Ởvùng ven biển Việt Nam đã xác định được 350 loài san hô tảo rạn sống gắn bó cùngkhoản 2000 loài sinh vật đáy, cá và nhiều loại hải sản khác, 15 loài cỏ biển, 667 loàirong biển, 94 loài
Trang 1MỞ ĐẦU RNM là một thành phần rất quan trọng của môi trường tự nhiên, nằm
trong hệ sinh thái đất ngập nước ven biển RNM được coi là nguồn tài nguyên venbiển vô cùng hữu ích đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống con người
Hệ sinh thái RNM có tính đa dạng sinh học rất cao đây là hệ sinh thái nằm giữa
hệ sinh thái trên cạn và dưới nước nên rất đa dạng về thành phần loài động thực vật
và thực vật Các hệ sinh thái nước ngọt có khoảng 2611 loài thủy sinh vật, có 147loài trai ốc, 546 loài trai ốc, 546 loài cỏ, 157 loài động vật nguyên sinh…[11] Ởvùng ven biển Việt Nam đã xác định được 350 loài san hô tảo rạn sống gắn bó cùngkhoản 2000 loài sinh vật đáy, cá và nhiều loại hải sản khác, 15 loài cỏ biển, 667 loàirong biển, 94 loài thực vật ngập mặn các loại này tạo nên nét độc đáo về sinh cảnh
Dưới sức ép của việc phát triển đô thị và công nghiệp, dân sinh, hơn 50%diện tích rừng ngập mặn và thành phần loài trong hệ sinh thái bị suy giảm do việcphá rừng để nuôi tôm [6] và các hoạt động khai thác thủy hải sản quá mức, bên cạnh
đó do ý thức của người dân chưa cao, chính quyền địa phương chưa có giải pháphữu hiệu trong việc quản lý nguồn tài nên nguồn tài nguyên sinh học RNM, DN tại
xã Cẩm Thanh được đánh giá là một hệ sinh thái rất đa dạng sinh học đặc biệt vớiquần thể dừa nước, nhưng hiện nay ngày càng suy giảm về diện tích cũng như thànhphần loài động thực vật Việc bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên sinh học ởRDN là một yêu cầu cấp thiết
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu nguồn tài nguyên sinh học rừng ngập mặn tại xã Cẩm Thanh –TP Hội An” nhằm mục
đích điều tra thành phần số lượng loài động thực vật trong RNM tại địa phương đểquản lý và phát triển rừng ngập mặn và góp phần tăng lợi ích kinh tế cho người dân
và phát triển bền vững
Trang 2CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ RNM
2.1 Khái niệm RNM
RNM là thuật ngữ mô tả hệ sinh thái thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt dớihình thành nên vùng triều với tổ hợp động, thực vật đặc trưng Hệ sinh thái này, cácđộng thực vật vi sinh vật trong môi trường đất và môi trường tự nhiên được liên kếtvới nhau thông qua quá trình trao đổi và đồng hóa năng lượng Các quá trình nội tạinhư cố định năng lượng, tích lũy sinh khối, phân hủy vật chất hữu cơ và chu trìnhdinh dưỡng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố bên ngoài gồm cung cấpnước, thủy triều, nhiệt độ và lượng mưa [12]
2.2 Khái niệm đa dạng sinh học
Theo công ước Đa dạng sinh học, khái niệm “Đa dạng sinh học”
(biodiversity, biological diversity) có nghĩa là sư khác nhau giữa các sinh vật sống
ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, trong đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần… thuật ngữ này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và
giữa các hệ simh thái [12]
2.3 Khái quát vai trò RNM
Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những hệ sinh thái (HST) tự nhiên cónăng suất sinh học cao nhất Vai trò quan trọng của RNM trong việc đóng góp vàonăng suất vùng cửa sông ven biển đã được biết đến từ những năm 1960 RNM cungcấp một lượng lớn sinh khối cơ bản duy trì sự tồn tại của HST cả về ý nghĩa môitrường và kinh tế (Phan Nguyên Hồng et al., 1999) RNM có vai trò bảo vệ bờ biển,chống lại xói mòn, chống lại gió bão, RNM còn là nơi cung cấp thức ăn và là nơi
cư trú của nhiều loài thủy sản quan trọng có giá trị thương mại cao Từ lâu RNM đãđem lại nhiều lợi ích về kinh tế xã hội cho cư dân vùng ven biển Việt Nam (NguyễnHồng Trí,1999)
2.3.1 Vai trò của RNM đối với tự nhiên
2.3.1.1 RNM điều hòa khí hậu
RNM có tác động đến điều hòa khí hậu trong vùng Blasco (1975) nghiêncứu khí hậu và vi khí hậu rừng, đã có nhận xét các quần xã RNM là một tác nhânlàm cho khí hậu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biến nhiệt độ Trên thế giới có rấtnhiều ví dụ điển hình về việc mất RNM kéo theo sự thay đổi khí hậu của khu vực…Sau khi thảm thực vật không còn thì cường độ bốc hơi nước tăng làm cho độ mặncủa nước và đất tăng theo Có nơi sau khi RNM bị phá hủy, tốc độ bốc hơi nước củakhu vực tăng lên đột ngột, gây ra hiện tượng xa mạc hóa do cát di chuyển vùi lấpkênh rạch và đồng ruộng Tốc độ gió tăng lên gây ra súng lớn làm vỡ đê đập, xói lở
bờ biển Mất rừng ngập mặn ảnh hưởng tới lượng mựa của các tiểu khu vực khác
Trang 3RNM ở vùng vịnh Fort de France thuộc quần đảo Martinique (pháp) bị giảmmột diện tích rất lớn do chất thải công nghiệp, ngay sau đó lượng mưa ở khu vựcnày bị thay đổi, tốc độ gió vùng bờ biển tăng lên ô nhiễm tiếng ồn đi kèm với bệnhdịch lan tràn (Blasco, 1975).
Chỉ trong vài chục năm trở lại đây, một diện tích đáng kể RNM ở Cà Mau đã
bị khai phát để làm đầm nuôi tôm quảng canh Hậu quả là vẻ đẹp cảnh quan bị mất
đi kèm theo hành chục nghìn hecta đất bị hang hóa Nhiều kênh rạch trước đây lànơi cung cấp thức ăn, nơi nuôi dưỡng ấu trùng tôm cá, nay bị cát vùi lấp, khí hậu oibức và khắc nghiệt cùng với nạn ô nhiễm bao chăm khắp cả một cùng rộng lớn Một
ví dụ rất điển hình là là việc mất rừng do chất độc hóa học của Mỹ đối với RNMmiền nam Việt Nam Hàng chục ngàn hécta RNM bị phá trụi, đất bị phơi dưới ánhnắng mặt trời, nồng độ muối trên lớp đất mặt ở Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh cónơi lên tới 35 - 40% Thảm thực vật mất đi đã ảnh hưởng đến toàn bộ hệ sinh thái,các điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu của khu vực Sau khi phục hồi rừng, cảnhquan và khí hậu đã thay đổi theo chiều hướng tốt và thành phố Hồ Chí Minh coi đây
là “lá phổi” của thành phố
2.3.1.2 RNM trong việc bảo vệ đất bồi, chống xói lở hạn chế xâm nhập mặn.
Việt Nam với bờ biển dài 3260 km, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàngnăm thường xuyên phải chịu những cơn bão và triều cường gây thiệt hại lớn Trướcđây, nhờ có các dãy rừng ngập mặn tự nhiên và những dãy rừng được trồng ở cácvùng cửa sông ven biển đê điều ít bị vỡ
Nhưng gần đây do việc phá rừng ngày càng tăng, nạn lở đất, lũ lụt xảy ranhiều nên cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển ngày càng bị đe doạ Ngaytrong năm 2005, Việt Nam đã phải gánh chịu những thiệt hại to lớn về người, tàisản và cơ sở hạ tầng Nhiều đoạn đê biển bị vỡ hoặc sạt lở nghiêm trọng Nhưng saunhững thiệt hại mà bão số 2, 6 và bão số 7 gây ra, nhiều người dân ở vùng biển đều
có nhận xét rằng: ở những khu vực có rừng ngập mặn, đê biển không hề sạt lở
Tại tỉnh Thanh Hoá, bão số 7 đã gây những thiệt hại nghiêm trọng, nhưngcũng qua cơn bão này, người dân càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của rừngngập mặn Bà Viên Thị Hoa - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Thanh Hoá nói: "Sau bão
số 7, chúng tôi có dịp đi một số tỉnh nằm trong dự án trồng rừng ngập mặn do HộiChữ thập đỏ Đan Mạch và hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ Tận mắt chứng kiếnnhững đoạn đê vỡ, những khu nhà ngập trong nước và có dịp so sánh với nhữngquãng đê lành lặn được che chở bởi những cánh rừng ngập mặn hoặc những khoảngtre gai chúng tôi dễ dàng nhận thấy một điều: ở đâu có rừng ngập mặn, sức tànphá của sóng biển bị suy giảm Rừng ngập mặn là vành đai xanh góp phần quantrọng trong việc phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai"
Trang 4Giáo sư-Tiến sĩ Phan Nguyên Hồng - một chuyên gia trong lĩnh vực rừngngập mặn cho biết: "Rừng ngập mặn có ý nghĩa to lớn trong việc phòng vệ đê chốngxói lở ở vùng ven biển Nếu chỗ nào không có rừng ngập mặn thì khi có bão dễ bịphá Ở các nước có Rừng ngập mặn, họ rất quan tâm giúp đỡ các nước không córừng ngập mặn như Nhật Bản, Hà Lan Một số nước Bắc Âu muốn Việt Nam pháttriển rừng ngập mặn để bảo vệ dân, họ đã đầu tư nhiều tiền cho chúng ta phục hồirừng, nhưng một số địa phương lại có chủ trương phá rừng đi để làm đầm tôm, vìlợi ích trước mắt không tính đến hậu quả lâu dài Hậu quả cơn bão số 7, số 6 lànhững bài học rất đắt giá cho chúng ta".[4]
Chúng ta đều biết rằng, ngay sau trận sóng thần và động đất xảy ra ở khuvực Nam Á cuối năm ngoái, rất nhiều hội thảo khoa học về thảm hoạ thiên tai đãđược tổ chức và tầm quan trọng của rừng ngập mặn trong việc phòng ngừa và giảmnhẹ thiên tai đã được các quốc gia đặc biệt quan tâm, chú ý
Người ta tính rằng, trồng và bảo vệ gần 12.000 ha rừng ngập mặn ở Việt namchỉ mất khoảng hơn 1 triệu USD nhưng tiết kiệm khoảng hơn 7 triệu USD chi phíhàng năm cho công tác bảo dưỡng đê điều (Achim Steiner, 2010)
2.3.1.3 Cung cấp chất dinh dưỡng của rừng ngập mặn
Hệ sinh thái RNM là sản phẩm đặc trưng vùng ven biển nhiệt đới, với nhiềuloài cây rừng đa dạng, sống ở vùng triều ưa độ muối thấp Đây là môi trường thíchhợp cho nhiều loài động thực vật vùng triều, đặc biệt là các loài thủy sản, chúng tạonên HST độc đáo và giàu có về mặt năng suất sinh học so với các HST tự nhiênkhác RNM cung cấp mùn bó hữu cơ khoảng 10,6 tấn/ha/năm, lượng chất hữu cơnày đã tạo nên thức ăn chủ yếu cho các nhóm sinh vật tiêu thụ như cua, tụm, cácloài nhuyễn thể 2 vỏ, giun nhiều tơ và các loài cá ăn mùn bó hữu cơ (Bộ thủy sản,1996)
Nghiên cứu của Vazquez et al (2000) chỉ ra rằng hệ sinh thái rừng ngập mặn
giàu chất hữu cơ nhưng thiếu chất dinh dưỡng nhất là đạm, lân Mặc dù vậy, rừngngập mặn vẫn có năng suất cao do sự tuần hoàn của chất dinh dưỡng ở đây rất hiệuquả, do đó những chất dinh dưỡng khan hiếm vẫn được duy trì và tái tạo từ quátrình phân hủy lá của cây ngập mặn Xác cây ngập mặn khi bị phân hủy trở nên giàuchất dinh dưỡng, chúng được nước triều mang ra các vùng cửa sông ven biển làmphong phú thêm nguồn thức ăn cho các sinh vật ở hệ sinh thái kế cận (Lê Huy Bỏ,2000) Sự phân hủy vật rụng của cây ngập mặn đã cung cấp lượng carbon và nitơđáng kể cho đất rừng Lượng carbon và nitơ trong đất phụ thuộc vào tuổi rừng, rừngcàng nhiều tuổi thì lượng carbon và nitơ trong đất càng nhiều, nơi đất trống không
có rừng lượng carbon và nitơ rất thấp, hầu như không đáng kể Đối với các mẫu lá
Trang 5phân hủy, tỷ lệ phần trăm carbon hữu cơ trong mẫu lá giảm dần qua các tháng phânhủy, ngược lại tỷ lệ phần trăm nitơ lại tăng lên Tỷ lệ nitơ trong mẫu phân hủy đượctích lũy ngày càng cao chính là nguồn thức ăn giàu chất đạm cho các loài động vậtđáy cư trú trong rừng ngập mặn (Nguyễn Thị Hồng Hạnh & Mai Sỹ Tuấn, 2005).
Năng suất lượng rơi càng nhiều thì khi phân hủy sẽ cung cấp lượng carbonhữu cơ và nitơ cho đất càng cao Lượng carbon, nitơ trả lại cho đất thông qua sựphân hủy vật rụng phụ thuộc vào tuổi rừng và lượng rơi của rừng, rừng càng nhiềutuổi lượng rơi càng nhiều và sự tích tụ carbon, nitơ trong đất càng lớn Qua quátrình phân hủy, lá cây ngập mặn sau khi rơi xuống sàn rừng đã trả lại cho đất rừngmột lượng chất hữu cơ đáng kể, lượng chất hữu cơ này trả về cho đất dưới dạng cácchất khoáng Đây chính là quá trình tự cung tự cấp chất dinh dưỡng của cây rừngngập mặn (Nguyễn Thị Hồng Hạnh & Mai Sỹ Tuấn, 2005)
2.3.2 Vai trò RNM đối với hoạt động kinh tế của của con người
2.3.2.1 Giá trị kinh tế của các các hải sản trong RNM
Hệ sinh thái RNM được coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học rất cao, đặcbiệt là nguồn lợi thủy sản Người ta ước tính trên mỗi hecta RNM năng suất hàngnăm là 91 kg thủy sản (Snedaker, 1975) Riêng đối với các loài tôm, cá, cua… sốngtrong RNM, hàng năm thu hoạch khoảng 750.000 tấn Trong năm 1978, Indonesiađánh bắt được 550.000 tấn cá trực tiếp có quan hệ với RNM cửa sông (Salm, 1981).[5]
Những nghiên cứu mới đây ở Indonesia cũng cho thấy mối quan hệ mật thiếtgiữa những vùng cửa sông có RNM và sản lượng đánh bắt tôm thẻ xuất khẩu ở venbiển Người ta tính bình quân trên mỗi hecta đầm lầy RNM cho năng suất hàng năm
là 160 kg tôm xuất khẩu (Chan, 1986)
Nếu tính cả các loài hải sản đánh bắt được ở các vùng ven biển, cửa sông cóRNM hoặc liên quan với RNM thì sản lượng lên tới 925.000 tấn, tức là tươngđương với 1% tổng sản lượng thủy sản đánh bắt được trên toàn thế giới Sản lượngtôm đánh bắt được trong những vùng có liên quan với RNM ở Australia vào năm1979–1980 là 22.000 tấn tươi (Bant, 1987)
Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng việc đánh bắt thủy sản có năng suất caochủ yếu ở các vùng nước nông, ven bờ, cửa sông; có thể giải thích: vùng này là nơitập trung các chất dinh dưỡng do sông mang từ nội địa ra và do nước triều đem từbiển vào Giữa sản lượng và các loại thủy sản đánh bắt được ở RNM cú một mốiliên quan mật thiết Ở miền tây Australia, người ta đánh giá là 67% toàn bộ các loàithủy sản có giá trị thương mại đánh bắt được đều phụ thuộc vào RNM ở cửa sông.Hamilton và Snedaker (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở vùng cửasông RNM trong suốt một hoặc nhiều giai đoạn trong chu trình sống của chúng; đối
Trang 6với nhiều loài thủy sản mối quan hệ đó là bắt buộc Bản thân RNM đã là một hệthống nuôi trồng hải sản tự nhiên, nó lại cung cấp vật liệu làm nhà, nhuộm lưới, làmdụng cụ đánh bắt trong nghề cá, đồng thời cung cấp nguyên vật liệu xây dựng làmnơi ở cho làng đánh cá Có thể nói RNM đã cung cấp những cơ sở tối thiểu từ đầuđến cuối cho ngành đánh cá ở vùng ven biển.
2.3.2.2.Rừng ngập mặn đối với nuôi thủy sản ven biển
RNM không tồn tại độc lập mà liên hệ mật thiết với các HST liên đới tronglục địa và biển Sự trao đổi vật chất của 2 môi trường RNM và biển cũng thể hiệnmối phụ thuộc giữa chúng với nhau, trong đó RNM đóng vai trị quan trọng trongviệc cung cấp chất dinh dưỡng cho biển và cùng với việc nuôi dưỡng các ấu thể củađộng vật biển đã giúp cho RNM thực hiện chức năng duy trì đa dạng sinh học và là
nguồn lợi sinh vật tiềm tàng cho biển (Phan Nguyên Hồng et al., 1999).[5]
Trong HST RNM, đa dạng về loài và nhiều về số lượng là giáp xác, đặc biệtcác loài thuộc họ Tôm he như tôm sú, tôm he mùa, tụm rảo, tụm bộp, tôm sắt…môitrường sống của chúng ở trong vùng cửa sông nhiệt đới mà đời sống rất gắn bó vớimôi trường RNM, như cách nói của người dân “Con tôm ôm cây đước” Tôm là loài
ăn tạp do vậy trong thành phần thức ăn của chúng các mảnh vụn của cây ngập mặn
chiếm một lượng đáng kể (Phan Nguyên Hồng et al., 1999) Nguồn thức ăn đầu
tiên, phong phú và đa dạng cung cấp cho các loài thủy sản là các mảnh vụn hữu cơđược phân hủy từ vật rụng cây ngập mặn (Kathiresan & Bingham, 2001) Quá trìnhphân hủy diễn ra làm cho hàm lượng acid amin ở các mẫu lá tăng cao và làm giàudinh dưỡng cho cả thủy vực RNM vừa tạo ra nguồn thức ăn trực tiếp là các mùn bóhữu cơ, vừa cung cấp thức ăn gián tiếp qua các động vật ăn mùn bó làm mồi chocác loài cá lớn và một số động vật ăn thịt khác Do đó, thành phần động vật trongvùng RNM rất phong phú và đa dạng (Phan Nguyên Hồng & Mai Thị Hằng, 2002)
RNM không chỉ là nguồn cung cấp thức ăn sơ cấp cho các loài thủy sản màcòn có vai trò hạn chế sự tăng nhiệt độ và sự bốc hơi nước của thủy vực, làm cho độmặn của nước trong đầm và khu vực nuôi thủy sản ven biển không lên quá cao (Lê
Bỏ Toàn, 2005) Rễ nơm và thân cây đước tạo thành sức cản nước triều, làm lắngđọng phù sa của dòng triều chứa chất hữu cơ màu mỡ (Dương Hữu Thời, 1998)
Theo Primavera et al (2005), RNM và các vuông tôm có tác dụng hỗ trợ nhau.
RNM có tác dụng như là bể lọc sinh học xử lý nước thải từ đầm nuôi tôm Trongquá trình làm sạch nguồn nước, RNM giữ lại chất dinh dưỡng, hấp thu chất hữu cơ
và tăng sinh khối RNM còn góp phần làm tăng nguồn hải sản trong vùng và các bãitriều lân cận qua đó góp phần nâng cao đời sống của người dân (Phan Nguyên Hồng
et al., 2005).
Trang 7RNM là nơi duy trì bền vững các nguồn lợi hải sản và hỗ trợ nghề cá Nhờcác loại chất dinh dưỡng RNM thu nhận được từ nội địa chuyển ra hay biển khơichuyển vào, đặc biệt là khối lượng lớn mùn bó từ các cây ngập mặn phân hủy tạichỗ do đó tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái RNM rất cao, trong đó có nhiềuloài hải sản quan trọng Nhờ nguồn mùn bó phong phú của RNM mà nhiều đầm
tôm, đầm cua ở đây có năng suất cao hơn các vùng khác (Phan Nguyên Hồng et al.,
2005)
2.3.2.3 RNM đối với hoạt động du lịch
Trong hoạt động du lịch, RNM là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái hết sứcquý giá Tại Việt Nam, những năm gần đây, khách du lịch ngày càng có xu hướngtìm đến tham quan, nghiên cứu các khu RNM, theo đó nguồn lợi ngành Du lịch thuđược từ hệ sinh thái này cũng tăng lên RNM thực sự trở thành đối tượng tiềm năngđối với hoạt động khai thác phát triển du lịch nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung
2.3.2.4 RNM trong việc giảm thiểu tác hại của sóng thần
Rừng ngập mặn (RNM) là hệ sinh thái đa dạng, có vai trò rất quan trọng,được ví như lá chắn xanh bảo vệ vùng cửa sông, cửa biển để chống xói lở, hạn chếtác hại của gió bão, mở rộng đất liền
RNM còn được ví như một nhà máy lọc sinh học khổng lồ, nó không chỉ hấpthụ khí CO2 do hoạt động công nghiệp và sinh hoạt thải ra, mà còn sinh ra mộtlượng ôxy rất lớn, làm cho bầu không khí trong lành Về kinh tế tài nguyên RNMrất đa dạng như: Gỗ, than, ta-nin, chim, thú và nhiều loài hải sản có giá trị xuấtkhẩu
Ai cũng biết vai trò của rừng ngập mặn (RNM) trong việc bảo vệ môitrường, là “lá phổi xanh” rất quan trọng đối với các thành phố, nhưng vai trò củaRNM còn nhiều hơn, nó còn như những “bức tường xanh” có tác dụng phòng hộtrước gió và sóng biển.[10]
Nhiều cơn bão lớn đổ bộ vào nước ta những năm qua, nơi nào RNM đượctrồng và bảo vệ tốt thì các đê biển vùng đó vẫn vững vàng trước sóng gió lớn, dù là
đê biển được đắp từ đất nện, trong khi những tuyến đê biển được xây dựng kiên cốbằng bê tông hoặc kè đá nhưng RNM bị chặt phá để chuyển sang nuôi tôm như CátHải (Hải Phòng), Hậu Lộc (Thanh Hóa) thì bị tan vỡ
Theo nhóm khảo sát của GS-TSKH Phan Nguyên Hồng (Trung tâm Nghiêncứu hệ sinh thái RNM, ĐH Sư phạm Hà Nội), độ cao sóng biển giảm mạnh khi điqua dải RNM, với mức biến đổi từ 75% đến 85%, từ 1,3m xuống 0,2m - 0,3m.[10]Tương tự, đợt sóng thần khủng khiếp ngày 26/12/2004, hơn 2 triệu người ở 13 quốcgia châu Á và châu Phi bị thiệt mạng, môi trường bị tàn phá nặng nề, nhưng kết quảkhảo sát của IUCN (Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới) và UNEP (Chương trình
Trang 8Môi trường thế giới) cùng các nhà khoa học cho thấy, những làng xóm ở phía sau
“bức tường xanh” RNM với băng rừng rộng gần như còn nguyên vẹn năng lượngsóng được giảm từ 50% đến 90%, nên thiệt hại về người rất thấp hoặc không bị tổnthất… RNM ở Ấn Độ, khoảng từ làng xóm ra bờ biển 1km, so với nơi không córừng thiệt hại giảm 50% - 80% Ở Phuket (Thái Lan) cũng vậy.[10]
2.4 Tác động ảnh hưởng RNM
2.4.1 Tác động của biến đổi khí hậu đối với hệ sinh thái RNM
Trong 50 năm trở lại đây, các khu vực, quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới,trong đó có Việt Nam, đã phải gánh chịu tác động nặng nề của sự biến đổi khí hậu.Cường độ, tần suất hoạt động của các trận bão, lũ lụt, hạn hán…ngày càng mạnh,gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống con người, tới các nguồn tài nguyên, các
hệ sinh thái ven bờ, trong đó có hệ sinh thái RNM
Biến đổi khí hậu, đặc biệt là biến đổi về nhiệt độ, nồng độ CO2, trầm tích,
cường độ bão và mực nước biển đe dọa khả năng sống sót của RNM Trong đó,
mực nước biển dâng được coi là nguy cơ lớn nhất Theo tính toán sơ bộ của các nhàkhoa học, với dự báo mực nước biển dâng 45cm vào năm 2070, có thể khoảng
230.000ha RNM ở Việt Nam sẽ hoàn toàn bị biến mất Nước biển dâng cũng ngăn
cản sự bồi tụ các bãi triều, ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn
tiên phong như mắm, bần chua
Một nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới dự báo Việt Nam là một
trong hai nước đang phát triển (Bangladesh và Việt Nam) bị tác động tồi tệ nhất trênthế giới do nước biển dâng Kết quả nghiên cứu bước đầu về sự biến đổi khí hậu đốivới hệ sinh thái RNM cho thấy, có 6 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái
nhạy cảm này, đó là: nhiệt độ không khí, lượng mưa, gió mùa đông bắc, bão, triều
cường, hoạt động của con người Ngoài ra, cũng có sự liên quan gián tiếp giữa biến đổi khí hậu và hệ sinh thái RNM thông qua sự thay đổi về mực nước biển Một số
yếu tố có thể tác động ngay, một số yếu tố khác tác động trong tương lai như: gió
mùa đông bắc, sự tăng cường dòng chảy của sông, mưa lớn ở địa phương, sự tích tụ phù sa, các tác động của con người
Ở các vùng núi, do rừng nguyên sinh bị suy thoái nghiêm trọng nên thườngxảy ra lũ quét, trượt lở đất khi có mưa lớn Việc con người phá RNM để trồng lúa,nuôi tôm đã ngăn cản sự vận động của thủy triều, làm ảnh hưởng lớn đến sự sinhtrưởng và phát triển của các loài cây ngập mặn, dẫn đến làm mất nơi sinh sống củahải sản và động vật vùng triều, làm thay đổi dòng chảy, giảm sự phân tán nước ởcác bãi triều và vùng ven biển…
2.3.2 Tác động bởi hình thức sử dụng và khai thác tài nguyê
Trang 9Trong giai đoạn hiện nay, áp lực dân số và nhu cầu sử dụng tài nguyên lớntrong khi ngu n lợi tài nguyên trong khu RNM không đủ đáp ứng cho nhu cầu khaithác nên các hình thức sử dụng và khai thác tài nguyên của người dân là chưa hợp
lý làm ảnh hưởng đến sự đa dạng sinh học
Trong khi HST bị phá hủy và cần quá trình hồi phục thì cùng nhu cầu sửdụng tài nguyên lại tăng nhanh dẫn đến việc các mô hình truyền thống ban đầu đượcthay thế bằng các mô hình mới mang tính tận diệt và cưỡng bách Khai thác chọnlọc và sử dụng tự nhiên được thay bằng khai thác kiệt và áp dụng các kỹ thuật mớitrong nuôi trồng thủy sản Đồng thời các nhu cầu sử dụng tài nguyên ới hình thứcmới, như du lịch làm cho đa dạng sinh học hệ sinh thái suy giảm
2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học RNM
2 Tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học RNM trên thế giớ
RNM ph n bố chủ yếu ở vùng xích đạo, nhiệt đới và nhiệt đới hai bán cầu.tuy nhiên, một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía bắc tBermudaới vàNhật B
Theo đánh giá của Hutchings và Seanger (1987) thì diện tích RNM trên thếgiới là 15.429.000ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở vùng Châu Á nhiệt đới và ChâuĐại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới và 3.402.000 ha thuộcChâu Phi
]
Theo tài liệu của IUCN (1993) thì diện tích RNM trên thế giới là là 168.810K
2 Spalding và cs (1997) cho rằng số liệu trên đây đã cũ và không bao gồm tất cảcác nước, đặc biệt là thiếu vùng Hồng Hải, vịnh A Rập và một số phần của châu
Mỹ Fisher và Spalding ( 1993) đưa ra số liệu diện tích RNM thế giới là 198.818K [
Theo Tomlinson (1986) phân chia RNM làm hai nhóm có thành phần loạicây khác nhau Nhóm phía đông tương ứng với vùng ấn Độ - Thái Bình Dương với
số loài đa dạng và phong phú Nhóm phía tây gồm bờ biển nhiệt đới châu Phi, châu
Mỹ ở cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương Số loài ở đây ít chỉ bằng 1/5 ở phía
Trang 10Đông (Spalding và cs, 1997) Các loài chủ yếu là đước đỏ (Rhizophora mangle),mắn, (Avicennia germinans), Laguncularia racemsa.
4]
Đến năm 1997, Spading tính toán trên ảnh vệ tinh và các số liệu thu thậpđước xác định RNM trên thế giới khoảng 80 loài thực vật (59 loài ngập mặn chínhthức, 21 loài gia nhập RNM) Các vùng RNM phồn thịnh nhất ở Đông Nam Á baoMalaysiagồIndonesiam: , , Thái Lan và NamV
t
Tuy nhiên trên cơ sở phân tích hóa thạch thì một số tác giả lại cho rằng trungtâm không phải nMalaysiaằm ở Ở Úc và Papua New Guinea có khoảng 30 loài cây
gỗ và cây bụi thuộc 14 họ thực vật có hoa trọngh t h ực vật rừng ngập mặn Ngoài
ra trong RNM còn có 10 loại thuộc họ dây leo Bì sinh hoặc dưới tán và khoảng 10– 15 loài phát triển tốt ở những vùng nội địa khi gặp trong những quần xã RNM.Một số lớn các loài thực vật khác như tảo, cỏ biển, địa y cũng thấy trong các quần
xã RNM, nhưng hầu hết các loài cậy này không phải chỉ trong NM
i có [9]
Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái rất quan trọng ở vùng venbiển nhiệt đới và á nhiệt đới Nhưng hiện nay RNM đang đối mặt với nhiều tháchthức như diện tích rừng ngập mặn trên thế giới liên tục suy giảm Trong 5 năm từnăm 1990 đến 1995, đã có 13,7 triệu ha rừng bị mất đi FO (1997) ) Rừng mất docác yếu tố thiên nhiên, tác động của con người (nuôi thuỷ sản, nông ghiệp, cơn gnghiệp, du lịh, đô thị hoá… ) Không những suy giảm diện tích mà hệ sinh tháiRNM cũng bị suy thoái nghim trọng nhiều lo ài động thực vậ đã biến mất hoặ cđang trong tìn
Cửu Long [4]
Theo tài liệu thống kê năm 2000, cả nước có 606792 ha đất ngập mặn venbiển, trong đó 155290 ha là diện tch R
Trang 11Hình 1 1 Biểu đồ phân bố diện tích rừng nNam
p mặn Việt
Tuy nhiên, diện tích rừng ngập mặn đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng docác hoạt động chuyển đổi diện tích rừng sang sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủysản, quai đê lấn biển, do xói lở ờ biển Tron g hai thập niên qu, có hơn 200 000 harừng ngập mặn bị phá để nuôi tôm Ở khu vực Gánh Hào (Bạc Liêu), trong 27 năm(1964 – 1991) đã bị xói lở mất khoảng 7.000ha rừng ngập mặn, bình quân mấtkhoản
259 ha/năm
Phan Nguyên Hồng(1993) đã công bố 77 loài cây ngập mặn khác thuộc 2nhóm được phân chia theo các điều kiện môi trường và đa dạng sống khác nhau.Nhóm 1 có 35 loài cây ngập mặn thuộc 20 chi của 16 họ, nhóm này thường đượcgọi là cây ngập mặn “ thực thụ” Nhóm 2 có 42 loài thuộc 38 chi của 28 họ, nhómnày bao gồm các loại cây “gia nhập” RNM thường ở các rừngthứ sinh và rừng t rn
trên đất cao.[4 ]
Số lượng biến đổi theo từng vùng khác nhau: vùng ven biển Bắc Bộ có 52loài, vùng ven biển Trung Bộ có 69 loài, vùng ven biển Nam Bộ có 100 loài Vùngven biển Cà Mau có hệ sinh thái RNM phong phú nhất về thành loài cây, sinhtrưởng phát triển tốt nhất và đạt kích thước lớn nhất Nơi đây gần với trung tâmhình thành và phân bIndonesiaố RNMalaysiaM
Đông Nam Á là và
+ Khu vực Bắc Việt Nam bao gồm dải ven biển Ninh Bình-Nam Định-TháiBình-Hải Phòng - Quảng Ninh có các đặc trưng là dải ven biển thuộc lưu vực sôngHồng và sông Thái Bìn Khu vực miền Bắc
h với địa hình đồng bằng thấp Khu vực cửa sông ven biển đồng bằng sông Hồng
có diện tích đất ngập nước (ĐNN) ven biển là 22.487 ha và 102.482 ha ĐNN mặn
Trang 12cửa sông với 971 loài thuộc các động thực vật chính sống trên cạn và dưới nước,trong đó chim chiếm 21,3%, côn trùng 18%, chân khớp thuộc Zoplankton 13,8% và
cá 13,4% Thành phần loài thực vật gồm: 12 loài cây ngập mặn và 31 loài đi theo đãtạo nên thảm thực vật quan trọng, không chỉ là công cụ bảo vệ bờ biển mà còn lànơi số
, di cư của chim, cá
Đất ngập nước vùng cửa sông Tiên Yên (Quảng Ninh): Với diện tích 5.000
ha Rừng ngập mặn (RNM) ở đây thu hút nhiều động vật có giá trị, đặc biệt là chimnước, chim di cư; là nơi cư trú và sinh sản của nhiều loài hải sản như cua
mực, cá Mòi, Đối trích
Đất ngập nước vùng cửa sông Văn Úc (Hải Phòng): Đây là địa phương códiện tích ĐNN ven biển thuộc loại lớn của nước ta Diện tích bãi bồi ven biển Hảiphòng là 17.000 ha, diện tích chưa có RNM là 11.000 ha, đầm nuôi thuỷ
ản nước lợ là 5.000 ha
Vùng đất ngập mặn cửa sông Ba Lạt (Tiền Hải, Giao Thuỷ): Diện tích RNM 6.008
ha và diện tích bãi bồi là 25.934 ha, bãi triều được bồi đắp do phù sa với tốc độhàng năm tươn
đối nhanh (2-27m/năm)
Đất ngập nướ c cửa sông Thái Bình – Trà Lý: Vùng cửa sông điển hình, bãitriều được hình thành do sự bồi đắp phù sa hàng năm với tốc độ nhanh Diện tíchbãi triều là 11.409 ha, trong đó diện tích có khả năng trồng RNM là 6.775 ha Hiệntại diện tích RNM là 3.388 ha với 52 loài thuộc 48 chi và 26 họ, các loài chủ yếu làBần chu
Trang, Mắm quăn, Giá,
ơ
+ Khu vực miền Trung:
Ở khu vực miền Trung Việt Nam bao gồm dải ven biển Đà Nẵng – ThừaThiên Huế - Quảng Trị có đặc trưng bởi các hệ đầm phá lớn nhất Việt Nam cũng sẽ
bị tổn thương nặng khi mực nước bi
dâng do biến đổi khí hậu
Đất ngập nước đầm phá dải ven biển miền Trung từ Thừa Thiên Huế đếnNinh Thuận: Với tổng diện tích cácđm phá này khoảng 447,7 km 2 Hiện nay, donhiều nguyên nhân khác nhau các đầm phá đang được quản lý và khai thác khônghợp lý
n nhiều đầm đang bị suy thoái
Trang 13Đến nay, xét về mặt đa dạng sinh học và các chức năng sinh thái, 5 đầm pháven biển có thể được coi là vùng ĐNN quan trọng của Việt Nam: Đầm Ô Loan (PhúYên), đầm Thị Nại và Đề Gi (Bình Định), đầm Cầu Hai (Thừa T
ên Huế), đầm Nại (Ninh Thuận)
Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai: Là hệ đầm phá lớn nhất nước ta, chạy dàidọc theo bờ biển tỉnh Thừa Thiên Huế trên 6m với diện tích khoảng 216 km 2 , lànơi dừng chân quan trọng của nhiều loài chim di cư từ phía bắc vào phía đông nhưvịt trời, ngỗng trời, chim nước Trong hệ đầm phá này có điểm cát trắng PhúXuân cótrữ lượng khoảng 8 triệu m 3 đ
êu với tổng diện tích 4 triệu ha
Đất ngập nước mặn ven biển và cửa sông đồng bằng sông Cửu Long(ĐBSCL) là một trong những hệ sinh thái giàu có nhất ĐNN ven biển pNamhân bốdọc ven biển Đông, phía Tây bán đảo Cà Mau và vịnh Thái Lan, trong đó diện tíchĐNN ngập thường xuyên là 879.644 ha phân bố ở vùng biển nông có độ sâu nhỏhơn 6m khi triều kiệt, ĐNN mặn ngập không thường xuyên là 756.425 ha Các dảirừng ngập mặn phân bố dọc ven biển, ở những vùng bãi bùn ngập mặn là nơi sinh
đẻ, nuôi dưỡng nhiều loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao; nơi bảo tồn đa dạng sinhhọc của 40 loài cây ngập mặn; Theo số liệu lâm nghiệp vùng đồng bằng sông CửuLong có 98 loại cây RNM trong đó có 32 loài thực thụ và 66 loài tham gia vào hệsinh thái rùng ngập mặn ở đây Bên cạnh đó còn có 36 loài th, 182loài chim, 34 loài
bò sát và 6 loài lưỡ ng cư , đồng thời vùng biển và ven biển có đến 260 loài cỏ vàthủy sản Tại vùng Cồn Chim hiện nay có khoảng 64 loài động vật phù du, 76 loài
cỏ thuộc 40 họ (cá đối, cá bống, cá liệt, cá móm, cá giò, cá chua và cá mú, cáhồng…), 35 loài giáp xác, 31 loài thân mềm và một loài da gai và 33 loà chim trong
đ có 23 loài chim nước và 10 loại chim rừng… Thực vật ở RN M Việt Nam và ởrừng Sác Cần Giờ trước kia có trên 24 loài, 36 chi thuộc 24 họ Các loại cây phổbiến nhóm Mấm, Bần, Đước, Dà, Vẹt, Xu, Cúc, Giá, Chà là, Tra, Ráng…đây lànhững
ài cây thích hợp với điều kiện môi trường sinh thái ở RNM
RNM có vai trò đặc biệt quan trọng hình thành nên bức tường thực vật bảo
vệ bờ biển khỏi xói mòn và là nơi xử lý hiệu quả nhất chất thải đô thị, chấ
Trang 14tảicôg nghiệp làm cho nước biển ven bờ tránh bị ô nhiễm.
2 5 3 Tổng quan RNM về rừng Dừa Nước Cẩm Thanh – Hội An
Theo Phan Nguyên Hồng (1984), chia RNM Việt Nam ra 4 khu vực chính
theo đó vùng Hội An, Quảng Nam thuc vùng 3 là khu vực chỉ có các sông ngắn, ít
phù sa, bãi nga ng gió mạnh tạo ra nhiều cồn cát dọc ven biển, do đó
NM chỉ phát triển bên trong các cửa sông, đầm phá, bán đảo
RNM ở Hội An quan trọng nhất là cây dừa nước có tên khoa học làNippafructicans thuộc họ Palmae là một loại cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở cáctỉnh phía nam, làm thành các thảm rộng theo các triền sông, lạch Sự hiện diện củachúng ở Nammiền trung Hội An thành từng dãy rộng là rất đặc sắc Ở Việt , ngoàiviệc trồng dừa nước và sử dụng bẹ lá để làm nhà, người dân ở các tỉnh phía nam
òn khai thác quả dừa nước vừa già để lấy ci làm thực phẩm
Các nghiên cứu công bố về sinh thái phân b ố của RNM dừa nước ở Hội Ancòn rất hiếm hoi, chỉ có trong báo cáo hàng năm của UBND các xã, huyện về tìnhhình quản lý đất đai Nghiên cứu của nguyễn hữu đại 2006 (viện hải dương học)đánh giá tàinguyên đất ngậpnước hạ sông thu bồnvà đề suất giải pháp bả o vệ, phụchồi [1] Tác giả đã nghiê n cứu vùngđất ngập nước (RNM, thảm cỏ biển) tại Hội An
và một ố địa p hương lân cận như duy xuyên, điện bàn Báo cáo đã xá c định RNM
ở Hội An chủ yếu là cây DN, ngoài ra cũng đã phát hiện ở vùng Cửa Đại một sốloài cây ngập mặn khác như đước đôi (Rhizhophora apiculataBl.), Vẹt dự (Br
uiera gymnorhiza (L) Lamk) hay Ráng Đại (Acrostychum aureum L)
Theo nghiên cứu của Đoàn Thị Tâm (2010) DN là loài cây ngập mặn chủyếu tại hạ lưu sông Thu Bồn Chúng hiện diệnkhắp nơi từ ven bờ sông lớn cho đncác kênh rạch nhỏ Thông thườ ng là những dãy hẹp, rộng từ 3-20 m, đáng chú ý làrừng dừa nước Bảy Mẫu trải rộng trên địa bàn các thn 1,2,3 và 8 của xã Cẩm Thanh.Thành phần động thực thực vật hệ s inh thái RNM dừa nước Cẩm Thanh - Hội Antheo thống kê có 6 loài thực vật, 21 loài cỏ, 3 loại tôm, 11 loại độ ng vật đáy có giátrị kinh tế RNM DN tại xã Cẩm Thanh có các thảm cỏ biểnphân
ố tập trung ở khu vực gần Cửa Đại, nơi có độ mặn tương đối cao [13]
Hệ sinh thái RNM DN Cẩm Thanh - Hội An, đây là nơi nuôi dưỡng ấu thểsinh vật, cung cấp giống ác loài sinh vật biển có giá trị như: Cá Mú, cá Dìa, cáHồng, Cua Đá … và cung cấp các sản phẩm từ DN cho các ngành dịch vụ Nhưnghiện nay do các hoạt động khai thác quá mức của người dân và hoạt
ộngdu lịch phát triển kinhtế đã suy giảm ngu
tà nguyên sinh học.
2.6
Trang 15 ĐIỀU KIỆN T
NHIÊN , KINH TẾ - XÃ HỘI
2.6 1 NamĐiều kiện tự nhiên
Phía Đông giáp
ường Cửa Đại
Phía Nam giáp xã Cẩm Nam
Địa hình địa mạo
Địa hình xã Cẩm Thanh thuộc dạg địa hình đồng bằng ven biển, hơi phứctạp.Nam Độ dốc nhỏ, t heo hớng thấp dần từ Tây - Bắc xuống Đông - Nữa khu vựccủa xa ̃ nằm ở phía Đông và Đông - Nam bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh rạch,đây là vùng bời tụ của ông ngòi Độ cao trung bình l› 0,7 m so với mặt nước biển Đ
ợ sâu sông, rạch trung bình - 2 m Nữa khu vực còn lại có địa hình cao hơn và tươngđối bằng phẳng, điểm cao nhất cu
Trang 16 xã là khu vực Lù
Bà ( thôn 6) thuộc dạng cao cục bộ +3m
Khí hậu thời tiết
Xã Cẩm Thanh nằn trong khu vực khí hậu trung trung bộ, nóng ẩm mư
nhiều, tuy nhiên do nằm gần biển khí hâu tương đối át mẻ
Theo số liệu của đài khí tượng thủy v ăn Quảng Nam , kh
vực nghiên cứu nằm trong vùng có đặc
ểm khí hậu như sau:
+ Nhiệt độ ( ngôn
UBNDxã Cẩm Thanh)
+ Nhiệt độ tug
ình trong năm : 25,6 o C
+ Nh iệt ô cao tuyệt ối : 40,3 O c
+ Nhiệt độ thấp tuyệt đối 0
Trang 17+ Tổng số ngày mưa trung bình trong năm 120 ngày
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 12, tổng lượng mưa trong khoảng thờigian này chiếm từ 70 - 75% tổng lượng ưa bình quân trong năm Tháng có lượngmưa lớn nhất la
Đông Bắc Mỗi năm
ru ng bình có từ 9 - 10 đợt ( thống kê UBND xã Cẩm Thanh)
Gió tây nam: thường xuất hiện vào cuối tháng 3 đến cuối trung tuần tháng 9thường mang lại thời tiết khô
Trang 18ao hồ lớn nhỏ ( phần lớn đã được tận dụng nuôi trồng thủy hải sản) Do lợi thế nằm
ở vùng cửa sông, có hệ thống sông, rạch dày đặc nên
́Ot có hiện tượng ngập úng
có nh
g chuyển biến tích cực, vẫn còn trong tnh trạng mày mò, khảo nghiệm
Cơ cấu kinh kế của xã hiện nay được xá c định là nông - ngư nghiệp, dịch vụ-du lịch - thương mại, tiểu thủ cn
nghiệp Trong bảng là một số chỉ t iêu k
Trang 19của năm 2010 Bảng 1 1 Chỉ tiêu kinh tế của năm
ộ và ít nhất là thôn 7với 87 hộ, v
Trang 20Trên địa bàn xã hiện có một trường trung học cơ sở, 2 cơ sở thuộc trườngtiểu học và 4 cơ sở thuộc trường mẫu giáo gồm 33 lớp học và 36 phòng học Tổng
số học sinh theo học 1038 em, tổng số cán bộ và giáo viên là 178 người Nhìnchung, quy mô của các trường học đảm bỏa đúng tiêu chuẩn theo quy định của BộGiáo Dục và Đào Tạo; chất lượng dạy và học được nâng lên; tỷ lệ học sinh khá giỏingày càng nhiều Tuy n
1 y tá và
nữ hộ snh; ngoài ra còn có
i công tác viên ở bên dưới địa bàn thôn
2.6.2.5 Văn hóa – thể thao
Trung tâm văn hóa thể thao của xã tập trung tại địa bàn thôn 6 gồm có: Khuthiết chế văn hóa rộng 2,18 ha, sân vận động rộng 2 ha Trên địa bàn xã có 12 ditichslichj sử văn hóa.Ở các thôn đều có khu sinh hoạt văn hóa – thể thao rộng rãi vàkhang trang và đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, g
2.6.2.7 Nguồn nước sinh hoạt
Nước sinh hoạt được cung cấp từ nhà máy cấp nước Hơi An qatrạm bơmtrụng chuyển đặt tại thôn 5 Lượng nước cung cấp bình quân 110m 3 /ngày Tổng
Trang 21chiều dài hệ thống cấp nước 12,6km; 100% thôn trong xã đã có đường ống dẫnnước đi qua đặc biệt là ở những nơi dân cư xa xôi, hẻo lánh như: Gì Hý, thôn 7,CồnTiến dân
ư cũng ược hưởng nước sạch T
nhin, chất lượng hệ thống chưa đảm bảo
2.6.2.8 Bưu chính viễn thông
Hệ t hống thông tin liên lạc được đầu tư và nâng cấp đảm bảo phục vụ thôngsuốt nhu cầu sử dụng, sản xuất kinh doanh, thông tin liên lạc giữa các địa phương;100% các thôn đều có cáp điện thoại Ngoài ra còn có điểm bưu điện văn hóa xãvừa hoạt động bưu chính viễ
học tập và tìm hiểu thôg tin của nhân dân.
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG
I GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨ U
Trang 222.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ sinh thái RNM, DN xã Cẩm Thanh Hội An là nguồn tài nguyên phong phú đadạng sinh học, có vai trò quan trọng giúp bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường vàchống lại các tiêu cựccủa biến đổi khí hậu và lànguồn lợi mưu sinh của người dântrong xã Tuy nhiên, sự đa dạng si nh học RNMđang bị suy giảm nghiêm trọng do
sự phát triển của cc ngành kinh tế , dân số bùng nổ nhu cầu về thức ăn vui chơi giải
t rí, nhiên liệu, không gian sống… tăng lên dẫn đn diện tích rừng dừa nước suygiảm đi nhanh chóng Bên cạnh đó sự ph át tiển về kinh tế công nghiệp và nôngnghiệp đặc biệt các phong tràoph á rừng nuôi tôm tràn lan đang là nguyên nhânchính làm suy giảm đ a dạng sinh học, gây ảnh hưởng đế sinh kế của người dân Do
đó cần phải giải quyết vấn đề suy giảm tài ngyên đa dạng sinh học RNM, DN nhằmhạn chế tối đa các tác động ảnh hư ởng đến người dân và môi trường t
ớc tiên ta phải điều tra sơ bộ hệ si
thái RDN gồm những loại nào:
ngập mặn tại xã Cẩm Thanh – thành phố Hội An
2.3 Nội dung nghi
cứu
2.3.1.Tìn hiểu thực trạng nguồn tài nguyên sinh học rừng ngậ
n.- Tìm hiểu t hành phần các loài loài động thực vật trong rừng ngập mặn
-ía trị ủa nguồn tài nguyên rừng ngập mặn đối với con người và môi
ường
- Sự su y giảm nguồn tài nguyên tài nguyên sinh học rừng ng
mặ - giải pháp bảo vệ ngu
ài nguyên đa dạng sinh học rừng ngập mặn.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2 4.1.
Trang 23hương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
2.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập tài liệu thứ cấp tạ
phòng tài nguyên - môi trường UBNN xã Cẩm Thanh, sách báo và trêninternet
- Tập hợp và
ế thừa các tài liệu và kết quả nghiên cứu đã có trước đây về rừng ngập mặn.
2.4.1.2 Sử dụng phương p
̀Ÿp khảo sát thực địa và phỏng vấn nhanh có sự tham gia của cộng đồng
- Quan sát trực tiếp hiện trạng khu vực nghiên cứu đồng thời kết hợp với thuthập hình ảnh Bằng cách sử dụng các ghe thuyền nhỏ kết hợp với việc di truyểntrên bộ để
ảo sát hiện trạng đa d
g sinh học của hệ sinh thái RNM dừa nước Cẩm Thanh
+ Chia ô đếm trực tiếp
- Xác định tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái dừa nước một cách chínhxác nhất bằng phương pháp chia ô đếm trực tiếp để xác định thành phần số lượngđặc điểm phân bố
c loại động thực vật cũng như xác định được mật độ
ân bố loài chiếm ưu th
- Sử dụng các công cụ PRA để điều tra ngoài thực địa
+ Công cụ bảng câu h
- điều tra số lượng thành phần các loài động thực vật trong hệ sinh thái RDN
- Bảng câu hỏi
iều tra tình hình hiện
rạng khai thác sử dụng nguồn tài nguyên sinh học RDN
+ Công cụ lịch thời vụ
- Là công cụ lập khoảng thời gian mùa nào thì số lượng cc loài động thựcvật đa dạng nhất và nguồn lợi khái thác của người dân vào kho ảng thời gian nàotrong một năm là thịch hợp nh
Trang 24+ Công cụ bản đồ
- Vẽ bản đồ là là công cụ khởi điểm cho bước thu thập thông tin thực địa,
có cái nhìn chung và bức tranh chung chuẩn bị cho những công việc tiếptheo
- Bản đồ thể hiện vị trí, nơi đâu là có nguồn tài nguyên, những hoạt độngkhai thác đánh bắt, chỉ rõ ranh giới và
ững đặc tính của cộng đồng giúp cộng đồng biết đư
những khó khăn thuận lợi
2.4.1.3 Phương pháp tổng hợp và thống kê sĩ liệu
- Công cụ phân tích định tính:
ược bỏ những thông tin phụ, tập trung vào thông tin chính, tóm tắt thông tin
- Công cụ phân tích định lượng: tóm tắt số liệu, sử dụng bảng b
lý thống kê các thông tin điề tratừ bảng câu hỏi bằng phần mềm EXCEL.
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1 Đa dạng hệ sinh thái rừng ngập mặn
Hệ sinh thái rừg ngập mặn rất đa dạng sinh hc về thành phần loài thực vậtcũng như động vậ t h; dừa nước, đước đôi, vẹ t dự, ô rô và một số quần thể ráng dạimuống biển … thảm cỏ biển với các loi chiếm ưu thế Halohila beccarii Ascherson(Cỏ Xoan gân sng song), Zostera jponica Ascherson& Graebn (Cỏ Lưn Nhậ Bản),rong biển G racilaria tenuisti pitata Chang et Xia (rong câu)… Về độ ng vật rấtphongphú đem lại giá trị kinh tế cao với các loại cá như cá mú, cá dìa cá liệt … vànhiều loài giáp xác cũng như thân mềm Nhiều ngư dân cho biết số lượng loi
Trang 25DN là cây ngập mặn phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía nam, được người dân didời về trồng trước đây hiện nay DN là cây ngập mặn chủ yếu tại lưu vực Sông ThuBồn Chúng hiện diện khắ nơi từ ven bờ sông lớn ho đến cckênh rạch nhỏ Làmthành các thảm rộng từ 3– 20 một theo các lạch, tr iền sông [1] Đáng chú ý là rừngdừa bảy mẫu trên địabàn các thôn 1, 2, 3, và 8 của xã Cẩm Thanh ạ
lá phình to Lá dựng để lợp hà
làm vách, cuống lá cóthể ghép lại làm cửa, v ách và cc
rang trí trong hà [1
Hình 3.1 Dừanước tạ i thôn 2 Xã Cẩm Thanh (22/3/2011 Cụm hoa dài 60–
90 cm, gié đực dài 3– 5 cm màu cam Theo nhiều tàiệu, hoa th ụ phấn nhờ một loàiruồi thuộc họ ruồi dấm (Dosophilidae) Dừa nư ớ c có buồng quả to, gần giống hìnhcầu mỗi buồng có từ 40- 6 quả, quả có nhân cứng cơm của qu màu trắng mềm ngon
có thể ăn được, 1kg có 10- 12 quả Từ cuống của buồng hoa qu ả người ta có thểtrích nhựa DN là một loài chất dịch có mùi vị ngọt để lbangladeshà đư
ượu, nước giải khát rất đặc biệt ở ột s
ớc như philippin,
ái lan, [1]
Hình 3.2 Hoa dừa và quả dừa (22/3/ 2011 )
b Mật độ phân bố Tại xã Cẩm Thanh dừa nước tập trung chủ yếu và nhiều
nhất tại thôn 2, 3, và thôn 8 đặc biệt là khu rừng dừa Bảy Mu thuc thôn 2 và thôn 3 của Xã Cẩm Thanh với diện tích nhiều nhất là 84,69 ha ( Nguồn : UBND xã cẩm
thanh, 2010) ngoài ra còn ở như các cồn gì như thuận tình, cồn tiến, cồn 3 xã, gì Hí,
gì già.Nhưn
ện tíc RDN ngày càng bị suy giảm được thể hi
Trang 26Năm Diện tích dừa nước (ha)
( Nuồn: UBNN Xã Cẩm Thanh năm 2010
Hình 3.1 Biểu đồ thệ hiện mức độ biến độn g diện tích dừa nước 2010)
(1980-Từ bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy diện tích RDN tại xã Cẩm Thanh từ năm
1980 đến năm 2000 bị suy giảm nghiêm trọng Diện tích dừa nước trước năm 1980
là 99,86ha đến năm 2000 diện tích dừa nước chỉ còn 52,39ha giảm gần 50% so vớitrước năm 1980 diện tích dừa nước ngày càng giảm qua các năm do phong tràonuôitôm phát triển mạnh nên người dân chặt phá các khu vực có dừa nước để nuôitôm , làm muối Tuy nhiên từ năm 2000 đến năm 2010 diện tích dừa nước lại tănglên nhờ các hoạt động trồng dừa nhằm mục đích phục hồi hệ sinh thái bên cạnh đó
Trang 27giai đoạn này hoạt động nuôi tôm tại xã Cẩm Thanh có sự suy giảm do nuôi tômdịch bệnh nên hiện trạng phá rừ
ngập mặn làm hồ nuôi tôm suy giảm nên diện tích dừa nước tăng lên đáng
kể
Theo kếquả khảo sát ngày 22/4/2010 trên khu vực được đo đạc cdiện tíchbìnhquân 16 m 2 mật độ cây dừa dao động thường từ khoảng 1 đến 3 cây/m 2 (nơidày nhất ) như tại vị trí mương đào (thôn 2) Nơi đây các thảm dừa nưc này mọcthành các thảm rộng tiếp giáp ra mũi đất bồi của hai thôn ề phía Cửa Đạ i, vành đai
DN mọc xn kẽ với cỏ biểntạo ra sinh cảnh các hệ sinh t hái a
xen vào nhau rất pho
phú Đây là khu vự c được quản lý và khai thác tốt [1]
c Giá rị sinh học
Giá trị của cây dừa nước là mắt xích vô cùng quan trọng trong hệ si nh thái RNM
DN Lá dừa nước là nguồn lợi giúp người dân có thu nhập ổn định mà nó còn là nơi
cư trú sinh s
của nhiều loài sinh vật dưới nước tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phongphú
Giá trị DN đối với môi trường đồg hóa các chất thải gia tăng hàmlượng chất dinhdưỡng cho sinh vật tiêu thụ như t ôm cua cá… Thêm vào đó còn có tỏ c dụng chắnsóng cường độ thủy triều và đặc biệt là ngăn chặ sự nhiễm mặn,Điều hòa khí hậutạo cảnh quan môi trường cũng như trong việc làm s ạch môi trường The ý kiếncủa rất nhiều người dân các k
ực nào có các thảm DN thì cường độ gió bả o ít hơn hẳn với khu vực khôngcóDN
R NM DN còn đi vào lịch sử của người dântrước năm 1980 rừng dừa bảy mẫu là c
ái nơi nôi dưỡng cán bộ, bộ đội ta trong suố t cuộc kháng chiến dành thắng lợi Hiệnnay R NM DN Cẩm Thanh trở thnh một điểm du lịch thu hút khách ư
ngoi ăm 2006 là 423.395 du khách nước ngo ài và
Trang 283.3 Hoa và quả của Cây đước đôi ( Rizophora apiculata Bl.) ở gì Tuận TìnhCây thân gỗ cao 25-30 m, đường kính 60 -70 c, ỗ có lõi màu hồng sậm Câysống ở vùng đất mềm đã ổn định, mực triều 2.5 m [ 11 ] Bộ rễ chân nôm rất pháttriển, và cao 1-2 m giúp cây dễ thở trong môi trường rừng ngập mặn Có bộ lọcmuối ở mặt lá và các mắc ở thân và rễ cây Lá đơn mọc đối, hình bầu dục, đầu nhọn,m
trên xan sẫm và láng bóng, dài 10-6cm, r ộng 3-6cm, màu hồng hay đỏnhạt[5]
Cụm hoa s im có2 hoa trên cuống ngắ n 0.5-1cm, mập, đài hợp xẻ 4 thuỳhình tam giác dày dài 1- 14cm, rộng 6-8mm, ở lại cùng với quả, tràng 4 cánh,mỏng trắng Quả màu nâu với trụ mầm dài 2-30cm, xanh sẫm Cây thường ra hoaqua
tồn tại và phát tri
chừng vài ngàn mét vuông ở khu vực cuối cồn thuận tình
c Giá trị sinh học
Giá trị sinh học: Cây có giá trị kinh tế cao, gỗ cứng, khá bền, được dùng làm
cừ, cột, đóng bàn ghế…thn đước cho nhiệt lượng cao, ít khói đ
c ưa chuộng Vỏ nhiều tanin để nhuộm lưới Lá làm phân xanh, hoa nuôiong [5]
Ngoài ra đước còn là loài cây có vai trò quan trọng trong việc chắn sóng, bảo
vệ vùng ven biển, giảm hiệt hại do thiên tai bão l
gâ r Là nơi nuôi dưỡng v
Trang 29nhưng do phong rào nuôi tôm người dân đã phá đi hiện nay diện tích còn lạirất ít.
+ Giá trị: Cây đ ược dùng trong xây dựng, làm củi, các dụng cụ n
, tri àm thức ăn cho cá ngoài ra còn có tác
ụng chắn sóng trống xói mòn xạt lở đất.3.1 1 4 Cây ráng dại (Acrstichum
aureum L)
Có tên khoa họ l
Acrostchum aureum L à một cây thân bụi, mọc r ải rác ở các b sôngk
h rạch[11 ]
Hình 3 6 Ráng dại ( Acrostichum aureum L) ở thuận tình (22/4 /2011 )
+ Mô tả: Cây bụi cao đến 1.5 một Lá kép lông chim dài trên 1m, lá dày chétdài đến 40 cm không lông, mép nguyên, gần phụ hình mạng, dưới cuống chính cónhiều gai giả do các uống phụ biến thành Lá sinh sản ở thân với các ổ túi mu nâu
đỏ phủ khắp mặt dưới lá , tr ở
Trang 30â và mép lá Loài này thường gặp ở hầu hết cá c nước trong khu vực ĐôngNam Á [8 ].
Tên hoa học: Acanthus ilicf
ius L thuộc họ ô rô ( Acanthaceae ) [9]
Hình 3.7 Ô rô ( Acanthus ilicifolius L )
+ Mô tả: Têgọi khác là ô rô gai, ô rô nước, ắc ó, lão thử lặc, là một cây nhỏ,cao 0,5-1,5m [9] Thân tròn nhẵn, màu lục nhạt, có lấm tấm đen Lá mọc đối,không cuống, phiến cứng, hình mác, dài 15-20cm, rộng 4-8cm, gốc tròn, đầu nhọnsắc Cây có các lá đơn, mọc đối xếp chéo chữ thập với mép lá nhẵn (hoặc đôi khi córăng cưa hay thùy) Quả là loại quả nang 2 tế bào, nẻ ra có phần hơi mạnh mẽ Ởphần lớn các loài, hạt gắn liền với cuống
c nhỏ Hạt là loại không có nội nhũ với các phôi lớn Mùa hoa và quả tháng
+Giá trị: cũng là cây có vai trò tron
việc chống xói lở bờ sông.
3.1 1 6 Cây muống biển (Ipomoea pe
caprae(L.) Sweet) Tên kho học l
Ipomoea paprae (L.) Swee(Convolvulaceae) [8]
Hình 3 8 Muống biển (22/4 /2011)
+ Mô tả:
Thân cỏ, mọc bị
Trang 31lan trên đất cát, cạnh bờ biển, không leo, phân rất nhiều cành, thân tím, đặc,không cóg,ó 2 đường rãnh nông ở 2 bên thân dọc theo chiều dài thân từ mấu này tớimấu kia
+ Giá trị sin học: Muống biển làm thức ăn ch thỏ, dờ, cũng dự ng cho trâu
bò Hiện nay cây rau muống b iển còn dùng làm thuốc chữa cảm , sốt, sốt rét, têthấp, chân tay đau nhức, mỏi, thông tiểu tiện, đau bụng Ngoài ra lá Muống biểntươi giã nát dựng đắp lên các vết loét, mụn nhọt đang mưng mủ và cũng dựng trị rắncắn, có thể phơi khô tn nhỏ rắc lên những nơi bị bỏng
iệt ựnhữa viêm xoang được xem là có tác dụng t
, hết bệnh rong thời gian ngắn.
Trang 32+ Phân bố theo khảo sát thì số ượng cây này còn lại rất ít c hủyếu phân bốdọc theo bờ sông nhiều nhất là thuộc thôn 8 , trồng ở các bờ kênh ao rạch ch ốngxói lở hay các hàng rào Do cây
hông có giá trị kinh tế nên hiện nay người dân
á còn lại rất ít chủ yếu làm hàng rào.
.1.8 Cây giá (chỏ ) Excoecai
+ Phân bố cây giá là cây nập mặn trước đây người ta lấy giống ở Núi Thành
về trồn g ở các kênh rạch mục đích là ch ống xói mòn nhưng những năm năm gầnđây do phong trào đào hồ nuôi tôm người dân đã phá bỏ Hiện nay loài cây này cònlại rất í
chúng sống thành nhữngbụi nhỏ rải rác ở các kênh rạch ao hồ thuộc thôn 8