Trong những năm qua, trên địa bàn Hà Nội luôn tồn tại tìnhtrạng hàng loạt ao hồ nội thành cùng với hệ thống sông chảy trong lòng Thànhphố bị rác thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đ
Trang 1Lời mở đầU
1 Đặt vấn đề.
Hoà trong dòng chảy mạnh mẽ của cuộc cạnh tranh kinh tế khốc liệt trongkhu vực cũng như trên toàn cầu, với xuất phát điểm là một quốc gia đang pháttriển, có thu nhập thấp, Việt Nam đã, đang và phải thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước Thủ đô Hà Nội, với vị trí là trung tâm đầu não về chínhtrị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giao dịchquốc tế của cả nước, cũng đang cùng với cả nước thực hiện công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá với nhịp độ cao Trong hơn ba thập kỉ qua, Hà Nội thực
sự đã phát triển mạnh mẽ trên mọi mặt của đời sống kinh tế- chính trị- văn
hoá-xã hội Nền kinh tế của thủ đô Hà Nội đạt mức tăng trưởng cao và đều khắp ởcác ngành, các lĩnh vực, tình hình chính trị ổn định, nền văn hoá được nâng cao
rõ rệt, xã hội có những bước cải tiến sâu sắc về nhiều mặt
Tuy nhiên, ngoài những tác động tích cực mà đô thị hoá và công nghiệphoá đem lại thì chính đây lại là nguyên nhân gây áp lực mạnh mẽ đối với môitrường, làm suy giảm chất lượng môi trường bao gồm cả môi trường đất,nước, không khí Trong những năm qua, trên địa bàn Hà Nội luôn tồn tại tìnhtrạng hàng loạt ao hồ nội thành cùng với hệ thống sông chảy trong lòng Thànhphố bị rác thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đổ vào; sinh vật, đặc biệt là cásống trong môi trường đó thì bị chết hàng loạt Rồi mỗi khi mùa mưa tới, ngườidân nội thành lại lo sợ không biết năm nay có bị ngập hay không? Đi sâu vàtìm hiểu, người ta thấy ngoài chức năng là cảnh quan du lịch, điều hoà khí hậuthì hầu như môi trường nước mặt tại thành phố Hà Nội chỉ còn có chức năngchứa và thoát nước mưa, nước thải cho Thành phố Hơn nữa, khi càng đẩy mạnhviệc phát triển kinh tế và dân số ngày càng tăng thì lượng nước thải ngày càngnhiều, chất lượng nước ngày càng bị suy giảm Trong khi đó việc xử lý nước lạichưa thể đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đó
Xuất phát từ những nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này, nên quamột thời gian đi sâu tìm hiểu tình hình thực tế về nước thải và thoát nước trênđịa bàn Hà Nội, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Lê Trọng Hoa và tập thể
Trang 2cán bộ phòng Nghiên cứu Kinh tế- Viện nghiên cứu phát triển kinh tế- xã hội Hà
Nội, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: " Tác động của phát triển kinh tế- xã hội tới
hệ thống thoát nước ở Hà Nội"
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Với phạm vi nghiên cứu là 7 quận nội thành, bao gồm: Hoàn Kiếm, BaĐình, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Tây Hồ, Cầu Giấy và Thanh Xuân, đối tượngnghiên cứu của đề tài là hệ thống thoát nước; tác động của sự phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và tác động của sự phát triển công nghiệp, gia tăng dân số nóiriêng tới sự hoạt động của hệ thống này
3 Mục đích, ý nghĩa của đề tài.
Đề tài nhằm đánh giá thực trạng hệ thống thoát nước, vấn đề thoát nướcthải ở Hà Nội và tác động của phát triển kinh tế - xã hội tới hệ thống thoát nướctrên địa bàn nội thành Hà Nội Mặc dù hệ thống thoát nước chịu tác động của rấtnhiều yếu tố, nhưng trong khuôn khổ đề tài, ta chỉ xem xét tác động của pháttriển công nghiệp, gia tăng dân số tới sự hoạt động của hệ thống thoát nước đôthị, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của pháttriển công nghiệp và gia tăng dân số tới hệ thống thoát nước Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu.
Ngoài việc sử dụng các phương pháp thông thường như duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử, đề tài còn áp dụng phương pháp thống kê, đúc rút thựctiễn, phân tích hệ thống, tổ chức không gian, so sánh đối chứng cũng như bảngbiểu, đồ thị
5 Kết cấu của luận văn.
Với nội dung đã nêu, trong luận văn tôi xin trình bày thành các phần sau:Chương I: Thực trạng hệ thống thoát nước ở nội thành Hà Nội
Chương II: Tác động của phát triển kinh tế- xã hội tới hệ thống thoát nước
ở nội thành Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp nhằm giảm thiÓu tác động tiêu cực của pháttriển kinh tế- xã hội tới hệ thống thoát nước Hà Nội
Trang 3Lời cảm ơn.
Do thời gian thực tập, nghiên cứu tại Viện chưa nhiều cùng với trình độ,kiến thức còn hạn chế nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếusót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và bạn bè để luậnvăn này có chất lượng tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Trọng Hoa cùng toàn thể cán bộ
phòng Nghiên cứu kinh tế - Viện nghiên cứu phát triển kinh tế-xã hội Hà Nội đãnhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Hà nội ngày 20 tháng 5 năm 2002
Sinh viên
Ngô Thị Thu Trang
CHƯƠNG I TỔNG QUAN
i tổng quan về nước thải.
1 Khái niệm về ô nhiễm nước.
Ô nhiễm nước là sự thay đổi bất lợi môi trường nước, hoàn toàn hay đại
bộ phận do các hoạt động khác nhau của con người tạo nên
Trang 4Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa “Sự ô nhiễm là một biến đổinói chung do con người đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguyhiểm cho con người, cho công ngiệp, nông ngiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi giải trí, đốivới động thực vật nuôi và các loài hoang dại”.
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người
và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng
Nguồn gốc gây ô nhiễm có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo
- Sự ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên là do mưa, tuyết tan Nước mưa rơixuống đất, đường phố, khu công nghiệp… kéo theo các chất bẩn xuống sông,
hồ Các chất gây bẩn còn có thể là do xác chết hoặc các sản phẩm hoạt độngphát triển sinh vật, vi sinh vật gây nên
- Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải sinh hoạt, công nghiệp,giao thông vận tải, thuốc trừ sâu, diệt cỏ và phân bón trong nông nghiệp…
2 Phân loại nước thải
Có mét số cách chính phân loại nước thải:
- Phân loại theo xác định nguồn thải
- Phân loại theo tác nhân ô nhiễm
- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chóng
Tuy nhiên, thường thì người ta phân loại nước thải theo nguồn gốc phátsinh ra chúng Đây cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết vàcông nghệ xử lý Theo đó, người ta chia nước thải thành các loại như sau:
2.1 Nước thải sinh hoạt.
Nước thải từ các hộ gia đình, bệnh viện, khách sạn, trường học, cơ quanchứa đựng các chất thải trong quá trình sống của con người được gọi chung lànước thải sinh hoạt hoặc nước thải dân cư
Nguồn gây ô nhiễm nước thải sinh hoạt:
1- Sự rò rỉ hệ thống cống dẫn:
Trang 5Các hệ thống cống vệ sinh trong thực tế sử dụng thường bị rò rỉ, thấm docác nguyên nhân khác nhau làm cho nước thải ngấm vào đất, từ đó làm tănghàm lượng BOD, COD, Nitrat, vi sinh vật… trong nước ngầm.
2- Xử lý nước thải bằng biện pháp tưới:
Hoạt động tưới cây rất dễ gây ra hiện tượng thấm tưới nước ô nhiễm quacác tầng đất gây nên hiện tượng ô nhiễm nước ngầm
3- Chất thải rắn:
Chất thải rắn (rác thải) trên mặt đất là nguồn gây ô nhiễm cho đất và nướcngầm Nước mưa, nước mặt từ các vùng lân cận thấm vào lớp chất thải rắn cóthể mang theo chất ô nhiễm hoà tan để thấm sâu xuống đất tới mực nước ngầm.Các chất ngấm theo nước thường là các chất hữu cơ, các muối hoà tan của kimloại (Fe, Mn…)
2.2 Nước thải công nghiệp.
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải
Các nguồn ô nhiễm chính do công nghiệp gây ra:
1- Nước thải công nghiệp :
Khi nước thải công nghiệp xả ra ao hồ, cống rãnh thì các chất ô nhiễm cóthể thấm sâu qua đất tới nước ngầm Mức độ gây ô nhiễm phụ thuộc vào độ sâucủa nước ngầm, thành phần và tính chất của các chất ô nhiễm có trong nướcthải, thành phần và cấu trúc của các lớp đất phía trên mực nước ngầm
2- Thẩm lậu qua các bể chứa và ống dẫn:
Việc tồn trữ và truyền ngầm một lượng lớn các nhiên liệu và hoá chấtlỏng khác nhau thường gặp ở nhiều cơ sở sản xuất Những bể chứa và ống dẫnnày có thể bị hỏng trong quá trình sử dụng gây ra sù rò rỉ nhiên liệu và các loạihoá chất công nghiệp sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm nước ngầm Bên cạnh đó,
vì tính chất các loại xăng dầu pha trộn kém, khi bị rò rỉ vào đất sẽ di chuyểnxuống dưới dễ gây nên ô nhiễm nước ngầm
Trang 63- Hoạt động khai khoáng:
Hoạt động khai thác ở các vùng mỏ có thể gây ô nhiễm nước ngầm Sự ônhiễm này phụ thuộc vào loại quặng khai thác và hình thức của các quá trình xử
lí quặng như nghiền, tuyển chọn… Các vùng mỏ than, phôtphat, sắt, đồng, chì,kẽm…dù là khai thác ngầm hay lé thiên đều thường trải rộng ở dưới mực nướcngầm nên thường xuyên phải bơm tiêu nước Những loại nước tiêu này thường
có pH thấp, nồng độ các ion kim loại và các sunphat cao (Ví dụ: Trong than đá
có chứa các hợp chất lưu huỳnh trong đó pyrit là một thành phần Khi tiếp xúcvới nước, pyrit bị ô xy hoá do vi khuẩn và tạo thành FeSO4, H2SO4) Do vậy, nếukhông có hệ thống tưới tiêu và xử lý thích hợp thì nước chảy từ các vùng mỏ sẽlại thấm xuống làm ô nhiễm nước ngầm
4- Công nghiệp khai thác dầu mỏ:
Nước thải từ công nghiệp chế biến hoá dầu, khí thường có chứa các muốiamôn, sunphat, clorua, các ion kim loại Na, Ca và các kim loại khác Nếu khôngđược xử lý thích hợp trước khi xả ra môi trường ngoàI thì đây cũng lầ nguồn gây
10 lần so với độ mặn trước đó Những ion chủ yếu trong nước sau khi tưới gồm
Ca2+, Mg2+, Na+, HCO3-, SO42-,Cl- và NO3-
2- Chất thải động vật:
Phân và nước tiểu của động vật là nguồn gây ô nhiễm khá lớn đối với cácnguồn nước Đặc tính ô nhiễm của chất thải động vật là chứa hàm lượng chấthữu cơ dễ phân huỷ cao và mang nhiều loại vi sinh gây bệnh
Trang 72.4 Nước chảy tràn trên mặt đất.
Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên Nước chảy tràn trên mặt đất
do nước mưa hoặc do thoát nước từ đồng ruộng có thể cuốn theo các chất thuốctrừ sâu, phân bón… làm ô nhiễm các nguồn nước tiếp nhận
2.5 Nước sông bị ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên.
Nước sông bị nhiễm măn, phèn ở vùng biển có thể chuyển nước mặn vàocác vùng nội địa gây suy giảm chất lượng nước ở các vùng tiếp nhận
2.6 Nước thải đô thị.
Nước thải đô thị là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cốngthoát của một thành phố Đó là hỗn hợp của các loại nước thải sinh hoạt, côngnghiệp, nước thải tự nhiên (nước chảy tràn)
Nước thải đô thị thường chứa khoảng 50% nước thải sinh hoạt, 14% làcác loại nước thấm và 36% là nước thải sản xuất
II Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thủ đô Hà Nội.
1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên thành phố Hà Nội.
1.1 Vị trí địa lý.
Hà Nội nằm ở trung tâm vùng đồng bằng sông Hồng, trong phạm vi
20053’ đến 2123’ vĩ độ bắc và từ 10544’ đến 10622’ kinh độ đông Hà Nộitiếp giáp với 5 tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc; Bắc Ninh, Hưng Yên ở phía đông;Vĩnh Phúc ở phía tây; Hà Tây và Hà Nam ở phía nam Hà Nội có diện tích tựnhiên là 927,39 km2 và dân số năm 1999 là 2.672.122 người, chiếm 0,228% vềdiện tích và đứng thứ tư về dân số trong tổng số 62 tỉnh, thành phố của cả nước
Hà Nội có vị trí địa lý, chính trị quan trọng, có ưu thế đặc biệt so với cácđịa phương khác trong cả nước Từ Hà Nội đi các thành phố, thị xã của Bắc bộcũng như của cả nước rất dễ dàng bằng cả đường ô tô, sắt, thuỷ và hàng không
Từ nay đến năm 2010, tất cả các tuyến giao thông quan trọng nối liền Hà Nộivới các nơi đều sẽ được cải tạo và nâng cấp Hiện đã có đưòng cao tốc nối Hà
Trang 8Nội với khu vực cảng của Quảng Ninh Đó là những yếu tố gắn bó chặt chẽ HàNội với các trung tâm trong cả nước và tạo điều kiện thuận lợi để Hà Nội tiếpnhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới; thamgia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và cùng hoà nhập vàoquá trình phát triển năng động của vùng chảo Đông Á-Thái Bình Dương.
1.2 Địa hình.
Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, có diện tích tự nhiên là927,39 km2, trong đó diện tích nội thành là 67,25 km2
Cấu trúc địa chất không phức tạp đã tạo cho địa hình Hà Nội đơn giản hơn
so với nhiều khu vực khác ở miền Bắc nước ta Phần lớn diện tích của Hà Nội vàvùng phụ cận là vùng đồng bằng, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam theohướng chung của địa hình và cũng là theo hướng của dòng chảy sông Hồng
Vùng đồng bằng, địa hình đặc trưng của Hà Nội, đã được khai thác sử dụng
từ lâu đời, địa hình rất bằng phẳng, được bồi tích phù sa dày Nơi đây dân cư sốngđông đúc, với nền văn minh lúa nước, trồng hoa màu, chăn nuôi gia sóc
Phía Bắc là vùng đồi núi thấp và trung bình, dãy Sóc Sơn với đỉnh caonhất là Chân Chim có độ cao 462 m Phía Tây Hà Nội và vùng phụ cận là dãynúi Ba Vì với đỉnh cao nhất là đỉnh Vua có độ cao 1270 m; ngoài ra còn có cácđỉnh Tản Viên (1227 m) và Ngọc Hoa (1131 m) Vùng đồi núi của Hà Nội vàphụ cận có thể tổ chức nhiều loại hình du lịch và phát triển chăn nuôi
Nhìn chung, địa hình của Hà Nội so với các khu vực khác ở miền Bắc vàmiền Trung là tương đối đơn giản, nhưng cũng khá đa dạng, làm nền tảng chocảnh quan tự nhiên, tạo những nét độc đáo cho phong cảnh cũng như cho việcphát triển các loại hình kinh tế, đặc biệt là cho du lịch
1.3 Khí hậu.
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới Èm, độ Èm trung bình trongnăm là 81-82%, tháng cao nhất vào khoảng 85-86% Nhiệt độ trung bình cóchiều hướng tăng, năm 1985 là 23,5C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung bình là
Trang 924C (có năm tới 24,1C-1991, 1997 là 24,3C và 1998 là 25,1C) Hàng nămbình quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp nhiệt đới đi qua.
Tổng lượng mưa trong năm, theo thống kê những năm gần đây có nhữngbiến động lớn, cụ thể là:
Năm Lượng mưa (đơn vị: mm)
Nguồn: Báo cáo đề tài KHCN 07.11
Số ngày mưa từ 140-160 ngày/năm, lượng mưa lớn nhất trong 24h là
200-400 mm, lượng mưa lớn nhất trong 1h là 93,9 mm, lượng nước bốc hơi trungbình trong năm từ 800-1000 mm Rõ ràng là xu thế biến đổi thời tiết từ năm
1995 đến nay là lượng mưa tăng, giảm khá nhiều và nhiệt độ trung bình hàngnăm có xu thế gia tăng Đặc biệt năm 1998, nhiệt độ trung bình các tháng vàomùa hè tăng nhiều do ảnh hưởng của hiện tượng ELNINO (tháng 7: 30,7C)
Hà Nội nằm trong vùng khí hậu gió mùa: hàng năm có gió Đông Nam vàomùa hè và gió mùa Đông Bắc vào mùa đông
Thành phố Hà Nội chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu đồng bằng, một năm
có 2 mùa rõ rệt: mùa hè nóng Èm và mưa nhiều, mùa đông rét hanh kéo dài Cácyếu tố đặc trưng như sau:
- Nhiệt độ không khí:
+ Nhiệt độ không khí trung bình năm: 23,5C
+ Nhiệt độ cao nhất trung bình: 27,0C
+ Nhiệt độ không khí thấp nhất trung bình: 20,9C
+ Nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối: 42,0C
+ Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối: 3,8
- Độ Èm không khí:
Trang 10+ Độ Èm tương đối trung bình: 84%
+ Độ Èm tương đối trung bình tháng thấp nhất: 81% (tháng 11 vàtháng12)
+ Độ Èm tương đối trung bình tháng cao nhất: 87% (tháng 3)
+ Độ Èm tuyệt đối: 100%
- Giã:
+ Hướng gió chủ đạo mùa hè: Đông Nam
+ Hướng gió chủ đạo mùa đông: Đông Bắc
+ Tốc độ trung bình mùa hè: 2,2 m/s
+ Tốc độ trung bình mùa đông: 2,8 m/s
+ Số cơn bão đổ bộ vào khu vực trung bình: 2-3 cơn/năm
+ Cấp bão thường gặp: cấp 7-8
- Mưa:
+ Lượng mưa trung bình năm: 1,676 mm
+ Lượng mưa trung bình ngày lớn nhất: 168 mm, lượng mưa ngày lớn nhất
đã đo được là 588,6 mm (ngày 11/7/1902) và 394,4 mm (ngày10/9/1984).+ Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10: 1.430 mm (90,5% cả năm)
+ Số ngày có mưa trung bình: 144,5 ngày/năm
+ Số ngày có mưa phùn: 38,7 ngày/ năm
Trang 11Sông Hồng: bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam (Trung Quốc) chảy vào
địa phận Việt Nam ở tỉnh Lào Cai, đổ ra biển ở cửa Ba Lạt Chiều dài dòngsông: 1.126 km Phần nằm trong địa phận Việt Nam là 556 km, tổng diện tíchlưu vực: 155.080 km2
- Lưu lượng nước dao động rất lớn: 350 m3/s về mùa khô, 22.200 m3/s vềmùa lũ
- Mực nước về mùa lũ thường là 10-12 m
- Mực nước cao nhất: 14,13 m (22/8/1971)
Sông Nhuệ: bắt nguồn từ sông Hồng tại đập Liên Mạc thuộc xã Thụy
Phương, huyện Từ Liêm chảy qua khu vực phía Tây thành phố đổ vào sông Đáytại Phủ Lý, Hà Nam, chiều dài dòng sông: 74 km
- Lưu lượng nước đầu nguồn dao động lớn: 43 m3/s về mùa cạn, 150 m3/s
về mùa lũ
- Mực nước cao nhất: 5,6 m năm 1985
Các sông nhỏ: Hà Nội có 4 con sông nhỏ nằm trong thành phố là sông
Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu và sông Tô Lịch Các con sông này chủ yếu hìnhthành do các vệt trũng tự nhiên trước đây, ngày nay nó là các trục tiêu nước tựnhiên của thành phố
Các ao hồ: Hà Nội có rất nhiều ao hồ với tổng diện tích các hồ lớn là:
1.446 ha Hiện nay các ao hồ lớn có diện tích trên 1 ha đang được sử dụng làm
hồ điều hoà Các ao hồ nhỏ đang bị san lấp tự phát để xây dựng
1.5 Nhận xét chung:
Thuận lợi: Khu vực nghiên cứu quy hoạch thủ đô Hà Nội có địa hình
bằng phẳng, khí hậu ôn hoà, nền đất ổn định thuận lợi cho công tác xây dựng vàphát triển một đô thị hiện đại
Khó khăn: Nước lũ của các sông trong hệ thống sông Hồng đều lớn, lên
xuống nhanh, xả ra bất thường làm cho việc chống lũ mất nhiều công của Tốc
Trang 12độ nước lũ rất lớn gây xói lở bờ sông và luồng lạch trở ngại cho việc hộ đê vậntải thuỷ, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, cảnh quan của Thủ đô.
Trong mùa mưa lũ, mực nước các sông dâng cao gây khó khăn và tốnkém tiền của cho công tác thoát nước của thành phố Mặt khác địa hình trongnội thành hiện tại thấp, độ dốc địa hình tự nhiên nhỏ (0.0003) nên nhiều khu vực
bị úng ngập, làm ảnh hưởng lớn môi trường đô thị và sức khoẻ của nhân dân
2 Đặc điểm về kinh tế-xã hội của Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 10 năm phát triển (1991-2000).
2.1 Những thành tựu về kinh tế xã hội của thủ đô trong 10 năm (1991-2000).
GDP bình quân đầu người tăng từ 470 USD (năm 1991) lên 915 USD(năm 1999), gần 990 USD vào năm 2000, bằng khoảng 2,29 lần vùng Đồngbằng sông Hồng và 2,07 lần cả nước
2.1.2 Cơ cấu kinh tế và sự phát triển các ngành kinh tế:
Kinh tế Thủ đô phát triển với cơ cấu công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp.Ngành công nghiệp mở rộng tăng từ 29,1% năm 1990 lên 34,88% năm 1996 và38% năm 2000; ngành nông-lâm nghiệp và thuỷ sản từ 9% giảm xuống 5,12%năm 1996 và còn 3,8% năm 2000
Thành phố đã đẩy mạnh công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI), khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng từ 0% năm 1990 lên 12,64%trong cơ cấu GDP thành phố năm 2000 Kinh tế nhà nước Trung ương chiếm tỷ
Trang 13trọng 59% trong khu vực kinh tế trong nước (năm 2000), có tốc độ tăng trưởngbình quân 9,57%/năm (giai đoạn 1996-2000), kinh tế nhà nước địa phươngchiếm tỷ trọng 8,6%, tốc độ tăng trưởng bình quân 6,5%/năm, khu vực ngoàinhà nước chiếm tỷ trọng 19,76%, tăng trưởng bình quân 7,19%/năm.
cơ điện chiếm 83%, xe đạp chiếm 35%, máy chế biến gỗ chiếm 46,6%, đồ nhômchiếm 74%, lắp ráp tivi chiếm 47,6%, quạt máy các loại chiếm 73,9%
Thành phố đã có 9 khu công nghiệp cũ, xây dựng mới 5 khu công nghiệptập trung và 2 khu công nghiệp vừa và nhỏ
Nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống như: gốm sứ Bát Tràng,Kim Lan (Gia Lâm); dệt Triều Khúc (Thanh Trì); may (Cổ Nhuế); gỗ mỹ nghệVân Hà (Đông Anh); rèn (Xuân Phương- Từ Liêm) , và nhiều làng nghề khácđang được phục hồi và phát triển
Dịch vô:
Các ngành dịch vụ Thủ đô đã có bước phát triển đáng kể 10 năm qua,GDP dịch vụ tăng trưởng bình quân 10,14%/năm GDP dịch vụ tài chính- ngânhàng tăng trưởng 22,51%, chiếm khoảng 3,9% trong tổng GDP của Thủ đô
Hoạt động du lịch ngày càng phát triển phong phú, đa dạng Cơ sở vậtchất được tăng cường, đủ điều kiện đón 1 triệu khách du lịch mỗi năm Từ năm 1991đến năm 2000, lượng khách du lịch quốc tế đến Hà Nội tăng 15 lần Doanh thu ngoại
tệ hoạt động du lịch tăng từ 3,5 triệu USD năm 1990 lên 100 triệu USD năm 1999
Trang 14Các hoạt động trên lĩnh vực bảo hiểm cũng có nhiều tiến bộ với sự thamgia của nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức phong phú Dịch vụ vậntải, kho bãi, thông tin có tốc độ tăng trưởng GDP là 14,68%/năm Năm 1990,tổng số máy điện thoại trên địa bàn mới có 0,82 máy/100 dân, đến nay đạt bìnhquân 18 máy/100 dân, 100% các xã ngoại thành đều có điện thoại.
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên thị trường xã hội tăng bìnhquân 24,4%/năm
Nông nghiệp:
Nông nghiệp và nông thôn ngoại thành có chuyển biến tích cực Trong 5năm (1996-2000), sản xuất nông- lâm nghiệp và thuỷ sản đạt mức tăng trưởngbình quân 4,89%/năm Đến nay, giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản và dịch vụbình quân 1 ha canh tác tăng gần 4 lần so với năm 1989, đạt 40,4 triệu ha năm
1999 Từng bước ứng dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học vàophát triển nông nghiệp Nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục; kinh tếtrang trại bước đầu được hình thành và phát huy tác dụng Kết cấu hạ tầng nôngthôn được đầu tư xây dựng Bộ mặt nông thôn ngoại thành thay đổi rõ rệt, đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, mức thu nhập hiện naytăng 2,4 lần so với năm 1990 Đến nay tỉ lệ hộ giàu ở nông thôn đạt 24%
Về thu hút các nguồn vốn:
Đầu tư từ nguồn vốn nước ngoài tăng mạnh trong những năm 1992-1996,chiếm tới 54% tổng đầu tư xã hội Do khủng hoảng tài chính- tiền tệ khu vực vìvậy trong những năm 1997-2000 có xu hướng chững lại, năm 1999 giảm sút chỉcòn chiếm 23-24% trong tổng đầu tư xã hội của Thành phố
Tổng đầu tư xã hội của Thành phố bình quân hàng năm giai đoạn
1996-2000 đạt 12.830 tỉ đồng Tỉ trọng vốn đầu tư từ nguồn vốn trong nước tăngmạnh và tăng ở tất cả các nguồn: Vốn nhà nước chiếm tỉ trọng 11,1% năm 1996tăng lên 21,5% năm 2000; vốn tín dụng Nhà nước từ 1,8% lên 3,2%; vốn doanhnghiệp tự đầu tư từ 17,8% tăng lên 20,3%; vốn đầu tư của các thành phần kinh
tế ngoài nhà nước từ 15,4% lên 26%; vốn dân tự đầu tư từ 1,3% tăng lên 7,1%
Trang 15Vốn đầu tư XDCB từ ngân sách được tập trung chủ yếu cho lĩnh vực cơ
sở hạ tầng, lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng ngày càng được quan tâm hơn(tăng từ 6,4% năm1996 lên 6,83% năm 1999); vốn đầu tư XDCB từ ngân sáchcho sản xuất công nghiệp giảm từ 25,1% năm 1996 xuống còn 2,93% năm 1999(chuyển sang vốn tự có và vốn tín dụng ưu đãi)
Về hoạt động xuất nhập khẩu:
Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thời kỳ 1991-1995 là 21,7%/năm,thời kỳ 1996-1999 là 16,17%/năm; đưa kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn từ 755triệu USD (năm 1995) lên 1.525 triệu USD (năm 2000)
Kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 1996-2000 tăng lên 18%/năm,đưa kim ngạch xuất khẩu địa phương tăng từ 52 triệu USD (năm 1990) lên 1999triệu USD (năm 1995) và 420 triệu USD (năm 2000) Năm 1991, tỉ trọng nhậpkhẩu trang thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, vật tư phục vụ sản xuất trong tổng
số kim ngạch nhập khẩu là 42,6%, năm 2000 là 94,74%
2.1.3 Xây dựng và quản lý đô thị
Đầu những năm 1990, Nhà nước đã chỉnh lý lại địa giới hành chính Thủ
đô từ 2.139 km2 xuống 918,46 km2, tháng 6/1998, Chính phủ đã phê duyệt điềuchỉnh quy hoạch chung của Hà Nội, tạo điều kiện cho Thành phố tập trung xâydựng, phát triển Thủ đô
Trong những năm qua, công tác và quản lý đô thị đã có chuyển biến tíchcực Công tác đầu tư, phát triển được đẩy mạnh Tình hình giao thông vận tải cóbước tiến bộ, xây dựng thêm 2 cầu mới là cầu Thăng Long và cầu ChươngDương, cải thiện cơ bản tình hình giao thông vào Thành phố Sân bay Nội Bàiđược nâng cấp và mở rộng, hệ thống giao thông đường không, đường thuỷchuyển biến tốt Đã xây dựng một số khu đô thị mới và mở rộng được nhiềutuyến đường, trục đường lớn, nót giao thông quan trọng: Liễu Giai- Nguyễn ChíThanh, Láng- Hoà Lạc, Láng Hạ, Trần Khát Chân- Đại Cồ Việt, đường HuỳnhThúc Kháng, Hoàng Quốc Việt phù hợp với quy hoạch chung Nhà ở đã có cảithiện, mức nhà ở bình quân hiện nay là 6 m2/người so với 4,5 m2/người năm
Trang 161990 Các lĩnh vực thoát nước, cấp nước, chiếu sáng, công viên cây xanh, vệsinh môi trường đã và đang được chú trọng đầu tư Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thảităng từ 40% (năm 1990) lên 80% Khối lượng cung cấp nước sạch tăng lên 2,5lần Đang triển khai dự án ODA về xây dựng hệ thống thoát nước; xây dựngxong trạm tiêu thoát Yên Sở giai đoạn 1 với công suất 45m3/giây, cùng với việccải tạo hệ thống sông thoát nước thải nội thành Tăng diện tích cây xanh từ 1,8
m2/người (năm 1990) lên 3,5 m2/người hiện nay Bộ mặt đường phố Hà Nộingày càng khang trang, sạch đẹp, phát triển theo hướng đô thị hiện đại
2.1.4 Về văn hoá- xã hội:
Hà Nội là địa phương đi đầu cả nước về các mặt: phổ cập trung học cơ sở(vào năm 1999), và hoàn thành xoá bỏ việc học ca 3, tiêm chủng cho trên 99% trẻ
em, loại trừ các bệnh phong, bại liệt, bạch liệt; giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ34% năm 1994 xuống còn 18,7% năm 2000; tất cả các trạm y tế xã, phường đều
có bác sĩ Tỉ lệ tăng dân số bình quân năm 1989 là 1,51% giảm xuống còn 1,08%vào năm 1999 Đến nay không còn hộ đói, nhà dột nát, tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn1,3% Cuộc vận động xây dựng gia đình văn hoá, thực hiện nếp sống mới trongcưới hỏi, tang lễ và thực hiện dân chủ ở cơ sở có chuyển biến tích cực
2.1.5 Hệ thống chính trị, an ninh quốc phòng:
An ninh chính trị Thủ đô tiếp tục được giữ vững, công tác quốc phòng địaphương từng bước đi vào nề nếp Thành phố đã xây dựng thế trận quốc phòngtoàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân Trật tự an toàn xã hội đã cóchuyển biến tích cực
Hệ thống chính trị từ Thành phố đến cơ sở được củng cố và phát triển.Hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp của Thành phố có những mặt tiến
bộ Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức từng bước được tiêu chuẩn hoá Cácthủ tục hành chính tiếp tục được xem xét, cải tiến theo hướng một đầu mối
Trang 17lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn lỏng lẻo Đầu tư nướcngoài từ năm 1998 đến nay bị giảm sút Đầu tư cho phát triển vẫn ở tình trạng dàntrải, chưa tập trung đầu tư đúng mức cho những ngành và sản phẩm chủ lực.
Mặc dù kinh tế trong những năm qua tăng trưởng khá, song nhìn chungtăng trưởng còn thiếu ổn định Sản xuất vẫn còn phân tán, công nghệ lạc hậu,vẫn chưa tạo được nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá thành hạ và mẫu mã phùhợp với nhu cầu của thị trường nên khả năng cạnh tranh thấp
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị tuy đã được đầu tư nhưng còn thấp sovới yêu cầu phát triển KT-XH trong khi tốc độ đô thị hoá nhanh nên ngày càngquá tải Mạng lưới giao thông chưa đồng bộ; tình trạng thiếu nước sạch, úngngập, thiếu nhà ở đang là những vấn đề đang được nhiều người quan tâm, lolắng Các khu vui chơi giải trí còn Ýt
Các cơ sở hạ tầng xã hội như: hệ thống trường học, bệnh viện, các trung tâmvăn hoá, thể thao mặc dù đã được quan tâm đầu tư, song đang trong tình trạng quátải, thiếu thốn về cơ sở vật chất, cần được tập trung đầu tư trong nhiều năm tới
Nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được khắc phục: tăng dân số cơ học ởtỉnh ngoài về Hà Nội chưa có xu hướng giảm, một số tệ nạn xã hội có chiềuhướng gia tăng
Trang 182.3 Đánh giá chung:
Sau 10 năm thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, Hà Nội đã có bước phát triển toàn diện Kinh tế Thủ đô đã tăng trưởng liên tục, đạt mức cao hơn so với cả nước Vai trò của Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
và trong nền kinh tế quốc dân ngày một nâng cao Hạ tầng kỹ thuật đô thị được tăng cường; Thủ đô từng bước được cải tạo và xây dựng theo hướng đồng bộ, hiện đại Vấn đề môi trường đã và đang được quan tâm Công tác văn hoá xã hội đạt được những thành tựu tốt, nhiều chỉ tiêu dẫn đầu cả nước Nông thôn ngoại thành đã có bước khởi sắc Hệ thống chính trị được củng cố; an toàn quốc phòng được giữ vững; trật tự an toàn xã hội được đảm bảo Đời sống vật chất và tinh thần nhân dân đã có bước cải thiện rõ rệt, mức sống tăng lên hơn 2 lần so với năm 1990 Quan hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế của Thủ đô trong khu vực và quốc tế ngày càng được nâng cao Năm 1999, Hà Nội là thành phố duy nhất trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương được nhận danh hiệu cao quý của UNESCO "Thành phố vì Hoà bình".
Trang 19chương ii tác động của phát triển kinh tế - xã hội tới hệ thống thoát nước Hà
Nội
I Thực trạng hệ thống thoát nước trên địa bàn Hà Nội.
Theo dự đoán của Peter Mc.Namee- chuyên gia quốc tế về môi trườngcủa dự án VIE/89/034, dự đoán rằng: mức nước thải hiện nay của các đô thịtrong vùng khoảng 300 triệu m3/năm (10 m3/s), trong đó 70% là nước thải sinhhoạt
Ước tính năm 2000, nước thải vào khoảng 560 triệu m3/năm (18 m3/s),trong đó 52% là nước thải sinh hoạt, 40% là nước thải công nghiệp và năm 2010
sẽ là 780 triệu m3/năm (25 m3/s), trong đó 53% là nước thải sinh hoạt và 37% lànước thải công nghiệp Theo các chuyên gia dự tính thì nước thải sinh hoạt cókhoảng 319.000 m3/ngđ vào năm 2005 và 570.800 m3/ngđ vào năm 2020, nướcthải công nghiệp khoảng 80.000 m3/ngđ
Như vậy có thể nói trong những năm tới lượng nước thải sinh hoạt vẫnchiếm tỷ lệ đáng kể, lượng nước thải tỷ lệ với tăng trưởng GDP Ngoài nhữngnăm 2020, lượng nước thải mới tăng đáng kể
1 Thực trạng hệ thống thoát nước trên địa bàn nội thành Hà Nội.
Trong những năm qua, hệ thống thoát nước Hà Nội đã được cải thiệnđáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng Việc triển khai dự án thoát nước Hà Nội
đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển của hệ thống thoát nước nội thành HàNội Cụ thể là đã đặt thêm một số tuyến cống giải quyết úng ngập cục bộ chomột số lưu vực quan trọng như: Trần Bình Trọng, Nguyễn Trường Tộ , đanghoàn thiện các công trình đầu mối như: đào hồ điều hoà Yên Sở, xây dựng trạmbơm Yên Sở với công suất giai đoạn đầu là 45 m3/s (đã hoàn thành trước mùamưa năm 2000), nạo vét và xây kè hai bên bờ của 4 con sông thoát nước và một
số hồ trong Thành phố Tuy nhiên, khả năng của các hệ thống thoát nước nộithành Hà Nội thực sự đã quá tải Hà Nội phát triển nhanh làm cho nhu cầu thoát
Trang 20nước thải cũng tăng lên nhanh chóng, mà đặc trưng của nước thải Hà Nội là từnhiều nguồn khác nhau như từ: nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt, nướcthải từ các bệnh viện Theo ước tính lượng nước thải vào khoảng 350-400m3/ngày đêm Lượng nước này được thu gom trong 127 km đường ống trongnội thành Cống thoát nước được nối với hệ thống mương máng dài 38 km và chảyvào 4 sông thoát chính của thành phố là sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sôngKim Ngưu Bốn sông này có chiều dài 36,8 km và chiều rộng của chúng từ 20-45
m Trong đó dòng thoát chủ yếu là sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu có chiều dài
và bề rộng lớn hơn cả Trong nhiều năm qua, các con sông thoát nước này bị bồilắng dần Mặc dù Công ty thoát nước Hà Nội đã có một đội quân khá đông đảochuyên môn làm nhiệm vụ nạo vét bùn và khai thông những đoạn sông bị tắcnghẽn nhưng cũng không thể giải quyết hết những gì gây chướng ngại cho dòngchảy của sông Chính vì vậy đã làm cản trở cho việc thoát nước vào mùa mưa, nhất
là với những trận mưa trên 200 mm, gây ra những vùng úng ngập cục bộ và kéo dàinhiều ngày tại một số khu vực của thành phố Hà Nội Theo kế hoạch của dự ánThoát nước giai đoạn I, đến năm 2000, 4 con sông thoát nước sẽ được cải tạo xongnhưng cho đến nay mới cải tạo xong sông Kim Ngưu và đang tiến hành nạo vétsông Tô Lịch
Bảng 1: Khả năng thoát nước của các sông ở nội thành Hà Nội.
STT Tên các sông
Diện tích lưu vực (ha)
Kích thước Tổng lượng
nước thải
10 3 m 3 /ng
Số cửa xả
Dài (km)
Rộng (m)
Sâu (km)
Trang 21tích gần 600 ha, hồ Hà Nội vừa làm chức năng điều hoà nước mưa, vừa làmchức năng sinh hoạt, văn hoá, vui chơi giải trí Dung tích điều hoà của các hồ(không kể hồ Tây) khoảng 1,2 triệu m3, khả năng tự làm sạch của các hồ khálớn Hầu hết các hồ như: hồ Tây, Thiền Quang, Trúc Bạch, Giảng Võ, HoànKiếm, Thủ Lệ…đều đã được xây kè xung quanh bờ hồ và được chú ý làm vệsinh (nhặt rác, lá cây… trên mặt hồ) nhưng vẫn tồn tại một số hồ đang bị ônhiễm khá nặng do nước thải xả vào quá nhiều mà không được xử lý Mặt khác,nhiều hồ đang trong tình trạng bị thu hẹp do nhu cầu xây dựng không được kiểmsoát chặt chẽ.
Ngoài ra, việc triển khai dự án thoát nước Hà Nội giai đoạn I khôngnhững thực hiện nạo vét , kè hai bên bờ cho các con sông, hồ nội thành mà cònđặt thêm được một số tuyến cống cho các vùng úng ngập trọng điểm như: TrầnBình Trọng, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Đình Chiểu Tuy vậy, một số khuvực úng ngập cục bộ vẫn chưa được giải quyết dứt điểm Đó là các khu vực:Nguyễn Công Trứ, Kim Liên-Trung Tự, Văn Chương, Nam Đồng, Thanh XuânBắc, Thanh Xuân Nam, Nghĩa Đô, Ngọc Khánh, Bạch Mai, Phùng Hưng-ĐườngThành, Nguyễn Gia Thiều
Nhìn chung, hệ thống thoát nước Hà Nội hoạt động thực sự chưa đáp ứngđược nhu cầu tối thiểu của người dân nội thành
2 Thực trạng chất lượng nước thải thành phố.
Như đã nói trên, tất cả các kênh thoát nước trên địa bàn nội thành Hà Nộiđều bị ô nhiễm nặng nề Các cống ngầm và nhất là các kênh mương hở bị ô nhiễmnặng Mùi hôi bốc lên và nước đen ngòm, bùn lấp làm dòng chảy kém Ước tính
có khoảng (120-130) 103 m3 bùn phải nạo vét Các con sông thoát nước chính của
Hà Nội đều có dòng chảy kém do bùn quá nhiều Các hồ cũng bị ô nhiễm nặngbởi rác thải và nước thải sinh hoạt của người dân sống gần đó thải ra
2.1 Thực trạng chất lượng nước ở các sông thoát nước nội thành.
Nhắc tới các con sông thoát nước Sét, Lừ, Kim Ngưu, Tô Lịch của HàNội, người ta nghĩ ngay tới màu nước đen và mùi hôi thối của thứ nước thải tổng
Trang 22hợp Nghiên cứu của Trung tâm kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệpTrường Đại học Xây dùng cho thấy ô nhiễm ở các sông trên đã đến mức báođộng Chỉ số về ô nhiễm các chất hữu cơ như BOD, COD hay Nitơ Amôn đềuvượt tiêu chuẩn cho phÐp từ 4-5 đến 70 lần.
2.1.1 Sông Tô Lịch
Là sông thoát nước dài nhất (13,5 km), rộng 30-45 m, sâu 2-3 m Dọcsông Tô Lịch có 15 cửa xả nước thải Vào mùa mưa do nước mưa làm pha loãngcác chất nên mức ô nhiễm giảm nhiều
Theo các tài liệu khảo sát những năm gần đây cho thấy nồng độ một sốkim loại trong nước sông Tô Lịch tăng lên rõ ràng: Cu+2 đạt 0,03mg/l; Mn: 0,03mg/l; Fe: 2,2 mg/l; Cr: 0,116 mg/l
Tuy nhiên nước sông Tô Lịch chủ yếu nhiễm bẩn COD, BOD, chất rắn lơlửng, NO2 và Colifrom cả mùa mưa và mùa khô, nước sông đen và mùi hôi nồngnặc nhất là đoạn Kim Giang - Cầu Bươu
-Hàm lượng BOD, COD trên toàn bộ sông đều vượt quá chỉ tiêu cho phép(tiêu chuẩn Việt Nam: TCVN 5942-1995), BOD đo được khoảng 115 mg/l, tạicầu Dậu lên tới 80 mg/l
-Sông thường ở trong tình trạng yếm khí, lượng ôxy hoà tan trung bìnhtrên toàn sông khoảng 1 mg/l
-Hàm lượng các chất hữu cơ đều vượt quá tiêu chuẩn, sông ở trong tìnhtrạng phì dinh dưỡng, NO2-: 0,1-0,4 mg/l, tại cầu Mới: 0,75 mg/l, PO4- từ 4-7,3mg/l, tại cầu Bươu: 10,5 mg/l
-Lượng chất lơ lửng(SS):123-137 mg/l
-Độ dẫn điện (COND): 441-750 S/cm, tại cống Bưởi 810 S/cm, chứng
tỏ trong nước sông có chứa nhiều ion kim loại từ nước thải công nghiệp
-Hàm lượng các kim loại nặng, độc hại lên rất cao Pb: từ 0,3-0,4 mg/l; Cr+6:
Trang 230,1-0,15 mg/l Hợp chất có chứa CN-: 0,25-0,35 mg/l Tại cầu Dậu: 0,48 mg/l.
-Các kim loại khác như: Fe, Zn, Mn, Sn đã xuất hiện trong nước sông.-Lượng chất dầu mỡ ở trong sông rất cao từ: 3,9-6,2 mg/l Tại cầu Dậulên tới 7,15 mg/l, váng dầu có thể tìm thấy dọc sông
-Lượng Colifrom Fc, Fs rất cao: Fc (MPN/100 ml): 10.000-17.000
Fs (MPN/100ml): 10.000-15.000
-Nước sông có màu đen, mùi hôi, đặc biệt vào những ngày nắng nóng, raubèo hai bên ngăn trở dòng chảy
hưởng của nước mưa đã pha loãng nước thải nên chất lượng nước sông Tô Lịchđược cải thiện nhiều Tuy nhiên kết quả phân tích cho thấy, thậm chí đã đượcpha loãng nhưng nước sông vẫn ở tình trạng xấp xỉ hoặc cao hơn chút Ýt so vớitiêu chuẩn cho phép và một số chỉ tiêu vẫn cao hơn nhiều:
- Các chất dầu mỡ: 4,5-5 mg/l
- Hàm lượng COD: 30-45 mg/l
BOD5: 20-25 mg/l
- Chất lơ lửng (SS): 120-130 mg/l Tại cầu Mới: 147 mg/l
Qua kết quả của 4 điểm khống chế trên sông Tô Lịch cho thấy sự thay đổichất lượng nước trên từng đoạn sông như sau:
- Đoạn từ cống Bưởi đến cầu Mới ( có độ dài bằng một nửa chiều dài sông,
6 km): Chất lượng nước giảm dần, trên đoạn này có các điểm xả của các mươngthu nước thải công nghiệp (mương Thuỵ Khuê, Ngọc Hà- Đội Cấn, Hào Nam-Yên Lãng, Trung Kính) Chất lượng nước tại các điểm xả của mương vào sông làtổng hợp của nước thải công nghiệp và sinh hoạt Chế độ dòng chảy tương đối ổnđịnh
Trang 24- Đoạn từ cầu Mới đến cầu Dậu (độ dài 4 km): Chất lượng nước tại đoạnnày có sự thay đổi đột ngột so với đoạn trên và đoạn dưới vì tại đây có khu côngnghiệp Thượng Đình với tổng số 45 nhà máy, xí nghiệp và sông Lừ, sông Sét đổvào Các chỉ tiêu phân tích tại cầu Dậu đều cao hơn các điểm khống chế kháctrên sông Tô Lịch.
- Đoạn từ cầu Dậu đến cầu Bươu (độ dài 2 km): Tại điểm này chỉ có 1điểm xả lớn là sông Kim Ngưu đổ vào tại cầu Sơn Chất lượng nước của đoạnsông này giảm hơn so với đoạn trước nhưng vẫn cao hơn tiêu chuẩn cho phép
Như vậy, từ những đánh giá trên có thể rót ra nhận xét rằng sông Tô Lịchđang ở trong tình trạng ô nhiễm nặng đặc biệt là về mùa khô
2.1.2 Sông Kim Ngưu.
Bắt nguồn từ cống Lò Đúc, dài 12,2 km, rộng trung bình 25-30 m, sâu 2-4
m Sông Kim Ngưu đón nhận toàn bộ nước thải khu vực Quỳnh Lôi, MaiHương, Vĩnh Tuy với tổng diện tích lưu vực 1400 ha với dân số 400.000 người
và khu công nghiệp Văn Điển có diện tích gần 400 ha Lượng nước xả vào sôngtại khu vực nội thành gần 100.000-120.000 m3/ngày
Dọc sông Kim Ngưu có 14 cửa xả và có độ ô nhiễm nặng nề hơn Cũngnhư sông Tô Lịch, vào mùa mưa sông Kim Ngưu còn nhận cả nước mưa nênmức độ ô nhiễm giảm hơn Tuy nhiên ngày trong mùa mưa các chỉ tiêu BOD,COD và Colifrom cũng vẫn vượt qua giới hạn cho phép
Đoạn 4 km đầu, hàm lượng BOD5 gần 130mg/l Ở đây diễn ra hiện tượnglên men kỵ khí tạo ra H2S, CH4, CO2 Đoạn cuối sông hàm lượng NH4 khá cao.Mặt khác, vào mùa khô nồng độ kim loại nặng tăng lên
Tuy nhiên, trong nước sông Kim Ngưu, hàm lượng các kim loại nặng vẫnnhỏ hơn giới hạn cho phép Nước sông Kim Ngưu có mùi thối nặng, nước đen,vào cả mùa khô, mùa mưa đều bị ô nhiễm COD, BOD và Colifrom, cặn lơ lửngcao
Trang 252.1.3 Sông Sét.
Bắt nguồn từ mương Trần Khát Trân qua Đại học Bách Khoa, cầu Đại Lanhập với sông Kim Ngưu ở Giáp Nhị Một nhánh khác xuất phát từ cống NamKhang đón nhận nước thải từ khu vực Trần Bình Trọng-Quang Trung, qua hồThiền Quang, Bảy Mẫu nhập vào nhánh trên tại đại học Bách Khoa
Sông Sét dài 6,7 km, rộng 10-30 m, sâu 3-4 m Tổng diện tích lưu vực 580
ha, số dân khoảng 200.000 người Lưu lượng nước khoảng 60.000- 65.000
Phân tích nước tại sông Sét cho thấy cả mùa mưa và mùa khô nước sông
Lừ đều bị ô nhiễm BOD, COD và Colifrom Hàm lượng BOD thay đổi giữa nộithành và ngoại thành
Bảng 2: Mức độ ô nhiễm các sông hồ thoát nước của Hà Nội
Hàm lượng chất lơ lửng (mg/l)
BOD
Ôxi hoà tan mg/l Mức ô nhiễm
Kim Ngưu 150-220 50-140 6,8-7,2 0,5-1 Polyxaprophit
Sông Lõ 150-180-300 60-120 0,5-1,5 Ô nhiễm thấp
hơn sông Sét vàKim Ngưu
Sông Tô Lịch 60-350 14-120 0,5-7,9 Oligoxaprophit
Trang 26Nguồn: Báo cáo chuyên đề :"Luận chứng BVMT và phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của Hà Nội đến năm 2010" - UBND Thành phố Hà Nội.
2.2 Thực trạng chất lượng nước ở các hồ nội thành
Hà Nội hiện có 20 hồ với tổng diện tích khoảng 592 ha Các hồ trong nộithành Hà Nội vừa làm chức năng cảnh quan du lịch, điều hoà về khí hậu, vừalàm chức năng điều hoà nước mưa, đón nhận và xử lý nước thải (trừ Hồ Tâykhông làm nhiệm vụ điều hoà nước thải)
Các hồ có độ sâu trung bình 2-3 m có khả năng tự làm sạch nước bẩn khálớn Tuy nhiên đa số hồ đều bị nhiễm bẩn nặng do nước thải xả vào rất nhiều vàkhông được xử lý sơ bộ trước, nhiều khi mực nước hồ dâng cao ngập miệngcống xả làm cho bùn cát lắng đọng ở các khu vực miệng cống gây tắc cống, vàgây ảnh hưởng xấu đến môi trường
Các kết quả khảo sát và phân tích nước trong các hồ năm 1996,1997 và
1998 cho thấy:
- Hồ Tây có dung tích chứa nước lớn, mặt thoáng của hồ rộng, lượngnước thải đổ vào tương đối Ýt, nước hồ bị ô nhiễm nhẹ Hồ thuộc loạiolioxaprophit BOD5 trong hồ khoảng 8-12 mg/l tuỳ theo từng vùng trong mặthồ
- Hồ Hoàn Kiếm và Thủ Lệ do lượng nước xả vào còn Ýt, nên nước hồthuộc loại bị ô nhiễm nhẹ Cũng như hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm và hồ Thủ Lệ thuộcloại olioxaprophit
- Hồ bảy Mẫu có độ nhiễm bẩn tương đối lớn COD tối đa có thể lên tới
310 mg/l Ôxy hoà tan thấp BOD5 rất cao (59-81 mg/l) Hồ thuộc loạimezoxaprophit
Ngoài các hồ tiêu biểu kể trên, các hồ còn lại ở nội thành Hà Nội có dungtích tương đối nhỏ, nhưng vẫn bị ô nhiễm rất trầm trọng Ví dụ như các hồ: VănChương, Linh Quang, Trung Tự, Thiền Quang, Thanh Nhàn Tại các hồ này,hàm lượng ôxy hoà tan rất thấp (0,1 mg/l), BOD5 lên tới 110 mg/l O2, COD lêntới 658 mg/l O2 chứng tỏ các hồ bị ô nhiễm rất nặng
Trang 27Nhìn chung, thành phần và tính chất nước trong các hồ khu vực nội thành
có độ nhiễm bẩn quá cao, các chỉ tiêu đánh giá COD, BOD5, ôxy hoà tan, nitơhữu cơ đã cho thấy điều đó
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu về cảnh quan, vui chơi, giải trí và nuôi cá cần
có các biện pháp giảm thiểu khả năng ô nhiễm của các hồ
2.3 Hệ thống mương hở kết hợp với cống ngầm
Trên địa bàn nội thành Hà Nội thì hệ thống thoát nước này phát triển chủyếu ở khu vực mới xây dựng, thoát nước dựa vào các kênh mương như sông TôLịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu, mương Hào Nam, Ngọc Khánh Việc thoát nước gặpnhiều khó khăn, lòng sông mương bị thu hẹp do dân lấn chiếm xây dựng Hiệnnay chúng đều bị ô nhiễm nặng, nước đen và có mùi hôi, dòng chảy kém do bùnquá nhiều
3 Thực trạng quản lý hệ thống thoát nước của thành phố Hà Nội
3.1 Cơ sở quản lý hệ thống thoát nước của Hà Nội:
3.1.1 Bằng pháp luật:
Chóng ta cũng đã biết rằng hệ thống chính sách pháp luật về quản lý bảo
vệ môi trường nói chung và quản lý hệ thống nước thải nói riêng vẫn chưa hoànchỉnh Không nằm ngoài tình trạng chung của cả nước, mặc dù Hà Nội trước đâycũng có một vài biện pháp xử lý mang tính tạm thời và bị động đối với các viphạm bảo vệ môi trường nói chung cũng như các vi phạm về vấn đề nước thảinói riêng song phải đến khi có Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông quatháng 12/1993 và trở thành văn bản pháp lý cơ bản và quan trọng nhất về bảo vệmôi trường của nước ta thì vấn đề này mới được các cấp chính quyền Thủ đôthực sự quan tâm Sau đó 1 năm, nghi định 175/CP ra đời là văn bản pháp quydưới Luật nhằm cụ thể hoá việc thực hiện Luật bảo vệ môi trường, quy định việcthành lập cơ quan môi trường có chức năng quản lý và giám sát việc thực hiệnLuật tại địa phương Gần đây nhất là nghị định 26/CP (tháng 4/1996) của Thủtướng Chính phủ ban hành, quy định việc xử phạt hành chính đối với các hành
Trang 28động vi phạm Luật bảo vệ môi trường Các văn bản pháp quy này đã bước đầuphát huy tác dụng trong thực tế.
Ở Hà Nội, Sở khoa học công nghệ và môi trường (Cơ quan quản lý môitrường đô thị) đã có những nỗ lực và phối hợp chặt chẽ hơn nhằm giải quyếtnhững vấn đề môi trường còn mới mẻ nhưng phức tạp đang diễn ra hàng ngày.Cho tới nay, để thực hiện Luật môi trường trên địa bàn Thủ đô, UBND thànhphố đã ban hành một số văn bản pháp luật quan trọng liên quan tới quản lý vàbảo vệ môi trường như sau:
- Quy định bảo vệ môi trường Thành Phố Hà Nội (9/1996)
- Quy định về quản lý và bảo vệ hệ thống thoát nước ở thành phố Hà Nội
và 3 bản phụ lục kèm theo (11/1993)
- Quy định về vệ sinh môi trường đô thị (11/1993)
- Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông côngchính ở TP Hà Nội (11/1993)
- Quy định quản lý rác thải của TP Hà Nội (9/1996)
- Quy định tạm thời về đảm bảo trật tự, an toàn và vệ sinh môi trườngtrong quá trình xây dựng các công trình tại môi trường TP Hà Nội (4/1996)
- Quy định tạm thời về quản lý chất thải rắn nguy hại ngành y tế Hà Nội (4/1996)
- Hướng dẫn tạm thời về đánh giá tác động môi trường của các kế hoạch
và dự án phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô (1990)
Việc quản lý nước thải cũng như thoát nước của nội thành Hà Nội do UỷBan Nhân Dân thành phố Hà Nội quản lý chung và giao cho cơ quan chuyêntrách là Ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội, Sở Giao thông công chính thànhphố Hà Nội và Công ty thoát nước thành phố Hà Nội quản lý và thực hiện
3.1.2 Bằng các công cụ kinh tế:
Hiện nay trên thế giới việc sử dụng các công cụ kinh tế trong việc quản lý
và bảo vệ môi trường nói chung cũng như trong việc quản lý hệ thống thoát
Trang 29nước nói riêng đã được nhiều nước trên áp dụng Tuy vậy ở Việt Nam thì lại làmột vấn đề mới mẻ và chóng ta đang tiếp cận dần dần.
3.2 Thực trạng của việc quản lý hệ thống thoát nước ở thành phố Hà Nội:
Trong những năm qua, công tác thoát nước của Thủ đô đã đạt được một
số kết quả khả quan, giảm úng ngập tại một số điểm nhưng cũng vẫn còn nhiềuviệc cần phải tiếp tục giải quyết, cụ thể là:
3.2.1 Những mặt đạt được:
- Năm 1998, Công ty đã được tiếp nhận dàn thiết bị của dự án khẩn cấpgiai đoạn I phục vụ cho công tác nạo vét, duy trì cống mương sông và bắt đầu từtháng 4 năm 1999, Công ty đưa vào hoạt động phục vụ mùa mưa năm 1999bước đầu có hiệu quả khá khả quan
- Chất lượng nạo vét ngày càng cao hơn
- Hệ thống nguồn tiêu đã được tăng cường thêm:
+ Đến tháng 6 năm 1999 trạm bơm Yên Sở công suất 15 m3/s đã đượcđưa vào hoạt động và đến trước mùa mưa năm 2000 đã xong với công suất 45
- Công tác cải tạo 4 con sông thoát nước chính của thành phố: Tô Lịch,Sét, Lừ, Kim Ngưu bắt đầu đi vào thực hiện
Từ khi thực hiện các dự án thoát nước của Hà Nội, sông Kim Ngưu đãđược nạo vét và xây kè hai bên bờ sông đã làm cho dòng chảy thông thoáng hơn.Hiện nay, sông Tô Lịch cũng đang được triển khai việc nạo vét và xây kè hai bên
Trang 30bờ Theo Sở Giao thông Công chính Hà Nội thì sông Lừ và sông Sét cũng sẽđược cải tạo trong một vài năm sắp tới để làm cho toàn bộ sông thoát nước HàNội đảm bảo chức năng sinh thái của nó Trong những năm qua, việc phủ xanhhai bên bờ những dòng sông thoát nước của Hà Nội cũng đã được thực hiện Việcchống lấn chiếm hai bên bờ sông đã mang lại những hiệu quả rõ rệt Để giảm bớtvấn đề ô nhiễm cho những dòng sông này, một dự án xử lý nước thải sinh hoạtđang được đặt ra trên cơ sở quy hoạch xử lý từng vùng các khu dân cư, ưu tiênlàm trước tại các trung tâm.Thực hiện nghiêm ngặt việc bắt buộc các doanhnghiệp và các bệnh viện, cơ sở y tế phải xử lý nước thải trước khi thẩi ra môitrường Tuyên truyền giáo dục vận động nhân dân không ném rác thải xuống cácsông mương thoát nước, từng bước thanh toán các bãi rác tồn đọng ở hai bên bờsông Thực hiện nạo vét thường xuyên để khơi thông dòng chảy, nhất là trongmùa khô
- Công tác nhặt rác vớt bÌo trên mương sông được làm thường xuyên hơn,đảm bảo sự thông thoáng cho dòng chảy
3.2.2 Những hạn chế còn tồn tại:
- Mặc dù hàng năm Thành phố tăng trưởng kinh tế khá cao nhưng chưachú trọng đến việc đầu tư cho hệ thống thoát nước Đây chính là nguyên nhândẫn đến tình trạng về mùa mưa, sự úng ngập là không tránh khỏi và nguồn nướcmặt của Thành phố bị ô nhiễm nghiêm trọng trong thời gian qua
- Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá đã khiến cho dân số nội thànhtăng nhanh Mỗi ngày Hà Nội có khoảng 30 vạn khách vãng lai từ các tỉnh và từngoại thành vào nội thành cư trú và làm ăn buôn bán Do không có nơi ở cốđịnh, họ thường sống trong các túp lều, lán tạm hay tại các nhà ổ chuột, không
có nhà vệ sinh và xả rác bừa bãi góp phần không nhỏ trong việc gây ô nhiễmmôi trường
Mặt khác, quá trình đô thị hoá đã biến Hà Nội thành các công trình xâydựng khổng lồ Do công tác quy hoạch tổng thể chưa tốt, xây dựng trái phép và
đổ vật liệu phế thải bừa bãi đã làm cho diện tích mặt nước Hà Nội có xuhướng giảm sút, từ đó cũng là nguyên nhân gây úng lụt, gây ô nhiễm nguồn
Trang 31nước mặt.
- Theo kế hoạch của dự án Thoát nước giai đoạn I đến năm 2000, 4 consông thoát nước sẽ được cải tạo xong, nhưng cho dến nay mới nạo vét bùn vàxây kè hai bên bờ của sông Kim Ngưu xong và bắt đầu triển khai được trên sông
To Lịch Hai con sông còn lại là sông Lừ và sông Sét vẫn chưa được tiến hànhnạo vét theo đúng tiến độ của dự án
- Việc triển khai đóng mốc chỉ giới Thoát nước ở trên mương sông thoátnước chưa được thực hiện, do đó hạn chế việc quản lý bờ mương Tình trạng lấnchiếm mương sông, giăng đó trên các cửa cống sông, hồ thường xuyên diễn ra làmcản trở đến dòng chảy, dẫn đến việc giải toả chống lấn chiếm mương sông tăng lên,gặp nhiều khó khăn và hiệu quả không cao Bên cạnh đó, việc giữ nước nuôi cá, lấynước tưới cho nông nghiệp trên các hồ, tại đập Thanh Liệt làm cho nước đệm tạicác nơi này dâng cao và hạn chế việc tiêu thoát nước khi có mưa lớn trong nộithành
- Chất lượng thi công các tuyến cống trên đường trục chÝnh kém, gâynên sụt đường ở các mối nối cống như trên đường Giải Phóng và móng cốngđặt không được đều, trong quá trình thi công dùng đất đá chặn dòng và sau khithi công xong đã không đưa lên khỏi lòng cống làm cho công tác duy tu, duy trìgặp khó khăn Một số tuyến cống sau khi thi công xong đã không được đấu vàohọng xả ở Trần Khát Trân gây nên sự úng ngập cục bộ cho khu vực Dệt KimĐông Xuân, ngõ Yên Bái 2, Chợ trời (những điểm này đã được khắc phục phầnnào trước mùa mưa năm 2000) Mặt khác, một sè khu vực úng ngập cục bộ vẫn chưa
có giải pháp nào cụ thể giải quyết dứt điểm như các khu vực: Nguyễn Công Trứ,Kim Liên - Trung Tự, Văn Chương, Nam Đồng, Thanh Xuân Bắc, Thanh XuânNam, Nghiã Đô, Ngọc Khánh, Nguyễn Gia Thiều, Bạch Mai, Phùng Hưng - ĐườngThành
- Về việc quản lý mực nước hồ, xử lý nước thải chưa phân cấp cụ thể, nhiềukhi chồng chéo, vụn nát dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, không có hiệu quảnhư Hồ Tây, gây khó khăn trong việc điều hoà và tiêu thoát nước khi có mưa
Trang 32II Tác động của phát triển kinh tế - xã hội tới hệ thống thoát nước nội thành Hà Nội.
A Tác động của phát triển công nghiệp tới hệ thống thoát nước Hà Nội
1 Thực trạng phát triển công nghiệp trong thập kỉ qua ở Hà Nội.
Quá trình phát triển, xây dựng Thủ đô Hà Nội hơn 45 năm qua chính làquá trình công nghiệp hoá, trong đó công nghiệp được xem là ngành chủ đạo,nền tảng Hơn 45 năm xây dựng, Thủ đô Hà Nội từ chỗ chỉ là thành phố tiêudùng với cơ cấu kinh tế chủ yếu là thương mại-dịch vụ phục vụ cho “yêu cầunghỉ ngơi-ăn chơi” đã chuyển thành Thủ đô có cơ cấu sản xuất công nghiệp-nông nghiệp và tiến lên cơ cấu kinh tế công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp Côngnghiệp Thủ đô từ ban đầu hầu như không có gì, chủ yếu là thủ công ngiệp phântán dựa trên lao động thủ công truyền thống và sản phẩm đơn lẻ đã phát triểnmạnh mẽ, trở thành ngành sản xuất chủ đạo, ngành kinh tế quan trọng nhất Đếnnay công nghiệp Thủ đô đã phát triển với 23 ngành (trong sè 25 phân ngành theotiêu chuẩn của Tổng cục Thống kê), đóng góp gần 40% GDP, trên 30% thu ngânsách và thu hút hàng chục vạn lao động Xét trên phạm vi vùng và cả nước, HàNội là địa bàn tập trung công nghiệp vào loại nhất ở Bắc Bộ và đứng thứ haitrong cả nước (sau thành phố Hồ Chí Minh) Tỉ trọng công nghiệp (công nghiệp
mở rộng) trong GDP Hà Nội đạt gần 38% và đang có xu hướng tăng Nhịp độtăng trưởng từ 5%/năm thời kỳ 1986-1990 đến 1991-1995 tăng 19,1% và 1996-
2000 tăng 14,25%; tài sản cố định chiếm trên 30% tài sản cố định của cả vùngBắc Bộ và 50% vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bé GDP công nghiệp Hà Nộichiếm 8-9% ngành công nghiệp cả nước và 35% so với công nghiệp cả vùngBắc Bộ So với thành phố HCM, GDP công nghiệp Hà Nội chỉ bằng 1/3 nhưnggấp 2,9 lần thành phố Hải Phòng
Đến đầu năm 2000, Hà Nội có 271 xí nghiệp quốc doanh trong đó có 167doanh nghiệp quốc doanh TW; 14.008 doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốcdoanh, trong đó 40 doanh nghiệp tư doanh, 171 hợp tác xã thủ công nghiệp và13.558 hộ thủ công nghiệp và cá thể Hầu hết các cơ sở trên đều phân bố ở 7quận nội thành, số Ýt ở các thị trấn nông thôn 5 huyện nội thành, nhiều doanh
Trang 33nghiệp công nghiệp làm ăn có hiệu quả, sản phẩm có sức cạnh tranh trên thịtrường trong nước và xuất khẩu.
Trong giai đoạn 1996-2000, mục tiêu phát triển công nghiệp Thủ đô đã
được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ 12 là “ Công
nghiệp Hà Nội phải phát triển với tốc độ nhanh, có hiệu quả kinh tế lớn, trên cơ
sở cải tiến cơ sở sản xuất với phương châm ưu tiên những ngành đòi hỏi công nghệ và hàm lượng chất xám cao, kết hợp với những ngành nghề truyền thống, từng bước sử dụng công nghệ tiên tiến và thu hút nhiều lao động, đáp ứng nhu cầu thị trường, thay thế dần hàng nhập khẩu mà trong nước sản xuất được ”.
Các ngành cần ưu tiên phát triển nhanh là: 1 Cơ khí- đồ điện 2 Công nghiệp
điện tử 3 Dệt-may-da 4 Công nghiệp thực phẩm 5 Công nghiệp xây dựng.
Cùng với ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm cần:” Tổ chức hợp
lý công nghiệp trên lãnh thổ Đối với các khu công nghiệp tập trung hiện có nằm trong nội thành chủ yếu tập trung đầu tư chiều sâu chú ý đầu tư cải thiện môi trường chống gây ô nhiễm Đối với các khu công nghiệp tập trung ở ngoại thành còn nhiều đất cần xây dựng thêm các xí nghiệp có quan hệ về sản xuất, công nghệ Thúc đẩy các khu công nghiệp tập trung mới sớm hình thành Phát triển công nghiệp Hà Nội phải gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu và công nghiệp của tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, với các tỉnh phía Bắc và cả nước.”
Căn cứ vào những phương hướng và nhiệm vụ trên đây, nghiên cứu tìnhhình phát triển công nghiệp Thủ đô vào thời kỳ đổi mới có thể đánh giá kháiquát thực trạng phát triển công nghiệp trên một số mặt sau:
Trang 341.1 Sản xuất công nghiệp Hà Nội trong 5 năm qua vẫn tiếp tục tăng trưởng khá:
Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn Hà Nội 5 năm quanhư sau: năm 1996: tăng 22,25%; năm 1997: tăng 17,6%; năm 1998: tăng13,91%; năm 1999: tăng 7,56%; năm 2000: Dự kiến tăng 9,5-10,5% Bình quânthời kỳ 1996-2000 tăng 14,25%/năm (Mục tiêu Đại hội là 17-17,5%/năm) (xembảng 3 và đồ thị 1)
Bảng 3: Tốc độ tăng GTSX CN trên địa bàn Thủ đô thời kỳ 1996-2000
Đơn vị: %
2000
Bình quân 1996-2000
a Khu vực SX trong nước 11,77 10,67 10,06 8,31 10,48 10,25
- Công nghiệp QD 10,78 10,20 9,66 7,28 9,44 9,47 + QD TW 13,46 12,55 10,39 7,34 10,00 10,73
- Công nghiệp ngoài QD 18,61 13,49 12,37 14,27 16,12 14,95b.Khu vực có vốn đầu tư NN 66,76 37,31 22,75 6,00 9,00 26,56
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội và Sở KH&ĐT
Đồ thị : Tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp của Hà Nội 1996-2000.
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội và Sở KH&ĐT
Trang 351.2 Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng không đều ở các khu vực và nhìn chung có
xu hướng tăng trưởng chậm lại (xem bảng 3 và đồ thị 1)
- Sự giảm sút tốc độ tăng trưởng của GTSX công nghiệp thể hiện rõ nhất
ở 2 khu vực có tỉ trọng cao nhất là khu vực quốc doanh trung ương và khu vựccông nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Tốc độ tăng trưởng GTSX của khu vực công nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài từ 66,76% năm 1996 giảm xuống còn 9% vào năm 2000 Tuy nhiên nếuxét cả thời kỳ công nghiệp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tăng trưởngcao nhất và đạt tốc độ bình quân 26,56%/năm
- Công ngiệp quốc doanh trung ương chiếm tỉ trọng hơn 40% đạt tốc độtăng trưởng bình quân 10,73%/năm, đây cũng là khu vực có sự giảm sút lớn vềnhịp độ phát triển, từ 13,4% năm 1996 xuống còn khoảng 10% vào năm 2000
- Công ngiệp quốc doanh địa phương tăng trưởng thấp nhất, bình quân5,44%/năm, công ngiệp ngoài quốc doanh tăng cao nhất, đạt tốc độ tăng trưởngbình quân 14,95%/năm (mỗi khu vực này chiếm tỉ trọng khoảng 10% trongGTSX công nghiệp toàn Thành phố)
Trang 361.3 Sản phẩm ngày càng phong phó: Một số sản phẩm mới ra đời đạt chất
lượng khá, được thị trường chấp nhận và thị phần ngày càng tăng, có sức cạnhtranh nội địa và xuất khẩu được: bàn ghế nội thất Xuân Hòa, bia Hà Nội, biaHaliđa, máy biến thế, máy hàn điện, động cơ điện, xe đạp, lắp ráp tivi, thuốc láVinataba, vải bạc, màn tuyn hoa, một số sản phẩm dệt, da-may-giầy, sứ vệ sinh,hàng kim khí tiêu dùng vật liệu xây dựng, bánh kẹo Hải Hà, bánh kẹo Hải Châu,kẹo Tràng An, hàng thủ công mỹ nghệ Nhờ nâng cao chất lượng sản phẩm, cótới trên 40 sản phẩm được đưa ra tiêu thụ thị trường ngoài thành phố, và xuấtkhẩu công nghiệp đóng góp khoảng 40% tổng thu nhân sách và khoảng 70%kim ngạch xuất khẩu của thành phố
1.4 Cơ cấu sản xuất công nghiệp Thủ đô có biển đổi quan trọng.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng nhanh làm cho tỉ trọngGTSX từ 19,1% năm 1995 lên 31,95% năm 2000
Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh cũng nâng tỉ trọng từ 10,73%năm 1995 lên 11,4% năm 2000
Đáng chó ý là sự phát triển chậm chạp của khu vực công nghiệp quốcdoanh địa phương (vốn đã nhỏ bé) làm cho làm cho tỉ trọng sản xuất côngnghiệp quốc doanh địa phương giảm dần từ 17,99% năm 1995 xuống còn12,1% năm 2000
Bảng 4: Cơ cấu GTSX của các khu vực sản xuất công nghiệp
thủ đô giai đoạn 1996-2000.
Đơn vị: %
Trang 37-Công nghiệp ngoài QD
b.Khu vực đầu tư NN
100,0080,9470,1752,1817,9910,7319,06
100,0074,0063,5848,4315,1510,0526,00
100,0069,6459,5946,3513,2310,0530,36
100,0067,2857,3744,9212,459,9132,72
100,0067,7557,2244,8312,39 10,53 32,25
100,0068,0056,7044,6012,1011,4032,00
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội và Sở KH&ĐT.
1.5 Xét một số ngành và nhóm sản phẩm:
Trong 5 ngành và nhóm ngành sản xuất công nghiệp chủ lực của Thủ đô,chỉ có 2 ngành có sự chuyển dịch theo đúng định hướng của Nghị quyết Đại hộiĐảng bộ Thành phố lần thứ 12, đó là các ngành Điện- điện tử và ngành sản xuấtvật liệu Xây dựng Nhóm ngành cơ kim khí cơ bản vẫn giữ được tỉ trọng nhưnăm 1995; Các ngành Dệt-da-may-giầy; chế biến thực phẩm tỉ trọng năm 2000giảm so với năm 1995 Tuy nhiên, nếu tính cả 5 nhóm ngành này thì tỉ trọngnăm 2000 so với năm 1995 không giảm (75,7%) (Bảng 5)
- Ngành Cơ kim khí: tỉ trọng từ 21,2% năm 1995, năm 2000 ổn định21,1% tốc độ tăng thường bình quân thời kỳ 1996-2000 là 14,1%/năm; thu hútgần 3 vạn lao động
- Ngành Dệt-da-may: tỉ trọng từ 14,44% năm 1995 giảm xuống còn 12%năm 2000; tốc độ tăng thường bình quân là 10,15%/năm; thu hút gần 5 vạn laođộng Tuy nhiên cần lưu ý trong nhóm ngành này các ngành may, giầy, da đềutăng khá; riêng ngành dệt chiếm tỉ trọng khoảng 80% của nhóm ngành nàynhưng tốc độ tăng dưới 5% làm cho tỉ trọng chung của nhóm ngành này giảm
- Ngành Điện-điện tử: tỉ trọng từ 23,3% năm 1995 tăng lên 26,9% vào năm
2000, tốc độ tăng thường bình quân đạt 17,6%/năm (nếu tính cả sản xuất và phânphối điện) Còn nếu chỉ tính riêng sản xuất tivi, radio thì tốc độ tăng bình quân21,5%/năm
Trang 38- Ngành sản xuất thực phẩm, đồ uống: tỉ trọng từ 11,3% năm 1995 giảmxuống còn 9,2% năm 2000, tốc độ tăng trưởng đạt 9,45%/năm.
- Ngành sản xuất vật liệu xây dựng: tỉ trọng từ 5,5% năm 1995 tăng lên7,4% năm 2000, tốc độ tăng trưởng đạt 21,5%/năm
- Các ngành giảm mạnh là khai thác than đá, giảm bình quân là 1,11%/năm; tái chế giảm bình quân 19,09%/năm
Bảng 5: Sự chuyển dịch cơ cấu và tốc độ tăng trưởng các nhóm ngành công nghiệp trọng điểm trên địa bàn Thủ đô (giá 1994).
Nhóm ngành chủ lực
của công nghiệp Hà
Nội
Tỉ trọng của ngành trọng điểm trong tổng giá trị sản xuất của công nghiệp Hà
Nội
Nhịp độ tăng trưởng bình quân
Nguồn: Cục Thống kê Hà Nội và Sở KH&ĐT
1.6 Ngoài các khu công nghiệp cũ (9 khu), Thành phố đã và đang hình thành và phát triển các khu công nghiệp tập trung và khu công nghiệp vừa và nhỏ
Đến nay đã hình thành 4 khu công nghiệp tập trung: Sóc Sơn, Bắc ThăngLong, Sài Đồng B, Đài Tư, khu công nghiệp Sài Đồng A đang triển khai giảiphóng mặt bằng Cùng với các khu công nghiệp tập trung đã và đang hình thànhcác khu công nghiệp vừa và nhỏ ở các huyện ngoại thành Khu công nghiệpVĩnh Tuy thuộc huyện Thanh Trì đã có 18 dự án đầu tư lấp đầy diện tích toàn
Trang 39khu (trên 12 ha); khu công nghiệp Phú Thị-Gia Lâm đã có 22 dự án đăng kí lấpđầy diện tích toàn khu (hơn 17 ha) Trong tương lai, các khu công nghiệp tậptrung, khu công nghệ, khu công nghiệp vừa và nhỏ sẽ là một trong các khâu độtphá để phát triển công nghiệp thành phố.
1.7 Khu vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng tiếp tục phát triển khá
Nhiều ngành nghề và làng nghề truyền thống được khôi phục; một số làng nghề
và ngành nghề (gốm sứ Bát Tràng, may Cổ Nhuế, chế biến thực phẩm Xuân Đỉnh (TừLiêm), Hữu Hoà (Thanh Trì) đã bước đầu đưa tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mớivào sản xuất làm tăng chất lượng và hiệu quả sản xuất Tiểu thủ công nghiệp ngàycàng có vai trò quan trọng trong khu vực nông thôn và trong kinh tế gia đình
Tóm lại, trong 5 năm sản xuất công nghiệp Thủ đô đã đạt được nhiều mục tiêu của kế hoạch 1996-2000 như: Công nghiệp vẫn đạt tốc độ tăng trưởng
cao nhất trong các ngành, lĩnh vực kinh tế, một số ngành thuộc nhóm ngành vàphân ngành công nghiệp trọng điểm phát triển đúng hướng và đạt tốc độ tăngtrưởng khá Sự phát triển các ngành và nhóm ngành công nghiệp trong từng khuvực kinh tế cũng phù hợp với việc khai thác những lợi thế có sẵn Khu vực sản xuấttrong nước chủ yếu phát triển mạnh và chiếm tỷ lệ cao ở các ngành, lĩnh vực sảnxuất thu hút nhiều lao động, có nguồn nguyên vật liệu trong nước và không nhấtthiết yêu cầu kỹ thuật cao và vốn đầu tư quy mô lớn như chế biến thực phẩm - đồuống, vật liệu xây dựng, dệt - may, sản xuất và phân phối điện , khu vực có vốnđầu tư nước ngoài chủ yếu phát triển những ngành yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư vốnlớn như lĩnh vực sản xuất điện tử (sản xuất tivi, radio; khu vực đầu tư nước ngoàinăm 1999 chiếm 80,6% giá trị sản xuất công nghiệp của ngành này), cơ khí chế tạo(sản xuất ô tô, xe máy và các phương tiện vận tải khác của khu vực đầu tư nướcngoài năm 1999 chiếm 84,1% giá trị sản xuất của những ngành này)
Bên cạnh những kết quả đạt được, công nghiệp Thủ đô cũng có những hạn chế: Tốc độ tăng trưởng chung cũng như tăng trưởng của hầu hết
các ngành công nghiệp trọng điểm đều không ổn định và thấp hơn chỉ tiêu Đạihội đề ra; một số ngành được xác định là trọng điểm song phát triển thấp, cơ cấungày càng giảm là: Cơ - kim khí, nhất là cơ khí chế tạo máy móc thiết bị và sản
Trang 40xuất xe có động cơ; ngành Dệt - may - da - giầy, nhất là ngành dệt như đã nói ởtrên Công nghiệp quốc doanh địa phương tăng trưởng chậm và nhìn chung vẫnchưa thoát khỏi tình trạng nhỏ bé, khả năng cạnh tranh thấp, tỷ trọng ngày cànggiảm trong tổng giá trị sản xuất của công nghiệp Thủ đô.
Một số sản phẩm công nghiệp truyền thống như sản xuất xe đạp, quạtđiện, các sản phẩm tiêu dùng khác chậm đổi mới máy móc thiết bị và côngnghệ nên không cạnh trạnh được với hàng ngoại nhập tràn lan
Một số sản phẩm gây ô nhiễm môi trường như sản xuất hoá chất, cao su,nhựa (Plastic) mà Thành phố không có chủ trương khuyến khích phát triển lại pháttriển nhanh Cùng với sự phát triển của sản xuất công nghiệp, vấn đề vệ sinh môitrường đang rất bức xúc nhưng chưa có giải pháp đồng bộ và đủ mạnh đẻ khắc phục
Những hạn chế trên đây chính là sự thể hiện rõ nét tính đặc thù của quá trình phát triển công nghiệp Hà Nội trong hơn 45 năm qua Đó là sự phát triển qua nhiều giai đoạn, nhiều thời kỳ khác nhau với nhiệm vụ chính trị, kinh tế khác nhau, nhận thức và tư duy về phát triển công nghiệp khác nhau trong điều kiện phát triển khác nhau; do đó sự phát triển công nghiệp không theo hệ thống mục tiêu thống nhất để có thể kế thừa kết quả phát triển từng thời kỳ theo chuỗi thời gian liên tục Trái lại, đã xảy ra tình trạng thời kỳ sau phải tổ chức lại, khắc phục hậu quả của thời kỳ trước cho phù hợp với thực tiễn Vì thế quá trình phát triển gây ra lãng phí, hậu quả để lại phức tạp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất cập mà không phải dễ dàng khắc phục; Có thể khái quát một số nguyên nhân của những hạn chế như sau:
- Sự phát triển chưa tương xứng vai trò vị trí Thủ đô Số lượng và quy môcông nghiệp còn hết sức nhỏ bé, các cụm công nghiệp tiến hành xây dựng riêng
lẻ từng ngành theo bộ chủ quản, chưa có quy hoạch tổng thể, chắp vá, thiếu gắn
bó về công nghệ, gây cản trở và ô nhiễm lẫn nhau, mất cân đối nghiêm trọnggiữa sản xuất và hạ tầng, nhiều khu công nghiệp xen lẫn khu dân cư gây ùn tắcgiao thông và ô nhiễm khu dân cư