Trong những năm gần đây, do xu thế đô thị hóa, công nghiệp hóanên việc khai thác tài nguyên nước ở con sông này đang có xu hướng quá tải; môitrường đang bị xuống cấp ngày càng rõ rệt hơn
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC 4
1.1 Khái niệm chung về ô nhiễm nước: 4
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm nước: 4
1.1.2 Nguồn gốc ô nhiễm nước: 4
1.1.3 Phân loại ô nhiễm nước: 4
1.1.4 Ảnh hưởng của các tác nhân gây ô nhiễm nước: 4
1.1.4.1 Tác nhân gây ô nhiễm hóa lý nguồn nước: 4
1.1.4.2 Tác nhân hóa học: 7
1.1.4.3 Tác nhân sinh học: 8
1.1.5 Các loại ô nhiễm nước: 9
1.1.5.1 Ô nhiễm nước mặt: 9
1.1.5.2 Ô nhiễm và suy thoái nước ngầm: 10
1.1.5.3 Ô nhiễm biển: 12
CHƯƠNG II: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÀO – NGHỆ AN 13
2.1 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Đào: 13
2.1.1 Vị trí giới hạn, diện tích lưu vực Sông Đào: 13
2.1.2 Nhiệm vụ của sông Đào: 13
2.2 Hiện trạng Sông Đào, dòng chảy, tình hình tưới tiêu và môi trường: 13
2.2.1 Đoạn từ cống Nam Đàn đến cầu Nam Anh (Nam Đàn) 13
2.2.2 Đoạn từ cầu Nam Anh cho đến ngã ba kênh Lam Trà (Nam Đàn) 14
2.2.3 Đoạn từ ngã ba Kênh Lam Trà đến Cầu Mượu (Nam Đàn) 14
2.2.4 Đoạn từ cầu Mượu đến cầu Hưng Đạo (Hưng Nguyên) 15
2.2.5 Đoạn từ cầu Hưng Đạo đến ngã ba cầu Đước (Hưng Nguyên) 16
2.2.6 Đoạn từ ngã ba cầu Đước đến cầu Cửa Tiền( Sông Vinh) 16
2.2.7 Đoạn từ cầu Cửa Tiền đến cầu Trung Đô ( thuộc Vinh) 17
2.2.8 Đoạn từ cầu Trung đô đến ngã ba kênh Hồng Cần (thuộc Vinh) 17
2.2.9 Đoạn từ ngã ba Sông Hồng Cần đến cống Bến Thuỷ (thuộc Vinh) 18
Trang 22.3 Hiện trạng các điểm xả thải và rác thải trên sông Đào 19
2.3.1 Đoạn từ cống Nam Đàn đến cầu Nam Anh (Nam Đàn) 19
2.3.2 Đoạn từ cầu Nam Anh cho đến ngã ba kênh Lam Trà (Nam Đàn): 19
2.3.3 Đoạn từ ngã ba Kênh Lam Trà đến Cầu Mượu (Nam Đàn) 19
2.3.4 Đoạn từ cầu Mượu đến cầu Hưng Đạo (Hưng Nguyên): 20
2.3.5 Đoạn từ cầu Hưng Đạo đến ngã ba cầu Đước (Hưng Nguyên) 20
2.3.6 Đoạn từ ngã ba cầu Đước đến cầu Cửa Tiền (sông Vinh) 20
2.3.7 Đoạn từ cầu Cửa Tiền đến cầu Trung Đô (thuộc Vinh) 21
2.3.9 Đoạn từ ngã ba Sông Hồng Cần đến cống Bến Thuỷ (thuộc Vinh) 22
2.4 Chất lượng nước sông Đào 22
2.4.1 Chất lượng nước mặt sông Đào 22
2.4.2 Chất lượng nước ngầm sông Đào 31
2.5 Nguyên nhân hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Đào 32
2.5.1 Nguyên nhân do phát triển kinh tế: 32
2.5.2 Nguyên nhân về xã hội: 33
2.5.3 Nguyên nhân do ý thức cộng đồng: 33
2.5.4 Nguyên nhân về quản lý 34
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÀO – NGHỆ AN 36
3.1 Một số giải pháp vĩ mô 36
3.2 Một số giải pháp cụ thể 36
3.2.1 Về phát triển kinh tế: 36
3.2.2 Về xã hội: 37
3.2.3 Về ý thức cộng đồng: 37
3.2.4 Về công tác quản lý: 37
KẾT LUẬN 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
Trang 3Em xin được cảm ơn cô giáo Th.S Hồng Thị Hà – Giảng viên khoa Môi trường
và Đô thị - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn
em hoàn thành chuyên để này
Với nhận thức và trình độ chuyên môn còn hạn chế, chuyên đề này của emkhông tránh khỏi được những hạn chế Kính mong các thầy cô giáo giúp em sửachữa, bổ sung những hạn chế đó để nội dung chuyên đề của em được hoàn thiệnhơn
Em xin chân thành cảm ơn.
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân thực hiện, không
sao chép, cắt ghép các báo cáo hoặc luận văn của người khác; nếu sai phạm tôi xin chịu kỷ luật với Nhà trường.”
Hà Nội, ngày … tháng…… năm….
Ký tên
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do lựa chọn chuyên đề
Trong những năm vừa qua, kinh tế Nghệ An phát triển không ngừng, đặc biệt
là thành tựu trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Bên cạnh đó, việc bảo vệ Môitrường được quan tâm thích đáng Tuy nhiên đây là sự nghiệp của cả toàn xã hội,không phải chỉ riêng của các cơ quan quản lý nhà nuớc và các cơ quan khoa họcchuyên sâu về lĩnh vực này Một vấn đề môi trường cấp bách đang được đặt ra hiệnnay cho các cấp chính quyền ở Nghệ An đó là: nước thải sinh hoạt của dân vànước thải công nghiệp của doanh nghiệp, nhà máy hầu hết đều không qua xử lý màthải trực tiếp ra sông Điều này đã ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến đời sốngcũng như sản xuất của các hộ dân xung quanh khu vực sông chảy qua
Là một con sông nhân tạo, được hình thành từ thời thuộc Pháp, sông Đào bắtnguồn từ Thị trấn Nam Đàn, chảy đến huyện Hưng Nguyên chia thành hai nhánh:một nhánh chảy về Vinh (đổ ra Bara Bến Thủy), nhánh còn lại chảy về hướnghuyện Nghi Lộc và thị xã Cửa Lò (đổ ra Bara Nghi Quang, Cửa Lò) Với lưu lượnggần 33 m3 nước/giây, sông Đào có chức năng phục vụ tưới tiêu cho khoảng 33.000
ha đồng ruộng, phục vụ nước sinh hoạt dân sinh và ngăn lũ cho các địa phương nóitrên Đồng thời sông còn có chức năng điều hòa không khí và đáp ứng một phầnnhu cầu vận tải Trong những năm gần đây, do xu thế đô thị hóa, công nghiệp hóanên việc khai thác tài nguyên nước ở con sông này đang có xu hướng quá tải; môitrường đang bị xuống cấp ngày càng rõ rệt hơn: nước thải sinh hoạt và sản xuấtkhông qua xử lý, rác thải rắn (nhất là túi ni lông), tồn dư thuốc bảo vệ thực vật v.v đang làm cho chất lượng nước giảm sút, đa dạng sinh học suy giảm Cư dân ở lưuvực sông phải hứng chịu gần như toàn bộ lượng nước thải ra (cả nước thải sinh hoạt
và nước thải công nghiệp) Sinh kế của dân cư các xã chủ yếu dựa vào nghề nông,nguồn nước phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp là nguồn nước lấy từ hệ thống kênhmương dẫn từ sông chảy qua các xã, năng suất cây trồng có xu hướng giảm, chấtlượng lương thực bị ảnh hưởng v.v Vấn đề ngày càng trở nên cấp bách hơn khidân số tăng nhanh (cả về tự nhiên và về cơ học), tuy nhiên do thiếu kinh phí nên cáccấp chính quyền chưa có các hành động cụ thể để giải quyết vấn đề Chưa có nghiêncứu cụ thể nào liên quan đến vấn đề này (như xác định mức độ ô nhiễm sông, mức
độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư, các giải pháp ) được thực hiện một cách căn
Trang 6bản Vì vậy các cấp chính quyền cũng như người dân nơi đây chưa ý thức được mộtcách đầy đủ sự nghiêm trọng của vấn đề, do đó chưa có sự quan tâm đúng mức để
có được các biện pháp giải quyết cần thiết
Từ thực tế đó, tôi xin lựa chọn và nghiên cứu đề tài " Hiện trạng và giải phápkhắc phục ô nhiễm môi trường nước tại lưu vực sông Đào – Nghệ An” nhằm xemxét một cách cụ thể về hiện trạng môi trường nước tại lưu vực sông Đào, xác địnhmức độ ảnh hưởng đến đời sống dân cư và sản xuất nông nghiệp để từ đó có thể đềxuất được những giải pháp khả thi nhằm giải quyết vấn đề một cách căn bản, có đầy
đủ luận cứ khoa học
2 Mục tiêu của chuyên đề:
Xem xét hiện trạng môi trường tại lưu vực sông Đào, môi trường nước mặt,môi trường nước ngầm hai bên bờ; đa dạng sinh học, rác thải, nước thải
Đánh giá sơ bộ mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm dòng sông đến đời sống sảnxuất và sinh hoạt của người dân
Tìm ra nguyên nhân, nguồn gốc gây ô nhiễm
Đề xuất những giải pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng môi trường nước ở lưu vực sông Đào
Hiện trạng môi trường nước
Trang 7nghiên cứu xã hội học trên cả lưu vực sông (trục chính) bao gồm 40 xã, phường, thịtrấn: huyện Nam Đàn 14 xã, phường, thị trấn, huyện Hưng Nguyên 12 xã, thị trấn.Thành phố Vinh 12 phường, xã.
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan
Phương pháp thống kê
Điều tra khảo sát: được áp dụng cho những hoạt động phỏng vấn nhóm,phỏng vấn sâu cá nhân, phỏng vấn hộ gia đình cũng như phỏng vấn các cơ sở sảnxuất trên địa bàn lưu vực sông và các ban ngành địa phương
Nghiên cứu tài liệu, xử lý số liệu điều tra của một số đề án đã được thựchiện để thấy được thực trạng môi trường nước lưu vực sông Đào
5 Kết cấu chuyên đề:
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận thì chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về ô nhiễm nước
Chương II: Hiện trạng kinh tế, xã hội, tài nguyên nước, môi trường lưu vựcsông Đào – Nghệ An
Chương III: Giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trường nước lưu vực sôngĐào – Nghệ An
Trang 8CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ Ô NHIỄM NƯỚC
1.1 Khái niệm chung về ô nhiễm nước:
1.1.1 Khái niệm ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước, có hại cho hoạtđộng sống bình thường của sinh vật và con người, bởi sự có mặt của một hay nhiềuhóa chất lạ vượt qua ngưỡng chịu đựng của sinh vật Hiến chương Châu Âu về nước
đã định nghĩa về ô nhiễm nước: “ là sự biến đổi nói chung do con người đối với chấtlượng nước làm ô nhiễm nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp,nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, đối với động vật nuôi và các loài hoang dại”
1.1.2 Nguồn gốc ô nhiễm nước:
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo
Nguồn gốc tự nhiên của ô nhiễm nước là do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt Cáctác nhân trên đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật cóhại, kể cả xác chết của chúng
Nguồn gốc nhân tạo của ô nhiễm nước là sự thải các chất độc hại chủ yếu dướidạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông và môitrường nước
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễmnước: Ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi cáctác nhân vật lý
1.1.4.1 Tác nhân gây ô nhiễm hóa lý nguồn nước:
- Màu sắc: Nước tự nhiên sạch thường không màu, cho phép ánh sáng MặtTrời chiếu tới các tầng sâu Khi nước chứa nhiều chất rắn lơ lửng, các loại tảo, cácchất hữu cơ, v.v…nó trở nên kém thấu quang với ánh sáng Mặt Trời Các sinh vậtsống ở đáy hoặc ở các tầng sâu phải chịu điều kiện thiếu sáng trở nên hoạt độngkém linh hoạt Các chất rắn chứa trong môi trường nước làm cho hoạt động của sinhvật trong nước trở nên khó khăn hơn, một số trường hợp có thể gây tử vong chosinh vật Chất lượng nước suy giảm có tác động xấu tới các hoạt động bình thườngcủa con người Để đánh giá màu sắc của nước người ta thường dùng các máy đo độmàu hoặc máy đo độ thấu quang của ánh sáng
Trang 9- Mùi và vị: Nước tự nhiên sạch không có mùi vị hoặc không có mùi vị dễchịu cho con người Khi trong nước có mặt các sản phẩm phân hủy chất hữu cơhoặc chất thải công nghiệp, các kim loại, mùi và vị của nước trở nên khó chịu đốivới con người Để đánh giá cường độ mùi của nước, người ta phải pha loãng nướcđến tỷ lệ không thể cảm nhận được mùi Thí dụ: nước có độ mùi 2, 4, 8 … nếu taphải đổ thêm một lượng nước cất vào theo tỷ lệ gấp 2, 4, 8 … để mẫu đo không cònmùi Vị của nước cũng được xác định theo phương pháp tương tự.
- Độ đục: Nước tự nhiên sạch thường không chứa các chất rắn lơ lửng nên trongsuốt và không có màu Do chứa các hạt sét, măn, vi sinh vật, các hạt bụi, các hạt hoáchất kết tủa, đáy thủy vực Các chất rắn trong nước ngăn cản các hoạt động bìnhthường của cơ thể sinh vật và con người Độ đục của nước được xác định bằng cácmáy đo trong phòng thí nghiệm hoặc trên hiện trường Thang đo độ đục là NTU
- Nhiệt độ: Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiếtcủa lưu vực hoặc môi trường khu vực Nước thải từ các nhà máy nhiệt điện chạybằng than hoặc nhiên liệu hạt nhân thường có nhiệt độ cao hơn nước tự nhiên trongkhu vực Nhiệt độ cao của nước thải làm thay đổi nhiệt độ nước ở các lưu vực nước,làm cho các quá trình sinh, hóa, lý bình thường của hệ sinh thái nước bị biến đổi.Một số loài sinh vật không chịu đựng được sự thay đổi sẽ chết hoặc di chuyển đi nơikhác, một số loài khác thì phát triển mạnh mẽ Sự thay đổi nhiệt độ nước thôngthường không có lợi cho sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái Để đo sự biến đổinhiệt độ nước, người ta thường dùng các loại nhiệt kế khác nhau
- Chất rắn lơ lửng: Chất rắn lơ lửng là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu cơ,kích thước bộ, rất khó lắng trong nước như khoáng sét, bụi than, măn,v.v… Sự cómặt của chất rắn lơ lửng trong nước gây nên độ đục, màu sắc và các tính chất khác
Để xác định nồng độ chất rắn lơ lửng (SS) người ta thường để lắng các bình chứamẫu nước, sau đó lấy ra phần chất lắng, sấy khô và cân
- Độ cứng của nước gây ra do có muối Ca và Mg trong nước Độ cứng củanước được gọi là tạm thời khi có mặt muối cacbonat hoặc bicacbonat Ca, Mg Loạinước này khi đun sôi sẽ tạo ra các kết tủa CaCO3 hoặc MgCO3 Độ cứng vĩnh cửucủa nước do các loại muối sunfat hoặc clorua Ca, Mg tạo ra Độ cứng vĩnh cửu củanước thường rất khó xử lý và tạo ra nhiều hậu quả kinh tế cho việc sử dụng chúng
Độ cứng của nước được xác định bằng phương pháp chuẩn độ hoặc tính toán theohàm lượng Ca, Mg trong nước
Trang 10Độ cứng (mg CaCO3/l) = 2,55 Ca (mg/l) + 3,58 Mg (mg/l)
Theo giá trị độ cứng tính bằng mg/l CaCO3 có thể phân loại nước theo độ cứngthành: nước mềm khi giá trị đo nhỏ hơn 50, nước cứng trung bình khi giá trị đo xấp
xỉ 150 và nước quá cứng khi giá trị đo lớn hơn 300
- Độ dẫn điện: Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các iontrong nước Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO42-, PO4-,v.v… Tác động ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao thường liên quan đến tính độchại của các ion tan trong nước Để xác định độ dẫn điện, người ta thường dùng cácmáy đo điện trở hoặc cường độ dòng điện
- Độ pH: Nước tinh khiết ở điều kiện bình thường sẽ bị phân ly theo phươngtrình phản ứng
Giá trị pH của nước được xác định bằng logarit cơ số 10 nồng độ ion H+ theocông thức:
Độ pH của nước có thể xác định bằng phương pháp điện hóa chuẩn độ hoặccác loại thuốc thử khác nhau
- Nồng độ oxy tự do trong nước (DO):
Oxy tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các sinh vật nước ( cá, lưỡngthê, thủy sinh, côn trùng,…) thường được tạo ra do sự hòa tan từ khí quyển hoặc doquang hợp của tảo Nồng độ oxy tự do trong nước nằm trong khoảng 8 – 10 ppm,
và dao động mạnh phù thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy hóa chất, sự quang hợp củatảo,v.v… Khi nồng độ DO thấp, các loài sinh vật nước giảm hoạt động hoặc bị chết
Do vậy, DO là một chỉ số quan trọng để đánh giá sự ô nhiễm nước của các thủyvực Có nhiều phương pháp xác định giá trị DO của các mẫu như phương pháp iotcủa Winkler và phương pháp điện cực
Trang 11- Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học COD:
Nhu cầu oxy sinh hóa là lượng oxy mà vi sinh vật cần dùng để oxy hóa cácchất hữu cơ theo phản ứng:
Nhu cầu oxy hóa học là các lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóahọc trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ Như vậy COD là lượng oxy cần đểoxy hóa toàn bộ các chất hóa học trong nước, trong khi BOD là lượng oxy cần thiết
để oxy hóa một phần các hợp chất hữu cơ để phân hủy bởi vi sinh vật
- Toàn bộ lượng oxy sử dụng cho các phản ứng trên được lấy từ oxy hòa tantrong nước (DO) Do vậy nhu cầi oxy hóa học và oxy sinh hóa cao sẽ làm giảmnồng độ DO của nước, có hại cho sinh vật nước và hệ sinh thái nước nói chung Cácloại nước thải hữu cơ, nước thải sinh hoạt và nước thải hóa chất là các tác nhân tạo
ra các giá trị BOD và COD cao của môi trường nước
Để xác định giá trị BOD của mẫu nước, người ta thường dùng giá trị BOD5bằng cách xác định hiệu nồng độ oxy hòa tan của mẫu nước sau khi pha loãng và ủmẫu pha loãng ở nhiệt độ 200C trong 5 ngày
Để xác định nồng độ COD, người ta thường sử dụng rộng rãi phương phápbicromat theo phản ứng hóa học sau:
Do vậy, trong các tiêu chuẩn chất lượng nước, nồng độ các nguyên tố kim loại nặngđược quan tâm hàng đầu Để xác định nồng độ kim loại nặng trong nước, người ta
có thể dựng nhiều phương pháp khác nhau như phân tích hóa học, phân tích quangphổ hấp thụ, phân tích kích hoạt hoặc phân tích cực phổ
- Các nhóm anion NO3-, PO43-, SO42-, NH4
Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp là các nguyên tố dinh dưỡng đối với tảo
và thực vật dưới nước Khi ở nồng độ cao, các nguyên tố này gây ra sự phú dưỡnghoặc các biến đổi sinh hóa trong cơ thể sinh vật và người Thí dụ NO3- có thể lànguyên nhân gây ra ung thư
Trang 12Sự có mặt các nhóm anion trên trong nước liên quan tới việc đưa vào môitrường nước các loại nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và các chất hữu cơnhư rác thải, v.v…Để xác định nồng độ các nhóm anion trên, người ta thường dùngcác phương pháp hóa học.
- Thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật là những chất độc có nguồngốc tự nhiên hoặc tổng hợp hóa học, được dựng để phòng trừ sinh vật có hại chocây trồng và nông sản với các tên gọi khác nhau: thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh,thuốc trừ cỏ,v.v…Có thể chia thuốc bảo vệ thực vật thành ba nhóm cơ bản:
Nhóm Clo hữu cơ, gồm các hợp chất hóa học gốc Cl rất bền vững trong môitrường tự nhiên với thời gian phân hủy dài Thuộc về nhóm này có Aldrin, Diedrin,DDT, Heptachlor, Lindande, Epoxide, Endrin,v.v…
Nhóm lân hữu cơ bao gồm hai hợp chất là Parathion và Malathion Nhómnày có thời gian bán phân hủy ngắn so với clo hữu cơ nhưng thường có độ dốc caođối với người và động vật Nhóm thuốc này tác động vào thần kinh côn trùng bằngcách ngăn cản sự hình thành men cholinestraza làm cho chúng hoạt động kém, yếu
cơ, gây choáng váng và chết
Nhóm cacbonat: Gồm các hóa chất ít bền vững trong môi trường nhưng cũngrất độc đối với người và động vật Đại diện cho nhóm này là các hợp chất gốccacbamat như Sevin, Puradan, Bassan, Mipcin Chúng có tác động trực tiếp vàomen linestraza của hệ thần kinh côn trùng
Trong sản xuất nông nghiệp chỉ có một phần thuốc bảo vệ thực vật tác độngtrực tiếp tới sâu bệnh Phần còn lại rơi vào nước, đất và tích lũy trong các thànhphần môi trường hoặc các sản phẩm nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường
Để xác định nồng độ các chất bảo vệ thực vật trong môi trường, người tathường dùng các phương pháp phân tích sắc khí
- Các hóa chất hòa tan khác: các hóa chất nhóm xynua, phenon, các chất tẩyrửa Các công xưởng và nhà máy sản xuất và sử dụng hóa chất đã thải vào môitrường các chất này
1.1.4.3 Tác nhân sinh học:
Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau Bên cạnh cácsinh vật có ích, có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người vàsinh vật Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn và kí sinhtrùng gây bệnh như các loại kí sinh trùng bệnh tả, lỵ thương hàn, sốt rét, siêu vikhuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật Bản, giun đỏ, trứng giun,v.v…
Trang 13Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân, rác, nướcthải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải của các bệnh viện, v.v… Để đánh giáchất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ
số coliform Đây là chỉ số phản ánh số lượng coliform trong nước, thường khônggây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện cho ô nhiễm nước bởi các tác nhânsinh học Để xác định chỉ số coliform, người ta nuôi cấy mẫu trong các môi trườngđặc biệt và đếm số lượng chúng sau một thời gian nhất định Ô nhiễm nước đượcxác định theo các giá trị - tiêu chuẩn môi trường
1.1.5.1 Ô nhiễm nước mặt:
Nước mặt bao gồm nước mưa, nước hồ ao, đồng ruộng và nước các sông, suốikênh mương Trong đó, các sông và kênh tải nước thải, các hồ khu vực đô thị và đấttrồng lúa nước là các đối tượng thường có mức độ ô nhiễm trầm trọng Nguồn gây
ra ô nhiễm nước mặt là cáckhu dân cư tập trung như thành phố, thị trấn các hoạtđộng công nghiệp khai thác mỏ, cơ khí, luyện kim hoạt động giao thông thủy bộ,sản xuất nông nghiệp Các dạng ô nhiễm nước thường gặp là phú dưỡng, ô nhiễm
do kim loại nặng và hóa chất độc hại, ô nhiễm vi sinh vật và ô nhiễm bởi thuốc bảo
vệ thực vật
Phú dưỡng là hiện tượng thường gặp trong các hồ đô thị, các sông và kênh dẫnnước thải Biểu hiện phú dưỡng của các hồ đô thị là nồng độ chất dinh dưỡng N, Pcao, tỷ lệ P/N cao do sự tích lũy tuơng đối P so với N, sự yếm khí và môi trườngkhử của lớp nước đáy thủy vực, sự phát triển mạnh mẽ của tảo và nở hoa tảo, sựkém đa dạng của các sinh vật nước, đặc biệt là cá, nước có màu xanh đen hoặc đen,
có mùi khai thối do thoát khí H2S, v.v… Nguyên nhân của sự phú dưỡng là sự thâmnhập một lượng lớn N, P từ nước thải sinh hoạt của các khu dân cư, sự đóng kín vàthiếu đầu ra của môi trường hồ Sự phú dưỡng nước hồ đô thị và các sông kênh dẫnnước thải gần các thành phố lớn đã trở thành hiện tượng phổ biến ở hầu hết cácnước trên thế giới Hiện tượng phú dưỡng hồ đô thị và kênh thoát nước thải có tácđộng tiêu cực tới các hoạt động văn hóa của dân cư đô thị, làm biến đổi hệ sinh tháinước hồ, tăng thêm mức độ ô nhiễm không khí khu vực đô thị
- Ô nhiễm kim loại nặng và các hóa chất độc hại thường gặp trong các lưu vựcnước gần các khu công nghiệp, các thành phố lớn và khu vực khai thác khoáng sản.Biểu hiện ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất độc hại thể hiện bởi nồng độ cao củacác kim loại nặng trong nước Ở một số trường hợp, xuất hiện việc chết hàng loại cá
Trang 14và thủy sinh vật Nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm kim loại nặng và hóa chất độchại là nước thải công nghiệp và nước thải độc hại không xử lý hoặc xử lý không đạtyêu cầu bị đổ vào môi trường Ô nhiễm nước bởi kim loại nặng và hóa chất độc hại
có tác động tiêu cực mạnh mẽ tới môi trường sống của sinh vật và con người Kimloại nặng và hóa chất độc hại tích lũy theo chuỗi thức ăn thâm nhập vào cơ thểngười Nước mặt bị ô nhiễm sẽ lan truyền các chất ô nhiễm vào nước ngầm, vàomặt đất và các thành phần môi trường liên quan khác Để hạn chế tác động tiêu cựccủa sự ô nhiễm cần phải tăng cường biện pháp xử lý nước thải công nghiệp và nướcthải độc hại, quản lý tốt thực phẩm nuôi trồng trong môi trường có nguy cơ bị ônhiễm như nuôi cá, trồng rau bằng nguồn nước thải
- Ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt thường gặp trong các lưu vực tiếp nhậnnước thải sinh hoạt, đặc biệt là nước thải bệnh viện Các loại vi khuẩn, ký sinhtrùng, sinh vật gây bệnh cho người và động vật lan truyền trong môi trường nướcmặt, gây ra các loại dịch bệnh cho các khu vực dân cư tập trung Hiện tượng trênthường gặp ở các nước đang phát triển và chậm phát triển trên thế giới Theo báocáo của Ngân hàng Thế giới năm 1992, nước ô nhiễm gây ra bệnh tiêu chảy làmchết 3 triệu người và 900 triệu người mắc bệnh mỗi năm Đã có năm số người bịmắc bệnh trên thế giới rất lớn như bệnh giun đũa 900 triệu, bệnh sán máng 600triệu Để hạn chế tác động tiêu cực của ô nhiễm vi sinh vật nguồn nước mặt, cầnnghiên cứu các biện pháp xử lý nước thải, cải thiện tình trạng vệ sinh môi trườngsống của dân cư, tổ chức tốt hoạt động y tế và dịch vụ công cộng
- Ô nhiễm nguồn nước bởi thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học là hiệntượng phổ biến trong các vùng nông nghiệp thâm canh trên thế giới Trong quá trình
sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học, một lượng đáng kể thuốc vàphân không được trồng tiếp nhận Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước vàcác sản phẩm nông nghiệp dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật.Tác dụng tiêu cực khác của sự ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật và phân bón là làmsuy thoái chất lượng môi trường ở khu vực canh tác nông nghiệp như phú dưỡngđất, nước, ô nhiễm đất, nước, giảm tính đa dạng sinh học của khu vực nông thôn,suy giảm các loài thiên địch, tăng khả năng chống chịu của sâu bệnh đối với thuốcbảo vệ thực vật
1.1.5.2 Ô nhiễm và suy thoái nước ngầm:
Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích
bở rời như cát, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dưới bề mặt Trái Đất,
Trang 15có thể khai thác cho các hoạt động sống của con người Theo độ sâu phân bố, có thểchia nước ngầm thành: nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu Đặc điểmchung của nước ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thànhdòng chảy ngầm theo địa hình Nước ngầm tầng mặt thường không có lớp ngăncách với địa hình bề mặt Do vậy, thành phần và mực nước biến đổi nhiều, phụthuộc vào trạng thái của nước mặt Loại thường nằm trong lớp đất đá xốp đượcngăn cách bên trên và phía dưới bởi các lớp không thấm nước Theo không gianphân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:
Trong các khu vực phát triển đá cacbonat thường tồn tại loại nước ngầm caxtơ
di chuyển theo các khe nứt caxtơ Trong các dải cồn các vùng ven biển thường cócác thấu kính nước ngọt nằm trên mực nước biển
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở nhiều quốc gia vàvùng dân cư trên thế giới Do vậy, ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng rất lớn đếnchất lượng môi trường sống của con người Các tác nhân gây ô nhiễm và suy thoáinước ngầm bao gồm:
- Các tác nhân tự nhiên như nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng Fe, Mn vàmột số kim loại cao
- Các tác nhân nhân tạo như nồng độ kim loại nặng cao, hàm lượng NO3-,NO2-, NH4 , PO43-.v.v…vượt quá tiêu chuẩn, ô nhiễm bởi vi sinh vật
- Suy thoái trữ lượng nước ngầm biểu hiện bởi giảm công suất khai thác, hạthấp mực nước ngầm, lún đất
Ngày nay, tình trạng ô nhiễm và suy thoái nước ngầm đang phổ biến ở các khuvực đô thị và các thành phố lớn trên thế giới Nước ngầm ở một số nhà máy nướccủa thành phố Hà Nội như Pháp Vân, Mai Động đang bị ô nhiễm Nước ngầm khuvực thành phố Hồ Chí Minh đang bị nhiễm mặn do khai thác quá công suất chophép Nước ngầm trong các thấu kính cát vùng ven biển đang bị ô nhiễm và nhiễmmặn
Trang 161.1.5.3 Ô nhiễm biển:
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sôngsuối, các chất thải từ hoạt động của con người trên biển như khai thác khoáng sản,giao thông vận tải biển Trong nhiều năm, biển sâu còn là nơi đổ chất thải độc hạinhư chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới Các biểu hiện của sự ônhiễm biển khá đa dạng, có thể chia ra thành một số dạng như sau:
- Gia tăng nồng độ của các chất ô nhiễm trong nước biển như dầu, kim loạinặng, các hóa chất độc hại
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích biển vùng ven bờ
- Suy thoái các hệ sinh thái biển như hệ sinh thái san hô, cỏ biển,……
- Suy giảm chất lượng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh vậtbiển
- Xuất hiện các hiện tượng như thủy triều đỏ, tích tụ các chất ô nhiễm trongcác thực phẩm lấy ra từ biển
Theo công ước luật biển năm 1982, có 5 nguồn có thể gây ra ô nhiễm biển: cáchoạt động trên đất liền, việc thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa vàđáy đại dương, việc thải các chất độc hại ra biển, vận chuyền hàng hóa trên biển, ônhiễm không khí Cả 5 nguồn này đang có xu thế gia tăng, đe dọa tới chất lượngmôi trường biển
Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sảnphẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, chất thải phóng xạ và nhiều chất ônhiễm khác Theo tính toán, vào các năm 60 của thế kỷ này, lượng chất thải rắn đổ
ra biển hàng năm khoảng 50 triệu tấn, gồm đất,cát, rác thải, phế liệu xây dựng, chấtphóng xạ Một số chất thải này sẽ lắng tại vùng biển ven bờ Một số chất khác bịphân hủy và lan truyền trong toàn khối nước biển
Bảo vệ môi trường biển là một trong những nội dung quan trọng của cácchương trình bảo vệ môi trường của Liên Hợp Quốc và các quốc gia trên thế giới.Công ước luật biển năm 1982, Công ước Marpol 73/78 chống ô nhiễm biển, Côngước quốc tế 1990 về việc sẵn sàng đối phó và hợp tác quốc tế chống ô nhiễm dầu làcác ví dụ về sự quan tâm của quốc tế đối với vấn đề ô nhiễm biển
Trang 17CHƯƠNG II HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC LƯU VỰC SÔNG ĐÀO – NGHỆ AN 2.1 Hiện trạng môi trường nước lưu vực sông Đào:
2.1.1 Vị trí giới hạn, diện tích lưu vực Sông Đào:
Sông Đào thường được gọi kênh thấp, kênh Vinh nằm ở phía đông nam TỉnhNghệ An, thuộc huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên và Thành phố Vinh, đầu trên thôngvới Sông Lam qua cống Nam Đàn, đầu dưới thông với Sông Lam qua cống BếnThuỷ
Lưu vực Sông Đào có diện tích 287,34 km2, trong đó đồi núi có 31,79 km2,đồng bằng có 255,55 km2, tổng diện tích đất canh tác 12.109,7 ha, chiều dài SôngĐào 28,8 km ( kênh thấp 23,2 km, kênh vinh 5,6km )
2.1.2 Nhiệm vụ của sông Đào:
Có 3 nhiệm vụ chính:
- Tiêu úng, tháo lũ cho 287,34 km2 lưu vực đồi núi, đồng ruộng và dân cưNam Đàn, Hưng Nguyên, Thành phố Vinh qua cống Bến Thuỷ về Sông Lam và quakênh Gai về Cửa Lì
- Dẫn nước Sông Lam, qua cống Nam Đàn, lưu lượng thiết kế QTK =25,6 km3/s,tạo nguồn nước tưới cho 21.225 ha đồng ruộng vùng Nam- Hưng- Nghi, cấp nướcsinh hoạt cho Thành phố Vinh, cấp nước cho khu công nghiệp Bắc Vinh, Nam Cấm
- Tạo đường giao thông thuỷ từ Sông Lam, Sông Đào đi các văng Vinh, NamĐàn, Hưng Nguyên, Diễn Châu,Yên Thành
Ngoài trực chính Sông Đào ( kênh thấp, kênh vinh ) vùng Nam Đàn, HưngNguyên, Nghi Lộc còn có các tuyến kênh Gai, kênh Hồng Cần, kênh Lam Trà cùnglàm nhiệm vụ kết hợp tưới tiêu cho vùng Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc
2.2 Hiện trạng Sông Đào, dòng chảy, tình hình tưới tiêu và môi trường: 2.2.1 Đoạn từ cống Nam Đàn đến cầu Nam Anh (Nam Đàn)
Sông Đào, dài 5,1km, chiều rộng lòng Sông trung bình
b =15 20 m, cao độ đáy Sông -1,0 -1,5
- Mùa lũ: Cống Nam Đàn đúng, dòng chảy trong Sông do mưa lũ chảy từ đấtcủa thị trấn, các xã Vân Diên, Xuân Hồ, Nam Nghĩa, Nam Thanh, Nam Anh củahuyện Nam Đàn chảy về, lưu lượng lũ:
Trang 18QL = 25 30m3/s, lưu tốc dòng chảy trên Sông V = 1,21,5 m/s
- Mùa kiệt: Nguồn chính do nước Sông Lam chảy qua cống Nam Đàn vào,Ngoài ra nước sau khi tưới theo các kênh tiêu trở về Sông, nước mưa ngấm xuốngđất chảy vào Sông, nước sinh hoạt vùng thị trấn chợ chảy vào Sông, lưu lượng bìnhquân QK = 2025m3/s Lưu tốc dòng chảy Vk = 0,3 0,5m/s, những năm hạn lớnkéo dài QK = 15 20 m3/s
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích đất trồng cây hàng năm của Thị Trấn NamĐàn, các huyện Vân Diên, Xuân Hồ, Nam Nghĩa, Nam Thanh, Nam Anh của huyệnNam Đàn là 2113 ha, nguồn nước tưới là các hồ chứa vừa và nhỏ tưới vùng cao, cáctrạm bơm lấy nước Sông Đào tưới vùng thấp
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 6978 ha trong đó có 1932 ha đồi núi NamDiên, Nam Nghĩa, Nam Thanh và Nam Anh (Nam Đàn ) trong vùng này có vùngtrũng Sen Đôi, Bàu Nón mùa mưa lũ chính vụ diện tích ngập lớn thời gian dài
2.2.2 Đoạn từ cầu Nam Anh cho đến ngã ba kênh Lam Trà (Nam Đàn)
Sông dài 4,1 km, chiều rộng lòng Sông b = 15 20 m, cao độ đáy Sông - 1,5
-1,7 m
- Mùa lũ: chủ yếu do lưu lượng thượng lưu Sông và nước mưa lũ từ đồngruộng đồi núi, khu dân cư trong vùng đổ về Lưu lượng lũ trung bình QL = 40 50
m3/s, lưu tốc dòng chảy V = 1,2 1,5 m3/s
- Mùa kiệt: Do có nước Sông Lam về, nước mưa ngấm vào trong đất và nướcsau khi tưới ngấm xuống, lưu lượng trung bình QK = 15 20 m3/s, những năm hạnlớn, kéo dài, nước Sông Lam thấp QK = 12 15 m3/s
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho 942 ha đất canh tác hàng năm của xã Nam Xuân vàHùng Tiến của huyện Nam Đàn Nguồn nước tưới chủ yếu do các trạm bơm lấynước Sông Đào tưới, vùng cao Nam Xuân lấy nước các hồ chứa tưới lúa màu
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 2285 ha, trong đó có 335 ha đồi núi Nam Xuân
2.2.3 Đoạn từ ngã ba Kênh Lam Trà đến Cầu Mượu (Nam Đàn)
Sông dài 6,2 km, chiều rộng lòng trung bình 1520m, cao độ đáy Sông 1,15 1,7
Trang 19- Dòng chảy trong Sông:
- Mùa lũ: Do mưa lũ vùng đầu Sông và lưu vực hai bên Sông đổ vào, lưulượng lũ trung bình QL= 6070 m3 vận tốc dòng chảy lũ VL= 1,2 1,5 m/s, thời kỳmưa lũ hè thu QHT= 3040 m3/s, vận tốc dòng chảy V= 0,81,0 m/s
-Mùa kiệt: Do nước Sông Lam qua cống Nam Đàn về và một phần lưu lượngnước sau khi tưới chảy về kênh tiêu về Sông Đào, lưu lượng nước QK= 1217 m3/s,những năm hạn lớn kéo dài, mực nước Sông Lam thấp dưới +1,0 lưu lượng nước vềSông Đào nhỏ hơn, khi về đến đây QK=1013m3/s
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích 1993 ha đất canh tác hàng năm của các xãNam Lĩnh, Hồng Long, Kim Liên và Nam Giang của huyện Nam Đàn Nguồn nướctưới chủ yếu do các trạm bơm, lấy nước trực tiếp từ Sông Đào hoặc từ kênh LamTrà tưới, vùng cao của Nam Lĩnh dựng nước hồ chứa nhỏ tưới
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 4522 ha đất tự nhiên trong vùng, trong đó
có 578 ha vung đồi Nam Lĩnh và Nam Giang
2.2.4 Đoạn từ cầu Mượu đến cầu Hưng Đạo (Hưng Nguyên)
Đoạn này dài 3,7 km, chiều rộng lòng Sông trung bình = 1820 m, cao độđáy Sông -1,5 -2,1
- Mùa lũ: Do mưa lũ đầu Sông Đào, kênh Lam Trà (Nam Đàn) và hai bênSông Đào đổ về, lưu lượng lũ bình quân 70 80 m3/s, lưu tốc dòng chảyVL=1,21,5 m/s Lũ hè thu lưu lượng nhỏ QHT= 40 50 m3/s
- Mùa kiệt: Chủ yếu do nước Sông Lam về và một phần nước sau khi tướinước chảy về kênh tiêu quay trở về Sông Đào, lưu lượng dòng chảy trung bình QK=1015 m3/s lưu tốc dòng chảy, VK= 0,30,4 m/s, những năm hạn lớn kéo dài nướcSông Lam xuống thấp nhỏ hơn +1,0, lưu lượng Q= 8 10m3/s
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích 2410 ha đất trồng cây hàng năm của các xãXuân Lâm, Nam Cát, Hưng Long, Hưng Lĩnh, Hưng Thông, Hưng Đạo của huyệnHưng Nguyên Nguồn nước tưới do các trạm bơm lấy nước từ Sông Đào và kênhLam Trà lên tưới ( kênh Lam Trà là nhánh Sông Đào) Vùng này ngoài tưới, cótrạm bơm cầu Mượu bơm nước Sông Đào Q= 40.000 m3/ ngày, phục vụ nước sinhhoạt cho 250.000 người dân thành phố Vinh
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho 4313 ha đất tự nhiên của các xã trong khu vực
Trang 202.2.5 Đoạn từ cầu Hưng Đạo đến ngã ba cầu Đước (Hưng Nguyên)
Sông dài 3,3 km, chiều rộng lòng Sông bình quân b=1820m , cao độ đáySông -2,0 –2,4
- Mùa lũ: Do mưa lũ đầu nguồn Sông Đào và mưa lũ trong vùng dồn về, lưulượng lũ trung bình qua đoạn này QL= 8090 m3/s, vận tốc trung bình VL=1,21,5m/s Thời kỳ lũ hè thu QHT= 5060 m3/s
- Mùa kiệt: Chủ yếu do nước Sông Lam về và nguồn nước tái sinh sau khi tưới
và sử dụng sinh hoạt, lưu lượng bình quân QK= 812 m3/s, vận tốc dòng chảyV=0,30,4 m/s, những năm hạn lớn kéo dài QK=78 m3/s
Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Toàn vùng có diện tích đất sản xuất hàng năm 893 ha của các
xã Hưng Chính, thị trấn Hưng Nguyên, Hưng Mỹ của huyện Hưng Nguyên Nguồnnước tưới do các trạm bơm lấy nước từ Sông Đào về kênh Hồng Cần để tưới( kênhHồng Cần dẫn nước từ Sông Đào về)
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho diện tích 1724 ha của Hưng Chính, thị trấn vàHưng Mỹ ,nước chảy qua các kênh tiêu về Sông Đào hoặc vào kênh Hồng Cần vềSông Đào
2.2.6 Đoạn từ ngã ba cầu Đước đến cầu Cửa Tiền( Sông Vinh)
Dài 1,6 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b=18 22 m, cao độ đáy Sông 1,5 -1,7
- Mùa lũ: Do mưa lũ đầu nguồn Sông Đào và mưa lũ ở các phường xã hai bênSông Đào dồn về, lưu lượng lũ bình quân QL= 90 100 m3/s, lưu tốc dòng chảyVL= 1,0 1,2 m/s, lũ hè thu lưu lượng nhỏ Q= 50 60 m3/s Đoạn Sông này khimực nước Sông Lam thấp nước lũ qua cống Bến Thuỷ (thành phố Vinh) về SôngLam, khi nước Sông Lam cao nước lũ chảy ngược về ngã ba Đước (Hưng Nguyên)
về cống Nghi Quang ra biển
- Mùa kiệt: Nguồn nước Sông Lam qua cống Nam Đàn và nước tái sinh saukhi tưới và sinh hoạt về đây, nước được phân về hai ngả để phục vụ tưới sinh hoạt
và thông thuyền nên QK= 4 5 m3/s, V= 0,3 0,4 m/s, những năm hạn lớn kéo dàiQK=3 4 m3/s
Trang 21 Diện tích tưới tiêu:
- Diện tích tưới: Toàn vùng tưới cho 456 ha đất sản xuất hàng năm của xãHưng Thịnh (Hưng Nguyên) và Cửa Nam (thành phố Vinh)
- Diện tích tiêu: Tiêu cho diện tích 1514 ha của các phường xã: Lê Lợi, CửaNam, Hồng Sơn, Quang Trung, Đội Cung của thành phố Vinh và xã Hưng Thịnh(Hưng Nguyên)
2.2.7 Đoạn từ cầu Cửa Tiền đến cầu Trung Đô ( thuộc Vinh)
Chiều dài 2,5 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b= 18 20 m, cao độ đáySông -2 -2,5
- Mùa lũ: Do mưa lũ từ thượng nguồn và mưa lũ từ các phường xã xung quanhchảy về Sông Vinh Nước Sông Lam thấp, nước lũ chảy qua cống Bến Thủy vềSông Lam, lưu lượng lũ QL= 100 110 m3/s, lưu tốc dòng chảy V=1 1,2 m/s Lũ
hè thu QHT= 60 70 m3/s Khi nước Sông Lam cao, cống Bến Thuỷ đúng nước lũchảy ngược lại về ngã ba Đước ra cống Nghi Quang về Cửa Lò QL=15 20 m3/s
- Mùa kiệt: Chủ yếu nước Sông Lam qua cống Nam Đàn về, ngoài ra còn cónước tái sinh sau khi tưới, nước chảy qua các cống tiêu, kênh tiêu, lưu lượng dòngchảy QK=2 3 m3/s, vận tốc dòng chảy V=0,2 0,3 m/s, những năm hạn lớn kéodài QK= 1,5 2 m3/s
- Diện tích tưới: Tưới cho diện tích 229 ha đất trồng rau hàng năm của phườngVinh Tân và phường Trung Đô (thành phố Vinh)
- Diện tích tiêu: Tiêu nước cho 1252 ha vùng dân cư và đất canh tác của Trung
Đô và Vinh Tân
2.2.8 Đoạn từ cầu Trung đô đến ngã ba kênh Hồng Cần (thuộc Vinh)
Dài 1,2 km, chiều rộng lòng Sông trung bình b = 20-25m, độ cao đáy -2,5 -3,0
- Mùa lũ khi mực nước Sông Lam thấp, hầu hết lũ đầu nguồn Sông Đào và lưuvực kênh Hồng Cần đều tiêu nước vào Sông Vinh qua cống bến thuỷ về Sông Lam,lưu lượng lũ bình quân QL = 110115 m3/s lưu tốc dòng chảy VL = 11,2 m/s , lũ
hè thu QHT =60 70 m3/s khi nước Sông Lam cao, nước lũ Sông Vinh chảy ngượclại về ngả ba cầu đước, qua cống Nghi Quang ra Cửa Lò