Lợi ích của hệ thống có thể còn giá trị mãi mãi về sau, nhưng do sự thay đổihơn 50 năm qua cùng với một số tác động của tự nhiên và xã hội như: sự chi phốimạnh mẽ của dòng chảy do các yê
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của Đề tài
Nước đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với nông nghiệp, công nghiệp, môitrường và sinh hoạt ở các khu dân cư Mặc dù vậy do nước ngọt ngày càng trở nênkhan hiếm, quản lý tưới không hợp lý và suy thoái môi trường đã và đang là tháchthức lớn đối với nhiều vùng và thậm chí đối với nhiều quốc gia Sự gia tăng về dân
số, về nhu cầu và chất lượng cuộc sống cụ thể về sản phẩm nông nghiệp và côngnghiệp trong tương lai hướng tới sự cạnh tranh khốc liệt hơn trong sử dụng tàinguyên đất và nước Vì vậy cải thiện hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy nông làrất cần thiết để khai thác hết tiềm năng về nông nghiệp và tạo cơ hội phát triển kinh
tế, xã hội một cách bền vững
Hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được xây dựng từ năm 1958, là một trongnhững hệ thống thủy lợi lớn nhất đồng bằng bắc bộ nước ta với diện tích 185.860habao gồm đất đai của 4 tỉnh thành phố: Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Bắc Ninh
Hệ thống được bao bọc bởi 4con sông lớn: Sông Hồng, sông Đuống, sụng ThỏiBỡnh và sông Luộc
Lợi ích của hệ thống có thể còn giá trị mãi mãi về sau, nhưng do sự thay đổihơn 50 năm qua cùng với một số tác động của tự nhiên và xã hội như: sự chi phốimạnh mẽ của dòng chảy do các yêu cầu về tưới tiêu cũng đa dạng vì thay đổi cơ cấucây trồng, quá trình công nghiệp hóa lại diễn ra một cách nhanh chóng, sự biến đổi
có tính cực đoan của khí hậu,… Làm cho hệ thống trở lên bất cập, các công trình
có nguy cơ bị xuống cấp ảnh hưởng tới năng lực phục vụ của hệ thống , cần thiết có
sự đánh giá một cách chính xác, khoa học và toàn diện về hiệu quả của các côngtrình từ đầu mối tới mặt ruộng thông qua hệ thống chỉ tiêu để đưa ra các biện phápkhai thác quản lý hệ thống công trình thích hợp nhất nhằm nâng cao năng lực phục
vụ và phát huy tối đa lợi ích mang lại của hệ thống lợi đối với khu vực rộng lớngiàu tiềm năng nông nghiệp này Vì vậy trong luận văn này tôi muốn đề cập tới vấn
đề đó qua đề tài:
“ Nghiên cứu, đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu qủa hệ thống thuỷ lợi Bắc Hưng Hải ”.
Trang 22 Mục đớch của Đề tài
- Nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phục vụ của hệ thốngBắc Hưng Hải Sau đó sử dụng hệ thống chỉ tiêu để đánh giá và đưa ra các biệnpháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Tiếp cận quan điểm thực tiễn, hệ thống đa mục tiêu, tổng hợpvà phát triểnbền vững trong khai thác tài nguyên nước
- Tiếp cận về phương châm, đường lối nghiên cứu: Kết hợp chặt chẽ giữanghiên cứu lý luận, kinh nghiệm trên thế giới và trong nước
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa các tài liệu về hiện trạng hệ thốngcông trình của hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải
- Phương pháp kế thừa (theo các tài liệu thu thập, điều tra được):
- Phương pháp chuyên gia: Tổ chức hội thảo, báo cáo khoa học nhằm tổng hợpcác ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học về lĩnh vực nghiên cứu
4 Kết quả dự kiến đạt được
- Đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hệ thống Bắc Hưng Hải
- Những kiến nghị về các giải pháp nâng cac năng lực phục vụ của hệ thốngcông trình trên Bắc Hưng Hải
Trang 3CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HỆ
THỐNG THỦY LỢI
1.1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THỦY LỢI TRấN THẾ GIỚI.
1.1.1 Phát triển hệ thống thuỷ lợi trên thế giới.
Theo dự đoán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (FAO) cho biếtdân số trên địa cầu ước tính lên tới 9 tỷ người vào khoảng năm 2050 Nhu cầu vềlương thực qua đó tăng ngày càng lớn Người ta cũng dự đoán rằng 80% lương thựcđáp ứng cho con người là sản phẩm của nền nông nghiệp được tưới Để đáp ứngnhu cầu lương thực, thuỷ lợi được coi như là một biện pháp quan trọng hàng đầu.Trong gần 4 thập kỷ qua, tưới nước được quan tâm đáng kể, diện tích tưới trên thếgiới ngày càng được mở rộng:
- Năm 1950 diện tích tưới đạt 96 triệu ha;
- Năm 1989 diện tích tưới đạt 233 triệu ha;
- Năm 1990 diện tích tưới đạt 260 triệu ha;
- Năm 2000 diện tích tưới đạt xấp xỉ 300 triệu ha
Như vậy trong vòng 50 năm diện tích tưới trên thế giới đã tăng hơn 300%.Cũng theo số liệu của FAO, 73% diện tích tưới trên thế giới là của các nước đangphát triển (trong đó có Việt nam) Tuy nhiên, diện tích được tưới này mới chỉ chiếm21% đất trồng trọt của các nước này
Châu Á cũng là châu lục phát triển tưới lớn nhất trên thế giới, chiếm khoảng50% diện tích tưới toàn thế giới Sự phát triển tưới ở các nước Châu á Thái BìnhDương thể hiện ở bảng 1-1
Trang 4Bảng 1.1: Phát triển tưới ở Châu Á Thái Bình Dương (Đơn vị 1000 ha)
Trang 5- Hệ thống tưới bằng bơm: lấy nước từ sông suối
- Hệ thống tưới bằng trạm bơm lấy nước ngầm (loại này phổ biến ở Ấn độ,Băngladest)
Các hệ thống tưới được phân loại thành quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ.Tiêu chuẩn phân loại có nơi dựa vào vốn đầu tư xây dựng công trình, có nơi dựavào diện tích tưới thiết kế của công trình Có công trình tưới chỉ đơn thuần phục vụtưới, có công trình có thể phục vụ đa mục tiêu như tưới, cấp nước sinh hoạt, vận tảithuỷ, thuỷ sản, phát điện, phòng chống lũ và du lịch Nhưng đều có điểm chunggiống nhau là cấp nước tưới cho nông nghiệp Việc tăng sử dụng nước cho sản xuấtnông nghiệp trong thời gian vừa qua đã đưa ra kết luận về việc đầu tư một cáchchiến lược là không chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng của hệ thống tưới, mà cả trongnghiên cứu nông nghiệp và khuyến nông Để đáp ứng những thách thức trong tươnglai, đầu tư cho nông nghiệp phải được xem xét lại và khuyến khích chiến lược trọngói bao gồm nghiên cứu, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng lực chonhững người sử dụng nước, và đẩy mạnh thương mại nông nghiệp trên toàn cầu.Chính vì vậy mà trong tất cả các chiến lược phát triển thủy lợi đều nhận thấy xuhướng đảm bảo phát triển bền vững
1.1.2 Quản lý hệ thống thuỷ nông và hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông.
1.1.2.1.Quản lý hệ thống thuỷ nông:
Có nhiều ý kiến đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý hoạt động của hệthống thuỷ nông, song định nghĩa được nhiều người nhắc tới là: “Quản lý hoạt độngcủa hệ thống thuỷ nông là quá trình mà tổ chức hoặc cá nhân đưa ra các mục tiêucho một hệ thống thuỷ nông, từ đó thiết lập nờn cỏc điều kiện thích hợp, huy độngcác nguồn lực khác nhau để đạt mục tiêu đã đề ra mà không gây ra những tác độngxấu nào” Các kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng đối với quản lý hệ thốngthủy nông phải coi trọng cả 2 yếu tố là nội dung và phương pháp Nội dung củacông tác quản lý thủy nông được coi như chất liệu tạo nên sự bền vững về mặt vậtchất, còn phương pháp để thực hiện các nội dung đó được coi là công nghệ tạo lênsản phẩm đó
Trang 6Theo tiến sĩ Mark Svedsen – Viện Quản lý nước Quốc tế (IWMI) “ Không cómột bộ phận nào của công trình hạ tầng bảo đảm chức năng làm việc quá một vàinăm trừ khi có một tổ chức vận hành, duy tu và nâng cấp nú” Sự thành công của hệthống thuỷ lợi cần cả hai yếu tố “Phần cứng” và “Phần mềm” Phần cứng ở đây gồmcông trình đầu mối, hệ thống kênh mương, công trình điều tiết và các trang thiết bị.Phần mềm là công tác quản lý Một trong hai phần trên sẽ trở nên vô dụng nếukhông có phần kia Tuy nhiên, công tác quản lý nước trong thế kỷ mới không chỉđơn giản phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Trong khi mục tiêu cụ thể là cung cấpnước cho cây trồng một cách đầy đủ với mức độ tin cậy hơn, quản lý nước luụn cúnhững tác động có ý nghĩa đến các hoạt động kinh tế, tính bền vững về môi trường
và đảm bảo sức khoẻ con người Cũng như ngành cụng nghịờp, nông nghiệp cũngphải làm giảm các tác động bất lợi từ bên ngoài, đặc biệt là các tác động liên quanđến sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu
Các liên quan đến môi trường phải là một phần trong sử dụng và quản lýnước Khai thác nước sông và nước hồ và xây dựng các công trình tưới luôn chiếmchỗ của đất ngập nước tự nhiên, mà bản thân nó là thành phần có khả năng sản xuấthàng hoá cao của hệ thống sinh thái nông nghiệp Vấn đề tiêu nước dẫn đến suygiảm chất lượng nước, tăng các bệnh liên quan đến dùng nước, và suy thoái chấtlượng đất do úng ngập và nhiễm mặn Để giảm các tác động này việc quản lý nướccần phải dựa vào chiến lược đánh giá môi trường và phân tích chi phí - lợi ích, quantrắc môi trường và sự thống nhất trong quản lý tưới Tuy nhiên cần phải công nhận
là quản lý nước đem lại nhiều kết quả tốt, tăng khả năng phát triển kinh tế- xã hộicủa toàn bộ khu vực nông thôn, mặc dù phát triển xã hội cần thiết quản lý hệ thốngtưới và mở rộng cơ sở hạ tầng giao thông và thị trường để bán sản phẩm Các tácđộng môi trường tích cực của tưới bao gồm tạo ra hệ thống đất ngập nước nhân tạo,thay đổi vi khí hậu và đa dạng sinh học
1.1.2.2.Hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông:
Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu về hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuấtnông nghiệp, và kết quả cho biết là hiệu quả tưới ở hầu hết các hệ thống thuỷ lợi chỉđạt khoảng 25-35%; hầu hết các hệ thống thuỷ lợi không thu được đầy đủ thuỷ lợi
Trang 7phí để chi cho công tác quản lý và duy tu bảo dưỡng công trình Chính vì vậy mà cơ
sở hạ tầng của các hệ thống thuỷ lợi càng ngày càng bị xuống cấp, và dẫn đến hiệuquả tưới ngày càng giảm đi Ngân hàng Thế giới, các ngân hàng phát triển khác vàmột số nước đã đầu tư xây dựng nhiều hệ thống thuỷ lợi lớn Xuất phát từ hiện trạnghoạt động của các hệ thống, có nhiều ý kiến đối lập nhau về việc cú nờn đầu tưthêm cho các hệ thống thuỷ lợi mới hay không Ai cũng nhận thấy sự cần thiết phảiđầu tư nhiều hơn cho hệ thống thuỷ lợi, cả đầu tư xây dựng hệ thống mới, cải tạohoặc hiện đại hoá hệ thống hiện có, nhưng nên đầu tư như thế nào Đối với hệ thốngthuỷ lợi, nếu chỉ đánh giá hiệu quả hệ thống bằng một chỉ tiêu như tổng sản lượngsản phẩm nông nghiệp thu được khi có tưới hoặc không tưới, hoặc thậm chí một vàichỉ tiêu khác nữa cũng không thể đánh giá đầy đủ được công tác vận hành của hệthống Chuyên gia về môi trường có thể quan tâm đến dòng chảy trên sông, kênh vàngăn chặn sự suy giảm khối lượng và chất lượng nước; Chuyên gia xã hội có thểquan tâm nhiều về vấn đề xã hội; Chuyên gia kinh tế có thể chỉ quan tâm đến hiệuquả đầu tư, trong khi nhà nông học có thể tập trung vào năng suất cây trồng trênmỗi hecta, v.v
Vậy hiệu quả hoạt động là gì? và hiểu như thế nào cho đúng? Khi chúng tanói một hệ thống hoạt động yếu kém, không đạt yêu cầu hay hoạt động hiệu quả là
có hàm ý như thế nào? Hiệu quả hoạt động đã được định nghĩa theo một số cáchkhác nhau Small và Svendsen (1990) đưa ra một định nghĩa khá rộng về hiệu quảhoạt động hệ thống thuỷ nông: “Bao gồm tổng thể các hoạt động (tiếp nhận các yếu
tố đầu vào và chuyển đổi các yếu tố đó thành sản phẩm đầu ra trung gian hay thànhphẩm cuối cùng) và ảnh hưởng của các hoạt động đó (tác động lên chính bản thân
hệ thống và môi trường bên ngoài)” Hơn thế họ còn đưa ra các mô hình khác nhau
về hiệu quả hoạt động của các tổ chức và kết luận rằng một mô hình định hướngmục tiêu hiệu quả là hết sức hữu ích trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷnông Murray Rust và Snellen (1993) bổ xung thêm vào lý thuyết của Small vàSvendsen bằng cách đưa ra một khung phân tích và đánh giá hoạt động chi tiết của
hệ thống Theo họ, hiệu quả hoạt động là (1): “mức độ đáp ứng nhu cầu của kháchhàng hoặc người sử dụng về một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định nào đú” và (2) “là
Trang 8hiệu quả có được do hoạt động của các tổ chức toàn quyền sử dụng những nguồnlực của mỡnh”.
Theo định nghĩa của IWMI thì: “ Hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
là mức độ đạt được của những mục tiêu ban đầu đề ra đối với hệ thống đú”
Bất kỳ một hệ thống thuỷ nông nào cũng cần phải đạt được các mục tiêu đề
ra đối với sản xuất nông nghiệp Về căn bản, các hệ thống thuỷ nông góp phần tăngsản lượng nông nghiệp nhưng cũng phải đối mặt với một số vấn đề như thời gianhoàn vốn dài, phân phối nước không đồng đều, hiệu quả sử dụng nước thấp và cácvấn đề về môi trường liên quan như nhiễm mặn, ngập úng, sức khoẻ cộng đồng
Cho dù một hệ thống thuỷ nông lớn hay nhỏ, việc đánh giá hiệu quả hoạtđộng của hệ thống thuỷ nông là quan trọng để xem nú cú đạt được các mục tiêu đề
ra hay không Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nụng giỳp cung cấpnhững thông tin cần thiết về vận hành hệ thống tới người quản lý và người hưởnglợi góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hệ thống, đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống thuỷ nông cũng là cơ sở quan trọng để quyết định phương án đầu tư nângcao hiệu quả công trình Ngoài ra đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷnụng cũn giỳp cho việc so sánh các hệ thống thuỷ nông với nhau xem hệ thống nàohiệu quả hoạt động tốt hơn
Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nụng đó được nghiên cứu ởcác quốc gia khác nhau và thảo luận ở nhiều hội thảo quốc tế
Ở cấp Quốc gia năm 1989 Ấn độ đã cho ra đời 2 ấn phẩm “ Tiêu chuẩn đo đạcquản lý vận hành hệ thống tưới” và “Giỏm sỏt đánh giá hệ thống tưới” Tiếp sau đú cỏcchuyên gia Ấn Độ và IWMI đã tiến hành đánh giá hệ thống tuới Sirsa có sự trợ giúp củacông nghệ viễn thám và các mô hình thuỷ lực; đánh giá hệ thống tưới Bhakra với sự trợgiúp của công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý (GIS)
Năm 1990, tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) đó cú hội thảo ởThái Lan về cải tiến hệ thống tưới trong nền nông nghiệp phát triển bền vững Ở hộithảo này đó cú một vài nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hoạt động của
hệ thống thuỷ nông
Trang 9Năm 1993, IWMI đó cú nghiên cứu liên quan đến đánh giá hiệu quả hệthống phân phối nước của dự án tưới ở Pakistan và SriLanka.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được cácchuyên gia của IWMI và Sri Lanka sử dụng là:
- Chỉ tiêu lượng nước dùng trên 1 đơn vị diện tích canh tác;
- Năng suất cây trồng;
- Thu nhập trên 1 ha đất canh tác;
- Sản lượng trên 1 m3 nước tưới;
- Sự công bằng trong phân phối nước ở đầu và cuối nguồn nước
Trung Quốc một cường quốc đông dân trên thế giới, nông nghiệp là một
ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực 70% tổngsản lượng lương thực, 80% sản lượng bông, 90% sản lượng rau được tạo ra từ diệntích nông nghiệp được tưới Hiện nay cũng chưa có được một hệ thống các chỉ tiêuđánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông tiêu chuẩn Tuy nhiên thấyđược tầm quan trọng phải đánh giá hiện trạng hoạt động của các hệ thống thủy lợi,trong hai năm 1993 1994 Trung Quốc đã tiến hành đánh giá 195 hệ thống thuỷnông lớn với ba mức đánh giá:
- Mức 1: Đánh giá kết cấu công trình hoặc kênh mương;
- Mức 2: Đánh giá toàn bộ hệ thống;
- Mức 3: Đánh giá cải tạo nâng cấp hệ thống
Kết quả đánh giá cho thấy 70% công trình đầu mối bị xuống cấp hoặc trongtình trạng nguy hiểm, 16% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang chỉ có 4% hoạtđộng bình thường Đối với kênh mương 60% chuyển nước tốt, 21% xuống cấpnghiêm trọng, 9% mất khả năng làm việc, 10% bị bỏ hoang Đối với các trạm bơm36% mất khả năng làm việc, 32% xuống cấp hoặc trong tình trạng nguy hiểm
Malaysia với mục tiêu sản xuất lương thực đáp ứng tối thiểu 65% nhu cầu
lương thực trong nước, chính phủ đã thấy được tầm quan trọng phải đánh giá hiệuquả hoạt động của hệ thống thuỷ nông và tỡm cỏc biện pháp nâng cao hiệu quảhoạt động khai thác của các hệ thống này Từ những năm 1990 đã bắt đầu tiến hànhđánh giá ở 8 vùng trọng điểm lúa với nội dung chính là đánh giá hiệu quả sử dụng
Trang 10nước Trong quá trình đánh giá các chỉ tiêu đã được sử dụng như: tỷ lệ cấp nướctương đối, hiệu quả tưới, chỉ tiêu sử dụng nước, hệ số quay vòng ruộng đất IWMI
đó cú nghiên cứu ở Kerian năm 1991 cho thấy chỉ số hiệu quả dùng nước từ 0.035đến 0.271 kg/m3, trung bình 0.12 kg/m3, trong khi đó theo tài liệu của FAO với hệthống tưới cho lúa việc sử dụng nước có hiệu quả chỉ số này năm trong khoảng từ0,7 1,1 kg/m3
Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thủy lợi một cách chính xác
là rất khó khăn vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố, phục vụ nhiều mục tiêu khác nhau
Cho đến hội thảo vùng Châu á Thái Bình Dương tại Bangkok tháng 5/1994các chuyên gia đã nhất trí về các thông số, tuy rằng mỗi nước có những mục tiêuđánh giá khác nhau tuỳ theo điều kiện của hệ thống thuỷ nụng đú
Các thông số để đánh giá hiệu quả của hệ thống thuỷ nông được chia thànhnhóm như sau:
+ Hệ thống phân phối nước (bao gồm công trình trờn kờnh)
- Hiệu quả vận chuyển nước ở các cấp kênh
- Hiệu quả phân phối nước
- Bồi lắng và cỏ rác
+ Hiệu quả môi trường trong hệ thống tưới:
- Mức độ nhiễm mặn, kiềm hoá
- Chất lượng nước mặt, nước ngầm
- Ngập úng
- Cỏ dại trong kênh có nước đọng
+ Hiệu quả tưới mặt ruộng:
- Hệ số quay vòng đất
- Hiệu ích tưới
- Hiệu quả sử dụng nước
+Hiệu quả xã hội:
- Lao động
- Sở hữu ruộng đất
- Giới trong hoạt động tưới
Trang 11- Sự thoả mãn của nông dân.
+ Hiệu quả về sử dụng đa mục tiêu
+ Hiệu quả về kinh tế
Hiện tại trên thế giới cũng chưa có tiêu chuẩn hay hướng dẫn đánh giá hiệuquả tưới cụ thể Mỗi quốc gia, mỗi vùng miền tùy vào điều kiện tự nhiên, hình thứcquản lý công trình mà lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp, không có một
hệ thống chỉ tiêu nào được áp dụng cho tất cả các nước Để giúp chọn các thông sốgiám sát đánh giá một số nước đã đưa ra các thông số và mức độ quan trong về các
chỉ số trong hệ thống thủy nông như Bảng 1.2
Vấn đề quan trọng của đánh giá hiệu quả tưới là ở chỗ :
- Định ra các thông số quan trọng để đánh giá Các thông số này có thểđược thiết lập từ giai đoạn quy hoạch hệ thống
- Chỉ tiêu hay nói cách khác là tiêu chuẩn mà các thông số nêu trên phảiđạt được đối với một hệ thống cụ thể
Một số chỉ tiêu và thông số hiệu quả tưới còn chưa rõ ràng trong việc đo đạchoặc tính toán Quy trình tổ chức đánh giá, xác định vị trí đo đạc, thời gian đo cũng chưa được cụ thể hoá trong các tài liệu có liên quan Đõy chớnh là yếu tố hạnchế việc áp dụng đánh giá hiệu quả của hệ thống tưới
Trang 12Bảng 1.2 Bảng đánh giá mức độ quan trọng của các thông số đánh giá hiệu quả hệ thống thuỷ nông ở một số nước trong khu vực
TT Thông số Thái Lan Việt Nam Lào Phili pin Trung Quốc Indonesia Malaysia Ấn Độ Myanmar Ne pal Paki stan Hàn Quốc Banglades Bhutan Sri lanka
Trang 13Nguồn tài liệu: Fao – 1994 x:quan trọng xx: rất quan trọng
Trang 141.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THUỶ NễNG Ở VIỆT NAM.
1.2.1 Phát triển hệ thống thủy lợi tại Việt Nam.
1.2.1.1 Hiện trạng đầu tư xây dựng.
Tính đến năm 2003 cả nước đã xây dựng được 75 hệ thống thủy lợi lớn; 1967
hồ chứa có dung tích trữ lớn hơn 0,2 triệu m3, tổng dung tích trữ 24,8 tỷ m3, trong
đú có 10 hồ chứa thuỷ điện với tổng dung tích trữ 19 tỷ m3 và 1957 hồ chứa vànhiều đập dâng, hồ chứa nhỏ có nhiệm vụ chính là tưới; trên 10.000 trạm bơm(Q=24,8 triệu m3/h), trong đó trên 2.000 trạm bơm lớn; trên 1.000 km kênh trục lớn,hơn 5.000 cống tưới, tiêu lớn, 23.000 km bờ bao
Nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi đã và đang được đầu tư xây dựng và sửachữa nâng cấp Các chương trình kiên cố hoá kênh mương, chương trình thoát lũ rabiển Tây, chương trình sửa chữa nâng cấp các hồ chứa bằng nguồn vốn ngân sáchTrung ương, địa phương, trái phiếu Chính phủ, vốn vay của các tổ chức quốc tế
WB, ADB và huy động sức dõn đó được thực hiện Nhờ đó, cơ sở vật chất kỹ thuậtthuỷ lợi được tăng cường
1.2.1.2 Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi
+ Tạo điều kiện quan trọng cho phát triển nhanh và ổn định diện tích canh tác,năng suất, sản lượng lúa để đảm bảo an ninh lương thực và xuất khẩu Các công trìnhthủy lợi đã góp phần cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước như vùngBắc Nam Hà, Nam Yên Dũng; vùng Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười
+ Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai (lũ lụt, úng, hạn, sạt lở ),bảo vệ tính mạng, sản xuất, cơ sở hạ tầng, hạn chế dịch bệnh:Hệ thống đê biển ở Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ có thể ngăn mặn và triều tần suất 10% gặp bão cấp 9 Hệ thống đêTrung Bộ, bờ bao đồng bằng Sông Cửu Long chống được lũ sớm và lũ tiểu mãn để bảo
vệ sản xuất vụ Hè Thu và Đụng Xuõn Các công trình hồ chứa lớn và vừa ở thượng
du đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ du Cáccông trình chống lũ ở ĐBSH vẫn được duy tu, củng cố
Trang 15+ Hàng năm các công trình thuỷ lợi bảo đảm cấp 5-6 tỷ m3 nước cho sinhhoạt, công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khỏc:Cấp nước sinh hoạt cho đồngbằng, trung du miền núi Đến nay khoảng 70-75% số dân nông thôn đã được cấpnước hợp vệ sinh với mức cấp 60 l/ngày đờm.Cấp nước cho các khu công nghiệp,các làng nghề, bến cảng.Cỏc hồ thuỷ lợi đã trở thành các điểm du lịch hấp dẫn dukhách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô - Ngải Sơn, Dầu Tiếng
+ Góp phần lớn vào xây dựng nông thôn mới: thủy lợi là biện pháp hết sứchiệu quả đảm bảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xoỏ đúi giảm nghèonhất là tại cỏc vựng sõu, vựng xa, biên giới
+ Góp phần phát triển nguồn điện: hàng loạt công trình thuỷ điện vừa và nhỏ
do ngành Thuỷ lợi đầu tư xây dựng Sơ đồ khai thác thuỷ năng trờn cỏc sụng dongành Thuỷ lợi đề xuất trong quy hoạch đóng vai trò quan trọng để ngành Điệntriển khai chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhanh và hiệu quả hơn
+ Góp phần cải tạo môi trường: các công trình thủy lợi đã góp phần làm tăng
độ ẩm, điều hòa dòng chảy, cải tạo đất chua, phèn, mặn, cải tạo môi trường nước,phòng chống cháy rừng
+ Công trình thuỷ lợi kết hợp giao thông, quốc phòng, chỉnh trang đô thị,phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; nhiều trạm bơm phục vụ nông nghiệp góp phầnđảm bảo tiờu thoỏt nước cho các đô thị và khu công nghiệp lớn
1.2.1.3 Những tồn tại chính
+ Thuỷ lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của các đô thị lớn:5 tỉnh,thành phố lớn đang bị ngập lụt nặng do ngập triều (TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, CàMau, Hải Phòng và Vĩnh Long) Thành phố Huế và các đô thị khu vực Trung Bộ,ngập úng do lũ Thành phố Hà Nội và các đô thị vùng đồng bằng sông Hồng ngậpúng nặng do mưa
+ Các công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, mặc dù cũng đã đầu tưxây dựng nhiều hồ chứa thượng nguồn kết hợp hệ thống đê dưới hạ du nhưng hiệnnay hệ thống đê biển, đờ sụng và các cống dưới đê vẫn còn nhiều bất cập, phần lớn
Trang 16đê chưa đủ mặt cắt thiết kế, chỉ chống lũ đầu vụ và cuối vụ, chính vụ (miền Trung),các cống dưới đê hư hỏng và hoành triệt nhiều.
Hiện tượng bồi lấp, xói lở các cửa sông miền Trung còn diễn ra nhiều vàchưa được khắc phục được
+ Nước thải không được xử lý hoặc xử lý không triệt để đổ vào kờnh gõy ônhiễm nguồn nước trong hệ thống thủy lợi: Bắc Đuống, Sông Nhuệ
+ Quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và nuôi trồng thủy sản làm thay đổi
diện tích và cơ cấu sự dụng đất tạo ra những yêu cầu mới đối với công tác thuỷ lợi.Nhu cầu cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, thành thị, nhu cầu tiờu thoỏt tại nhiều khuvực tăng lên nhanh chóng
+ Mâu thuẫn quyền lợi, thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành, địa phươngnên công trình chưa phát huy hiệu quả phục vụ đa mục tiêu
+ Một số hệ thống thuỷ lợi có hiệu quả thấp do vốn đầu tư hạn chế nên xây
dựng thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ Nhiều công trình chưa được tu bổ, sửa chữa kịp thờinên bị xuống cấp, thiếu an toàn
+ Việc thực thi Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, Luật Đê
điều và Pháp lệnh phòng, chống lụt, bóo cũn xem nhẹ
+ Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi chưa tương xứng với cơ sở
hạ tầng hiện có, nhất là các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long
+ Nguồn nhân lực còn hạn chế về trình độ, phân bố không hợp lý, thiếu hụt
nghiêm trọng kỹ sư thủy lợi ở địa phương, vựng sõu, vựng xa Theo số liệu điều tramẫu trên phạm vi 5 tỉnh thành toàn quốc:
1.2.1.4 Biến đổi khí hậu và thách thức đối với ngành thuỷ lợi
* Biến đổi khí hậu
Theo kịch bản của Bộ Tài Nguyên và Môi trường: Đến năm 2010 nhiệt độtrung bình năm tăng khoảng 2,3oC (so với trung bình thời kỳ 1980-1999) Tínhchung cho cả nước, lượng mưa năm tăng khoảng 5% (so với thời kỳ 1980-1999)
Trang 17Trong 10 năm qua, các yếu tố khí hậu Việt Nam có nhiều biến đổi: Số trận bão hàngnăm vào ven biển nước ta tăng 0,4 trận
* Nguồn nước
Theo đánh giá của ADB, đến năm 2070, dòng chảy vào tháng cao điểm củasông Mekong dự báo tăng 41% ở đầu nguồn và 19% ở vùng đồng bằng Còn vàocỏc thỏng mùa khô, dòng chảy giảm khoảng 24% ở thượng nguồn và 29% ở vùngĐồng Bằng Dòng chảy mùa kiệt ở lưu vực sông Hồng giảm 19%; mực nước lũ cóthể đạt cao trình +13,24 xấp xỉ cao trình đỉnh đê hiện nay +13,40 (Báo cáo ViệnQuy hoạch Thuỷ lợi) Điều đó có nghĩa là khả năng lũ trong mùa mưa và cạn kiệttrong mùa khô đều trở nên khắc nghiệt hơn
* Mực nước biển dâng
Cũng theo kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng của Bộ tài nguyênmôi trường đến năm 2100 mực nước biển dâng 0,75-1,0m nên về mùa lũ, vàonhững năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của ĐBSCL sẽ bị ngập lũ với thời giankhoảng 4-5 tháng
Nước biển dâng làm mặn xâm nhập sâu vào nội địa, các cống hạ lưu vensông sẽ không có khả năng lấy nước ngọt vào đồng ruộng,vào mùa khô sẽ cókhoảng trên 70% diện tích ĐBSCL sẽ bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l
Vùng đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 55 hệ thống thủy nông, thủy lợivừa đảm bảo tưới cho 765.000 ha (trong đó : tưới lúa mùa khoảng 580.000 ha, màu
và cây công nghiệp dài ngày 7.000 ha), diện tích được tiêu khoảng 510.000 ha Tuynhiên, các công trình tiêu nước vùng ven biển hiện nay hầu hết đều là các hệ thốngtiêu tự chảy; khi mực nước biển dâng lên, việc tiêu tự chảy sẽ hết sức khó khăn,diện tích và thời gian ngập úng tăng lên tại nhiều khu vực Vùng miền trung khoảng5.500 ha sẽ bị ngập, thời gian ngập lũ sẽ dài hơn, lũ độn sẽ khốc liệt hơn và dòngchảy kiệt sẽ suy giảm đáng kể
* Nhu cầu nước và khả năng cân bằng nước trong tương lai
- Nhu cầu nước: Tổng nhu cầu nước năm 2000 khoảng 78 tỷ m3, năm 2010khoảng 103 tỷ m3, năm 2020 khoảng 122 tỷ m3 và lưu lượng duy trì môi trường sinhthái hạ du trong mùa khô khoảng 4.300 m3/s Dự báo nhu cầu nước:
Trang 18+ Nông nghiệp: năm 2010 tăng 11-12 % so với năm 2000, năm 2020 tăngkhoảng 12 % so với năm 2010.
+ Sinh hoạt: năm 2010 tăng 90-100% so với năm 2000, năm 2020 tăng 60-70
9-1.2.1.5 Các giải pháp phát triển thuỷ lợi thích ứng với biến đổi khí hậu
- Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến
hệ thống công trình thủy lợi
- Nghiên cứu, áp dụng các chỉ tiêu thiết kế nhằm nâng cao mức đảm bảo cấpnước, tiờu thoỏt nước, chống lũ thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu
- Rà soát, bổ sung quy hoạch, từng bước xây dựng các công trình ngăn sông lớn
- Đầu tư xây dựng, nâng cấp các hệ thống đê biển, đờ sụng, đờ cửa sông bảođảm an toàn cho dân sinh và sản xuất
- Xõy dựng các chương trình nâng cấp các hệ thống thủy lợi phục vụ cấpnước, tiờu thoỏt nước, đảm bảo an toàn công trình
- Nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp, công nghệ khoa học tiên tiến hạn chếtác động bất lợi do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây ra
1.2.2 Những nghiên cứu có liên quan đến việc đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông:
Ở Việt nam chưa có một tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả tưới chung cho các hệthống công trình thuỷ lợi Một số kết quả nghiên cứu về hệ thống các chỉ tiêu đánhgiá hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông được đưa ra tại các hội thảo, một số
Trang 19văn bản liên quan, những dự án điều tra, những đề tài nghiên cứu và những nghiêncứu của các nhà khoa học đạt được một số kết quả như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiờn cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu tổnghợp đánh giá nhanh hiện trạng (cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành) và hiệu quảKT_XH công trình thuỷ lợi, phục vụ nâng cấp hiện đại hoá và đa dạng hoá mục tiêu
sử dụng” (2001-2005) do Viện khoa học Thuỷ lợi thực hiện đã đưa ra hệ thống cácchỉ tiêu đánh giá nhanh (RAP) dùng để đánh giá hiệu quả các công trình thuỷ lợi
- Nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông, GS-TS Tống Đức
Khang đưa ra khái niệm “ Hiệu quả khai thác các hệ thống thủy nông là hiệu quả của tưới sau khi xây dựng công trình, sản lượng nông nghiệp tăng thêm trong điều kiện tự nhiên và điều kiện sản xuất nông nghiệp cụ thể của vùng tức là hiệu ích của tưới”, tác
giả cũng đưa ra 2 cách đánh giá về hiệu quả quản lý khai thác công trình:
+ Cách thứ nhất là lấy thực trạng trước khi xây dựng công trình làm chuẩn.+ Cách thứ hai là lấy hiệu quả thiết kế trong văn bản được duyệt LCKTKThoặc TKKT làm chuẩn Sau đó từ hiệu quả do công trình mang lại sau khi xây dựng
để so sánh với chuẩn mà đánh giá
Tác giả cũng đưa ra hệ chỉ tiêu đánh giá hệ thống thuỷ nông như sau:
- Chỉ tiêu nước tưới;
- Chỉ tiêu về diện tích tưới và trạng thái công trình;
- Chỉ tiêu về cải tạo đất;
- Chỉ tiêu về sản lượng và hiệu ích tưới;
- Chỉ tiêu tổng hợp nhiều mặt
PGS.TS Lờ Đỡnh Thỉnh đã nghiên cứu chế độ tưới, kỹ thuật tưới lúa vụĐụng Xuõn, với các chế độ tưới sau:
- Nông lộ liên tiếp (N): 60 0 cm
- Nông lộ thường xuyên (NTX): 60 30 cm
- Nông lộ phơi
Trang 20Tác giả đó cú kết luận, hiệu quả đầu tư kỹ thuật đã góp phần tăng năng suất 2
vụ lúa là 50%, tương ứng với 7,31 tạ/ha và 8,5 tạ/ha ở hai khu vực thí nhiệmThường Tín và Nam Ninh
Kỹ sư Lưu Văn Dự, Viện Khoa học Thủy lợi cũng đã nghiên cứu về hiệu íchcủa tưới Để rút ra tác động của tưới đối với năng suất cây trồng tác giả sử dụngcông thức:
Ew: Tác động của tưới đối với năng suất cây trồng (tính theo %)
Wtưới: Lượng nước thực tưới tại mặt ruộng
Wwr: Nhu cầu nước của cây trồng
Tuy nhiên, thực chất công thức mới chỉ phản ảnh % lượng nước cần tướitrong toàn bộ nhu cầu nước của cây trồng, nếu lượng mưa hữu ích càng nhỏ thì tỷ sốnày càng lớn Công thức chưa phản ánh được tác động của tưới đối với năng suấtcây trồng
- TS Hà Lương Thuần: đưa ra quan điểm “Với một diện tích tưới lớn như ởnước ta hiện nay, cần thiết phải đánh giá HQT và tỡm cỏc biện pháp nâng cao HQT
ở hệ thống” Hiệu ích tưới là một thông số để đánh giá hiệu quả tưới ở mặt ruộng
Đi sâu vào nghiên cứu hiệu ích tưới, tác giả đưa ra định nghĩa hiệu ích tưới: ” Hiệu ích tưới là mức độ đóng góp trực tiếp của yếu tố nước trong tập hợp các yếu tố thâm canh tạo nên năng suất cây trồng” và thiết lập phương trình quan hệ giữa hiệu
ích tưới với tổng lượng nước yêu cầu tưới của cây trồng tính từ cấy đến thu hoạch
Cơ sở lý luận thiết lập công thức này như sau:
Dựa trên công thức cơ bản tính hiệu ích tưới do Giáo sư XuZiFang vàShenpeijun – Học viện Thủy lợi và Điện lực Vũ Hán nghiên cứu năm 1989:
100
1 3
1 2
Y Y
Y Y
Trang 21Ew: hệ số hiệu ích tưới (%).
Y1: Năng suất cây trồng không tưới với biện pháp nông nghiệp trung bình
Y2: Năng suất cây trồng có tưới với biện pháp nông nghiệp trung bình
Y3: Năng suất cây trồng với tưới có kỹ thuật và biện pháp nông nghiệp tiên tiến.Tác giả sử dụng phương pháp kiểm nghiệm trờn ụ thửa nhỏ ở các trạm thínghiệm, sau đó dùng phương pháp thống kê để đánh giá trên quy mô hệ thống hoặcmột vùng Qua đó xác định mối quan hệ giữa hiệu ích tưới với tổng lượng nước yêucầu tưới cho cỏc vựng trồng lúa ở Đồng bằng Bắc Bộ:
Ew=0,097Ir +9,74 (1-3)
Trong đó:
Ew: hiệu ích tưới tiềm năng, tính bằng %
Ir: tổng lượng nước yêu cầu tưới ở các giai đoạn sinh trưởng của cây trồng
từ cấy đến thu hoạch, tính bằng mm
Ir=IRRegi - IRR eg(N,LP) (1-4)
IRRegi - Tổng lượng nước cần tưới của từng giai đoạn từ làm đất đến thuhoạch tính theo CROPWAT - mm
IRR eg(N,LP)- Tổng lượng nước cần tưới của giai đoạn mạ và làm đất - mm
Dự án hợp tác Quốc tế với ễxtrõylia “Quản lý nước tổng hợp trên hệ thống tưới bằng bơm của Đồng bằng sông Hồng” do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực hiện từ
năm 1995 đến 1998, một trong những nội dung chính của dự án là nghiên cứu ứngdụng mô hình IMSOP để trợ giúp vận hành và đánh giá hiệu quả hoạt động của hệthống thông qua chỉ tiêu cấp nước tại các điểm điều tiết
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “ Nghiên cứu xác định năng lực làm việc thực tế
của các hệ thống thuỷ nụng đó cú so với thiết kế “ do Viện Khoa học Thuỷ lợi thực
hiện đã tiến hành nghiên cứu hiện trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông
và phương pháp đánh giá hiệu quả ở ba hệ thống: hệ thống Nam Thái bình, hệ thốngLiễn Sơn – Vĩnh Phúc, hệ thống Suối Hai – Hà Tây Bước đầu đưa ra các nhận xét
về thực trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông và các chỉ tiêu đánh giáhiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông ở các hệ thống nói trên
Trang 22Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Kim Dung đã bảo vệ thành công năm 2003
với đề tài “Nghiên cứu hiện trạng hiệu quả của các hệ thống thủy lợi và kiến nghị các chỉ tiêu đỏnh giỏ”.
Tác giả nghiên cứu thực trạng hệ thống tưới dựa trên cơ sở phân tích 2 hệthống đại diện là Nam Thái Bình và Liễn Sơn - Vĩnh Phúc Từ đó kiến nghị nhữngchỉ tiêu đánh giá hiệu quả tưới của hệ thống công trình thuỷ lợi
Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Kim Thư đã bảo vệ thành công năm 2006
với đề tài “Nghiên cứu hiệu quả hoạt động của các hệ thống thủy nông Nam Thạch Hãn bằng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả”.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn hợp đã bảo vệ thành công năm 2008 với
đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống thủy nông Nam sụng
+ Phương pháp thống kê là một trong những phương pháp truyền thống và
cơ bản nhất thường được áp dụng để điều tra đánh giá hiện trạng công trình thuỷ lợi
từ trước tới nay Phương pháp này là những bảng biểu được thiết kế sẵn do ngườiđiều tra thiết kế theo các mục đích sử dụng và phân tích sau này Phương phápthống kê cũng rất đa dạng về mẫu biểu và các số liệu sẽ điền vào đó Đối với mỗinhóm chỉ tiêu cần điều tra thông thường sẽ được thiết kế thành một bảng ví dụ nhưthống kê về tên công trình, số lượng các công trình, số lượng các loại cống, thờiđiểm xây dựng và hiện trạng của loại công trình, thống kê về nhân lực, dân số, giớitính, trình độ học vấn cán bộ, các bảng thống kê về tình hình tài chính, cân đối thuchi cũng như các bảng thống kê nguồn vốn sử dụng cho công tác bảo dưỡng công
Trang 23trình Hoặc các bảng thống kê về diện tích, năng suất cũng như hiện trạng sử dụngđất là những tài liệu cơ bản bao giờ cũng đi kèm với điều tra thuỷ lợi, các bảng này
có thể là bảng tự thiết kế của người điều tra hoặc là những bảng số thống kê của cácđơn vị quản lý, thống kê địa phương Các số liệu thu thập được theo phương phápnày đều là các số liệu thô mà rất cần sự phân tích sử dụng của người điều tra cũngnhư cơ quan quản lý Phương pháp thống kê này còn có tính kế thừa, luỹ tớch cỏctài liệu như các số liệu về mực nước, lưu lượng cũng như các tài liệu quan trắcthống kê khí tượng thuỷ văn hoặc chất lượng nguồn nước
+ Phương pháp điều tra phỏng vấn theo bảng câu hỏi được lập sẵn, đây làcách mà các chuyên gia trong nước tiếp thu những kinh nghiệm của bạn bè quốc tế và cóđiều chỉnh hoặc cải tiến cho phù hợp với điều kiện cụ thể từng mục tiêu điều tra trongnước ở những năm gần đây Người điều tra thiết kế hệ thống các câu hỏi dựa theo cácmục tiêu số liệu thu thập và được cơ quan chủ quản thông qua Đây là phương pháp hay
sử dụng nhất để thu thập đánh giá về kinh tế xã hội, thu nhập, hoặc một số số liệu liênquan đến môi trường, kinh tế xã hội và những sự chính kiến của người dân hoặc các nhàquản lý nằm trong vùng điều tra Số liệu điều tra được cũng là các tài liệu thô và đượccác chuyên gia phân tích và đưa ra các số liệu đánh giá
+ Phương pháp khảo sát, đo đạc thực địa: là phương pháp thường dùng đểtiến hành khảo sát đo đạc các thông số kỹ thuật của hệ thống như đo đạc hiệu suấtdẫn nước của hệ thống kênh mương, đo đạc hiệu suất của các thiết bị và tiêu thuđiện năng, dầu mỡ, kiểm tra hiệu suất thực tế của máy bơm,… Kết quả của phươngpháp này là những thông số kỹ thuật đánh giá tính trạng hoạt động của các thiết bịhoặc tình trạng tổn thất nước, chiếm đất của hệ thống kênh mương, thấm qua thânđập đất, khảo sát ẩn hoạ của sinh vật đối với hệ thống các công trình Qua điều tracác thông số này các nhà điều tra và quản lý làm cơ sở cho giải pháp nâng cấp, khắcphục và thường phục vụ cho các dự án đầu tư nâng cấp và quản lý cũng như nghiêncứu khoa học
+ Phương pháp lấy mẫu và phân tích thông thường được sử dụng để điều trachất lượng môi trường vùng hệ thống Mẫu sẽ được thiết kế về vị trí, số lượng, thời
Trang 24gian, không gian, chủng loại (nước, đất) để phục vụ công tác phân tích và đánh giá
so sánh Tài liệu phân tích sẽ là số liệu gốc về tình trạng môi trường hoặc xu hướngdiễn biến chất lượng nguồn đất, nước của hệ thống theo không gian và thời gian
+ Phương pháp tổ chức họp tư vấn cộng đồng có sự tham gia của các đơn vịquản lý và người dùng nước: đây là phương pháp thường được dùng để điều tra vềtính phù hợp của các cơ chế chính sách, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của cộngđồng để cú cỏc điều chỉnh về chính sách đầu tư, cơ chế quản lý và phân chia lợinhuận cũng như trách nhiệm của người dân trong vùng hệ thống phụ trách Phươngpháp này hiện nay được các nhà đầu tư quan tâm thực hiện như là một phần củacông việc thực hiện dự án Với mục têu dự án là xoỏ đúi giảm nghèo, chuyển giaocông nghệ, chuyển giao toàn bộ hoặc một phần công trình hay hệ thống cho nhữngngười sử dụng nước tham gia quản lý, vận hành Và như vậy, người dân trong vùng
hệ thống sẽ có trách nhiệm trong công tác bảo vệ, duy tu bảo dưỡng công trình, đảmbảo tính bền vững của công trình
+ Phương pháp điều tra theo mẫu biểu (Form) của một phần mềm đã đượcthiết kế sẵn: Hiện nay, việc ứng dụng các công nghệ thông tin trong các lĩnh vựcquản lý diễn ra rất mạnh mẽ từ trung ương tới các địa phương Với sự trợ giúp củacông cụ máy tính và các phần mềm hỗ trợ người điều tra có thể tiến hành thiết kếcác phần mềm quản lý riờng ỏp dựng cho từng đối tượng quản lý và thiết kế nộidung các thông tin sẽ đưa vào lưu trữ Các mẫu biểu sẽ được in ấn và mang đi thựcđịa để điều tra, kết quả điều tra sẽ được nhập, lưu trữ, phân tích theo các mục đích
sử dụng của người quản lý và đặc biệt quan trong trọng công tác quản lý là cập nhậtcác thông tin điều tra Cụ thể ứng dụng phương pháp này đã được tiến hành đối vớiđiều tra hiện trạng khai thác nước ngầm vựng Tõy Nguyờn phục vụ cho công tácquản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước ngầm và phát triển kinh tế xã hội TõyNguyờn Phần mềm Quản lý tài sản hệ thống thuỷ lợi của Trường Đại HọcMenbuốc, ễxtrõylia được thử nghiệm quản lý dữ liệu cơ bản về tài sản cho một số
hệ thống thuỷ lợi Củ Chi, Đan Hoài, La Khê Và hiện nay, Tổ chức nông lương thếgiới (FAO) và Trung tâm đào tạo và nghiên cứu tưới (ITRC) Trường Đại học Tổng
Trang 25hợp Kỹ thuật California (Cal Poly) San Louis Obispo, California, USA 93407 tháng
9 năm 2001 đã thiết kế và giới thiệu phần mềm đánh giá hệ thống thuỷ lợi theo cáctiêu chí công trình hiện đại (RAP), phầm mềm này đã được tổ chức FAO và ngânhàng thế giới (WB) giới thiệu và ứng dụng để đánh giá hệ thống thuỷ lợi của nhiềunước trên thế giới và khu vực như Australia, Thái Lan, Malaysia, Indonexia, TrungQuốc, ấn Độ, Srilanka … và cũng đã giới thiệu tại Việt Nam thông qua hai khoá hộithảo đào tạo tại Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2002 dưới sự tài trợ của
WB Các học viên được tham gia hai khoá đào tạo đã đi đánh giá thực tế ở hai hệthống thuỷ nông lớn là Cấm Sơn - Cầu Sơn tỉnh Bắc Giang và hệ thống thuỷ lợi hồDầu Tiếng tỉnh Tây Ninh, và hiện nay hai hệ thống này đã được WB và BộNN&PTNT đưa vào chương trình nâng cấp hiện đại hoá trong khuôn khổ Dự án hỗtrợ Thuỷ lợi Việt Nam (WRAP) và sẽ triển khai các năm 2004
+ Phương pháp chuyên gia: Đây là phương pháp thường được quốc tế sửdụng để đánh giá nhiều trong các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và môi trường.Phương pháp này dựa theo trình độ của các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao
về lĩnh vực khoa học chuyên ngành và có nhiều kinh nghiệm thực tế để đánh giátrên cơ sở định tính hoặc kết quả định lượng bằng các chỉ tiêu cụ thể Phương phápnày cũng được tổ chức FAO giới thiệu và sử trong việc đánh giá một số chỉ tiêuthực địa dựa trong phần mềm Chương trình Đánh giá nhanh (RAP) ở trong nướchiện nay phương pháp này cũng được sử dụng tương đối rộng rãi trong các lĩnh vựcđánh giá tác động môi trường, đánh giá các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội …
1.2.4 Nhận xét đánh giá:
1 Phát triển thuỷ lợi ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được nhữngthành tựu đáng khâm phục Hàng ngàn công trình thuỷ lợi lớn nhỏ đã được xâydựng Đó là kết quả đầu tư rất lớn về công sức và tiền của của Nhà nước cũng nhưcủa người dân qua nhiều thập kỷ
2 Các công trình được xây dựng ở những vùng khác nhau, thời điểm khácnhau, điều kiện kinh tế, kỹ thuật và tài chính khác nhau do đó hiệu quả của các hệthống này cũng khác nhau Điều này dẫn tới sự cần thiết phải nghiên cứu đầy đủ và
Trang 26toàn diện về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông nhằm cú cỏc giải phápnâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷ nông.
3 Một số tác giả đã đề nghị các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của hệthống thuỷ nông, tuy nhiên mục tiêu đánh giá chưa đạt tính tổng quát vì mới chỉ giảiquyết được mức độ đạt được so với yêu cầu đặt ra của từng công trình mà chưaquan tâm đến việc so sánh hiệu quả giữa các hệ thống với nhau
4 Các chỉ tiêu đánh giá còn nặng về hiệu quả kinh tế mà chưa quan tâmnhiều đến hiệu quả mang tính công bằng, tính hợp lý trong phân phối nước, hiệuquả xã hội, môi trường
5 Nếu nhìn từ góc độ của thế giới thì có thể nói đến nay chúng ta chưa cómột nghiên cứu nào toàn diện và đầy đủ về hiệu quả hoạt động của hệ thống thuỷnông Có nghĩa là đi từ khái niệm đến nội dung, từ các chỉ tiêu đến phương phápđánh giá và thu thập số liệu cho đến tổ chức đánh giá
6 Nghiên cứu xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt độngcủa hệ thống thuỷ nông mang tính tổng quát trên quan điểm hệ thống là cần thiết
Trang 27CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ KHAI THÁC
CTTL TẠI VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ KHAI THÁC CTTL LỢI HIỆN NAY
2.1.1 Hệ thống cơ cấu tổ chức và cơ chế chính sách
Tổ chức QLKTCTTL gồm 2 nội dung chính: Quản lý nhà nước và quản lýkhai thác Quản lý nhà nước quy định tại chương IV điều 30 của pháp lệnh khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi như sau:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trìnhthủy lợi
2 Bộ nông nghiệp và PTNT chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về khai thác và bảo vệ công trình
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ có trách nhiệm phốihợp với bộ nông nghiệp và PTNT thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo
vệ công trình thủy lợi theo sự phân công của chính phủ
4 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về khai thác và bảo
vệ CTTL địa phương theo sự phân cấp của chính phủ
Quản lý khai thác : Đối vơi hệ thống công trình thủy lợi phục vụ nhiều tỉnhthành lập công ty QLKTCTTL trực thuộc bộ NN & PTNT Với hệ thống công trìnhthủy lợi phục vụ trong phạm vi một tỉnh thành lập công ty KTCTTL trực thuộc SởNN&PTNT
Cùng với các cơ quan quản lý nhà nước, quá trình phát triển thuỷ lợi trongnhững năm qua đã hình thành 2 khu vực quản lý vận hành các công trình thuỷ lợi :Khu vực các doanh nghiệp nhà nước quản lý các hệ thống lớn bao gồm các côngtrình đầu mối, trục dẫn chính và cỏc kờnh đến xã Khu vực nông dân tự quản lý cáccông trình nhỏ và hệ thống kênh mương trong nội bộ xã
Đến nay, cả nước có 172 doanh nghiệp nhà nước với gần 20000 cán bộ côngnhân, trong đó có 1800 cán bộ đại học và trên đại học Những năm qua, các doanhnghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi đã cố gắng trên cả 3 nội dung củacông tác quản lý là quản lý công trình, quản lý nước và quản lý kinh tế Nhưng hầu
Trang 28hết các doanh nghiệp đều rơi vào tình trạng tài chính khó khăn, công trình xuốngcấp, đời sống của người lao động thấp dẫn đến hiệu quả khai thác chưa cao.
Khu vực nông dân tự quản, trước đây khi cũn cỏc hợp tác xã nông nghiệpkiểu cũ, các hợp tác xã đều cú cỏc đội thuỷ nông chuyên trách làm nhiệm vụ dẫnnước và sửa chữa công trình trong phạm vi hợp tác xã Các đội thuỷ nông phối hợpvới các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi thành mạng lưới khép kín từ đầumối đến mặt ruộng Sau khi chuyển đổi cơ chế, người nông dân tự chủ sản xuất kinhdoanh trên ruộng đất được giao quyền sử dụng Các đội thuỷ nông thuộc các hợp tác
xã nông nghiệp cũ gần như tan rã Do nhu cầu tất yếu phải có sự hợp tác với nhaucủa những hộ cùng hưởng nước từ một con kênh, ở nhiều nơi nông dân tự tổ chứcnhau lại dưới nhiều hình thức như: Hợp tác xã dùng nước, hiệp hội dùng nước, tổđường nước, ban quản lý cụng trỡnh… Cú nơi, nông dân đứng ra nhận khoán chịutrách nhiệm trực tiếp quản lý vận hành hệ thống trên mặt ruộng Nhìn chung tổ chứcdùng nước cơ sở hiện nay còn lúng túng cũng hạn chế hiệu quả của các công trìnhthuỷ lợi
Về cơ chế chính sách trong quản lý vận hành, cùng với pháp lệnh khai thác
và bảo vệ công trình thủy lợi đó cú nghị định về thuỷ lợi phí 112/HĐBT, Nghị định56/CP về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, thông tư liên tịch 90/TCNNhướng dẫn chế độ tài chính đối với các doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi…Nhưng cơ chế tài chính của các doanh nghiệp vẫn không đảm bảo Hầu hết cácdoanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi đều rơi vào tình trạng thu không đủ chi,nhưng việc cấp bù thực hiện không đầy đủ Ở những địa phương quan tâm và khảnăng ngân sách khá việc cấp bù chỉ được một phần Ở những địa phương khó khănviệc cấp bù không được thường xuyên Theo tính toán, muốn đảm bảo hệ thống cáccông trình không xuống cấp, an toàn và hiệu quả hàng năm cần 1200-1500 tỷ đểduy tu bảo dưỡng và quản lý Trong khi nguồn thu từ thuỷ lợi phí chỉ đạt 350-400 tỷ
và ngân sách hỗ trợ khoảng 100 tỷ như vậy mới đảm bảo khoảng 40% yêu cầu chiphí hợp lý Đặc biệt ngày 22/10/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số154/2007/NĐ-CP: chính thức bắt đầu miễn giảm thủy lợi phí từ 1/1/2008 trên toàn
Trang 29quốc đặt ra rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng CTTL.
Hàng năm nguồn vốn Nhà nước đầu tư nâng cấp sửa chữa, nâng cấp, khôiphục lớn như vậynhưng kết quả đạt được về tưới tiêu vẫn chưa tương xứng với đầu
tư Theo tài liệu điều tra thì bình quân cả nước các hệ thống thuỷ lợi mới đảm bảotưới ổn định 5060% so với thiết kế Trong đó có hệ thống mới đảm bảo tưới2530% diện tích thiết kế (chủ yếu là các hệ thống thuỷ lợi nhỏ), hầu hết các hệthống thuỷ lợi vừa và lớn đảm bảo tưới 90100% diện tích, nhưng phải cú cỏc biệnpháp khác hỗ trợ nờn đó làm cho chi phí quản lý tăng lên, nhất là vùng cuối kênh
Theo các tài liệu điều tra trên tuyến kênh liên xã thỡ cỏc xó đầu kênh sửdụng nước lãng phí gấp 5–10 lần so với thiết kế, nên khoảng 50-70 % diện tích củacỏc xó giữa kênh và khoảng 90–100 % diện tích của cỏc xó cuối kênh thiếu nước
Đã dẫn đến tình trạng chi phí phục vụ cho tưới đối với diện tích của cỏc xó cuốikênh tăng lên đáng kể (chi phí tăng 1,64-2 lần) Do chất lượng tưới kộm nờn năngsuất giảm 1,55-2 lần so với cỏc xó đầu kênh, đặc biệt là xung đột thường xảy ragiữa cỏc xó do tranh chấp nước và công trình xuống cấp nhanh hơn
2.1.2 Quảnn lý, khai thác công trình thuỷ lợi đa mục tiêu
Ở Việt Nam, trong những năm trước đây thuộc thế kỷ trước các công trìnhthủy lợi được xây dựng chủ yếu phục vụ tưới, tiêu cho các loại cây trồng vì điềukiện kinh tế nông thôn trước đây, ngành trồng trọt là chính yếu nhất Tuy nhiêntrong thực tế quản lý khai thác ngoài nhiệm vụ cấp thoát nước cho cây trồng, màtrước yêu cầu tự nhiên, cấp bách của phát triển kinh tế xã hội và đời sống, các hệthống thủy lợi đã kết hợp cấp thoát nước cho các ngành khác: Cấp thoát nước sinhhoạt, nuôi trồng thủy sản, du lịch, thương mại, công nghiệp và dịch vụ,…
Mặc dù đã được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng nhiều côngtrình thủy lợi trong các năm qua, trong đó đã bước đầu chú ý xây dựng một sốCTTL phục vụ nhiều đối tượng dùng nước như các hồ chứa kết hợp cấp nước tướivới nuôi trồng thủy sản, cấp nước sinh hoạt, du lịch (các CTTL hồ chứa Núi Cốc,Dầu Tiếng, Đại Lải, Xạ Hương, Đồng Mô, Suối Hai, Yờn Lọ—p, Tràng Kênh, TàKeo, Tuyền Lâm, Suối Vàng,…) Một số CTTL tưới nước kết hợp phát điện, cấp
Trang 30nước cho công nghiệp, chăn nuôi (Hồ Cấm Sơn, Khuôn Thần, hồ Tà Keo, hồ NúiCốc, đập Cầu Sơn, Liễn Sơn, 19 tháng 5 Yờn Bỏi, Ngũi Là Tuyên Quang…), nhưng
do nhiều khó khăn về xã hội, kinh tế nên vẫn còn thiếu nhiều các công trình thủy lợiphục vụ đa mục tiêu được quy hoạch, thiết kế ngay từ đầu, ngay cả các công trình
đã được xây dựng cũng phát huy hiệu quả rất kém
Thực tiễn ở nước ta đã chứng minh và khẳng định hướng khai thác tổng hợpkinh doanh dịch vụ tổng hợp CTTL là đúng đắn, khả thi để nâng cao hiệu quả, tínhbền vững của CTTL Từ nhiều năm qua Việt Nam đã thực hiện chiến lược Quản lýtổng hợp tài nguyên nước, sử dụng nguồn nước đa mục tiêu thông qua các côngtrình thuỷ lợi cấp, thoát nước cho phát triển nông nghiệp (vốn chiếm gần 80% tổngcác yêu cầu dùng nước ở nước ta) và các ngành kinh tế - xã hội khác
2.1.3 Quản lý tưới có sự tham gia của người dân
Một thực trạng đang diễn ra là các công trình thuỷ lợi nhỏ phạm vi thụn, xó,liên xã, nhất là nhiều công trình thuỷ lợi ở vùng núi, vựng sõu, vựng xa còn bị bỏngỏ, chưa có chủ quản lý thực sự, do chưa có sự phân công, phân cấp, có cơ chếchính sách phù hợp, thiếu vốn duy tu bảo dưỡng, đang trong tình trạng xuống cấpphát huy hiệu quả thấp, thậm chí có công trỡnh đó bị huỷ liệt
Trước tình hình trên một số địa phương đã củng cố tổ chức thuỷ nông cơ sởchuyển giao cho nông dân quản lý công trình trên địa bàn của họ (IMT), thực hiện
xã hội hoá về thuỷ lợi, phát huy được vai trò của người dân tham gia quản lý côngtrình thuỷ lợi (PIM) hiệu quả
Thực tế đang diễn ra là một số ít tỉnh hầu hết công trình thuỷ lợi trên địa bàntỉnh do tổ chức hợp tác của dân quản lý Kết quả đạt được đã cho thấy: đối với côngtrình thuỷ lợi có quy mô nhỏ, kể cả cấp kờnh xó, liên xã thuộc các hệ thống thuỷ lợivừa và lớn khi giao quyền quản lý cho tổ chức của nông dân, sẽ phát huy hiệu quả caohơn
Từ thực tế ở Việt nam và từ các đặc điểm chủ yếu của công trình thuỷ lợi là:nằm rải rác trên diện rộng, thường xuyên chịu tác động phá hoại của thiên nhiên,con người và khi bị hỏng phải sửa chữa tốn kém, Chính phủ không thể đảm đương
Trang 31hết công việc duy tu, bảo dưỡng (O&M) đến tận cánh đồng, mỗi hộ nông dân khôngthể giải quyết được vấn đề nước tưới tiêu mà phải dựa vào cộng đồng tập thể (PIM),Nhà nước.
Vì vậy có thể khẳng định là không thể thiếu vai trò của người dân tham giaO&M (PIM) và PIM được coi là một giải pháp hữu hiệu nhất để phát huy tối đanăng lực của công trình thuỷ lợi một cách bền vững
PIM thực sự chia sẻ trách nhiệm đầu tư thuỷ lợi cho người dân, giảm bớtgánh nặng cho Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của người dân trong O&M đối với
hệ thống thuỷ lợi, góp phần nâng cao hiệu quả của hệ thống thể hiện cả về số lượng,chất lượng, thể hiện ở giá thành thấp
2.1.4 Hiện trạng hiệu quả tưới
Sử dụng nước cho nông nghiệp là một thành phần chính dẫn đến an ninhlương thực và đưa hàng triệu người thoát khỏi đúi nghốo Tưới là hộ sử dụng nướclớn nhất, khai thác nước cho tới nay vượt quá 66.000 triệu m3/năm, chiếm trên 80%tổng sử dụng nước ước tính Tổng diện tích được tưới là 8,34 triệu ha năm 2007trong tổng diện tích canh tác là 9,7 triệu ha Hiện nay có 110 công ty thủy nông,trong những năm gần đây hiệu quả thủy lợi nói chung và hiệu quả tưới nói riêng đãđạt được các kết quả sau:
+ Tạo điều kiện thâm canh tăng vụ mở rộng diện tích canh tác, tạo tiền đềtrực tiếp giải quyết các vấn đề cấp bách hiện nay ở Việt Nam là đảm bảo một cách
ổn định nhu cầu thiết yếu về lương thực, thựa phẩm, tạo điều kiện phát huy có hiệuquả sức lao động còn dồi dào ở từng địa phương
+ Tăng tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp trong một chu kỳ mấy nămliên tiếp
+ Bảo vệ thường xuyên cho nhân dân và nền kinh tế không bị ngập lụt tànphá, uy hiếp cả tính mạng con người
+ Thủy lợi hóa là nội dung chủ yếu hiện nay của Đảng và Nhà nước ta gópphần thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất ở nông thôn và đóng vai trò tích cựctrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Trang 32+ Hiệu quả thủy lợi còn phải tính đến tác dụng góp phần xây dựng và ổnđịnh nông thôn mới XHCN.
+ Theo kết quả nghiên cứu của Viện quy hoạch nông nghiệp thì đất ở đồngbằng sông Hồng đã cải tạo tốt hơn, diện tích đất mặn và chua đã giảm so với năm
1960 nhờ công trình tưới tiêu cải tạo đất
+ Ở đồng bằng sông Cửu long công trình thủy lợi đã góp phần ngăn mặn,thau chua, xổ phèn mở rộng diện tích ngọt hóa phát triển sản xuất nông nghiệp.+ Kết quả thủy lợi đã làm giá trị đất sản xuất nông nghiệp góp phần khôngnhỏ trong việc bố trí lại dân cư trong vùng và cả trong nước Bộ mặt nông thôn ởĐBSCL có thay đổi lớn, giao thông thủy, bộ mở rộng cảnh quan môi trường đượccải thiện góp phần thúc đẩy chương trình nước sinh hoạt nông thôn
* Các hiệu quả có thể định lượng được.
- Đối với nông nghiệp: Yếu tố thủy lợi khôn chỉ tác dụng trực tiếp làm tăngnăng suất cây trồng mà còn làm tăng lợi ích của phân bón và tất cả các biện phápkhác Vì vậy không mang tính hiệu quả của nước đơn thuần, mà là biện pháp tổnghợp bằng sự điều tiết, chế ngự, cung cấp và tiờu thoỏt nước cho phù hợp với yêucầu sinh trưởng của từng loại cây
- Theo nhiều tài liệu nghiên cứu thì yếu tố thủy lợi tác động làm tăng năngsuất lúa từ 16 - 35 %
- Chỉ số quay vòng ruộng đất sau khi có công trình thủy lợi đã tăng từ 1,3 lên
2 - 2,2 lần ặc biệt có nơi tăng 2,4 - 2,7 lần góp phần tăng sản lượng lương thực 16triệu tấn năm 1986 lên 40 triệu tấn năm 2010, tạo điều kiện giải quyết công ăn việclàm cho hàng triệu người, tạo ra một thị trường tiêu thụ hết sức lớn thúc đẩy cácngành kinh tế phát triển
- Thủy lợi góp phần giải phóng sức lao động đối với nông dân trong sản xuấtnhư: giảm được công vận chuyển, công chăm sóc, công tát nước ( bình quân vụĐụng Xuõn hàng năm ở vùng bơm điện mỗi ha được tưới giảm được từ 50 - 100công tát nước
Trang 33- Thủy lợi là biện pháp làm tốt đất: Một số kết quả nghiên cứu cho thấy nhờ
có thủy lợi làm tăng độ xốp của đất từ 43 - 47%, trị số pH tăng 0,1 - 1 đơn vị nên
độ chua trong đất giảm.Trờn đất mặn, độ xốp tăng từ 31 - 45%, tổng số muối tangiảm 1,18%, yếu tố dinh dưỡng dễ tiêu tăng 0,6mg trong 100g đất
- Thủy lợi kết hợp phát điện bình quân 30 triệu KWh/năm, chiếm 20% tổngsản lượng điện
- Kết hợp giao thông thủy, bộ nhờ có hàng ngàn km kênh và bờ kênh
- Công trình hồ chứa có tác dụng chứa nước mùa mưa làm giảm lũ, cắt lũ cho
hạ du Tổng diện tích trữ nước trên 23 tỷ m3 chiếm hơn 70% tổng lượng nước phátsinh trên lãnh thổ, trong đó dùng 5,5 tỷ cho tưới, số còn lại dùng cho phát điện vàcắt lũ
- Xúa đúi giảm nghốo, có lương thực cho đồng bào vùng cao, tạo điều kiệnhạn chế nạn phá rừng đầu nguồn
- Nuụi trồng thủy sản: Có khoảng gần 300 hồ có thể nuôi cá được với gần200.000 ha mặt thoáng, hàng năm có khả năng cung cấp hàng ngàn tấn cá thịt
- Nước phục vụ sinh họat và công nghiệp: Các hệ thống thủy lợi đã cung cấpnguồn nước sinh hoạt cho phần lớn dân cư nông thôn nhất là trong mùa khô Với80% dân số sống ở nông thôn, hầu hết các hệ thống thủy lợi đều tạo nguồn nướcsinh hoạt trực tiếp cho dân hoặc nâng cao mực nước ngầm tại các giếng đào Ngay ởmiền núi, đồng bào sống khá phân tán, những nơi đảm bảo nguồn nước sinh hoạtvững chắc là những nơi có hệ thống thủy lợi đi qua Những công trình thủy lợi tạonguồn nước điển hình như: Dầu Tiếng, Sông Quao, Nam Thạch Hãn, Các côngtrình thuỷ lợi đã trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp nước cho phát triển công nghiệp ,tiểu công nghiệp , các làng nghề ở nông thôn , khu công nghiệp nhỏ tại các tỉnh BắcNinh, Thái Bình , Hà Nam, Nam Định , Vĩnh Phúc , Hà Nội , Hải Phòng
* Hiệu quả không định lượng
- Góp phần cải tạo môi trường, môi sinh nhất là những vùng ngập úng, chuaphèn quanh năm, giảm các loại bệnh tật bằng cách tăng độ ẩm, điều hòa dòng chảy,cải tạo đất chua, phèn mặn, cải tạo môi trường, phòng chống cháy rừng,
Trang 34- Thủy lợi kết hợp với phát triển du lịch nhỏ tạo ra được các khu nghỉ mát hấpdẫn du khách trong nước và quốc tế như: Đại Lải, Đồng Mô, Hồ Xuân Hương,
- Phát triển xây dựng nông thôn: Thủy lợi là biện pháp hết sức hiệu quả đảmbảo an toàn lương thực tại chỗ, ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo nhất là cỏc vựngsõu, vựng xa, biên giới
Mặc dù hiệu quả to lớn mà các hệ thống tưới mang lại là không thể phủ nhậnnhưng theo nhiều tài liệu nghiên cứu các hệ thống tưới nước ta vẫn chưa phát huyhết được năng lực thiết kế, hiệu quả tưới mới chỉ khai thác được 60 - 65% Cá biệt
có công trình mới khai thác được trên 30% năng lực Bộ Nông nghiệp & PTNT cóchủ trương trong những năm tới chỉ đạo các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nâng cao hiệuquả công trình thêm 20% bằng các biện pháp công trình cùng với củng cố tổ chứcquản lý từ các công ty QLKTCTTL đến cơ sở
2.2 NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG BẮC HƯNG HẢI 2.2.1 Giới thiệu về hệ thống
Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn như Hình 2.1 :
- Sông Đuống ở phía Bắc với độ dài phần chảy qua hệ thống là 67km;
Trang 35Hình 2.1: Bản đồ phõn vùng thuỷ lợi HTTL Bắc Hưng Hải
Trang 36- Sông Luộc ở phía Nam với độ dài phần chảy qua hệ thống là 72km;
- Sông Thái Bình ở phía Đông với độ dài phần chảy qua hệ thống là 73km;
- Sông Hồng ở phía Tây với độ dài phần chảy qua hệ thống là 57km
Diện tích phần trong đê là 185.600 ha; diện tích đất canh tác toàn hệ thốngkhoảng 150.200 ha bao gồm đất đai của toàn bộ tỉnh Hưng Yên (10 huyện), 7 huyện thịcủa Hải Dương, 3 huyện của tỉnh Bắc Ninh và 2 quận, huyện của thành phố Hà Nội
2.2.1 2 Đặc điểm địa hình khu vực:
Địa hình có xu hướng dốc dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam hình thành 3vực chính:
Vùng ven sông Hồng , sông Đuống cao độ phổ biến (+4,0), chỗ cao nhất +8
+9 Thành phần gồm: đất pha cát, đất thịt nhẹ, ít chua, đất thấm nước cao, mựcnước ngầm nằm sõu.Vựng trung tâm với cao độ +2,0m đến +2,5m; Vùng ven sôngLuộc, Sông Thái Bình, cao độ phổ biến + 1,0 đến + 1,5 Nơi thấp nhất +0,5, đấtchua, nước ngầm nằm cao
2.2.1 3 Đặc điểm khí tượng
+ Đặc điểm về khí hậu:
+ Mưa: Lưu vực Bắc Hưng Hải nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, tuy
không giáp với biển nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của khí hậu miền duyên hải, hàngnăm chia hai mùa rừ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, thời tiết nóng ẩm mưanhiều Mùa đông lạnh, ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3
Chế độ mưa không những biến động về thời gian bắt đầu và kết thúc mùamưa, mà cũng rất mạnh mẽ về lượng mưa Năm mưa nhiều lượng mưa lớn gấp 3lần năm mưa ớt.Lượng mưa một ngày lớn nhất đó đo được tại một số vị trí trongvùng như sau: Gia Lâm 404 mm, Thuận Thành 204.2, Văn Giang 248, Thanh Miện
330, Tứ Kỳ 410, Hải Dương 288, Ân Thi 318, Hưng Yên 377,9 mm, Bần 281,1
mm Trong cỏc thỏng mùa mưa, nhất là tháng 7 và 8 thường có những đợt mưa kéodài 3, 5, 7, 10 ngày hoặc hơn nữa, sinh ra lũ lớn và úng lụt nghiêm trọng như cácnăm 1963, 1968, 1971, 1973, 1979, 1996
Trang 37- Nhiệt độ: Lượng bức xạ ở trong vùng dồi dào, nhiệt độ cao, nhiệt động
trung bình năm 23,3 0C và khá đồng nhất trên địa bàn toàn vùng, phù hợp với yêucầu phát triển nông nghiệp quanh năm, tuy nhiên do sự chi phối mạnh mẽ của hoànlưu cực đới nên hàng năm nhiệt độ tại Trong vùng phõn hoỏ thành hai mùa có tínhchất khác hẳn nhau: Mùa hè nóng, nhiệt độ trung bình ổn định trên 25 0C, mùa đôngrét lạnh, nhiệt độ trung bình dưới 20 0C
- Độ ẩm: Khí hậu ở đây khá ẩm ướt, độ ẩm tương đối trung bình năm vượt
quá 80% Ban ngày độ ẩm thấp, đêm cao, giá trị lớn nhất tại thời điểm 4 6 giờsáng, nhỏ nhất tại thời điểm 12 15 giờ
- Bốc hơi:Lượng bốc hơi Piche trung bình nhiều năm đạt 992 mm tại Hải
Dương, 884 mm tại Hưng Yên, 1.000 mm tại Hà Nội Tháng 7 có lượng bốc hơi thángtrung bỡnh lớn nhất đạt 110 mm tại Hải Dương, 96,0 mm tại Hưng Yên, 121 mm tại
Hà Nội Tháng 3 có khí hậu ẩm ướt mưa phùn, lượng bốc hơi tháng trung bỡnh đạt nhỏnhất 53,0 mm tại Hải Dương, 50 mm tại Hưng Yên, 56,2 mm tại Hà Nội
- Nắng: Số giờ nắng trung bỡnh năm đạt 1.623 giờ tại Hải Dương, 1.473 giờ
tại Hưng Yên, 1.589 giờ tại Hà Nội Tháng 2, 3 có số giờ nắng trung bỡnh thángnhỏ nhất trong năm, tháng 2, 3 đạt từ 42 đến 48 giờ Tháng 7 có số giờ nắng bỡnhtháng cao nhất đạt 198 giờ tại Hải Dương, 177 giờ tại Hưng Yên, 193 giờ tại HàNội
- Gió: Hướng gió trong một năm biến đổi và thể hiện theo mùa của hoàn lưu.
Cỏc thỏng giữa mùa đông, giú cú thành phần Bắc (Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc) chiếmtần suất từ 40 65%, trong đó hướng Bắc xuất hiện nhiều hơn cả Tốc độ gió thayđổi phụ thuộc nhiều vào độ cao và khoảng cách đối với biển Hàng năm tốc độ giómạnh trung bình đạt từ 30 - 35m/s tập trung trong mựa bão (tháng 7, 8, 9)
2.2.1 4 Mạng lưới sông ngòi
Hệ thống Bắc Hưng Hải được bao bọc bởi 4 con sông lớn là: Sông Đuống ởphía Bắc, Sông Luộc ở phía Nam, Sụng Thỏi Bình ở phớa Đông và Sông Hồng ởphía Tây
Trang 38Cỏc sông nội đồng: Kim Sơn, Cửu An, Điện Biờn, Tõy Kẻ Sặt là các trụctưới tiêu rất quan trọng trong hệ thống tưới tiêu của hệ thống.
- Sông Kim Sơn: hay còn gọi là sông Chính Bắc, từ cống Xuõn Quan đến
Âu thuyền Cầu Cất (dài 62,3km) là trục dẫn nước tưới chính cho hệ thống và cùngvới sông Đĩnh Đào là trục tiờu Chớnh phía Bắc cho hệ thống Bắc Hưng Hải
- Sông Điện Biờn (dài 15,7km): là đoạn sông từ cống Lực Điền đến cửa thị
xã Hưng Yên, dài 25 km là sông dẫn nước chủ yếu cho tiểu khu Tây Nam Cửu Anlấy nước của sông Kim Sơn qua cống Lực Điền
- Sụng Tây Kẻ Sặt (dài 12,7km): Là con sông khá rộng và sâu nối sông Kim
Sơn với sông Cửu An Là con sông dẫn nước tưới quan trọng, lấy nước từ sông KimSơn qua cống Tranh tưới cho tiểu Khu Bình Giang- Bắc Thanh Miện, Đông NamCửu An và một phần tiểu khu Tây Nam Cửu An
- Sông Đình Đào (dài 44,7km): đoạn sông từ Bá Thuỷ đến Ngọc Lâm dài
33km Là con sông nối sông Kim Sơn với Cửu An, vai trũ của sụng này cũng nhưsông Điện Biên và Tây Kẻ Sặt, là trục tiờu chớnh phía Bắc, tiêu nước từ sông KimSơn và sông Tràng Kỷ đổ vào dẫn xuống ngó ba Cự Lộc rồi đổ ra Cầu Xe, An Thổ
- Sông An thổ (dài 4,6km) là sông nhánh của sông Cửu An - Cầu Xe, nối
với sông Luộc, trên sông An Thổ có cống An Thổ với mục đích chính là tiêu nướcthừa từ hệ thống Bắc hưng hải ra sông Luộc
- Sông Cửu An (dài 60,6km): Là sụng chớnh Nam của hệ thống từ Sài Thị
đến Cự Lộc, là trục tiờu chớnh Nam hiện nay
- Sông Tràng Kỷ (dài 12,7km): Là sông tưới tiêu kết hợp, có nhiệm vụ dẫn
nước tưới cho phần phía Đông của tiểu khu Gia Thuận, một phần tiểu khu Bắc KimSơn và phần phía bắc của tiểu khu Cẩm Giàng
2.2.1.5 Điều kiện dân sinh kinh tế:
Vùng nghiên cứu nằm trong địa phận 4 tỉnh là Hưng Yên, Hải Dương, BắcNinh và Hà Nội Riêng tỉnh Hưng Yên nằm trọn trong hệ thống còn lại các tỉnhkhác chỉ có một số huyện cụ thể như sau:
Mật độ dân số bình quân toàn vùng từ 1000 người /km2 đến 1200 người
Trang 39/km2, trong đó thành thị 2980 – 3800 người/km2, nông thôn là 1242 người/km2.Tỷ
lệ nam nữ trong vùng gần như tương đương nhau khoảng 50% Dân số ở thành thị
là 501.621 người, nông thôn là 2.207.743 người chiếm 82% dân số toàn vùng
Tốc độ tăng dân số: Những năm gần đây, hưởng ứng phong trào kế hoạchhoá gia đình của Đảng và nhà nước nên tỷ lệ sinh con thư 3 đã giảm đáng kể Theothống kê thì tỷ lệ sinh trung bình toàn vùng là 1,4% - 1,7% đạt mức độ chophộp.Năm 2004 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là từ 0,9 – 1,3 đã giảm đáng kể so vớinhững năm trước đây
Từ năm 2000 trở lại đây cơ cấu lao động của vùng Bắc Hưng Hải đã cónhiều thay đổi do chuyển đổi cơ cấu kinh tế Nhiều khu công nghiệp đã và đangđược xây dựng dọc theo các trục đường 5 Hà Nội - Hải Dương, dọc đường 39 điHưng Yên, một số khu đô thị, thị trấn, thị tứ được mở rộng và nâng cấp đã thu hútmột số lượng lớn lao động nông thôn thoát ly khỏi đồng ruộng Tuy có những biếnđộng đó nhưng nhìn chung vùng nghiên cứu vẫn là vùng thuần nông, dân chủ yếusống bằng nghề nông nên tỷ lệ giữa nông thôn và thành thị vẫn chênh nhau rất cao
Lứa tuổi trong độ tuổi lao động chiếm 53%, đây là lực lượng chủ yếu làmcho kinh tế vựng phỏt triển.Lực lượng tham gia trong các ngành Nông – Lâmnghiệp là 77%, Công nghiệp là 9,5 – 9,7%, Thương nghiệp là 3,6% còn lại là cácngành nghề khỏc.Người dõn trong vùng cú nhiờu kinh nghiệm và trình độ thâmcanh sản xuất, có khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật, có truyềnthống cần cù và năng động trong sản xuất-kinh doanh, hoà nhập tích cực vào cơ chếthị trường
2.2.2 Hiện trạng hệ thống công trình
2.2.2.1 Các công trình chính:
Các công trình chính trong hệ thống phần lớn được xây dựng vào các nămkháng chiến chống mỹ, điều kiện kỹ thuật cũng như các công nghệ vật liệu chưaphát triển Hơn thế nữa trong quá trình quản lý khai thác không có nhiều kinh phí
để cải tạo nâng cấp thường xuyên chống xuống cấp, chỉ tu sửa ở mức đảm bảo yêu
Trang 40cầu tối thiểu duy trì hoạt động bình thường Do vậy hầu hết các công trình trong hệthống đã xuống cấp Cụ thể:
* Cụm đầu mối Xuân Quan - Báo Đáp:
+ Cống Báo Đáp:
Được xây dựng năm 1959, cách cống Xuân Quan 3km Nhiệm vụ để làmdâng mực nước sau hạ lưu Xuân Quan để đảm bảo an toàn cho cống Xuân Quan vềmùa lũ Cống gồm 6 cửa lấy nước, kích thước bxh=5x4m và 1 cửa thông thuyền.Khẩu độ thông thuỷ cống 35m, thân cống dài 9 m, đáy cống (- 0,5 m), mặt cầu (+7,25 m) Đã xuống cấp, hiện đang thực hiện xây dựng cống Báo Đáp mới
+ Cống Cầu Xe
Cống Cầu Xe xây dựng năm (1966-1969) làm nhiệm vụ ngăn triều tiờu ỳngcho hệ thống Bắc Hưng Hải với diện tích tiêu thiết kế 151600 ha kết hợp giao thốngthủy Cống dài 12,5 m, rộng 56 m gồm 6 cửa tiêu và một cửa âu thuyền chiều rộngmỗi cửa là 8m, âu thuyền có kích thước 8 x 5,8m
Cống Cầu Xe được xây dựng trên nền đất yếu của vùng ảnh hưởng của thủytriều Cống bị xói nghiêm trọng cả thượng lưu và hạ lưu Vật tư xây dựng cốngnhiều chủng loại Việc bơm cạn để kiểm tra rất khó khăn Đánh giá ổn định chưachắc chắn Với hiện trạng như vậy không lường được hiểm họa có thể xẩy ra
+ Cống An Thổ
Cống xây dựng và hoàn thành năm 1977 Nhiệm vụ của cống: cùng với cốngCâu Xe ngăn triều tiờu ỳng cho 151.600 ha của Băc Hưng hải, kết hợp giao thông thủy