất luôn luônđược đặt lên hàng đầu
- Các loại tài sản khác nhau thì khả năng xảy ra hỏa hoạn cũng khác nhau.Ngay bản thân một loại tài sản, nếu được làm bằng nguyên liệu khác nhau thì khảnăng xảy ra hỏa hoạn cũng khác nhau Cho nên việc tính phí bảo hiểm hỏa hoạn rấtphức tạp
- Công tác đánh giá và quản lý rủi ro, công tác giám định và bồi thường tổn thấttrong nghiệp vụ này cũng rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ có trình độ chuyên môn sâu
- Vì mức độ thiệt hại do hỏa hoạn gây ra rất lớn, cho nên các công ty bảohiểm khi triển khai nghiệp vụ này đồng thời phải triển khai các công việc khác nhưtái bảo hiểm, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Trang 81.2.3 Nội dung cơ bản của bảo hiểm cháy nổ và các rủi ro đặc biệt
1.2.3.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
- Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm cháy là tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý hợppháp của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các tổ chức và cá nhân thuộc mọithành phần kinh tế trong xã hội Đối tượng này được cụ thể hóa như sau:
+ Công trình xây dựng, vật kiến trúc đã đưa vào sử dụng( trừ đất đai)
+ Máy móc thiết bị, phương tiện lao động phục vụ sản xuất kinh doanh.+ Sản phầm, vật tư, hàng hóa dự trữ trong kho
+ Nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, thành phẩm trên dâychuyền sản xuất
+ Các loại tài sản khác( kho, bãi, chợ, cửa hàng, khác sạn…)
- Phạm vi bảo hiểm
Phạm vi bảo hiểm là giới hạn các rủi ro được bảo hiểm và giới hạn tráchnhiệm của công ty bảo hiểm Trong bảo hiểm cháy, công ty bảo hiểm có tráchnhiệm bồi thường các thiệt hại và chi phí sau:
+ Những thiệt hại do những rủi ro được bảo hiểm gây ra cho tài sản được bảohiểm
+ Những chi phí cần thiết và hợp lý để hạn chế bớt tổn thất tài sản được bảohiểm trong và sau khi hỏa hoạn xảy ra
+ Những chi phí dọn dẹp hiện trường sau khi hỏa hoạn xảy ra
Từ phạm vi bảo hiểm ta cú cỏc rủi ro được bảo hiểm như sau:
Rủi ro chính: “Rủi ro hỏa hoạn”- Rủi ro A( bao gồm chỏy, sét và nổ)
- Cháy : Cháy chỉ được coi là hỏa hoạn khi hội tụ đủ 3 yếu tố :
+ Phải thực sự có lửa phát
+ Lửa đó không phải là lửa chuyên dùng
+ Lửa đó phải là bất ngờ hay ngẫu nhiên phát ra Trường hợp có chủ ý hayđồng lõa của người được bảo hiểm sẽ không thuộc phạm vi bồi thường Tuy nhiên
Trang 9hỏa hoạn xảy ra do lỗi bất cẩn của người được bảo hiểm vẫn thuộc phạm vi đượcbồi thường.
- Nổ là hiện tượng cháy xảy ra rất nhanh tạo ra một áp lực lớn, kèm theotiếng động mạnh, phát sinh theo sự dãn nở đột ngột của chất lỏng, rắn hoặc khí.Trong rủi ro A thỡ nó bao gồm:
+ Nồi hơi phục vụ sinh hoạt
+ Hơi đốt phục vụ sinh hoạt, thắp sang hoặc sưởi ấm trong một ngôi nhà.+ Không phải nhà xưởng làm các công việc sử dụng hơi đốt
+ Các trường hợp nổ gây ra hỏa hoạn đã nghiễm nhiên được bảo hiểm Nhưvậy ở đây chỉ còn lại những thiệt hại do nổ mà không gây hỏa hoạn
+ Các tổn thất và thiệt hại khụng gõy hỏa hoạn thì không được bồi thường,trừ trường hợp nổ nồi hơi, khí phục vụ sinh hoạt, với điều kiện là sự nổ đó khôngphải là nguyên nhân bị loại trừ
+ Tổn thất hoặc thiệt hại do nổ xuất phát từ : Thiên tai ban đầu do hỏa hoạnđược bồi thường nhưng những tổn thất do hậu quả của nổ thì không được bồithường
- Sét : Các công ty bảo hiểm sẽ chỉ chịu trách nhiệm bồi thường khi tài sảnđược bảo hiểm bị phá hủy trực tiếp do sét hoặc do sét đánh gây ra hỏa hoạn Nếu sétđánh mà không gây ra hỏa hoạn hoặc không phá hủy trực tiếp thỡ khụng thuộcphạm vi trách nhiệm bồi thường
Tuy nhiên, nếu sét đánh phá hủy trực tiếp các thiết bị điện tử thì được bồithường, còn sét đánh làm thay đổi dòng điện dẫn đến thiệt hại cho thiết bị điện tử thìkhông được bồi thường
Rủi ro phụ - Rủi ro B :
Là những rủi ro từ bên ngoài, độc lập không nằm trong rủi ro cháy nhưng cóthể được lựa chọn để bảo hiểm cùng với bảo hiểm cháy, đồng thời rủi ro này chỉđược bảo hiểm khi đi kèm rủi ro chính
Rủi ro B bao gồm:
- Máy bay, các phương tiện hàng không khác hoặc các thiết bị trờn cỏcphương tiện đó rơi vào tài sản được bảo hiểm gây thiệt hại
Trang 10- Gây rối , đình công, bãi công, sa thải.
- Động đất, núi lửa phun bao gồm cả lụt và nước biển tràn vào do hậu quảcủa động đất và núi lửa phun
- Giụng bão, lũ lụt, mưa đá
- Vỡ hay tràn nước từ các bể chứa nước, thiết bị chứa nước hoặc được đườngống dẫn nước
- Hành động ác ý nhưng loại trừ những thiệt hại do trộm cắp hay cố gắngthực hiện hành động trộm cắp
Rủi ro loại trừ:
Trong bất kì nghiệp vụ bảo hiểm nào, bên cạnh các rủi ro được bảo hiểm đều
cú cỏc điểm loại trừ Mặc dù các nhà bảo hiểm cố gắng đáp ứng yêu cầu của kháchhàng bằng việc mở rộng những rủi ro được bảo hiểm nhưng không phải tất cả cácrủi ro có thể lựa chọn đều được nhà bảo hiểm chấp nhận Trong bảo hiểm chỏy thỡngoài các điểm loại trừ riờng cũn cú cỏc rủi ro loại trừ chung như sau :
- Động đất, núi lửa phun hay những biến động khác của thiên nhiên
- Tài sản tự lên men hoặc tỏa nhiệt
- Tài sản chịu tác động của một quá trình xử lý cú dựng nhiệt
- Tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng lõa của ngươi được bảo hiểm gây ra
- Những tổn thất gây ra do:
+ Gây rối, quần chúng nổi dậy bãi công, sa thải công nhân trừ khi rủi ro nàyđược ghi nhận là được bảo hiểm trong giấy chứng nhận bảo hiểm, nhưng chỉ vớiphạm vi bảo hiểm đã quy định tại rủi ro đó
Trang 11- Những tổn thất mà nguyên nhân gây ra có liên quan đến nguyên liệu vũ khíhạt nhân, phóng xạ ion hóa hay nhiễm phóng xạ từ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ chấtthải hạt nhân do bốc cháy nguyên liệu hạt nhân.
- Những thiệt hại về hàng hóa nhân ủy thác hay kí gửi, tiền bạc, kim loại quý,
đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinhdoanh, hệ thống dữ liệu máy tính, hàng mẫu, bản vẽ hay tài liệu thiết kế( trừ khinhững hạng mục này được xác định cụ thể là chúng được bảo hiểm theo đơn này )
- Chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu xăng , dầu
- Người, động vật và thực vật sống
- Những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơnbảo hiểm hàng hải hoặc lẽ ra được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm hàng hải, trừ phầnthiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải hoặc lẽ rađược bồi thường theo đơn bảo hiểm hàng hải
- Tài sản bị cướp hay bị mất cắp Trong trường hợp tài sản bị cướp, mất cắptrong khi xảy ra hỏa hoạn mà người được bảo hiểm khoong chứng minh được làmất cắp thì vẫn được bồi thường
- Những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bbaats kì hình thức nào, trừthiệt hại về tiền thuê nhà được xác định trong giấy chứng bảo hiểm là được bảohiểm
- Những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba và những thiệt hại trong phạm vimức miễn thường…
1.2.3.2 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm
Trong đơn bảo hiểm cháy, giá trị bảo hiểm chính là giá trị của tài sản đượcbảo hiểm Gớa trị này được tớnh trờn cơ sở là giá trị mua mới hoặc giá trị thực tếcủa tài sản tại thời điểm tham gia bảo hiểm Nhưng do đối tượng bảo hiểm cháythường phức tạp và có giá trị rất lớn, cho nên khi xác định giá trị bảo hiểm người tachia làm các loại sau:
- Giá trị bảo hiểm của các ngôi nhà được xác định theo giá trị mới hoặc giátrị còn lại ( gồm nhà xưởng, văn phòng, nhà ở)
Trang 12+ Giá trị mới là giá trị mới xây của ngôi nhà bảo gồm cả chi phí khảo sátthiết kế.
+ Giá trị còn lại là giá trị mới trừ đi hao mòn do sử dụng theo thời gian
- Giá trị bảo hiểm của thành phẩm và bán thành phẩm được xác định trên cơ
sở giá thành sản xuất
- Giá trị bảo hiểm của máy móc thiết bị và các loại tài sản cố định khác đượcxác định trên cơ sở giá mua mới( bao gồm cả chi phí vận chuyển, lắp đặt nếu có)hoặc giá trị còn lại
- Giá trị bảo hiểm của vật tư hàng hóa trong kho, cửa hàng được xác địnhtheo giá trị bình quân hoặc giá trị tối đa của các loại vật tư, hàng hóa có mặt trongthời gian bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà người tham gia bảo hiểm đăng kí với công tybảo hiểm trên cơ sơ giá trị bảo hiểm, là giới hạn bồi thường tối đa của công ty bảohiểm khi tài sản được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ Ngoài ra số tiền bảo hiểm còn
là căn cứ để xác định chi phí bảo hiểm Do đó, xác định chính xác số tiền bảo hiểm
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Việc xác định số tiền bảo hiểm dựa trên cơ sở làgiá trị bảo hiểm
Đối với các tài sản cố định, việc xác định số tiền bảo hiểm căn cứ vào giá trịbảo hiểm của tài sản Đối với các tài sản lưu động, do giá trị thường xuyên biến độngnên số tiền bảo hiểm có thể xác định theo giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa
- Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tính và thôngbáo cho công ty bảo hiểm biết giá trị số tượng vật tư, hàng hóa tối đa có thể đạt vàomột thời điểm nào đó trong thời gian bảo hiểm Phí bảo hiểm thường tính trên cơ
sở giá trị tối đa và thường được thu trước một phần Khi tổn thất xảy ra thuộc phạm
vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quágiá trị tối đa đã đăng kí ban đầu Đầu mỗi tháng hoặc quý ( tùy theo sự thỏa thuậncủa đôi bên) người được bảo hiểm thông báo cho công ty bảo hiểm số vật tư, hànghóa tối đa thực có trong tháng hoặc trong quý trước đó Cuối thời hạn bảo hiểm,trên cơ sở các giá trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính giá trị số vật tư, hànghóa tối đa bình quân của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm Nếu phí
Trang 13tính được trên cơ sở số giá trị tối đa bình quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộpthì người được bảo hiểm trả nốt cho công ty bảo hiểm số phí còn thiếu.
Trong thời gian bảo hiểm, nếu có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ đượccông ty bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường vượt quá giá trị tối đa bình quânthì phí bảo hiểm được tính dựa vào số tiền bồi thường đã trả Trong trường hợpnày, số tiền được bồi thường được coi là số tiền bảo hiểm
- Nếu bảo hiểm theo giá trị trung bình, người được bảo hiểm ước tính vàthông báo cho công ty bảo hiểm biết giá trị số hàng hóa trung bình có trong kho,trong cửa hàng Trong thời gian bảo hiểm, giá trị trung bình này được coi là số tiềnbảo hiểm Phí bảo hiểm được tớnh trờn giá trị trung bình Khi tổn thất xảy ra thuộcphạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượtquá giá trị trung bình đã khai báo
Việc bảo hiểm theo giá trị trung bình này khá đơn giản, dễ theo dõi đồngthời có lợi về tính phí bảo hiểm Nếu một loại hàng hóa được bảo hiểm mà giá trị ítbiến động trên thị trường áp dụng phương pháp này rất thuận tiện Ngược lại, ápdụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp đòi hỏi công ty bảo hiểm phải biếtgiá trị vật tư, hàng hóa được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số vật tư hàng hóa trongkho suốt thời gian bảo hiểm Những tài sản có giá trị lớn người bảo hiểm khó cóthể tái bảo hiểm vỡ tớnh phức tạp và khó khăn này
1.2.3.3 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia nộp cho công ty bảo hiểm đểbảo hiểm cho những rủi ro mà họ tham gia, nó chớnh là giá cả của dịch vụ bảohiểm
Các nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm.
Có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến phí bảo hiểm chỏy vỡ đối tượngcủa bảo hiểm cháy đa dạng về chủng loại và mức độ rủiro Vì vậy không thể ápdụng một biểu phí cố định cho tất cả các loại công trình, tài sản có mức độ rủi ro vàviệc phũng chỏy khác nhau Thông thường, các công ty bảo hiểm áp dụng các tỉ lệphớ cỏc nhau cho tất cả các ngành sản xuất kinh doanh, dịch vụ , sau đó điều chỉnh
tỉ lệ phí theo các yếu tố tăng giảm phớ Cỏc nhân tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểmcháy như sau:
Trang 14- Vật liệu xây dựng: Tùy theo các yếu tố kết hợp vật liệu xây dựng có thểchia ra làm 3 loại :
+ Vật liệu nặng khó bắt lửa và có khả năng chịu lửa tốt như bê tông, cốtthép, đỏ…loại này dùng để xây dựng công trình loại D
+ Vật liệu trung gian: Là vật liệu nhiều chất hóa học trộn với vật liệu thiênnhiên, khả năng chịu lửa không tốt bằng vật liệu nặng, loại này dùng để xây dựngcông trình loại N
+ Vật liệu nhẹ: Loại này dễ bắt lửa và không có sức chịu lửa, thường dùng
để xây dựng công trình loại L
- Ảnh hưởng của các tầng nhà: khi hỏa hoạn xảy ra lửa hoặc hơi nóng sẽ đượctruyền lên qua các tầng nhà, qua các cầu thang lên xuống, qua lỗ hổng hoặc qua cửa sổlàm cho các tầng nhà có thể bị sập kéo theo các thiệt hại bên trong Do đó, sức chịuđựng của các tầng nhà cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
- Phũng cháy , chữa cháy: Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phíbảo hiểm Căn cứ vào công tác này để công ty bảo hiểm điều chỉnh phí bảo hiểm.Nếu công tác phũng chỏy, chữa cháy được trang bị tốt, hạn chế thấp nhất rủi ro xảy
ra thì phí bảo hiểm sẽ được tính tốt hơn Vị trí gần hay xa nguồn nước, đội cứuhỏa…cũng ảnh hưởng đến phí bảo hiểm
- Cách phân chia đơn vị rủi ro: Khoảng cách phân chia hoặc tường chốngcháy cũng ảnh hưởng tới phí bảo hiểm Các đơn vị rủi ro càng gần nhau, phí bảohiểm càng cao và ngược lại
- Bao bì đóng gói, chủng loại hàng hóa, cách thức xếp đặt: Tùy từng loạihàng hóa, bao gói hay cách thức xếp đặt hàng hóa mà phí bảo hiểm phải căn cứ vào
đó mà xác định
Tính phí bảo hiểm cháy
Phí bảo hiểm cháy được xác định theo công thức:
P = Sb x R
Trong đó: Sb: STBH
R: Tỉ lệ phí bảo hiểm
P: Phí bảo hiểm
Trang 15Tỷ lệ phí bảo hiểm được chia làm 2 bộ phận: tỉ lệ phí thuần( R1) và tỉ lệ phụphí (R2).
R = R1 + R2
Khi xác định tỉ lệ phí thuần thường phải căn cứ vào số liệu thống kê trongmột số năm trước đó như: tổng số đơn vị rủi ro tham gia bảo hiểm cháy, số đơn vịrủi ro tham gia bảo hiểm bị hỏa hoạn, tổng số tiền bảo hiểm cháy, số tiền bồi thườngbảo hiểm cháy
Có 2 phương pháp xác định tỉ lệ phí thuần: theo phân loại và theo danh mục
- Xác định tỉ lệ phí thuần theo phân loại
Đây là các kết hợp các đơn vị có thể so sánh với nhau cùng một loại, sau đótính tỉ lệ mỗi loại phản ánh số tổn thất và các chi phí khác của loại đó Phương phápnày phù hợp với những tài sản tương đối đồng nhất với nhau như nhà ở của dân cư,các nhà thờ… Nhưng khi xác định tỷ lệ theo phân loại, cần xột cỏc yếu tố ảnhhưởng đến tỉ lệ phí như:
+ Loại vật liệu xây dựng
+ Khả năng phũng chỏy, chữa cháy
+ Người sử dụng( chủ ở hay cho thuê)
+ Những vật bố trí xung quanh, bên ngoài
- Xác định tỉ lệ phí thuần theo danh mục
Theo phương pháp này, các bước xác định tỉ lệ phí bảo hiểm bao gồm:
Bước 1: Rà soát lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm cháy, sau đó
phân loại từng tài sản theo danh mục khác nhau( vì mỗi loại tài sản có khả năng bịhỏa hoạn khác nhau)
Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sảnh xuất kinh doanh để chọn một tỉ lệ phí
thích hợp trong bản tỉ lệ phí có sẵn
Bước 3: Điều chỉnh tỉ lệ phớ đó chọn theo các yếu tố tăng (giảm).
Việc điều chỉnh này phải căn cứ vào: vật liệu xây dựng, công tác phũngchỏy, chữa chỏy…Tất cả những yếu tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỷ lệ phíbảo hiểm Trong nghiệp vụ bảo hiểm chỏy, cỏc công ty bảo hiểm phải quan tâm đến
Trang 16các yếu tố làm giảm mức độ rủi ro vì những yếu tố này là cơ sở để giảm phí cơ bản.Tuy nhiên, tổng mức giảm phí về các thiết bị và phương tiện phũng chỏy, chữa cháycủa mỗi đơn vị rủi ro không quá 45% Các yếu tố làm giảm rủi ro thường gồm:
+ Thiết bị phòng cháy chữa cháy
+ Việc trực, kiểm tra, canh gác
+ Thiết bị phương tiện chữa cháy như: công trình có hệ thống phun nước, có
hệ thống dập cháy bằng CO2, có hệ thống tự động dập tắt tia lửa điện, có ô tô chữacháy và nhân viên chữa cháy, gần đội cứu hỏa công cộng…
Ngoài ra, nghiệp vụ bảo hiểm này còn áp dụng mức miễn thường tùy theotừng loại sản phẩm Thông thường, trong bảo hiểm cháy áp dụng mức miễn thường
có khấu trừ tối thiểu là 2% STBH, nhưng không dưới 100USD/ mỗi vụ tổn thất vàtối đa không quá 2000 USD/ mỗi vụ tổn thất Đây là mức miễn thường bắt buộckhông được giảm phí Nếu người tham gia bảo hiểm muốn lựa chọn mức miễnthường cao hơn để được giảm phớ thỡ sẽ có thỏa thuận riêng về mức miễn thường
và tỉ lệ giảm phí
Mức khấu trừ được quy định cụ thể tại Phụ lục 2 Quyết định số BTC đã chỉ rõ : Đối với các tài sản được bảo hiểm có tổng số tiền bảo hiểm có giátrị từ 30 triệu Đô la Mỹ trở lên thì mức khấu trừ sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm vàbên mua bảo hiểm thoả thuận, được xác định trên cơ sở mức khấu trừ tương ứng vớigiá trị của tài sản của một công ty đứng đầu nhận tái bảo hiểm được các tổ chứcđịnh giá quốc tế xếp hạng có khả năng tài chính tốt (Standard & Poor's xếp hạng từBBB trở lên, Moody's xếp hạng từ Baa trở lờn…) cung cấp
28/2007/QĐ-Đối với các tài sản được bảo hiểm có tổng số tiền bảo hiểm có giá trị dưới 30triệu Đô la Mỹ, mức khấu trừ áp dụng chung là 0,2% số tiền bảo hiểm nhưng khôngthấp hơn mức khấu trừ tối thiểu theo bảng sau:
Trang 17Bảng 1.1: Mức khấu trừ đối với tài sản có tổng giá trị STBH dưới 30 triệu USD
Đơn vị: USD
Giá trị bảo hiểm Mức khấu trừ tối thiểu
Tới 100.000
500.0002.500.0005.000.00010.000.00050.000.000
2005001.0002.0003.0005.000
Việc đóng phí gắn liền với hiệu lực của hợp đồng Hiệu lực của hợp đồngđược ghi trong giấy chứng nhận bảo hiểm Thông thường hiệu lực của hợp đồng bắtđầu khi người tham gia bảo hiểm nộp phí và kết thúc vào 16h ngày cuối cùng củathời hạn bảo hiểm Tùy theo yêu cầu của người được bảo hiểm, công ty bảo hiểmnhận bảo hiểm với thời hạn 1 năm hoặc bảo hiểm ngắn hạn( tháng, quý) Sau khi kếtthúc thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm có thể đúng phớ tiếp và yêu cầu táitục hợp đồng bảo hiểm
1.2.3.4 Giám định và bồi thường tổn thất
- Giám định tổn thất
Công tác giám định tổn thất là cơ sở xác định chính xác số tiền bồi thường.Khi tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải kịp thời thông báo cho công ty bảo hiểm
Trang 18bằng văn bản, điện thoại, điện tín hoặc fax Thông báo phải đảm bảo các nội dungsau:
+ Địa điểm, thời gian xảy ra tổn thất.
+ Đối tượng thiệt hại
+ Dự đoán nguyên nhân xẩy ra tổn thất
Sau khi nhận được thông báo, công ty bảo hiểm cứ ngay nhân viên có tráchnhiệm đến hiện trường làm công tác giám định Khi giám định thường phải làm rõvấn đề sau:
+ Thời điểm xảy ra hỏa hoạn và kết thúc hỏa hoạn
+ Nguyên nhân gây ra hỏa hoạn
+ Thống kê toàn bộ tài sản bị thiệt hại
+ Công tác phũng chỏy, chữa cháy và ngăn ngừa thiệt hại khi hỏa hoạn xảy ra.+ Lời khai của các nhân chứng
Sau đó lập biên bản giám định có đầy đủ chữ kí của các beeb liên quan: công
an, cảnh sát phũng chỏy, thuế vụ, chính quyền sở tại, kiểm toỏn…Đõy là cơ sở đểcông ty bảo hiểm dự trù số tiền bồi thường một lần hay nhiều lần cho người đượcbảo hiểm
- Bồi thường tổn thất
Khi xảy ra rủi ro được bảo hiểm thì bồi thường là trách nhiệm chủ yếu củacông ty bảo hiểm Để giải quyết bồi thường, công ty yêu cầu người được bảo hiểmhoàn thiện một bộ hồ sơ yêu cầu bồi thường Hồ sơ yêu cầu bồi thường bao gồm cácloại giấy tờ sau:
Trang 19+ Chứng từ pháp lý liên quan đến các chi phớ…
Để xác định số tiền bồi thường, công ty bảo hiểm phải xác định được giá trịtổn thất thực tế Gớa trị tổn thất thực tế được xác định theo giá trị thực tế của tài sảntại thời điểm xảy ra tổn thất Cách thức xác định tùy thuộc vào từng loại đối tượngbảo hiểm như sau:
+ Đối với máy móc thiết bị và tài sản khác: Nếu tổn thất có thể sửa chữađược thì cơ sở tính giá trị tổn thất là chi phí sửa chữa Nếu không sửa chữa đượchoặc sửa chữa được nhưng chi phí sửa chữa lớn hơn giá trị của tài sản thì cớ sở tínhgiá trị tổn thất là chi phí mua mới trừ đi khấu hao
+ Đối với công trình kiến trúc: Cơ sở tính giá trị tổn thất là lấy chi phí xâydựng trừ đi khấu hao
+ Đối với thành phẩm: Cơ sở tính giá trị tổn thất là giá thành sản xuất, baogồm chi phí nguyên vật liệu, tiền công lao động, chi phí quản lý, khấu hao tài sản cốđịnh, nếu giá thành sản xuất cao hơn giá bán thỡ tớnh theo giá bán
+ Đối với bán thành phẩm: Cơ sở tính giá trị tổn thất là chi phí sản xuất tínhđến thời điểm xảy ra tổn thất
+ Đối với hàng hóa dự trữ trong kho, cửa hàng: Cơ sở tính giá trị tổn thất làgiá mua theo hóa đơn mua hàng
Căn cứ vào biên bản giám định và giá trị thiệt hại, người bảo hiểm sẽ xét bồithường theo các trường hợp sau:
+ Đối với tổn thất toàn bộ thực tế hay ước tính: Công ty bảo hiểm sẽ bồithường tổn thất theo giá trị thiệt hại thực tế trên thị trường nhưng không vượt quá sốtiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm và mức khấu trừ
+ Đối với tổn thất bộ phận: Số tiền bồi thường được tính như sau:
Trường hợp 1: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài sản lớn
hơn hoặc bằng STBH thì số tiền bồi thường sẽ là:
Số tiền bồi thường = Giá trị tổn thất thực tế ì
Trường hợp 2: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài sản nhỏ
hơn STBH thì số bồi thường sẽ là:
Trang 20STBH = Giá trị tổn thất thực tế
- Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tài sản được bảo hiểm bằng một hợp đồngkhỏc thỡ trách nhiệm của công ty bảo hiểm chỉ giới hạn trong phần tổn thất phân bổcho hợp đồng mà mình bảo hiểm theo tỉ lệ như sau:
Trường hợp 1: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài sản lớn
hơn hoặc bằng STBH, số tiền bồi thường sẽ là :
STBT = Gớa trị tổn thất thực tế ì x Tỷ lệ BH
Trường hợp 2: Nếu tại thời điểm xảy ra tổn thất, tổng giá trị của tài sản nhỏ
hơn STBH, số tiền bồi thường sẽ là:
STBH = Giá trị tổn thất thực tế x Tỷ lệ bảo hiểm
Ngoài ra nếu đến thời điểm xảy ra tổn thất, người tham gia bảo hiểm khôngnộp đầy đủ mức phí theo quy định, thì số tiền bồi thường của công ty bảo hiểmđược tính như sau:
Số tiền bồi thường = giá trị tổn thất thực tế x
1.2.3.5 Các văn bản pháp luật có liên quan đến bảo hiểm cháy nổ bắt buộc
- Căn cứ vào điều 9 Luật Kinh doanh bảo hiểm, điều 8 Luật Phũng chỏy và
chữa cháy, luật Tổ chức Chính phủ, sau hơn 20 lần dự thảo ngày 08/11/2006 Chínhphủ ban hành Nghị định số 130/2006/NĐ-CP quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổbắt buộc Đây là khung pháp lý đầu tiên để điều chỉnh lĩnh vực bảo hiểm cháy, nổ.Nghị định này quy định về chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản củacác cơ sở có nguy hiểm về cháy, nổ; trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm, cơ sởphải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trong việc thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổbắt buộc; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Ngày 24/4/2007, Bộ Tài chính – Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch số41/2007/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định130/2006/NĐ-CP Thông tư này hướng dẫn việc thực hiện chế độ bảo hiểm cháy,
nổ bắt buộc đối với tài sản của cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, tráchnhiệm của doanh nghiệp trong việc trích lập kinh phí cho các hoạt động phũng
Trang 21chỏy, chữa cháy( PCCC) và cơ chế quản lý cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồnkinh phí này
- Ngày 24/4/2007 Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 28/2007/QĐ-BTCban hành Quy tắc và biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc Nghị định chỉ rõ cácdoanh nghiệp bảo hiểm được chủ động điều chỉnh tăng, giảm mức phí bảo hiểmtrong phạm vi 25% so với Biểu phí bảo hiểm ban hành tại Quyết định này phù hợpvới điều kiện, điều khoản bảo hiểm giao kết Đối với các cơ sở có nguy hiểm cháy,
nổ mang tính đặc thù chưa được đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ trong Quy tắc,Biểu phí do Bộ Tài chính ban hành, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểmđược phép thỏa thuận về điều kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm để tiến hành bảo hiểmkịp thời và phải báo cáo Bộ Tài chính để theo dõi, quản lý
- Ngày 30/ 12/ 2010, Bộ tài chính đã ban hành Thông tư 220/2010/TT-BTC
để Hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc nhằm thay thế Quyếtđịnh số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc ban hành Quy tắc, Biểu phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc Về cơ bản nội dungcủa Thông tư 220 tương tự như Quyết định 28 Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn làviệc giảm đến 50% Tỷ lệ phí bảo hiểm ở tất cả các loại hình tài sản. Thông tư nàychính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 03 năm 2011 Không chỉ quy định rất rõ vềbiểu phí bảo hiểm đối với những trường hợp tham gia bảo hiểm, Thông tư 220 cũn
cú những thay đổi linh hoạt về mức phớ… Khoản 8 điều 12 quy định mức đónggóp kinh phí để phục vụ cho các hoạt động phũng chỏy và chữa cháy hàng nămbằng 5% tổng số phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đã thu được tương ứng với mứctrách nhiệm thực giữ lại của doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng thu cho doanh nghiệpbảo hiểm Ngoài ra, quy định căn cứ vào mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm,doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm có thể thoả thuận điều chỉnh tăng,giảm phí bảo hiểm với biên độ là 25% tớnh trờn mức phí quy định… cũng tạo chủđộng cho doanh nghiệp bảo hiểm không phải điều chỉnh nhiều lần so với quy địnhtrước đó mà chỉ cần một lần đàm phán duy nhất với khách hàng
1.3 Hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1 Khái niệm
Trang 22Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổnghợp Đánh giá hiệu quả kinh doanh chính là quá trình so sánh lợi ích thu được với chiphí bỏ ra trong suốt qỳa trỡnh kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với DNBH, hoạt động chủ yếu là tổ chức kinh doanh các nghiệp vụ bảo
hiểm nhằm đạt được các mục tiêu đã định Vì vậy, hiệu quả kinh doanh của DNBH
chính là thước đo sự phát triển của bản thân doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanh nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Với tư cách là thước đo sự phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm, hiệu quảkinh doanh thể hiện ở các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau Nhưngkhông phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêuphản ánh chi phí( như tiền lương so với tổng chi phí) và cơ cấu kinh doanh( như lợinhuận so với doanh thu) đều không phải chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêu hiệu quảkinh doanh chỉ có thể được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí Khilấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phíthì ta được một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh Để đánh giá tốc độ phát triển kinhdoanh của doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng nhiều chỉ tiêu đế phản ánh như: tốc
độ tăng doanh thu, tốc độ tăng lợi nhuận… nhưng đó chỉ là những chỉ tiêu mangtính “ chiều rộng”
- Các chỉ tiêu mang tính “ chiều sõu” phải là các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế.Bởi tốc độ tăng doanh thu hay lợi nhuận chỉ nói lên động thái của kết quả kinhdoanh, chứ chưa đề cập đến chi phí trong kinh doanh Nếu chi phí tăng nhanh và sửdụng lãng phí thì về lâu dài , tốc độ tăng đó sẽ không có ý nghĩa và hoàn toàn không
có hiệu quả.Nói một cách khác, ta có thể hiểu hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phảnánh trình độ và khả năng quản lý của doanh nghiệp Lúc này hiệu quả kinh doanhthống nhất với hiệu quả quản lý doanh nghiệp
Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các trường hợp sau:
+ Doanh thu tăng, chi phí giảm
+ Doanh thu tăng, chi phí giảm nhưng tốc độ tăng của chi phí nhỏ hơn tốc độtăng của kết quả
Trang 23- Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm luôn gắn với những mụctiêu kinh tế - xã hội Trước hết, là những mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là củangành bảo hiểm bởi bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế, mà còn mang tính xãhội Vì vậy khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểmkhông chỉ xột trờn góc độ kinh tế mà còn phải xột trờn góc độ phục vụ xã hội.Nguyên tắc “lấy số đông bù số ớt” trong kinh doanh bảo hiểm càng làm cho tínhchất xã hội xã hội của bảo hiểm rõ nét hơn Từ đó càng làm cho công tác xã hội hóacủa bảo hiểm ngày càng sâu rộng Bởi vậy, hiệu quả xã hội của DNBH cũng phảiđược phản ánh ở trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả phục vụ
xã hội của doanh nghiệp
- Mặt khác, mỗi doanh nghiệp không chỉ đơn thuần kinh doanh bảo hiểm, màcòn kinh doanh ở nhiều lĩnh vực khác nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhànrỗi của mình Những doanh nghiệp hoạt động lâu năm, quy mô lớn, đặc biệt làdoanh nghiệp BHNT thì nguồn vốn nhàn rỗi thường rất lớn, nguồn vốn này thựcchất là quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ chi trả bảo hiểm chưa dùng đến Việc đưa số vốnnày vào kinh doanh là cần thiết để khắc phục tình trạng lạm phát, tăng lợi nhuận,góp phần tăng trưởng quỹ dự trữ và quỹ chi trả Ngoài ra nếu sử dụng có hiệu quảcòn bổ sung thêm vào quỹ điều hành để tăng thu nhập cho người lao động Thậmchí còn sử dụng để thưởng cho người tham gia bảo hiểm liên tục với STBH lớn, tạođiều kiện cho công tác khai thác sau này
Tóm lại hiệu quả kinh doanh chính là thước đo và ngày càng trở nên quantrọng của sự tăng trưởng kinh tế , là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mụctiêu kinh tế của doanh nghiệp trong thời kỳ Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh, đây là mục tiêu cơ bản nhất củadoanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng
1.3.2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Khi xem xét hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm trênphương diện thống kê thì không thể dùng một chỉ tiêu mà cần phải xét đến một hệthống các chỉ tiêu Các doanh nghiệp phải coi các chỉ tiêu tiêu chuẩn là mục tiêuphấn đấu Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh giới cóhay không có hiệu quả Nội dung của phạm trù hiệu quả kinh doanh rất rộng và rấtphức tạp Nó thể hiện ở ngay bản chất mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Chi phí
Trang 24với tư cách là những yếu tố đầu vào của hoạt động kinh doanh rất đa dạng và baogồm nhiều loại Dưới góc độ kinh tế vi mô, hiểu theo nghĩa rộng thì chi phí baogồm toàn bộ nguồn nhân tài, vật lực huy động vào hoạt động kinh doanh Còn đạilượng kết quả lại được thể hiện ở nhiều chỉ tiêu khác nhau Việc tính toán và xácđịnh mỗi chỉ tiêu hay lựa chọn chỉ tiêu nào để phản ánh hiệu quả là những vấn đềphức tạp Vì vậy, đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNBH sử dụng một hệ thốngchỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu phản ánh một mặt, một quá trình kinh tế nào đó
Thông thường, hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp bảo hiểm đượcbiểu hiện bằng tỷ lệ giữa kết quả kinh doanh so với chi phí kinh doanh hoặc ngượclại Nên công thức khái quát để tính hiệu của kinh doanh trong DNBH là :
H = hoặc H =
Trong đó: K : Kết quả kinh doanh
C: chi phí kinh doanh
H: hiệu quả kinh doanh
K: Được biểu hiện ở rất nhiều chỉ tiêu: doanh thu, lợi nhuận, VA,
GO …Ngoài ra trong từng khâu công việc K còn được biểu hiện ở các chỉ tiêu : sốhợp đồng khai thác, số vụ giám định bồi thường…
C : Thường được biểu hiện ở các chỉ tiêu: số lao động, thời gianlao động, vốn cố định, giá trị tài sản cố định, đất đai Ngoài ra trong từng khâucông việc nó cũn được biểu hiện như: chi phí giám định, chi phí đề phòng hạn chếtổn thất, chi bồi thường…Vỡ vậy, nếu có m chỉ tiêu kết quả, n chỉ tiêu chi phí thìngười ta sẽ thiết lập được 2m.n chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh
Công thức xác định về hiệu quả kinh doanh khái quát nói trên được xột trờnhai mặt sau: mặt kinh tế, mặt xã hội:
1.3.2.1 Về mặt kinh tế
Đánh giá hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ của DNBH khi xột trờn góc độ kinh
tế ta cần phân tích các chỉ tiêu sau:
Trang 25- Hiệu quả kinh doanh tính theo doanh thu:
Trong nghiệp vụ bảo hiểm, hiệu quả này được tính dựa trên 2 chỉ tiêu: Tổngdoanh thu nghiệp vụ đó trong kì và tổng chi phí chi ra cho nghiệp vụ đó trong kì baogồm các khoản chi như: chi bồi thường, chi đề phòng hạn chế tổn thất, chi giámđịnh, chi hoa hồng…
Hd =
Trong đó:
Hd: Hiệu quả kinh doanh của DNBH tính theo doanh thu D: Doanh thu trong kì
L: Lợi nhuận thu được trong kì
C: Tổng chi phí chi ra trong kì
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kì tạo thì tham giatạo được bao nhiêu đồng doanh thu
- Tốc độ tăng (giảm) doanh thu:
Tốc độ tăng (giảm) doanh thu = x 100%
Trong đó: Dn+1 : doanh thu phí bảo hiểm năm n+1
Dn: doanh thu phí bảo hiểm năm n
Tốc độ tăng (giảm) doanh thu liên hoàn qua các năm là chỉ tiêu được sửdụng để so sánh kết quả về doanh thu của năm sau so với năm trước liền kề Từ đónhận xét và đánh giá được hiệu quả về doanh thu trong kinh doanh nghiệp vụ cũngnhư xem xét được mức hoàn thành các kế hoạch kinh doanh đặt ra
- Hiệu quả kinh doanh tính theo lợi nhuận
Trang 26Khi tính theo lợi nhuận thì hiệu quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm đượctính bằng tỷ số giữa tổng lợi nhuận DNBH thu được từ nghiệp vụ đó trong kì ( L)với tổng chi phí chi ra cho nghiệp vụ đó trong kì (C)
Hc =
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí chi ra trong kì thì tham gia tạođược bao nhiêu đồng lợi nhuận cho doanh nghiệp bảo hiểm.Hai chỉ tiêu trên có kếtquả tính càng lớn càng tốt vì với mức chi phí nhất định, doanh nghiệp sẽ có mứcdoanh thu và lợi nhuận ngày càng tăng
- Hiệu quả khai thác bảo hiểm
Đối với DNBH, khâu khai thác có vị trí cực kì quan trọng Nó trực tiếpmang lại doanh thu cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nên mục tiêucủa các DNBH cũng chính là tính hiệu quả trong khai thác bảo hiểm
Hiệu quả khai thác bảo hiểm =
Kết quả khai thác trong kì có thể là số lượng hợp đồng khai thác được, làdoanh thu phí bảo hiểm hay số đơn bảo hiểm cấp trong kỡ… cũn chi phí khai thác
có thể là tổng chi phí trong khâu khai thác hoặc cũng có thể là số đại lý khai tháctrong kì Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả của việc sử dụng chi phí trong việc khai thácmới Phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra thì tham gia tạo được bao nhiêu hợp đồnghay bao nhiêu đồng doanh thu phí bảo hiểm mới…
- Hiệu quả giám định bảo hiểm
Hiệu quả giám định bảo hiểm =
Tử số của chỉ tiêu trên có thể là số vụ tai nạn rủi ro đã được giám định hoặc
số khách hàng đã được bồi thường trong kỡ Cũn mẫu số là tổng chi phí giám định.Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng chi phí trong công tác giám định cho kháchhàng mà công ty phải bồi thường
- Hiệu quả đề phòng và hạn chế tổn thất
Trang 27Hiệu quả trong công tác đề phòng và hạn chế tổn thất này được tính nhưsau:
Hiệu quả đề phòng và hạn chế tổn thất =
Kết quả chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí đề phòng và hạn chế tổnthất chi ra trong kì tham gia tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận nghiệp vụ bảo hiểm.Tuy nhiên phải chú ý đến độ trễ thời gian, vỡ cú những khoản chi trong kì nhưng lạiphát huy hiệu quả ở kì sau
Cỏc khâu khai thác, giám định bồi thường, đề phòng hạn chế tổn thất…đều
là cỏc khõu mà nghiệp vụ bảo hiểm nào triển khai cũng áp dụng Để nâng cao hiệuquả của nghiệp vụ, đòi hỏi phải nâng cao hiệu qủa của từng khâu công việc Điều đó
có nghĩa là phải xác định hiệu quả từng khâu, sau đó so sánh và đánh giá xem khâunào chưa mang lại hiệu quả, khâu nào đạt hiệu quả kém để tìm ra nguyên nhân vàhướng khắc phục cũng như phát hiện khả năng tiềm tàng nâng cao hiệu quả kinhdoanh bảo hiểm Ngoài ra từ việc tính toán hiệu quả từng khâu ta rút ra được nhữngkinh nghiệm để tiếp tục phát huy hiệu quả đạt được, đồng thời tìm tòi chiến lượckinh doanh mới mang lại hiệu quả cao cho các nghiệp vụ bảo hiểm
Hx: hiệu quả xã hội của công ty bảo hiểm
CBH: tổng chi phí cho hoạt động KDBH trong kì
KBT: số khách hàng được bồi thường trong kì
KTG: số khách hàng tham gia bảo hiểm trong kì
Trang 28Chỉ tiêu (a) phản ánh cứ một đồng chi phí chi ra trong kỡ đó thu hút đượcbao nhiêu khách hàng tham gia bảo hiểm Chỉ tiêu (b) nói lên cùng với đồng chi phí
đú đó góp phần giải quyết khắc phục hậu quả cho bao nhiêu khách hàng gặp rủi rotrong nghiên cứu Tất cả các chỉ tiêu trên phản ánh tổng hợp nhất mọi mặt hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Nếu xem xét ở từng mặt, từng khâu và từng nghiệp vụ bảo hiểm có thể tínhđược các chỉ tiêu hiệu quả khác nhau để phục vụ cho quá trình đánh giá và phân tíchhoạt động kinh doanh Tuy vậy, tất cả các chỉ tiêu hiệu quả đều phải đảm bảonguyên tắc xây dựng, điều đó có nghĩa là mỗi chỉ tiêu phản ánh đượcc trình độ sửdụng loại chi phí nào đó trong việc tạo ra những kết quả nhất định
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM CHÁY NỔ TẠI CễNG TY BẢO HIỂM DẦU KHÍ THĂNG LONG
2.1 Giới thiệu về công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long
Trang 292.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty Dầu khí Việt Nam và công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long
2.1.1.1 Tổng công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí Việt Nam, tiền thân là Công ty Bảohiểm dầu khí, được thành lập ngày 23/01/1996 theo Quyết định số 12/BT của Bộtrưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ; được Bộ tài chính cấp giấy chứng nhận
đủ tiêu chuẩn và đăng ký hoạt động kinh doanh bảo hiểm số 07 TC/GCN ngày02/12/1995 Bộ Công nghiệp có Quyết định số 3484/QĐ-BCN ngày 15/02/2007 vàQuyết định số 563/QĐ-BCN ngày 15/02/2007 về việc phê duyệt phương án cổ phầnhoá và chuyển Công ty Bảo hiểm Dầu khí thành Tổng công ty cổ phần Bảo hiểmDầu khí Việt Nam Ngày 12/03/2007, Bộ Tài chính đã cấp giấy phép thành lập vàhoạt động cho Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam số 42GP/KDBHcủa Bộ Tài chính
Phạm vi lĩnh vực hoạt động của Công ty bao gồm:
- Kinh doanh bảo hiểm gốc:
+Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người
+ Bảo hiểm năng lượng
+ Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại
+ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đườngsắt và đường không
+ Bảo hiểm thân tầu và trách nhiệm dân sự của chủ tầu
+ Bảo hiểm trách nhiệm chung
+ Bảo hiểm hàng không
+ Bảo hiểm xe cơ giới
+ Bảo hiểm cháy, nổ
- Kinh doanh tái bảo hiểm: Nhận và nhượng tái bảo hiểm đối với tất cả cácnghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ
- Giám định tổn thất: Giám định, điều tra, tính toán, phân bổ tổn thất, đại lýgiám định tổn thất, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn
Trang 30- Tiến hành hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực sau:
+ Mua trái phiếu chính phủ
+ Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp
+ Kinh doanh bất động sản
+ Góp vốn vào các doanh nghiệp khác
+ Cho vay theo quy định của Luật tổ chức tín dụng
+ Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
+ Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển, PVI đã trở thành DN bảo hiểm phinhân thọ hàng đầu Việt Nam về các chỉ tiêu doanh thu, vốn điều lệ, tổng tài sản.Dẫn đầu trong các lĩnh vực trọng yếu của thị trường bảo hiểm như Năng lượng(chiếm thị phần tuyệt đối), Hàng hải, Tài sản – Kỹ thuật và quan trọng hơn, PVIđang sẵn sàng hướng tới trở thành một Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm quốc tế PVIđồng thời là DN bảo hiểm Việt Nam duy nhất có xếp hạng tài chính B+ (tốt) của tổchức tín nhiệm hàng đầu thế giới A.M Best của Mỹ, được Tạp chí World Financecủa Anh quốc bình chọn là “DN bảo hiểm của năm 2010”
Những năm đầu hình thành và phát triển, đứng trước bao khó khăn thử thách,nhưng PVI luôn vững vàng vượt qua và phát triển không ngừng Năm 2006, PVIđánh dấu chặng đường 10 năm bằng sự kiện đạt doanh thu 1.000 tỷ đồng vào ngày26/9 Năm 2007, PVI ghi nhận doanh thu 2.000 tỷ đồng Năm 2008, đối mặt với rấtnhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng PVIvẫn đạt doanh thu 2.700 tỷ đồng Năm 2009, trong bối cảnh tài chính thế giới suythoái, nhưng PVI tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ở mức cao, năm thứ 9 liên tiếp hoànthành xuất sắc nhiệm vụ kế hoạch do PVN giao
Năm 2010 đánh dấu thêm một bước phát triển vượt bậc của PVI khi đạt mứcdoanh thu gần 4.500 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch trước thời hạn phong trào thi đuacủa PVN phát động, với những con số ấn tượng: tổng doanh thu đạt 4.460 tỷ đồng,hoàn thành 123,88% kế hoạch, tăng 25,6% so với năm 2009; doanh thu bảo hiểmgốc đạt 3.390 tỷ đồng, tăng 23,31%; doanh thu tái bảo hiểm đạt 455 tỷ đồng, tăng34,05%; doanh thu đầu tư tài chính đạt 620 tỷ đồng, tăng 30,52%; lợi nhuận đạt 340
tỷ đồng, tăng 54,55%; nộp ngân sách nhà nước 300 tỷ đồng
Trang 31Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động và nhiều khó khăn, thách thức,Ban Lãnh đạo PVI cùng toàn thể CBCNV đã nỗ lực hết mình, đồng lòng chung sứcphấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch kinh doanh năm 2010 Tổng doanh thu đạt4.511 tỷ đồng, hoàn thành vượt mức kế hoạch 12% và tăng trưởng hơn 26,5% sovới năm 2009.
Những thành công đạt được của PVI không chỉ qua các con số tăng trưởng
ấn tượng mà còn được được thể hiện qua hàng loạt sự kiện, thành tựu trong năm, làbàn đạp cho sự phát triển bền vững trong tương lai
PVI còn góp vốn vào 4 công ty liên kết nhằm đa dạng hóa hoạt động kinhdoanh:
- PVI Invest: Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển PVI
- PV Media: Công ty cổ phần Truyền thông Dầu khí
- PVI Services: Công ty TNHH Dịch vụ Bảo hiểm Dầu khí;
- PVST: Công ty Cổ phần Du lịch Dầu khí Sa Pa.
Hiện nay, hệ thống PVI phát triển mạnh mẽ với 25 chi nhánh, 90 văn phòngkhu vực và trên 600 đại lý chuyên nghiệp hoạt động phủ khắp các tỉnh, thành trên
cả nước
PVI đang là nhà bảo hiểm công nghiệp hàng đầu Việt Nam, dẫn đầu tronglĩnh vực bảo hiểm năng lượng với thị phần tuyệt đối, bảo hiểm tài sản với gần 45%thị phần và bảo hiểm hàng hải với khoảng 32% thị phần Với tiềm lực tài chính,kinh nghiệm và uy tín của mình, PVI được tin tưởng giao trọng trách là đơn vị bảohiểm cho những dự án trọng điểm quốc gia có giá trị hàng chục tỷ USD như Nhàmáy Đạm Phú Mỹ, Đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn, Nhà máy Lọc dầu DungQuất (trị giá 3 tỷ USD)… PVI đã thu xếp và cấp đơn bảo hiểm cho 100% các dự ándầu khí triển khai tại Việt Nam, thu xếp tốt chương trình tái tục bảo hiểm, bảo đảm
an toàn cho tài sản của các đơn vị trong ngành như VSP, PV Gas, Đạm Phú Mỹ, PVOil, PVEP, PV Drilling, bảo hiểm tàu cho PV Trans, đội tàu PTSC và tàu RubyPrincess, bảo hiểm P&I cho các đội tàu trong ngành
PVI đang dẫn đầu thị trường bảo hiểm về hội nhập quốc tế, là DN bảo hiểmViệt Nam duy nhất có quan hệ trực tiếp với thị trường bảo hiểm London về năng
Trang 32lượng Các hợp đồng bảo hiểm lớn tại khu vực ASEAN, Trung Đông và Bắc Phi đãđược ký kết, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm đã vượt ra ngoài phạm vi châu Á,sang khu vực châu Âu và Nga.
Chiến lược phát triển PVI đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2025 là trở thànhmột Tập đoàn Bảo hiểm hàng đầu và có thương hiệu mạnh thông qua việc chiếm lĩnhthị trường trong nước, phát triển ra thị trường quốc tế đối với mảng kinh doanh bảohiểm và triển khai mạnh các hoạt động đầu tư Tài chính một cách sâu rộng
2.1.1.2 Công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long
- Tên đơn vị: Công ty cổ phần bảo hiểm dầu khí Việt Nam PVI Thăng Long
- Địa chỉ: 45A Trần Thỏi Tông - Cầu Giấy – Hà Nội
+ Đến ngày 19/5/2005 được đổi tên thành Chi nhánh Công ty Bảo hiểm Dầukhí khu vực Tây Bắc tại số 10- Trần Phú, Hà Đông theo Quyết định số 1475/QĐ-HĐQT của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam
+ Ngày 20/3/2007 được đổi tên thành Công ty Bảo hiểm Dầu khí khu vực TâyBắc sau khi Công ty Bảo hiểm Dầu khí Việt nam được chuyển đổi hình thức hoạt độngthành Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam tại Quyết định số 15/QĐ-PVI của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
+ Ngày 25/7/2007 được đổi tên thành Công ty Bảo hiểm Dầu khí Thăng Long tại Quyết định số 503/QĐ-PVI của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Cổ phần
Bảo hiểm Dầu khí Việt Nam
Trang 33+ Ngày 9/9/2010 trụ sở chính được chuyển từ số 10 Trần Phú- Hà Đông- HàNội về 45A Trần Thỏi Tụng- Cầu Giấy- Hà Nội Đây là một vị trí có nhiều điềukiện thuận lợi cho Công ty trong việc khai thác, chăm sóc khách hàng và mở rộngthị trường tiềm năng.
PVI Thăng Long có nhiệm vụ chính là khai thác cung cấp các dịch vụ bảohiểm trong và ngoài ngành dầu khí trong đó cú cỏc đơn vị thành viên của tập đoàndầu khí tại thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
PVI Thăng Long thực hiện khai thác bảo hiểm ngoài ngành tại 12 tỉnh thànhTây Bắc Việt Nam bao gồm: Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La,Lào Cai, Yờn Bỏi, Hòa Bình, Vĩnh Phỳc, Phỳ Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang Trong đóthị trường Hà Nội là thị trường quan trọng chiến lược, hầu hết các đơn bảo hiểm vềvật chất xe cơ giới và các đơn liên quan đến dự án được khai thác tại đây Các tỉnhkhác như Vĩnh Phỳc, Phỳ Thọ, Bắc Ninh được xem là các thị trường tiềm năngtrong tương lai có thể mang lại lợi nhuận cao cho công ty Hiện nay PVI ThăngLong đã xây dựng được mạng lưới pháp nhân với 32 đại lý và các văn phòng khuvực
PVI Thăng Long là một đơn vị thành viên nờn khụng tiến hành hoạt động táibảo hiểm và đầu tư Nhưng PVI Thăng Long có quyền giới thiệu các nhà nhận táibảo hiểm để tổng công ty xem xét
Cơ cấu tổ chức công ty
PVI Thăng Long gồm có một ban giám đốc và cỏc phũng ban Cỏc phũng banđều có chức năng, nhiệm vụ tương đương với cỏc phũng tương ứng tại Tổng công
ty Cơ cấu tổ chức công ty có thể được minh họa bởi bảng 2.1:
Trang 34Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Công ty bảo hiểm dầu khí Thăng Long
P Giám Đốc
Trần Quang Long
Phòng
Kế Toán
Phòng
Xe cơ giới- Con người
Phòng Kinh Doanh 2
Phòng Kinh Doanh 3
Phòng
BH Kỹ Thuật
Phòng KDKV
Hà Đông
Phòng KHKV Đống Đa
Phòng KDKV Lào Cai
Phòng Kinh Doanh 1
Trang 35 Ban giám đốc: Gồm 1 Tổng giám đốc và 2 phó giám đốc
- Tổng giám đốc điều hành toàn bộ hoạt động của công ty
- Phó giám đốc thứ nhất: Được ủy quyền kí duyệt khai thác cấp đơn, hợp đồng,giấy chứng nhận cho các phòng kinh doanh khu vực tại Hà Nội đối với tất cả cácnghiệp vụ bảo hiểm với mức trách nhiệm với phân cấp của công ty giao cho chinhánh
- Phó giám đốc thứ hai: thực hiện công việc theo ủy quyền của Tổng giám đốc,được kí duyệt khai thác cấp đơn đối với các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới và bảohiểm con người Được kớ cỏc đơn, hợp đồng, giấy chứng nhận bảo hiểm mức tối đa
là 50% theo mức trách nhiệm phân cấp của công ty đối với chi nhánh
Phòng hành chính kế toán:
- Tham mưu cho lãnh đạo công ty trong lĩnh vực quản lý các hoạt động tàichính - kế toán, trong đánh giá sử dụng tài sản, tiền vốn theo đúng chế độ quản lýtài chính của Nhà nước và PVI
- Trên cơ sở các kế hoạch tài chính và kế hoạch kinh doanh của các đơn vị từ đóxây dựng kế hoạch tài chính của toàn công ty Tổ chức theo dõi và đôn đốc các đơn
vị thực hiện kế hoạch tài chính được giao, tổ chức quản lý kế toán
- Tổ chức cấp phát và quản lý kinh phí chi hoạt động quản lý bộ máy, mua sắmtrang thiết bị và các nguồn kinh phí khác của PVI theo quy định
- Quản lý ấn chỉ bảo hiểm
Phòng giám định bồi thường
- Tiếp nhận xử lý thông tin về tổn thất của khách hàng
- Giám định tổn thất theo quy trình quy định của pháp luật và PVI
- Hướng dẫn khách hàng làm các thủ thục hành chính, hồ sơ giám định bồi thường
- Kiểm tra bộ hồ sơ khiếu nại bồi thường trên cơ sở đó tính toán thiệt hại
- Nhập thông tin hồ sơ bồi thường vào phần mềm quản lý
- Đề xuất, xây dựng các biện pháp đánh giá rủi ro sau bồi thường nhằm hạn chếtổn thất trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Công ty
Trang 36 Phòng hành chính tổng hợp
Thực hiện các nghiệp vụ tài chính đảm bảo các điều kiện trang thiết bị, hậu cầncho mọi hoạt động chuyên môn của công ty , các công tác văn thư, lễ tân- tổngđài, hay tổ chức nhân sự
Phòng bảo hiểm Hàng hải- Tài sản
- Phòng sẽ tổ chức các hoạt động nghiệp vụ về Bảo hiểm thân tàu; Bảo hiểmtrách nhiệm dân sự; Bảo hiểm tai nạn thuyền viờn; Bảo hiểm hàng hóa vận chuyểnbằng đường không, đường sắt, đường thủy, đường bộ
- Về bảo hiểm tài sản gồm các nghiệp vụ như Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản; Bảohờ̉m hỏa hoạn và rủi ro đặc biệt; Bảo hiểm tiền gửi
- Tham mưu cho lãnh đạo công ty về kế hoạch phát triển kinh doanh, phát triểnthị trường ngoài ngành
Phòng bảo hiểm xe cơ giới- con người
- Thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ
ba và đối với hành khách trên xe; Bảo hiểm TNDS của xe đối với hàng hóa trên xe;Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe máy và người ngồi trên ô tô; Bảohiểm vật chất xe
- Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm con người như Bảo hiểm tai nạn cá nhân; Bảohiểm sinh mạng; Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật; Bảo hiểm du lịch trongnước
- Xây dựng chiến lược kinh doanh và các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu củathị trường và khách hàng
Phòng bảo hiểm kĩ thuật
- Quản lý khai thác các nghiệp vụ bảo hiểm như Bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng;Bảo hiểm mọi rủi ro lắp đặt; Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
- Tham mưu, giúp việc ban lãnh đạo công ty trong việc quản lý, giám sát vàkhai thác các hoạt động Kinh doanh bảo hiểm của công ty đảm bảo an toàn và hiệu quả
- Phối hợp với phòng Kế toán về việc theo dõi quyết toán ấn chỉ, quyết toándoanh thu, công nợ phí bảo hiểm
Trang 37- Phối hợp với phòng kinh doanh và phòng giám định bồi thường trong việcchăm sóc và giải quyết khiếu nại của khách hàng.
Khối các phòng kinh doanh khu vực
- Khai thác các loại hình bảo hiểm theo phân cấp khai thác của công ty
- Triển khai hệ thống bán lẻ , quản lý và phát triển hệ thống đại lý tại các địabàn được công ty phân công
- Xây dựng và thực hiện các kế hoạch kinh doanh
- Tham mưu giúp ban lãnh đạo Công ty trong việc quản lý, giám sát và khaithác các hoạt động Kinh doanh Bảo hiểm của công ty đảm bảo an toàn hiệu quả
- Thực hiện các công việc khác do cấp trên giao
Các loại hình bảo hiểm triển khai
PVI Thăng Long thực hiện triển khai kinh doanh các loại hình bảo hiểm sau:
- Bảo hiểm con người: Bao gồm Bảo hiểm tai nạn cá nhân; Bảo hiểm sinh
mạng; Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật; Bảo hiểm du lịch trong nước; Bảohiểm người Việt Nam đi du lịch nước ngoài; Bảo hiểm tai nạn cá nhân đối vớingười nước ngoài mức trách nhiệm trên 10.000 USD
- Bảo hiểm kỹ thuật : Bao gồm bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng; Bảo hiểm mọi
rủi ro lắp đặt; Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
- Bảo hiểm xe cơ giới: Gồm có Bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba và đối với hành khách trên xe; Bảo hiểm TNDS của xe đối với hànghóa trên xe; Bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe máy và người ngồitrên ô tô; Bảo hiểm vật chất xe
- Bảo hiểm Tài sản : Bảo hiểm mọi rủi ro tài sản; Bảo hờ̉m hỏa hoạn và rủi
ro đặc biệt; Bảo hiểm tiền gửi
- Bảo hiểm hàng hải: Bảo hiểm thân tàu; Bảo hiểm trách nhiệm dân sự; Bảo
hiểm tai nạn thuyền viờn; Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường không,đường sắt, đường thủy, đường bộ
- Bảo hiểm khác.
Trang 38PVI Thăng Long phát triển toàn diện, đồng đều các nghiệp vụ bảo hiểm, chútrọng bảo hiểm kỹ thuật, bảo hiểm hàng hải đồng thời tập trung vào mục tiêu pháttriển bảo hiểm xe cơ giới, con người và cháy nổ, tài sản theo định hướng của Tổngcông ty.
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của PVI Thăng Long
Để nắm được tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong vài năm gầnđây, ta theo dõi bảng sau:
Bảng 2.2: Doanh thu phí bảo hiểm tại PVI Thăng Long giai đoạn 2006-2010
4
BH kỹ thuật
(Triệu đồng) 6.035,43 11.265,50 20.580 12.258,7 9.226,95
5
BH tài sản
( Triệu đồng) 5.879,22 10.165,90 14.476,6 15.691,3 18.590,26
(Nguồn: PVI Thăng Long)
Năm 2006 doanh thu phí bảo hiểm của công ty là 29.824,55 triệu đụ̀ng tăng160% so với năm 2005 Chiếm cao nhất là nghiệp vụ xe cơ giới với hơn 10 tỷ đồngchiếm 33% tổng doanh thu phí, tăng trưởng gần 200% so với năm 2005 Có được sựtăng trưởng mạnh mẽ như vậy của công ty là do năm 2006 công ty đã thực hiệnđược các dự án bảo hiểm lớn cho các khách hàng như: Bảo hiểm công trình cho
Trang 39PMU Thăng Long, PMU 2, Bảo hiểm tàu cho Tổng công ty Hàng hải Việt Nam,Nhà máy xi măng Bỉm Sơn,Thủy điờn Đồng Nai 3, Dự án Trung tâm Thương mạiDầu khí…
Năm 2007 doanh thu của công ty là 36.892,63 triệu đồng, so với cùng kỳnăm 2006 doanh thu của năm 2007 tăng 23,69%.Việc tăng trưởng doanh thu quacác năm có bước tiến đáng kể tuy nhiên tính chất tăng trưởng không ổn dịnh,trong
cơ cấu tổng doanh thu, doanh thu của nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật chiếm tỷ trọngcao, còn nghiệp vụ tài sản, hàng hải lại chiếm tỷ trọng thấp, có xu hướng giảm sovới năm trước Nguyên nhân một phần là do có sự thay đổi nhiều về nhân sự cũngnhư thay đổi về cơ cấu phòng kinh doanh, nguyên nhân quan trọng hơn đó là vấn đềkhách hàng tái tục cho nghiệp vụ này ở mức thấp, điều này đánh giá khả năng phục
vụ khách hàng ở khâu sau bán hàng của PVI Thăng Long là chưa tốt
Bước sang năm 2008, thị trường bảo hiểm Việt Nam đứng trước các tháchthức lớn hơn: từ tháng 01/2008 không còn rào cản phân biệt giữa doanh nghiệp bảohiểm (DNBH) trong nước với DNBH có vốn đầu tư nước ngoài Cuộc cạnh tranhgiữa các DNBH nội địa và các công ty BH nước ngoài dưới nhiều hình thức đã bắtđầu
Bên cạnh đó năm 2008 còn là một năm có nhiều biến động với thị trường tàichính toàn cầu Tuy đứng trước các thách thức đó nhưng thị trường bảo hiểm ViệtNam nói chung và PVI nói riêng vẫn đạt được mục tiêu đề ra và trên đà phát triểnvượt bậc Bằng chứng là từ năm 2007 đến năm 2008 doanh thu từ 36.892,63 triệuđồng lên tới 62.271,2 triệu đồng tăng 25.324,57 triệu đồng tương ứng với 68,79%.Đây cũng là mức tăng cao nhất trong giai đoạn từ 2006 – 2010 Do tính chất cạnhtranh khốc liệt nên hiện tượng giảm giá dành dich vụ, cắt giảm mức miễn thường,
mở rộng điều kiện bảo hiểm diễn ra phổ biến khiến các công ty phải đối mặt vớimức độ rủi ro cao, doanh thu không bù đắp đủ chi phí Cùng với việc tụt dốc của thịtrường chứng khoán, bất động sản và đầu tư khiến nhiều doanh nghiệp làm ăn thua
lỗ Mức thua lỗ tổng cộng của các doanh nghiệp trên thị trường bảo hiểm phi nhânthọ lên tới 163 tỷ đồng, trong đó có cả các doanh nghiệp hoạt động lâu năm cũngnhư một số các công ty mới đi vào hoạt động Đứng trước những khó khăn và tháchthức chung của thị trường bảo hiểm, PVI Thăng Long lại có mức tăng doanh thumạnh mẽ: 68,79%, điều này càng chứng tỏ vị thế của PVI nói chung và PVI ThăngLong nói riêng trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
Trang 40Năm 2009 doanh thu của công ty là 65.392,8 triệu đồng So với cựng kỡ năm
2008 doanh thu năm 2009 tăng 3.121,6 triệu đồng Tuy nhiên, tính chất tăng trưởng không có tính ổn định và vượt bậc như năm 2007-2008 Một số nghiệp vụ doanh thu bị giảm như Bảo hiểm hàng hải đặc biệt là bảo hiểm kỹ thuật từ 20.580 triệu đồng giảm xuống còn 12.258,7 triệu đồng Bởi tình trạng cạnh tranh vẫn còn gay gắt, mức độ cạnh tranh phi kỹ thuật (mở rộng điều kiện điều khoản, giảm phí bảo hiểm không tương xứng với trách nhiệm bảo hiểm) vẫn diễn ra quyết liệt Nhưng bằng nội lực của mình , PVI Thăng Long đã vượt qua khó khăn thách thức của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nắm nhanh cơ hội khi nền kinh tế phát triển để đẩy mạnh khai thác phát triển thị trường bảo hiểm và vẫn đạt mức tăng trưởng so với năm 2008 là 5,01% về doanh thu
Bước sang năm 2010, thị trường bảo hiểm Việt Nam đứng trước các tháchthức lớn: từ tháng 01/2010 không còn rào cản phân biệt giữa Doanh nghiệp bảohiểm trong nước và doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài Cuộc cạnhtranh giữa các doanh nghiệp bảo hiểm nội địa và các công ty nước ngoài dưới nhiềuhình thức đã bắt đầunhưng hiện tượng cạnh tranh gay gắt bằng hạ phí BH, mở rộngđiều khoản, điều kiện BH đã có dấu hiệu hạ nhiệt PVI Thăng Long cũng đã chú ýđến phát triển sản phẩm mới, mở rộng các tiện ích của sản phẩm BH, tăng thêm cácdịch vụ chăm sóc khách hàng, mở rộng kênh phân phối qua ngân hàng và các tổchức khác để tăng hiệu quả kinh doanh của công ty Theo báo cáo tổng kết năm
2010 PVI Thăng Long đã đạt doanh thu 67.160,6 triệu đồng tăng gần 103% so vớinăm 2009 Với sự tăng trưởng tuy không đột phá như năm 2008 nhưng PVI ThăngLong đã góp phần không nhỏ giúp Tổng công ty PVI luôn nằm trong top đầu cáccông ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu Việt Nam với doanh thu năm 2010 là3.512 tỷ đồng
Mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn do cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu nhưng cùng với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, nhân viên trong công ty,PVI Thăng Long đã hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm đặt ra , là mộttrong số ít công ty thành viên hoàn thành kế hoạch được giao Sau đây là bảng thể hiệnkết quả kinh doanh của cỏc phòng ban tại công ty trong năm 2010:
Bảng 2.3: Doanh thu phí các phòng bảo hiểm tại PVI Thăng Long năm 2010
Đơn vị: Triệu đồng