LỜI MỞ ĐẦUHoạt động bảo hộ bằng sáng chế đã có trên thế giới từ lâu và được thực hiện thông qua Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ TRIPS của WTO
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động bảo hộ bằng sáng chế đã có trên thế giới từ lâu và được thực hiện thông qua Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (TRIPS) của WTO, song ở Việt Nam hoạt động này còn khá mới
mẻ và chưa được thực hiện một cách có hệ thống, còn nhiều vi phạm xảy ra mà không có cách giải quyết triệt để Do đó, cùng với xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ như hiện nay, để nhanh chóng hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là nhằm mục tiêu gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã và đang có những biện pháp hết sức tích cực để đưa ra một chương trình tổng thể cho hoạt động bảo hộ bằng sáng chế Mục đích của chương trình này là nhằm bảo vệ quyền lợi cho các nhà sáng chế, khuyến khích họ không ngừng phát huy sáng tạo, đồng thời trên cơ sở đó, tạo một nền tảng pháp lý vững chắc cho các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước, nâng cao vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO vào năm 2006 tới
Tiểu luận được thực hiện thông qua việc kết hợp phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với phương pháp so sánh, thống kê phân tích để từ đó đưa ra được nhận định về thực trạng, những khó khăn, thách thức cũng như tìm
ra hướng đi cho vấn đề bảo hộ bằng sáng chế của Việt Nam trong thời gian tới
Tiểu luận được chia làm 3 chương, cụ thể là:
Chương I: Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ của WTO và vấn đề bảo hộ bằng sáng chế
Chương II: Những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Chương III: Một số đề xuất và kiến nghị
Trang 2CHƯƠNG I: HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC KHÍA CẠNH LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ (TRIPS) CỦA WTO VÀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ BẰNG SÁNG CHẾ
1 Hiệp định TRIPS
1.1 Hiệp định TRIPS trong phạm vi WTO
Sở hữu trí tuệ là một vấn đề xuất hiện từ rất sớm, ngay từ năm đầu thế kỷ
19 đã tồn tại nhiều điều ước đa phương về sở hữư trí tuệ nh Công ước Paris, Công ước Berne (1886), Công ước Rome (1961)… Từ những năm 1980 trở lại đây, sở hữu trí tuệ trở thành mối quan tâm thường xuyên và là điều kiện để tham gia các thể chế thương mại quốc tế Sở hữu trí tuệ trở thành một tư duy mới trên góc độ thương mại Hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ của các quốc gia được xem xét, đánh giá lại và bị đòi hỏi phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn quốc tế thống nhất Ngày 15/4/1994, trong khuôn khổ WTO, một điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ ra đời đó là Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của các quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) Hiệp định này có hiệu lực từ 1/1/1995, cùng lúc với GATT chính thức trở thành WTO, và nhanh chóng trở thành một trong những hoạt động chính của WTO và được bên ngoài nhắc đến nhiều nhất Mỗi địa hạt đều bị chi phối bởi những điều lệ cơ bản của WTO (quy chế tối huệ quốc và quy chế công dân thương mại) và ba quy tắc quan trọng:
Qui tắc chuẩn: TRIPS đặt ra những chuẩn tối thiểu mà các nước phải áp
dụng, và định nghĩa những yếu tố của sự bảo vệ, nh nội dung cần bảo vệ, các quyền lợi đi kèm và ngoại lệ, và thời gian tối thiểu của sự bảo vệ Hiệp ước cũng khẳng định là ba văn kiện chính của WIPO - các công ước Paris, Berne và Rome
- bắt buộc phải được áp dụng trong khuôn khổ TRIPS, lấy lại các điều lệ chính của công ước và bổ sung những điểm thiếu sót TRIPS do đó có khi còn được gọi là hiệp ước “Berne and Paris-plus”
Qui tắc cưỡng bức thi hành (Enforcement): TRIPS Ên định các nguyên tắc
chung cho các thủ tục nội địa và phương pháp bổ cứu (remedies) nhằm làm tôn
Trang 3trọng các quyền sở hữu, quy định một cách khá chi tiết các thủ tục tố tụng hành chính, hình sự và dân sự, các biện pháp tạm thời và biện pháp áp dụng tại các biên giới quốc gia
Qui tắc giải quyết tranh chấp: Những tranh chấp giữa các thành viên liên
quan đến những quy định về TRIPS đều phải giải quyết qua hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO Cho tới nay, có khoảng 10% các vụ kiện trước WTO liên quan đến TRIPS
Hai nguyên tắc chủ yếu của TRIPS:
Đãi tối huệ quốc đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên,
chiếu cố, đặc quyền, hoặc sự miễn trừ nào được một thành viên dành cho công dân của bất kỳ một thành viên nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công dân tất cả các thành viên khác
Đãi ngộ quốc gia mỗi thành viên chấp nhận cho công dân của các thành
viên khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn so với sự đối xử mà thành viên đó dành cho công dân của mình trong việc bảo hộ quyền sở hưu trí tuệ Tuy nhiên, các nguyên tắc này cũng còn ngoại lệ, theo đó các thành viên có thể dùa vào để miễn trừ các nghĩa vụ tuân thủ hiệp định TRIPS Cụ thể các nước phát triển được phép trì hoãn thực hiện hiệp định trong vòng 1 năm kể từ ngày hiệp định
có hiệu lực Thời gian này đối với các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 11 năm
1.2 Nguyên nhân ra đời của Hiệp định TRIPS
Mỗi hiệp định khi ra đời đều có lÝ do và đều nhằm điều chỉnh một lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới Đối với lĩnh vực sở hữu trí tuệ, hiệp định TRIPS ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn, và được hình thành trên cơ sở các đòi hỏi sau:
Một là, do hàm lượng trí tuệ ngày càng tăng cao hơn so với hàm lượng tài
nguyên và lao động trong giá trị sản phẩm và dịch vụ, thậm chí nhiều ngành mới như công nghệ thông tin chỉ chủ yếu dùa trên khai thác trí tuệ
Trang 4Hai là, cuộc đua nhằm giành giật và giữ thị trường chủ yếu dùa trên cơ sở
đua tranh đầu tư cho sáng tạo trí tuệ
Ba là, tài sản trí tuệ được xem là thành quả của đầu tư và trở thành một bộ
phận của hoạt động thương mại Bên cạnh đó, hoạt động đánh cắp các tài sản trí tuệ ngày càng phổ biến và trầm trọng
Bốn là, việc sao chép và bán các sản phẩm hàng nhái, hàng giả đã trở thành
vấn nạn quốc tế
1.3 Mục đích của Hiệp định TRIPS
Thứ nhất, nhằm mục đích bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, ngăn chặn một cách hữu hiệu nguy cơ xâm hại tài sản trí tuệ mang
tầm quốc tế
2 Vấn đề bảo hộ bằng sáng chế
Bảo hộ bằng sáng chế là việc dành cho chủ sở hữu độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu bằng sáng chế đã được bảo hộ nhằm mục đích kinh doanh và khai thác đối tượng sáng tạo của mình cũng như các hoạt động khác
Để được bảo hộ độc quyền sáng chế, giải pháp kỹ thuật phải đáp ứng các điều kiện sau:
Một là, giải pháp kỹ thuật có thể là cơ cấu (chi tiết, cụm chi tiết, máy, thiết
bị, hệ thống điện và điện tử, sản phẩm phục vụ đời sống và sản xuất), chất (vật liệu, vật chất thu được bằng các phương pháp bất kỳ) và phương pháp (phương pháp khai thác, xử lý, chế biến, bảo quản, qui trình công nghệ)
Hai là, giải pháp kỹ thuật phải đạt được mục tiêu cụ thể (đạt được một
chức năng kỹ thuật hoặc giải quyết được một vấn đề do nhu cầu con người đặt ra)
Ba là, giảp pháp kỹ thuật phải đáp ứng các tiêu chuẩn về tính mới, tính
sáng tạo và có khả năng đáp ứng công nghiệp Việc đánh giá tính mới và trình
độ sáng tạo của một giải pháp kỹ thuật liên quan chặt chẽ tới khái niệm “ngày
ưu tiên”
Trang 5Bốn là, giải pháp kỹ thuật được coi là mới so với trình độ kỹ thuật của thế
giới nếu trước ngày ưu tiên giải pháp kỹ thuật đó chưa được bộc lé công khai dưới bất kỳ hình thức nào và bất kỳ nơi nào trên thế giới
Năm là, giải pháp kỹ thuật được coi là có trình độ sáng tạo, nghĩa là giải
pháp kỹ thuật đó phải là kết quả của hoạt động sáng tạo và không được coi là nảy sinh một cách hiển nhiên tại ngày ưu tiên đối với người có trình độ trung bình trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng
Sáu là, giải pháp kỹ thuật được công nhận là có khả năng áp dụng nếu căn
cứ vào bản chất của giải pháp được mô tả trong đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu Ých, có thể thực hiện được giải pháp đó trong điều kiện
kỹ thuật hiện tại và tương lai và thu được kết quả như được mô tả trong đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền
Tiêu chuẩn bảo hộ về tính mới, tính sáng tạo của giải pháp kỹ thuật được bảo hộ theo luật sở hữu công nghiệp hiện hành của Việt Nam hoàn toàn tương ứng tự luật sở hữu công nghiệp của các nước trên thế giới Các tiêu chuẩn này là
để mỗi sáng chế được bảo hộ sẽ bổ sung cho nền công nghệ của thế giới một tiến bộ kỹ thuật mới, khác với sáng chế đã được bảo hộ trong cùng một lĩnh vực công nghệ
3 Nội dung những quy định của WTO về bảo hộ bằng sáng chế
Bảo hộ bằng sáng chế là một lĩnh vực rất được quan tâm trong các hiệp định kí kết của WTO, do đó, những qui định áp dụng cho vấn đề này đựơc đề ra hết sức nghiêm túc và chặt chẽ, đòi hỏi các nước thành viên khi tham gia kí kết phải nghiêm chỉnh thực hiện Nội dung của WTO về bảo hộ bằng sáng chế bao gồm một số điểm cơ bản sau:
3.1 Đối tượng được cấp văn bằng phát minh sáng chế
WTO qui định văn bằng phát minh sáng chế được cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hoặc quy trình, thuộc mọi lĩnh vực cộng nghệ với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công
Trang 6nghiệp, không phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và là sản phẩm nhập khẩu hoặc được sản xuất trong nước
Các thành viên có thể không cấp văn bằng cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật
tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, bao gồm cả việc bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ của người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây tổn hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện lÝ do cấm không được căn cứ vào lÝ do duy nhất là việc khai thác các sáng chế này bị pháp luật của nước mình ngăn cấm
3.2 Các quyền được hưởng
Văn bằng phải xác nhận các độc quyền sau đây của chủ sở hữu văn bằng:
Thứ nhất, nếu đối tượng của văn bằng là một sản phẩm, trong trường hợp
không được chủ sở hữu văn bằng chấp thuận, cấm các bên thứ ba thực hiện các hành vi sau: chế tạo, sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu sản phẩm để thực hiện các mục đích trên
Thứ hai, nếu đối tượng của văn bằng là một quy trình, trong trường hợp
không được chủ sở hữu văn bằng chấp thuận, cấm các bên thứ ba thực hiện hành vi sử dụng quy trình đó và các hành vi sau đây: sử dụng, chào bán, bán hoặc nhập khẩu nhằm các mục đích trên Ýt nhất đối với các sản phẩm đã được tạo ra trực tiếp bằng quy trình đó
Chủ sở hữu văn bằng có quyền sang nhượng, thừa kế văn bằng và kí kết hợp đồng li-xăng
3.3 Điều kiện đối với người nép đơn xin cấp văn bằng
Các thành viên yêu cầu người nép đơn xin cấp văn bằng trình bày sáng chế một cách rõ ràng và đầy đủ đến mức căn cứ vào đó một chyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện sáng chế và có thể yêu cầu người nép đơn chỉ ra cách thức tối ưu trong số cách thức thực hiện sáng chế mà tác giả sáng chế biết đến tính từ ngày nép đơn, hoặc tính đến ngày ưu tiên của đơn nếu
có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên
3.4 Ngoại lệ đối với các quyền được hưởng
Trang 7Các thành viên có thể quy định một số ngoại lệ nhất định đối với các đặc quyền được hưởng trên cơ sở văn bằng với điều kiện là các ngoại lệ đó không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường văn bằng này và không làm tổn hại một cách bất hợp lí tới lợi Ých hợp pháp của chủ sở hữu văn bằng, có tính đến lợi Ých hợp pháp của bên thứ ba
3.5 Hình thức sử dụng khác không được phép của người giữ quyền
Trường hợp pháp luật của một thành viên cho phép việc sử dụng đối tượng văn bằng dưới hình thức khác khi không được phép của người giữ quyền, bao gồm cả việc chính phủ hoặc bên thứ ba được chính phủ cho phép sử dụng, các quy định sau đây phải được tuân thủ:
Thứ nhất, việc cho phép sử dụng phải căn cứ vào lợi Ých cụ thể.
Thứ hai, việc sử dụng này chỉ được phép nếu, trước khi sử dụng, người đề
nghị đã cố gắng xin phép người giữ quyền cùng với các điều khoản và điều kiện thương mại hợp lí nhưng sau một thời gian nhất định, những cố gắng này vẫn không đem lại kết quả Yêu cầu này có thể được một thành viên bỏ qua trong tình trạng khẩn cấp quốc gia hoặc các trường hợp đặc biệt hoặc cấp bách khác hoặc trong các trường hợp sử dụng vào mục đích công cộng, không nhằm mục đích thương mại
Thứ ba, phạm vi và thời hạn sử dụng được giới hạn trong nội dung mục
đích cho phép sử dụng mục đích với công nghệ bán dẫn, chỉ được cấp phép sử dụng vào mục đích công cộng, không nhằm mục đích thương mại hoặc nhằm khắc phục hành vi mà cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành chính coi là phản cạnh tranh
Thứ tư, việc sử dụng này không thuộc đặc quyền sử dụng.
Thứ năm, việc sử dụng này không được chuyển nhượng, trừ trường hợp
chuyển nhượng cùng với bộ phận của doanh nghiệp hoặc cơ sở kinh doanh được hưởng quyền sử dụng đó
Thứ sáu, việc cho phép sử dụng chủ yếu nhằm cung cấp cho thị trường nội
địa của thành viên cho phép
Trang 8Thứ bảy, việc cho phép sử dụng bị chấm dứt khi các điều kiện dẫn cấp
phép không còn tồn tại và không còn khả năng tái hiện nhưng cũng phải bảo vệ một cách thoả đáng lợi Ých hợp pháp của những người sử dụng Khi được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền có quyền xem xét lại sự tiếp tục tồn tại của các điều kiện này
Thứ tám, hiệu lực pháp lí liên quan đến quyết định cho phép sử dụng là đối
tượng được xem xét lại theo thủ tục tư pháp hoặc thủ tục độc lập khác tại cơ quan cấp cao hơn tại thành viên đó
Thứ chín, quyết định liên quan đến đoạn khoản đền bù cho việc sử dụng sẽ
là đối tượng được xem xét lại theo các rà soát tư pháp hoặc các rà soát độc lập khác tại cơ quan cấp cao hơn tại thành viên
Thứ mười, các thành viên không có nghĩa vụ phải áp dụng các điều kiện
quy định tại các đoạn 2 và 6 của điều này trong trường hợp cho phép sử dụng để khắc phục những hành vi bị cơ quan tư pháp hoặc hành chính coi là phản cạnh tranh
Mười mét, trường hợp cho phép sử dụng văn bằng (được coi nh cấp văn
bằng thứ hai) chắc chắn sẽ gây hại đến văn bằng thứ nhất, các điều kiện bổ sung sau đây sẽ được áp dụng:
Sáng chế thuộc văn bằng thứ hai phải là một bước tiến bộ kĩ thuật quan trọng có ý nghĩa kinh tế đáng kể so với sáng chế thuộc văn bằng thứ nhất
Người giữ quyền thứ nhất phải được cấp giấy phép đầy đủ với những điều kiện hợp lí để sử dụng sáng chế thuộc văn bằng thứ hai
3.6 Huỷ bỏ, đình chỉ
Thành viên phải tạo cơ hội để mọi quyết định huỷ bỏ hoặc đình chỉ hiệu lực văn bằng đều có thể được xem xét lại theo thủ tục tư pháp
3.7 Thời hạn bảo hộ
Thời hạn bảo hộ theo quy định là 20 năm tính từ ngày nép đơn
3.8 Sáng chế quy trình: nghĩa vụ chứng minh
Trang 9Nếu đối tượng của văn bằng là quy trình chế tạo một loại sản phẩm, các cơ quan tư pháp có quyền yêu cầu bị đơn chứng minh rằng quy trình được áp dụng
để sản xuất loại sản phẩm giống hệt này không phải là quy trình đã được cấp văn bằng vì vậy, Ýt nhất một trong số các trường hợp nêu dưới đây, các thành viên phải quy định rằng bất kỳ một sản phẩm giống hệt nào nói trên được sản xuất
mà không có sự đồng ý của người giữ quyền đều được coi là sản phẩm từ quy trình đã được cấp văn bằng trừ trường hợp chứng minh ngược lại
Trang 10CHƯƠNG II: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT Nam
1 Những tồn tại và thách thức trong việc thực hiện bảo hộ bằng sáng chế của Việt Nam hiện nay
Hiện nay, quá trình quốc tế hoá diễn ra ngày càng nhanh, trong khi đó hệ thống bảo hộ bằng sáng chế của Việt Nam mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng lại đạt kết quả không như mong muốn, nếu như không nói là còn quá yếu kém Tình hình này đã đặt việc thực hiện của Việt Nam theo hiệp định TRIPS vào thế khó khăn Trước mục tiêu phấn đấu gia nhập WTO vào năm 2005, Việt Nam phải vượt qua nhiều vòng đàm phán quan trọng, trong đó, việc được công nhận các chính sách, pháp luật về bảo hộ bằng sáng chế theo các điều kiện của WTO
là những thách thức không dễ vượt qua
Việt Nam đã nép đơn xin gia nhập tổ chức WTO từ năm 1995, khi đó hệ thống bảo hộ bằng sáng chế vận hành chủ yếu trên cơ sở các văn bản dưới luật nh: Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Vào thời kì đó, biện pháp xử lí các xâm phạm bảo hộ sáng chế chủ yếu là biện pháp hành chính Mặc dù về mặt nguyên tắc, toà án sẵn sàng xét xử các tranh chấp và các vụ kiện về bằng sáng chế nhưng do các qui định pháp luật chưa phải là luật, toà án lại chưa có kinh nghiệm trong xét xử các vụ án kiểu này, vì vậy việc tham gia xét xử của toà án trên các văn bản pháp luật đã ban hành còn rất hạn chế Theo đánh giá của Bộ Khoa học và công nghệ, vào thời điểm nép đơn xin gia nhập WTO, hệ thống pháp luật về bảo hộ bằng sáng chế còng nh sở hữu trí tuệ còn nhiều điểm chưa phù hợp Một loạt các đối tượng được đề cập đến trong hiệp định TRIPS chưa được bảo hộ tại Việt Nam nh: thông tin bí mật, chỉ dẫn địa lí, thiết kế bố trí mạch tích hợp, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh… Ngay cả những đối tượng đã được pháp luật bảo hộ như sáng chế cũng có những vấn đề bất cập, ví dụ: thời gian bảo hộ sáng chế của Việt Nam là 15 năm, trong khi WTO qui định
là 20 năm Để phù hợp với các qui định của TRIPS, Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm đối với hệ thống bảo hộ bằng sáng chế đề có thể sớm hội đủ các điều kiện gia nhập WTO Khởi động cho kế hoạch này, Việt Nam đã xây dựng