Vì vậy việc xác định rõ những ảnh hưởng xấu đó đểtìm ra các biện pháp khắc phục là vô cùng bức thiết hiện nay.Xuất phát từ những yêu cầu trên của địa phương và nguyện vọng của bảnthân cù
Trang 1Âu và Bắc Mỹ Cho đến ngày nay, thế giới không ngừng đẩy mạnh các hoạtđộng bảo vệ môi trường Hàng loạt các biện pháp được đề xuất thực hiện và
đã đạt được không ít thành tựu trong lĩnh vực này Song chúng ta vẫn đứngtrước những thách thức gay gắt về môi trường trên quy mô toàn cầu Chớnh vìthế, các nước trên thế giới có liên quan chặt chẽ với nhau và quan hệ mật thiếtvới các vấn đề môi trường toàn cầu của từng nước Việt Nam cũng khôngnằm ngoài quy luật đó Cùng với quá trình xây dựng phát triển lớn mạnh củađất nước thì ngành năng lượng ngày càng được chú ý quan tâm hơn, đặc biệt
là ngành than – vàng đen của Tổ quốc Hoạt động khai thác than đã và đangtrực tiếp, gián tiếp tạo công ăn việc làm, mang lại thu nhập ổn định, phục vụđời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương đồng thời đóng góp một lượnglớn cho ngân sách quốc gia Tuy nhiên hoạt động khai thác than cũng lànguyên nhân chính làm cho các vấn đề môi trường nói chung và môi trườngnước nói riêng ngày càng trở nên bức xúc ở các địa phương
Tại thị trấn Giang Tiên, Mỏ than Phấn Mễ là một trong những đơn vị sảnxuất kinh doanh hiệu quả đóng góp rất lớn vào nguồn ngân sách chung của thịtrấn Ngoài ra nhờ hoạt động của Mỏ đã đem lại công ăn việc làm cho hàngtrăm lao động của thị trấn, đảm bảo đời sống của nhõn dân Song chúng tacũng không thể phủ nhận những tác động tiêu cực do hoạt động khai thác thancủa mỏ than Phấn Mễ đem lại cho môi trường nói chung và môi trường nước
Trang 2của địa phương nói riêng Vì vậy việc xác định rõ những ảnh hưởng xấu đó đểtìm ra các biện pháp khắc phục là vô cùng bức thiết hiện nay.
Xuất phát từ những yêu cầu trên của địa phương và nguyện vọng của bảnthân cùng với sự nhất trí của khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học
Nông Lâm, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác than của mỏ than Phấn Mễ đến môi trường nước thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn” dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ
Dương Thị Thanh Hà
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng môi trường nước nhằm xác định ảnh hưởng dohoạt động khai thác than của mỏ than Phấn Mễ tới môi trường nước tại thịtrấn Giang Tiờn- Phỳ Lương- Thỏi Nguyờn
- Giúp cho chính quyền địa phương cũng như các nhà quản lí môi trườngthấy được thực trạng công tác quản lí môi trường ở địa phương
- Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng xấucủa khai thác than tới môi trường nước tại địa phương
1.3 Ý nghĩa của đề tài.
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học.
- Tạo cho sinh viên có cơ hội vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, rèn luyệnkhả năng tổng hợp phân tích số liệu
- Là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệmsau khi ra trường
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn.
Những kết quả của đề tài là cơ sở giúp cho:
- Phòng TN & MT huyện Phú Lương, cán bộ môi trường thị trấn GiangTiên thực hiện công tác quản lí và BVMT hiệu quả hơn
Trang 3- Ban lãnh đạo Mỏ than Phấn Mễ thấy được hiện trạng môi trường nước
để từ đó có những cải tiến về công nghệ, trang thiết bị … trong khai thác và
xử lí môi trường nước, đẩy mạnh công tác BVMT được tốt hơn
1.4 Yêu cầu của đề tài.
- Chấp hành đúng chính sách môi trường của nhà nước, quy trình, quyphạm, quy định của ngành tài nguyên môi trường
- Các số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan
- Kết quả đánh giá ảnh hưởng của hoạt động khai thác than của mỏ thanPhấn Mễ đến môi trường nước thị trấn Giang Tiên phải chính xác
- Các kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi
Trang 4Phần 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nước
2.1.1.1 Các khái niệm môi trường
- Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo cóquan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Đây là khái niệmtổng quát về môi trường
- Môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnhhưởng tới một vật thể hoặc sự kiện
- Môi trường sống là tổng thể các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới
sự sống và sự phát triển của cơ thể sống
-Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoáhọc, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sựphát triển của từng cá nhân và toàn bộ cộng đồng người
- Theo Luật Môi trường Việt Nam sửa đổi năm 2005: “ Môi trường baogồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có liên quan mật thiết với nhaubao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, pháttriển của con người và sinh vật
* Một số khái niệm liên quan đến môi trường
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng củathành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
- Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạtđộng của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suythoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
Trang 5- Khủng hoảng môi trường: là các suy thoái chất lượng MT sống ở quy
mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống loài người trên Trái Đất như sa mạc hoá,nguồn nước và biển bị ô nhiễm nghiêm trọng thủng tầng ụzụn
- Tai biến môi trường: là quá trình gây hại vận hành trong hệ thống MT,phản ánh tính nhiễu loạn và tính bất ổn của hệ thống Có 3 giai đoạn:
Nguy cơ ( hiểm hoạ ): Đã tồn tại các yếu tố gây hại nhưng chưa gây mất
ổn định cho hệ thống
Giai đoạn phát triển: tập trung và gia tăng các yếu tố tai biến, xuấthiện trạng thái mất ổn định nhưng chưa vượt qua ngưỡng an toàn của hệthống MT
Giai đoạn sự cố: trạng thái mất ổn định đã vượt qua ngưỡng an toàn của
hệ thống, gây ra các thiệt hại không mong đợi cho con người (sức khoẻ,tớnhmạng, sản nghiệp) ==> thiên tai hoặc sự cố MT
- An ninh môi trường: là trạng thái mà một hệ thống MT có khả năngđảm bảo điều kiện sống an toàn cho con người và sinh vật cư trú trong hệthống đó
- Tị nạn môi trường: con người và sinh vật buộc phải rời khỏi nơi cư trútruyền thống của mình tạm thời hay vĩnh viễn do sự huỷ hoại môi trường gâynguy hiểm cho cuộc sống của họ.Trờn thế giới cứ khoảng 225 người lại cómột người phải tị nạn môi trường (TS Lê Văn Thiện, 2007) [10]
2.1.1.2 Ô nhiễm môi trường
- ễ nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trườngkhông phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người,sinh vật
- Nguyờn nhõn gây ô nhiễm chủ yếu do hoạt động của các hoạt động củacon người gây ra như sản xuất công nghiệp, sinh hoạt, giao thông vận tải…Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên: núi lửa phun nhamthạch gây nhiều bụi bặm, thiên tai… tạo điều kiện cho nhiều loại vi sinh vậtgây bệnh phát triển
Trang 62.1.1.3 Ô nhiễm nước.
a Khái niệm: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tínhchất vật lớ, hoỏ học, sinh học của nước, với sự xuất hiện của các chất lạ ở thểrắn, lỏng làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật Làmgiảm độ đa dạng sinh vật trong nước
b Các nguồn gây ô nhiễm nước
* Nguồn gốc tự nhiên: Sự ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là do sựnhiễm mặn, nhiễm phèn, gió bão, lũ lụt Nước mưa rơi xuống mặt đất, máinhà, đường phố, đô thị, khu công nghiệp kéo theo các chất bẩn xuống sông,
hồ hoặc các sản phẩm của hoạt động sống của sinh vật, vi sinh vật kể cảxác chết của chúng Sự ô nhiễm này còn gọi là sự ô nhiễm không xác địnhđược nguồn
* Nguồn gốc nhân tạo: Sự ô nhiễm nhân tạo chủ yếu là do xả nước thải
từ cỏc vựng dân cư, khu công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc trừsâu, thuốc diệt cỏ, các phương tiện giao thông vận tải, đặc biệt là giao thôngvận tải đường biển
- Nước thải sinh hoạt: là nước thải phát sinh từ các hộ gia đình, bệnhviện, khách sạn, cơ quan trường học chứa các chất thải trong quá trình vệsinh, sinh hoạt của con người
Thành phần cơ bản của nước thải sinh hoạt là các chất hữu cơ dễ bịphân huỷ sinh học (cacbonhydrat, protein, dầu mỡ), chất dinh dưỡng(photpho, nitơ ), chất rắn và vi trùng
Tuỳ theo mức sống và lối sống mà lượng thải cũng như tải lượng cácchất có trong nước thải của mỗi người là khác nhau Nhìn chung mức sốngcàng cao thì lượng nước thải và tải lượng thải càng cao
Tải lượng trung bình các tác nhân gây ô nhiễm nước chính do mộtngười đưa vào môi trường trong một ngày được nêu trong bảng sau:
Trang 7Bảng 2.1 Tải lượng tác nhân ô nhiễm do con người đưa vào hàng ngày
Thông thường ở các đô thị có hệ thống cống thải, khoảng 70 – 90%tổng lượng nước sử dụng của đô thị sẽ trở thành nước thải đô thị và chảy vàođường cống
Nhìn chung nước thải đô thị có thành phần tương tự như nướcthải sinh hoạt
- Nước thải công nghiệp: là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải
Khác với nước thải sinh hoạt hay đô thị, nước thải công nghiệp không
có thành phần cơ bản giống nhau, mà phụ thuộc vào ngành sản xuất côngnghiệp cụ thể Ví như nước thải của các xí nghiệp chế biến thực phẩm thườngchứa lượng lớn các chất hữu cơ, nước thải của các xí nghiệp thuộc da ngoàicác chất hữu cơ cũn cú cỏc kim loại nặng…
- Nước chảy tràn: là nước chảy tràn từ mặt đất do mưa hoặc do thoátnước từ đồng ruộng là nguồn gây ô nhiễm nước sông, hồ Nước chảy tràn quađồng ruộng đồng có thể cuốn theo các chất rắn, hoá chất bảo vệ thực vật, phân
Trang 8bón Nước chảy tràn qua khu vực dân cư, đường phố, cơ sở sản xuất côngnghiệp, có thể làm ô nhiễm nguồn nước do chất rắn, dầu mỡ, hoá chất, vitrùng (Dư Ngọc Thành, 2008) [9].
c Tác nhân và thông số ô nhiễm nguồn nước
* Tác nhân và thông số ô nhiễm hoỏ lớ nguồn nước
- Màu sắc: Nước tự nhiờn sạch thường trong suốt và không màu, chophép ánh sáng mặt trời chiếu xuống tầng nước sâu Khi nước chứa nhiều chấtrắn lơ lửng, các loại tảo, chất hữu cơ…nú trở nên kém thấu quang với ánhsáng mặt trời.Các sinh vật sống ở đáy thường bị thiếu ánh sáng Các chất rắntrong môi trường nước làm cho sinh vật hoạt động trở nên khó khăn hơn, một
số trường hợp có thể gây tử vong cho sinh vật Chất lượng nước suy giảm làmảnh hưởng xấu tới hoạt động bình thường của con người
- Mựi và vị: nước tự nhiên sạch không có mùi hoặc có mùi vị dễ chịu.Khi trong nước có sản phẩm phân huỷ chất hữu cơ, chất thải công nghiệp, cáckim loại thì mùi vị trở nên khó chịu
- Độ đục: nước tự nhiên sạch thường không chứa các chất rắn lơ lửngnên trong suốt và không màu Do chứa các hạt sét và mùn, vi sinh vật, hạt bụi,cỏc hoỏ chất kết tủa thì nước trở nên đục Nước đục ngăn cản quá trình chiếusáng của Mặt trời Các chất rắn ngăn cản hoạt động bình thường của người vàsinh vật khác
- Nhiệt độ: Nhiệt độ nước tự nhiên phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết củalưu vực hoặc môi trường khu vực Nước thải công nghiệp, đặc biệt là nướcthải của các nhà nhiệt điện, nhà máy điện hạt nhân thường có nhiệt độ caohơn nước tự nhiờn trong khu vực Chất thải làm tăng nhiệt độ môi trườngnước làm cho quá trình sinh, lớ, hoỏ của môi trường nước thay đổi, dẫn tớimột số loài sinh vật sẽ không chịu đựng được sẽ chết đi hoặc chuyển đi nơikhác, một số còn lại phát triển mạnh mẽ Sự thay đổi nhiệt độ nước thôngthường không có lợi cho sự cân bằng tự nhiên của hệ sinh thái nước
Trang 9- Chất rắn lơ lửng: Chất rắn lơ lửng là các hạt chất rắn vô cơ hoặc hữu
cơ, kích thước bé, rất khó lắng trong nước như khoỏng sột, bụi than, mựn…
Sự có mặt của chất rắn lơ lửng trong nước gây nên độ đục, màu sắc và cáctính chất khác
- Độ cứng: Gây ra độ cứng của nước là do trong nước có chứa các muối
Ca và Mg với hàm lượng lớn
- Độ dẫn điện: độ dẫn điện của nước có liên quan đến sự có mặt của iontrong nước Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO42-…nước có tính độc hại cao thường liên quan đến các ion hoà tan trong nước
- Độ pH có ảnh hưởng tới điều kiện sống bình thường của các sinh vậtnước Sự thay đổi pH trong nước thường liên quan đến sự hiện diện các hoáchất axit hoặc kiềm, sự phân huỷ hữu cơ, sự hoà tan một số anion SO42-, NO3
- Nồng độ oxy tự do trong nước: nồng độ oxy tự do trong nước nằmtrong khoảng từ 8 – 10 ppm, dao động mạnh phụ thuộc nhiệt độ, sự phân huỷhoá chất, sự quang hợp của tảo…Khi nồng độ oxy tự do trong nước thấp sẽlàm giảm hoạt động của các sinh vật trong nước nhiều khi dẫn đến chết
- Nhu cầu oxy hoá (BOD): là lượng oxy mà vi sinh vật cần dùng để oxyhoỏ cỏc chất hữu cơ có trong nước
- Nhu cầu oxy hoỏ hoỏ học (COD): là lượng oxy cần thiết cho quá trìnhoxy hoỏ các hợp chất hoá học bao gồm cả chất hữu cơ và vô cơ
* Tỏc nhõn hoá học
- Kim loại nặng: như Hg, Cd, As,Zn… khi có nồng độ lớn đều làm nước
bị ô nhiễm Kim loại nặng không tham gia hoặc ít tham gia vào quá trình sinhhoá và thường tích luỹ lại trong cơ thể của sinh vật Vì vậy chúng rất độc hạiđối với sinh vật
- Các nhúm anion NO3-, PO43-, SO42-, các nguyên tố N, S, P ở nồng độ thấp
là các chất dinh dưỡng với tảo và các sinh vật dưới nước Ngược lại khi ở nồng độcao sẽ gây ra sự phú dưỡng hoặc biến đổi sinh hoá trong cơ thể người và vật
Trang 10- Thuốc bảo vệ thực vật: là những chất độc có nguồn gốc tự nhiên hoặctổng hợp hoá học, được dùng để phòng trừ sâu bệnh trong nông nghiệp Tuynhiên trong sản xuất chỉ có một phần thuốc tác dụng trực tiếp lên côn trùng vàsâu hại còn lại chủ yếu rơi vào nước, đất và tích luỹ trong môi trường hay cácsản phẩm nông nghiệp.
- Cỏc hoá chất hoà tan khác như cỏc nhúm xyanua, phenol, các hợp chấttẩy rửa… gây độc rất lớn cho nước
* Tác nhân sinh học
Sinh vật trong môi trường nước có nhiều dạng khác nhau Bên cạnhnhững sinh vật có ích còn có nhiều nhóm sinh vật gây hoặc truyền bệnh chongười và sinh vật khác Trong số này đáng chú ý là các loại vi khuẩn, siêu vikhuẩn và kí sinh trùng gây bệnh như các loại bệnh thương hàn, tả, lị, siờu vikhuẩn viêm gan B…
Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phõn,rỏc, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật….( Nguyễn Thị Lợi, 2006) [4]
2.1.2 Nguồn nước thải và đặc điểm nước thải công nghiệp
2.1.2.1 Nguồn nước thải.
a Khái niệm: Nguồn nước thải là nguồn phát sinh ra nước thải và lànguồn gây ô nhiễm môi trường nước chủ yếu
b Phân loại: Có nhiều cách phân loại nguồn nước thải
* Phân loại theo nguồn thải: có 2 loại là nguồn gây ô nhiễm xác định vàkhông xác định
- Nguồn xác định (hay nguồn điểm): là nguồn gây ô nhiễm có thể xácđịnh được vị trí, bản chất, lưu lượng xả thải và các tác nhân gây ô nhiễm (ví
dụ như mương xả thải)
- Nguồn không xác định là nguồn gây ô nhiễm không có điểm cố định,không xác định được vị trí, bản chất, lưu lượng và tác nhân gây ô nhiễm.Nguồn này rất khó để quản lí (ví dụ như nước mưa chảy tràn qua ruộng đồng
đổ vào ao hồ kênh rạch)
Trang 11* Phân loại theo tác nhân gây ô nhiễm thì gồm có tác nhân lớ hoỏ, tácnhân hoá học, tác nhân sinh học.
* Phân loại theo nguồn gốc phát sinh thì gồm có 4 nguồn nước thải lànguồn nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước thải nông nghiệp vànguồn nước thải tự nhiên ( Lê Văn Thiện, 2007)[10]
2.1.2.2 Đặc điểm nguồn nước thải công nghiệp.
Hiện nay người ta quan tâm nhiều tới ba nguồn thải chính là nguồn nướcthải bệnh viện, nguồn nước thải công nghiệp và nguồn thải sinh hoạt Đặcbiệt nguồn nước thải công nghiệp là một thách thức lớn cho hệ thống sông
hồ của nhiều nước trên thế giới và nhất là ở Việt Nam do những đặc tínhđộc hại của nó
Đặc điểm nguồn nước thải công nghiệp chứa nhiều hoá chất độc hại(kim loại nặng như Hg, As, Pb, Cd…); các chất hữu cơ khú phõn huỷ sinhhọc (phenol, dầu mỡ…) các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học từ cơ sở sảnxuất thực phẩm Tuy nhiên nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung
mà thành phần tính chất tuỳ thuộc vào quá trình sản xuất cũng như quy mô xử
lí nước thải Nước thải của các cơ sở chế biến lương thực thực phẩm có chứanhiều chất phân huỷ sinh học; trong khi nước thải ngành công nghiệp thuộc
da lại chứa nhiều kim loại nặng, sunfua, nước thải ngành sản xuất acquy lạichứa nồng độ axit và chì cao
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.
2.2.1 Tình hình khai thác than trên thế giới.
Cho tới nay than đá là nguồn năng lượng chủ yếu của loài người vớitổng trữ lượng trên 700 tỷ tấn, có khả năng đáp ứng nhu cầu con ngườikhoảng 180 năm Đặc biệt trong năm 2002, cùng với sự phục hồi của nềnkinh tế, người ta cũng nhận thấy những dấu hiệu tăng trưởng trở lại của ngànhsản xuất muội than trên thế giới mặc dù doanh số của sản phẩm này luôn đạt
ở mức cao trong năm 2000 đã giảm xuống mức thấp nhất trong năm 2001 Sựphát triển trong tương lai của loại vật liệu này phụ thuộc rất nhiều vào ngànhsản xuất các sản phẩm cao su vì ngành này tiêu thụ nhiều muội than nhất
Trang 12Theo số liệu của SRL (Viện Nghiên cứu Stanford), năm 2001 công suấtmuội than thế giới vào khoảng 8,5 triệu tấn, trong khi đó năm 2000, thịtrường Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản chỉ tiêu thụ có 3,8 triệu tấn muội than.Khoảng 70% sản lượng muội than của thế giới được sử dụng làm chất giacường trong lốp ô tô và các loại xe cộ khác, 20% dùng cho sản xuất các sảnphẩm khác như ống cao su, dây curoa, các sản phẩm cơ khí và đúc, giầy dép.10% còn lại được sử dụng làm bột màu trong mực in, sơn và chất dẻo TheoSRL, tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành sản xuất muội than vào khoảng
1 - 2%/năm, gần giống như sự tăng trưởng của ngành sản xuất các sản phẩmcao su
Muội than được sản xuất bằng quá trình oxy hóa một phần cáchyđrocacbon lỏng và khí ở nhiệt độ cao hơn 20000F Phụ thuộc vào kíchthước hạt, cầu trúc, độ tinh khiết và phương pháp sản xuất, muội than đượcphân thành các loại như: muội lò, muội đèn, muội xương và muội axetylenhay còn gọi là muội nhiệt Hơn 90% sản lượng muội than thế giới là muội lò,một vật liệu thương mại 10% còn lại cú cỏc ứng dụng đặc biệt hoặc có giácao hơn muội lò
Ba nhà sản xuất muội than lớn nhất thế giới là Degussa AG, Đức; CabotCorp., Boston (Mỹ) và Columbian Chemicals Co Ngoài ra cũng còn một số
cơ sở lớn khác như Engineered Carbon Co.; Taiwan - based China SynthericRubber; Tokai Carbon (Nhật Bản); và lndia’s Aitya Biria Group v.v
Nói chung, lợi nhuận mà các nhà sản xuất thu được từ muội than vẫntiếp tục còn bị nhiều sức ép Theo một nhà phân tích thị trường về muội thanthì có thể là trong một vài năm tới, một số nhà sản xuất nhỏ vẫn sẽ phải dừngsản xuất và doanh số của muội than sẽ tăng trung bình khoảng từ 1 đến 2%hàng năm
2.2.2 Tình hình khai thác than ở Việt Nam.
Nước ta ngành công nghiệp than đã ra đời và trải qua quá trình phát triểnhơn 120 năm Tổng cộng đã khai thác được 278 triệu tấn than sạch Trong
Trang 13thời Pháp thuộc, từ năm 1883 đến tháng 3/1955 đã khai thác trên 50 triệu tấnthan sạch, đào hàng trăm km đường lũ, búc và đổ thải hàng chục triệu m3 đất
đá Từ năm 1995 đến 2001 đã khai thác được gần 228 triệu tấn than sạch, đào1041km đường lũ; búc và đổ thải 795 triệu m3 đất đá trên diện tích bãi thảihàng trăm ha; sử dụng hàng triệu m3 gỗ chống lò, hàng trăm ngàn tấn thuốc
nổ và hàng triệu tấn nhiên liệu các loại; trong đó, riêng từ năm 1995 đến 2001(khi Tổng công ty Than Việt Nam được thành lập) đã khai thác 73,4 triệu tấnthan sạch (bằng 26,4% tổng sản lượng toàn ngành khai thác từ trước tới nay),đào 504,5km đường lũ; búc và đổ thải 237,2 triệu m3 đất đá (đạt 48,5% tổng
số đường lò và 29,8% tổng khối lượng đất đá của toàn ngành từ năm 1995đến 2001)
Than ở Việt Nam có 5 loại chính:
Than antraxit (than đá)
Trữ lượng than đá được đánh giá là 3,5 tỷ tấn trong đó ở vùng QuảngNinh trên 3,3 tỷ tấn (tính đến độ sâu - 300m); còn lại gần 200 triệu tấn là nằmrải rác ở các tỉnh: Thỏi nguyờn, Hải Dương, Bắc giang,
- Than antraxit Quảng Ninh: than ở Quảng Ninh được phân theo cỏcvựng và cấp trữ lượng :
- Cấp A+B: 466 triệu tấn, chiếm 14%
- Cấp C1: 1.813 triệu tấn, chiếm 54,5%
- Cấp C2: 1.046 triệu tấn, chiếm 31,5%
Trong đó, cấp A+B/A+B+C1 chỉ chiếm 20,4%, chưa đạt 50%, thể hiệnmức độ tin cậy chưa cao, nhiều khoáng sàng cần phải thăm dò bổ sung trướckhi đầu tư hoặc khai thác
Trang 14Bể than Quảng Ninh được phát hiện và khai thác rất sớm, đã bắt đầucách đây gần 100 năm dưới thời thuộc Pháp Hiện nay và có lẽ trong tươnglai, sản lượng than khai thác từ các mỏ ở bể than Quảng Ninh chiếm khoảng90% sản lượng than toàn quốc.Trong địa tầng chứa than của bể than QuảngNinh gồm rất nhiều vỉa than:
- Dải phía Bắc (Uụng Bớ-Bảo Đài) có từ 1 đến 15 vỉa, trong đó có 6-8vỉa có giá trị công nghiệp
- Dải phía Nam (Hòn Gai, Cẩm Phả) có từ 2 đến 45 vỉa, có giá trị côngnghiệp là 10-15 vỉa
Phân loại theo chiều dày, của bể than Quang Ninh:
- Vỉa rất mỏng <0,5m chiếm 3,57% tổng trữ lượng
- Vỉa mỏng: 0,5-1,3m, chiếm 27%
- Vỉa trung bình: 1,3-3,5m chiếm 51,78%
- Vỉa dày >3,5-15m chiếm 16,78%
- Vỉa rất dày >15m chiếm 1,07%
Tính chất đặc trưng của than Antraxit tại cỏc khoỏng sàng bể thanQuảng Ninh là kiến tạo rất phức tạp, tầng chứa than là những dải hẹp, đứtquãng dọc theo phương của vỉa, góc dốc của vỉa thay đổi từ dốc thoải đếndốc đứng (9o-51o) Các mỏ than có nhiều vỉa, với cấu tạo và chiều dày vỉathay đổi đột ngột
Đối với việc khai thác than ở bể Quảng Ninh trước đây, có thời kỳ sảnlượng lộ thiên đã chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đã thay đổi, hiện nay còn60%, trong tương lai sẽ còn xuống thấp hơn Vỡ cỏc mỏ lộ thiên lớn đã và sẽgiảm sản lượng, đến cuối giai đoạn 2015-2020 có mỏ không còn sản lượng;các mỏ mới lộ thiên lớn sẽ không có, nếu có là một số mỏ sản lượng dưới 0,5-
1 triệu tấn/năm Tỷ lệ sản lượng than hầm lò tăng, nói lên điều kiện khai tháckhó khăn tăng, chi phí đầu tư xây dựng và khai thác tăng, dẫn tới giá thànhsản xuất tăng cao Cho nên, tuy trữ lượng địa chất của bể than Quảng Ninh làtrên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là 1,2 tỷ tấn và trữ lượng công nghiệp
Trang 15đưa vào quy hoạch xây dựng giai đoạn từ nay đến 2010-2020 mới ở mức
500600 triệu tấn Mức độ khai thác xuống sâu là 150m Còn từ 150m đến 300m, cần phải tiến hành thăm dò địa chất, nếu kết quả thăm dò thuận lợi,thiết bị và công nghệ khai thác tiên tiến, việc đầu tư cho mức dưới -150m sẽđược xem xét vào sau năm 2020
-Do đó, đối với than Antraxit Quảng Ninh, để đảm bảo khai thác bềnvững, thì sản lượng khai thác tối đa hợp lý cũng chỉ nên là 15 triệu tấn/năm ởgiai đoạn 2010-2015
- Than antraxit ở cỏc vựng khỏc.
Có nhiều trữ lượng than đá antraxit khác nằm rải rác ở các tỉnh: HảiDương, Bắc Giang, Thỏi Nguyờn, Sơn La, Quảng Nam, với trữ lượng từ vàitrăm nghìn tấn đến vài chục triệu tấn ở các nơi này, quy mô khai thác thường
từ vài nghìn tấn đến 100-200 nghìn tấn/năm Tổng sản lượng hiện nay khôngquá 200 nghìn tấn
Than mỡ
Trữ lượng tiềm năng được đánh giá sơ bộ là 27 triệu tấn, trong đó trữlượng địa chất là 17,6 triệu tấn, chủ yếu tập trung ở 2 mỏ Làng Cẩm (ThỏiNguyờn) và mỏ Khe Bố (Nghệ An) Ngoài ra, than mỡ cũn cú ở các tỉnh: Sơn
La, Lai Châu, Hoà Bình song với trữ lượng nhỏ
Than mỡ được dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớnsau năm 2000, nhưng trữ lượng than mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rấtkhó khăn Sản lượng than mỡ khó có khả năng cao hơn 0,2-0,3 triệu tấn/năm,trong khi nhu cầu sẽ tăng đến 5-6 triệu tấn/năm vào giai đoạn 2010-2020
Trang 16- Ven biển Miền Trung: 490 triệu.m3
- Đồng bằng Nam Bộ: 5.000 triệu.m3
Trước đây vùng đồng bằng Nam Bộ được đánh giá có trữ lượng là 1 tỷtấn và còn cao hơn nữa Nhưng nạn cháy rừng đó phỏ huỷ đi rất nhiều trữlượng than
Từ trước tới nay than bùn được khai thác chủ yếu dùng làm chất đốt sinhhoạt (pha trộn với than antraxit của Quảng Ninh) và làm phân bón ruộng vớiquy mô nhỏ, khai thác thủ công là chính, sản lượng khai thác hiện nay đượcđánh giá là chưa đến 10 vạn tấn/năm Khai thác than bùn làm chất đốt haylàm phân bón đều không có hiệu quả cao, mặt khác việc khai thác than sẽ ảnhhưởng đến môi trường, môi sinh trong vùng, nhất là ở vùng đồng bằng sôngCửu Long Bờn cạnh đó điều kiện khai thác, vận chuyển tiêu thụ, chế biến sửdụng than bùn cũng gặp không ít khó khăn
Than ngọn lửa dài
Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chấttrên 100 triệu tấn Hiện nay khai thác được thực hiện bằng phương pháp lộthiên, than khai thác chủ yếu phục vụ sản xuất xi măng ở Hải Phòng và BỉmSơn với sản lượng trên dưới 100 nghìn tấn/năm Nhưng do nhà máy Xi măngHải Phòng sẽ ngừng hoạt động, nhà máy xi măng Bỉm Sơn được cải tạo vớicông nghệ mới, nên không dùng than Na dương từ 1999 trở đi Than Nadương là loại than có hàm lượng lưu huỳnh cao, có tính tự chỏy, nờn việckhai thác, vận chuyển, chế biến sử dụng rất khó khăn và hạn chế Do đó,Tổng Công ty Than Việt Nam đang nghiên cứu hợp tác với nước ngoài xâydựng nhà máy điện trong vùng mỏ, để sử dụng loại than này Vì nếu khôngkhai thác, than sẽ tự cháy và phá huỷ nguồn tài nguyên đồng thời gây tácđộng xấu hơn đến môi trường
Trang 17và khai thác từ 2015-2020 trở đi.
Hiện nay, hàng năm ngành than khai thác mỗi năm trên13-14 triệu tấnthan sạch, đào bình quân trên 100km đường lũ, búc và đổ thải trên 50 triệu m3đất đá, sử dụng trên 160 ngàn m3 gỗ, khoảng 15 ngàn tấn thuốc nổ và hàngchục ngàn tấn nhiên liệu các loại
Công nghệ, thiết bị khai thác và sàng tuyển than ở hầu hết các đơn vịđều rất lạc hậu, thậm chí quá cũ, tiêu tốn nhiều nguyờn, nhiờn, vật liệu và cólượng chất thải cao; đòi hỏi phải được đầu tư đổi mới không những để tăngnăng suất, hiệu quả mà còn để giảm ô nhiễm môi trường; trong khi đó sảnxuất than có hiệu quả thấp, chủ yếu do trên thị trường trong nước giá than cònđược chấp nhận thấp, lượng tiêu thụ chưa cao
Các cơ sở sản xuất than hiện có tập trung chủ yếu ở ven bờ Vịnh HạLong và Bái Tử Long và số còn lại tập trung ở vùng rừng nỳi Cỏc khu dân
cư của công nhân mỏ phần lớn ở gần các mỏ, các nhà máy sàng tuyển và các
cơ sở phục vụ sản xuất than Việc khai thác than ảnh hưởng rất lớn đến sông,suối, hồ chứa nước, biển (2 vịnh nói trên), rừng, các khu dân cư và một sốthành thị vùng mỏ.( Đoàn Minh Huệ, 2008 )[3]
Trang 182.2.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước Việt Nam
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân sốgây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ.Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ônhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không cócông trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp
là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy vàbột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xysinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn chophép Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượtđến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phépnờn đó gõy ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư Mức độ
ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tậptrung là rất lớn Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh,nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thảiước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt Ở thànhphố Thỏi Nguyờn, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy,luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nướcthải khu vực thành phố Thỏi Nguyờn chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu;nước thải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4+ là 4mg/1, hàmlượng chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mựi khú chịu… Khảo sát một
số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhụm, chỡ, giấy, dệt nhuộm ở Bắc Ninh chothấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua xử lý, gây ô nhiễmnguồn nước và môi trường trong khu vực
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có
Trang 19hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phầnlớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; mộtlượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là nhữngnguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong cỏckờnh, sụng, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng Ở thành phố Hà Nội, tổnglượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 - 400.000 m3/ngày; hiện mớichỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải, chiếm 25% lượng nướcthải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; lượng rác thải sinhhoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đất vencác hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chất NH4,
NO2, NO3 ở cỏc sụng, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định cho phép ởthành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ônhiễm thuộc diện phải di dời Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
mà ở các đô thị khác như Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, HảiDương… nước thải sinh hoạt cũng không được xử lý độ ô nhiễm nguồn nướcnơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép (TCCP), các thông
số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần,thậm chí 20 lần TCCP ( Cục Bảo vệ môi trường, 2006 ) [1]
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nôngnghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn lànơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súckhông được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ônhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáocủa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trungbình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sôngHậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100 ml ở cỏc kờnh tưới tiêu Trong sản
Trang 20xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, các nguồnnước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trườngnước và sức khoẻ nhân dân Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tíchmặt nước sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theoquy trình kỹ thuật nờn đó gõy nhiều tác động tiêu cực tới môi trường nước.Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cỏch cỏc loại hoá chất trong nuôitrồng thuỷ sản, thỡ cỏc thức ăn dư lắng xuống đáy ao, hồ, lòng sông làm chomôi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một số loài sinhvật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiệnthuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam
Có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình trạng ônhiễm môi trường nước, như sự gia tăng dân số, mặt trái của quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ sở hạ tầng yếu kém, lạc hậu: nhận thức của ngườidân về vấn đề môi trường còn chưa cao… Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạtđộng quản lý, BVMT Nhận thức của nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý,
tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ bảo vệ môi trường nước chưasâu sắc và đầy đủ; chưa thấy rõ ô nhiễm môi trường nước là loại ô nhiễm gâynguy hiểm trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đối với đời sống con ngườicũng như sự phát triển bền vững của đất nước Các quy định về quản lý vàbảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng hạn như chưa có các quy định vàquy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước) Cơchế phân công và phối hợp giữa các cơ quan, các ngành và địa phương chưađồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng Chưa có chiếnlược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước theo lưu vực vàcỏc vựng lãnh thổ lớn Chưa có các quy định hợp lý trong việc đóng góp tàichính để quản lý và bảo vệ môi trường nước, gây nên tình trạng thiếu hụt tàichính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường nước
Trang 21Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nướcASEAN đã đầu tư ngân sách cho BVMT là 1% GDP, còn ở Việt Nam mới chỉđạt 0,1%) Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung vàmôi trường nước nói riêng cũn quỏ ớt Đội ngũ cán bộ quản lý môi trườngnước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở Việt Nam trungbỡnh cú khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong khi đó ở một
số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân)
2.2.4 ễ nhiễm môi trường nước ở một số vùng khai thác khoáng sản của Việt Nam
Khai thác khoáng sản hiện nay đã và đang gây ra những tác hại nguyhiểm tới môi trường nước của các địa phương Bình Định đang trên đà pháttriển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá tỉnh nhà với tốc độ cao.Khai thác đá granit: hiện nay tại tỉnh có nhiều đơn vị tham gia khai thác đátảng lăn tại thành phố Quy Nhơn, An Nhơn, Phù Mỹ năng lực vốn đầu tư,công nghệ khai thác ở quy mô nhỏ, lạc hậu, phương pháp khai thác thủ côngkiểu “đào bới thu gom”, khai thác đá tảng lăn thường mang tính nhất thời,không theo trình tự và quy hoạch Tình trạng khai thác trờn đó gây ảnh hưởngmôi trường nghiêm trọng: làm mất vẻ mỹ quan, xói mòn, sa bồi; tăng độ đục
và hàm lượng kim loại nặng trong nguồn nước mặt Điều quan trọng hơn làvới việc khai thác trờn đó gõy tổn thất tài nguyên lớn (từ 20 – 60%) suy thoáimôi trường Tình trạng đào bới, thu gom tài nguyên khoáng sản bừa bãi dướidanh nghĩa “tận thu” đang là nguyên nhân của sự xói mòn, bồi lấp ở các khuvực có tài nguyên khoáng sản và vùng hạ lưu
Ở khu mỏ thiếc Sơn Dương (Tuyên Quang), tổng lượng nước thải côngnghiệp gồm bùn cát và nước khoảng 2.000 m3/ngày được xả ra các đập lắngvới tổng dung tích > 74.000m3 Các đập lắng nước này đã làm tăng đáng kểdiện tích mặt nước, thay đổi chế độ thủy văn của suối Sau một thời gian đổthải, hầu hết các hồ và nhiều đoạn suối đã bị lấp đầy bựn, cỏt Đỏy hồ cao hơn
Trang 22cốt cao tự nhiên từ 5 - 10m làm thay đổi dung tích, lưu lượng và hướng dòngchảy tự nhiên Các hồ và suối trước đây là nguồn nước sản xuất nông nghiệp,hiện nay hoàn toàn không thể sử dụng được.
Bảng 2.2 Một số kết quả phân tích nước ở vùng mỏ thiếc Sơn Dương (mg/l)
TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Suối Ngòi Lẹm
(Bắc Lũng)
Nước giếng ở Đại Từ
(Nguồn: Sở TN&MT Thỏi Nguyờn, 2009) [14]
Ở các mỏ thiếc, đá quý ở miền Tây Nghệ An, do quá trình đào bới và đổthải, các khe Bản Sỏi, Khe Mồng, Tổng Huống - là nguồn cấp nước cho nôngnghiệp của khu vực, bị xói lở bờ, bồi lấp dòng chảy, đổi dòng, giảm khả năngtưới từ đó gây ra giảm vụ, giảm năng suất cây trồng Khe Nậm Tôn bị đục và
ô nhiễm trên chiều dài hơn 20 km Khai thác đá quý ở Quỡ Chõu đó làm một
số suối và công trình thủy lợi bị phá hủy, các hố khai thác sâu là nơi tích tụchất thải làm ô nhiễm nguồn nước
Ở Cổ Định - Thanh Hóa, trước khi khai thác quặng Crụmit, vựng này cótrữ lượng nước mặt tương đối lớn (sụng Lờ, cỏc suối, các hồ, ) Hiện nay,diện mạo mạng lưới thủy văn của khu vực thay đổi hẳn: Các hồ, suối tự nhiên
bị bồi lấp, làm giảm đáng kể khả năng tiờu thoỏt lũ của khu vực, nhiều moongkhai thác quặng trở thành hồ nước mặt Tình trạng khai thác, đổ thải bừa bãi
và quá tải đã gây ra sự cố vỡ đê bãi thải năm 1993, làm cho chất thải rắn làbựn, cỏt từ bãi thải tràn ra ngoài, bồi lấp một một vùng rộng lớn hàng chụchecta đất canh tác, làm ô nhiễm đất và nguồn nước nông nghiệp, thiệt hại ướctính hàng trăm triệu đồng ( Sở TN & MT Thỏi Nguyờn, 2009 )[14]
Trang 23Phần 3ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phạm vi, đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu.
3.1.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Môi trường nước tại thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn
- Phạm vi: Thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn
- Thời gian: tháng 1/2009 đến tháng 5/2009
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế - xã hội thị trấn Giang Tiên 3.2.2 Khái quát về mỏ than Phấn Mễ; chất lượng, trữ lượng và công nghệ khai thác than của Mỏ
3.2.3 Chất lượng nước trên địa bàn Thị trấn Giang Tiên.
3.2.4 Tác động của hoạt động khai thác than tới môi trường nước thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn
3.2.5 Ý kiến người dân về ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến môi trường nước thị trấn Giang Tiên.
3.2.6 Một số định hướng và giải pháp khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại thị trấn Giang Tiên
3.3 Phương pháp nghiên cứu
* Nghiờn cứu các văn bản pháp luật, văn bản dưới luật đối với cơ sởkhai thác than
* Phương pháp kế thừa sử dụng tài liệu thứ cấp:
- Tài liệu về tự nhiên kinh tế - xã hội (Nguồn: phòng TN&MT huyệnPhú Lương, UBND thị trấn Giang Tiên )
Trang 24- Tài liệu, số liệu về hoạt động của mỏ than Phấn Mễ, các báo cáo môitrường của mỏ than Phấn Mễ (Nguồn: phòng hành chính, cơ điện, kĩ thuậtcông nghệ …thuộc mỏ than Phấn Mễ ).
* Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp
Điều tra những ảnh hưởng của khai thác than của mỏ than Phấn Mễ tớimôi trường nước thị trấn Giang Tiên
- Số hộ điều tra là 50 hộ
- Cách chọn hộ điều tra là ngẫu nhiên
* Điều tra khảo sát thực địa
* Phương pháp lấy mẫu
- Lấy các mẫu nước tại các vị trí khác nhau trên địa bàn thị trấn GiangTiên và tiến hành phân tích mẫu
- Phương pháp lấy: Lượng nước được lấy chung cho các phép phân tíchtrong phòng thí nghiệm là 2lit/ mẫu Mẫu nước được đựng trong chai lọ sạch.Các mẫu được cố định, bảo quản trước khi vận chuyển về phòng thí nghiệmtheo đúng các tiêu chuẩn ban hành (TCVN )
- Chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích:
+ Các chỉ tiêu pH, DO được đo bằng thiết bị đo đạc chất lượng nướctrên diện rộng nhằm tránh sai số trong quá trình bảo quản mẫu
+ Các kim loại nặng (Zn, Cu, Pb…) được phân tích bằng phương phápcực phổ và phổ hấp phụ nguyên tử (ASS)
+ Các chỉ tiêu khác như BOD, COD, tổng P và các chỉ tiêu sinh húakhỏc được phân tích bằng phương pháp so màu, chuẩn độ, định lượng theotiêu chuẩn cho phép
* Phương pháp xử lí số liệu
- Trên cơ sở những tài liệu thu thập được ta tiến hành phân tích, chọnlọc, tổng hợp nên những số liệu cần thiết, hợp lí có cơ sở khoa học
* Phương pháp đối chiếu với tiêu chuẩn Việt Nam
So sánh kết quả phân tích các mẫu nước được lấy để nghiên cứu vớiTCVN nhằm đánh giá hàm lượng các chất ô nhiễm trong nước và mức độ ảnh
Trang 25hưởng của chúng đến chất lượng nguồn nước trong khu vực thị trấn GiangTiên Cụ thể:
- So sánh với TCVN 5945- 2005 ở mức B, để đánh giá chất lượng nướcthải công nghiệp
- So sánh với TCVN TCVN 6772- 2000 mức I và TCVN 5945- 2005mức B để đánh giá chất lượng nước thải sinh hoạt
- So sánh với TCVN 5942- 1995 để đánh giá chất lượng nước mặt
- So sánh với TCVN 5944- 1995 để đánh giá chất lượng nước ngầm
* Phương pháp so sánh
So sánh giữa kết quả thu được với thực tế (ý kiến người dân ), từ đó rút
ra được những kết luận về các tác động của khai thác than tới môi trườngnước Qua đó ta có thể đề suất ra những giải pháp hợp lí
Trang 26Phần 4KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Giang Tiờn, Phỳ Lương, Thỏi Nguyờn
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lí
Giang Tiên là một thị trấn miền núi với tổng diện tích là 381,2 ha córanh giới hành chính như sau:
- Phía đông giỏp xó Vụ Tranh huyện Phú Lương
- Phía tây giỏp xó Phục Linh huyện Đại Từ
- Phía bắc giỏp xó Phấn Mễ huyện Phú Lương
- Phía nam giỏp xó Cổ Lũng huyện Phú Lương
Giao thông có tuyến đường quốc lộ 3 chạy qua địa phận thị trấn Nhìnchung thị trấn Giang Tiên có điều kiện giao lưu thuận lợi với cỏc xó lân cận
và trung tâm huyện
4.1.1.2 Địa hình và thổ nhưỡng
Thị trấn Giang Tiờn cú địa hình đa dạng, nhiều đồi núi chạy dọc theochiều dài của thị trấn và cao hơn rất nhiều so với mực nước biển Tuy nhiênđịa hình Thị trấn vẫn khá bằng phẳng so với nhiều vựng khỏc trong huyệnPhú Lương, độ dốc thường dưới 150, mang đặc điểm địa hình cựng nỳi trung
du Bắc Bộ
4.1.1.3 Khí hậu thuỷ văn
Giang Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa được phân thành haimựa rừ rệt đó là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ bắt đầu từ tháng 4đến tháng 9; đặc điểm của mùa này là nhiệt độ cao, độ ẩm lớn Mùa khô từtháng 10 đến tháng 3 năm sau
Đây là vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc kèmtheo mưa phùn kéo dài, vào những ngày đậm có sương muối xảy ra gây ảnhhưởng nhiều tới đời sống và sản xuất của nhân dân
Trang 27a Chế độ nhiệt.
Nhiệt độ bình quân năm là 23,30C, tất cả cỏc thỏng trong năm có nhiệt
độ bình quân đều trên 150C, chênh lệch nhiệt độ giữa cỏc thỏng trong nămtương đối cao Tổng tớch ụn khoảng 80000C, tổng số giờ nắng trung bìnhkhoảng 1300 giờ và phân bố không đều giữa cỏc thỏng trong năm Tháng có
số giờ nắng trung bình thấp nhất là tháng 2 với tổng số giờ nắng là 41giờ.Thỏng có số giờ nắng trung bình cao nhất là tháng 9 với tổng số giờ nắng
Lượng mưa trung bình đạt 2020mm/năm nhưng phân bố không đều
c Lượng bốc hơi và độ ẩm
Đây là vựng cú lượng bốc hơi lớn Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm
là 985,5 mm
+ Lượng bốc hơi trung bỡnh tháng là 84mm
+ Lượng bốc hơi tháng cao nhất (tháng 5) là 99,9mm
Trang 28Với tình hình khí hậu như vậy thị trấn Giang Tiên thuận lợi cho việc pháttriển sản xuất nông – lâm nghiệp (Trần Đình Mạnh, 2008) [5].
4.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên.
a Tài nguyên nước
Thị trấn Giang Tiờn cú nguồn nước mặt tương đối phong phú Toàn thịtrấn có khoảng 6,58 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là ao
hồ nuôi cá phục vụ đời sống nhân dân Trên địa bàn thị trấn cú sụng Đu chảyxung quanh phía nam của thị trấn, sông Giang Tiên chảy phía đông và nhiềukênh, suối, khe nên nguồn nước tương đối ổn định Do lượng mưa nhiều, cónhiều suối nhỏ nên trữ lượng nước ngầm tương đối dồi dào.Tuy nhiên việckhai thác và sử dụng chỳng cũn nhiều hạn chế
Tóm lại tài nguyên nước của thị trấn Giang Tiên tương đối dồi dào.Nhưng do điều kiện địa hình dốc, phân cắt và độ che phủ rừng thấp(103,82ha) nên mùa mưa dòng chảy tăng gây lũ lụt, mùa khô dòng chảy cạnkiệt gây thiếu nước hạn hán
b Tài nguyên đất
Theo bản đồ thổ nhưỡng 1/ 25000 trên địa bàn thị trấn Giang Tiờn có 6loại đất chính là:
1 Đất phù sa không được bồi (P) phân bố phía nam thị trấn có diện tích
là 13,70 ha, độ dốc < 30 chiếm 3,59% tổng diện tích tự nhiên Đây là loại đấttốt thích hợp cho trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày
2 Đất phù sa ngòi cuối (Py) phân bố phía tây nam thị trấn có diện tích
là 12,60 ha, độ dốc < 30 chiếm 3,31% diện tích tự nhiên Đây là loại đất códiện tích ít nhất, thích hợp cho trồng lúa và một số cây trồng ngắn ngày khác
3 Đất bạc màu (B) phân bố ở phía nam thị trấn có diện tích là 28,10 ha,
độ dốc < 30 chiếm 7,37% diện tích tự nhiên
4 Đất dốc tụ (D) phân bố ở phía đông và tây bắc thị trấn, có diện tích là23.20 ha, chiếm 6,08% diện tích tự nhiên Đây là loại đất hình thành do sự
Trang 29tích tụ của các sản phẩm phong hoá trên cao đưa xuống nờn cú độ phì tươngđối khá, thích hợp trồng cây ngắn ngày.
5 Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét (Fs) phân bố ở đông bắc thị trấn códiện tích là 46,90 ha, độ dốc 8- 150 chiếm 12,30 diện tích tự nhiên Đất cóthành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng, cấu trúc dạng cục, ngập nướclâu sẽ có quá trình glõy hoỏ mạnh Đây là loại đất thích hợp cho trồng chè,cây ăn quả, trồng rừng
6 Đất vàng nhạt trên đá cát (Fp) phân bố ở trung tâm thị trấn có diệntích là 244,43 ha, độ dốc 8- 150 chiếm 64,12% diện tích tự nhiên Đây là loạiđất có diện tích lớn nhất, chiếm hơn một nửa diện tích của thị trấn Đất này có
bề mặt màu xám, thành phần cơ giới thịt nhẹ, có nhiều sạn thạch anh, đất chuathích hợp sản xuất nông lâm kết hợp.(Vũ Thị Hương Giang, 2008)[2]
Nói chung tài nguyên đất của thị trấn khá đa dạng về loại Loại đất bằng
có độ dốc < 80 tương đối thuận lợi cho sản xuất cây trồng hàng năm có diệntích khoảng 77,60 ha chiếm khoảng 20,36% diện tích tự nhiên Còn lại là đấtxấu dốc chỉ phù hợp với việc trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quảchiếm khoảng 290 ha chiếm khoảng 76,42% diện tích tự nhiên Song đó làcác điều kiện giúp cho thị trấn đảm bảo an ninh lương thực và phát triển cáccây công nghiệp dài ngày
d Tài nguyên nhân văn
Thị trấn Giang Tiên là nơi cư trú của cộng đồng nhiều dân tộc anh emnhư Tày, Nựng, Sỏn Chớ…nờn hội tụ những bản sắc dân tộc độc đáo Mỗidân tộc lại có những nét đặc trưng về tập quán sản xuất, bản sắc văn hoỏriờng tạo nên một nền văn hoá đặc sắc Người dân ở đây giàu truyền thốngcách mạng, cần cù, chịu khó, đoàn kết, có ý thức vươn lên Thêm vào đó, Thịtrấn có Đền trình Dương Tự Minh là di tích lịch sử được xếp hạng có ý nghĩalớn với sự phát triển kinh tế- xã hội.Với nguồn tài nguyên nhân văn như vậy,nên trong quá trình thực hiện các hoạt động phát triển; đặc biệt là trong lĩnh
Trang 30vực môi trường cần phải chú ý đến tập quán cụ thể của mỗi dân tộc để từ đónâng cao ý thức người dân trong công tác BVMT.
Trang 314.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội.
4.1.2.1 Đánh giá tổng quát về các chỉ tiêu kinh tế- xã hội.
Dưới định hướng phát triển kinh tế- xã hội chung của toàn huyện, trongthời gian qua thị trấn Giang Tiên cũng đạt được những thành tích nhất định,góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy làmột thị trấn miền núi, trình độ dân trí chưa cao song với những tiềm năng vềkhí hậu, đất đai, tài nguyên thị trấn Giang Tiờn đó đẩy mạnh việc chuyển dịch
cơ cấu theo hướng tích cực, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp Sự chuyểndịch này phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá nông thôn, đem lại những kếtquả tốt và tạo tiền đề phát triển cho những năm tiếp theo Một số chỉ tiêu kinh
tế xã hội chủ yếu của thị trấn Giang Tiên được thể hiện dưới bảng sau:
Bảng 4.1 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của thị trấn Giang Tiên
năm 2008
3 Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp Triệu đồng 5257
(Nguồn: Trần Đình Mạnh, 2008)[5]
Qua bảng trên ta thấy rằng cơ cấu ngành của thị trấn đó cú những bướcthay đổi rõ rệt Tổng giá trị sản xuất năm 2008 đạt xấp xỉ 21 tỉ đồng Trong đóchiếm ưu thế là ngành thương mại dịch vụ đạt giá trị là 11967 triệu đồng.Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp đạt mức 5257 triệu đồng Tuy cóthu nhập thấp hơn so với các ngành khác (4406 triệu đồng) nhưng ngành nônglâm nghiệp vẫn là thế mạnh của địa phương trong thời gian tới
Trang 324.1.2.2 Dân số, lao động và việc làm
a Vấn đề dân số
Trong những năm qua, dân số và sự gia tăng dân số luôn đặt ra nhữngbài toán nan giải cho các cấp ngành ở nhiều địa phương Dân số tăng nhanhgây ảnh hưởng xấu tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đặt ra nhữngthách thức lớn cho môi trường Ví như tàn phá rừng, đốt nương làm rẫy đểđáp ứng những nhu cầu tối thiểu của con người đó gõy hậu quả khôn lườngcho tự nhiên và cho cuộc sống của chính chúng ta Do đó việc kiếm soát dân
số tại địa phương là tối cần thiết hiện nay Dưới đây là sự biến đổi dân số tạithị trấn Giang Tiên được thể hiện trong bảng 4.2
Bảng 4.2 Tình hình dân số Thị trấn Giang Tiên trong 3 năm 2006- 2008
(Nguồn: Phòng TN&MT huyện Phú Lương, 2008)[13]
Từ bảng trên có thể thấy, trong 3 năm qua ở Thị trấn Giang Tiờn dân sốkhông ngừng tăng Nếu như năm 2006 dân số trung bình chỉ ở mức 3545người thì đến năm 2008 đã là 3675 người (tăng 130 người) Mật độ dân sốcao (964 người/km2 năm 2008) đem lại nhiều khó khăn cho thị trấn trong việcgiải quyết nhu cầu việc làm cho người dân
b Vấn đề lao động- việc làm
Với tỉ lệ tăng dân số cao nên thị trấn Giang Tiờn có một nguồn nhân lựckhá dồi dào Tuy nhiên, do điều kiện, tập quán và trình độ còn thấp khiến cholao động có chuyên môn tay nghề cao đáp ứng cho ngàng sản xuất hiện đạicũn ớt Đa số lao động làm trong các ngành nông nghiệp Năm 2008 cả thịtrấn có 2420 lao động thỡ cú tới 680 lao động nông nghiệp chiếm 28 % Còn