nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyệnkim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố ThỏiNguyờn chiếm khoảng 15% lưu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
= = = = = = = =
ĐỀ CƯƠNGKHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2Trong các hệ sinh thái thủy vực nói chung và hệ sinh thái thủy vực nước đứngnói riêng thì hệ sinh thái hồ có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bên cạnh các chứcnăng là cấp nước, tưới tiêu cho nông nghiệp, du lịch - giải trí, thủy điện và phòng
hộ thì hồ còn chứa nhiều nguồn tài nguyên phong phú, là một “ngõn hàng gen” rất
đa dạng, quý hiếm cần phải được bảo vệ
Do vị trí địa lý, kinh tế xã hội quan trọng của thủ đô Hà Nội nờn cỏc hồ ở HàNội cũn cú vai trò lớn hơn nhiều, trong đó đặc biệt là Hồ Tõy đó được xếp vàodanh sách các hồ cần được bảo vệ trên thế giới Gắn với lịch sử ngàn năm của HàNội, Hồ Tõy đó lưu giữ và tạo nên những giá trị cả thiên nhiên lẫn lịch sử, văn hóa
mà không hồ nào có được Quanh hồ có tới 64 di tích, trong đó có 21 ngụi đỡnh,đền và chựa đó được xếp hạng với nhiều di tích nổi tiếng và nhiều văn vật giá trị
Nhưng cùng với tốc độ đô thị hóa chóng mặt của thủ đô, những làng cổ ven hồ
xưa giờ đều đã thành phường, xung quanh hồ Tây giờ đã trở thành "làng Tây" với
vô vàn biệt thự cho Tõy thuờ
Trang 3Cùng với sự lấn chiếm, xâm phạm không gian cảnh quan vì những tòa nhà bêtông quanh hồ, từ nhiều năm nay, hồ Tõy cũn bị "đầu độc" bởi rác và nước thải từcác khu dân cư của 7 phường xung quanh hồ và hàng trăm nhà hàng, khách sạn,quán nhậu ở xung quanh Chỉ tớnh riờng năm 2007, Xí nghiệp hồ Tõy đó nhổ trên1.900 chiếc cọc, vớt 800m3 bèo và hàng nghìn mét khối rác ở hồ Tây
Bên cạnh đó, mỗi ngày hồ Tây đang phải tiếp nhận 4.000m3 nước thải và sinhhoạt, hàm lượng amoniac trong nước tới 1,5mg/lớt, gấp 3 lần tiêu chuẩn cho phéplàm cho chất lượng hồ ngày càng suy giảm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hệ thủysinh vật cũng như cảnh quan của hồ…
Vì vậy, việc nghiên cứu chất lượng nước hồ là công việc hết sức cần thiếtnhằm tìm ra công cụ đánh giá, dự báo tình trạng chất lượng nước và sinh thái của
hồ Trên cơ sở đó đề xuất chiến lược quy hoạch, bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồntài nguyên vô cùng quý giá này
Từ thực tiễn trờn tụi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp bảo vệ và quản lý chất lượng nước Hồ Tõy.”
1.2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu
1.2.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng chất lượng nước Hồ Tây
Đề xuất các biện pháp bảo vệ và quản lý chất lượng nước Hồ Tây
1.2.2 Yêu cầu nghiên cứu
Các số liệu phải chính xác, có độ tin cây cao và phản ánh đúng thực tế
Tìm hiểu hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt tại hồ Tây
Đề xuất các biện pháp có tính khả thi cao để bảo vệ và quản lý chất lượngnước Hồ Tây
Trang 4PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò của tài nguyên nước
Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khíhậu, đất đai và sinh vật Nước còn đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của con người trongsinh hoạt hằng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điệnnăng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp
2.1.1 Vai trò của nước với sức khỏe con người
Nước rất cần thiết cho hoạt động sống của con người cũng như các sinh vật.Trong trọng lượng than thể con người, ba ngày sau khi sinh có 97% nước, támtháng sau có 81% và ở người lớn tuổi nước từ 65 – 75% Nước cần thiết cho sựtăng trưởng và duy trì cơ thể bởi nó liên quan đến nhiều quá trình sinh hoạt quantrọng Muốn tiêu hóa, hấp thụ tốt lương thực, thực phẩm … đều cần có nước Nhiềunghiên cứu trên thế giối cho thấy con người có thể sống nhịn ăn trong năm tuầnnhưng nhịn uống nước thì không quá 5 ngày và nhịn thở không quá năm phút Khiđói trong một thời gian dài , cơ thể sẽ tiêu thụ hết lượng glycogen, toàn bộ mỡ dựtrữ , một nửa lượng protein để duy trì sự sống Nhưng nếu cơ thể chỉ mất hơn 10%nước là đã nguy hiểm đến tính mạng và mất 20 – 22% nước sẽ dấn đến tử vong [1]
Theo nghiên cứu của viện dinh dưỡng quốc gia : Khoảng 80% thành phần
mụ nóo được cấu tạo bởi nước, việc thường xuyên thiếu nước làm giảm sút tinhthần, khả năng tập trung kém và đôi khi mất trí nhớ Nếu thiếu nước sự chuyển hóaprotein và enzymer để đưa dinh dưỡng đến các bộ phận khác của cơ thể sẽ gặp khókhăn Ngoài ra, nước cũn cú nhiệm vụ thanh lọc và giải phóng những độc tố xâm
Trang 5nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa và hô hấp một cách hiệu quả Nhiều nghiêncứu cũng cho thấy: nước là thành phần chủ yếu của lớp sụn và chất hoạt dịch, khi
bộ phận này được cung cấp đầy đủ nước, và sự va chạm trực tiếp sẽ giảm đi, từ đógiảm nguy cơ viêm khớp Uống đủ nước làm cho hệ thống bài tiết hoạt độngthường xuyên, bài thải những độc tố trong cơ thể, có thể ngăn ngừa sự tồn đọng lâudài của những độc tố gây bệnh ung thư: uống nước nhiều hằng ngày giúp làm loãng
và gia tăng lượng nước tiểu bài tiết cũng như góp phần thúc đẩy sự lưu thông toàn
cơ thể, từ đó ngăn ngừa hình thành của các loại sỏi: đường tiết niệu, bang quang,niệu quản… Nước cũng là một biện pháp giảm cân hữu hiệu và đơn giản, nhất làuống một ly nước đầy khi cảm thấy đói hoặc trước một bữa ăn Cảm giác đầy dạdày do nước ( không calo, không chất béo) sẽ ngăn cản sự thèm ăn và quan trọnghơn nước kích động quá trình chuyển hóa, đốt cháy nhanh lượng calo vừa hấp thụqua thực phẩm Nếu mỗi ngày uống đều đặn sáu ly nước thì mỗi năm có thể giảmhai kg trọng lượng cơ thể
2.1.2 Vai trò của nước đối với con người trong nền kinh tế quốc dân
Đối với mỗi quốc gia nước cũng tương tự như đất đai, hầm mỏ, rừng, biển…đều là tài nguyên vô cùng quý báu Không phải ngẫu nhiên mà các khu dân cư trùmật, các thủ đô, các thành phố lớn trên thế giới đều nằm trờn cỏc triền sông: HàNội, Việt Trỡ bờn bờ sông Hồng, Huế, sông Hương…
Trước kia, khi công nghiệp chưa phát triển, con người sống bằng trồng trọt
và chăn nuôi nhờ những đồng bằng ven sông phì nhiêu có đủ nước Các nhà khoahọc trên thế giới đều cho rằng nền văn minh của một nước là “ đất màu mỡ, đất có
đủ nước và đất không bị rửa trôi, xói mòn đi đến nghèo kiệt” Khi chưa có phươngtiện giao thông hiện đại thì nguồn nước sông ngòi là luồng vận chuyển chủ yếu
Trang 6Ngày nay trong điều kiện ơphats triển mới của nền kinh tế quốc dân, không
có một hoạt động nào của con người là không liên quan đến việc khai thác sôngngòi, nguồn nước Nước sông chảy qua các công trình đầu mối trạm bơm đi vàocác đường ống dẫn nước, kênh mương để phục vụ cho sinh hoạt, tưới ruộng, chănnuôi , nước dung cho luyện kim, cho công nghiệp hóa học, nước làm sạch nồi hơi,máy móc, nước quay các tuốc bin điện, phục vụ cho giao thông vận tải, quốcphũng…
Năm 1960 ở Liờn Xụ cũ, các ngành kinh tế xã hội sử dụng 270 tỷ m3 nước,năm 1970 khoảng 540 tỷ m3 và năm 2000 tổng nước dung lên đến 2000 tỷ m3,trong đó dung cho công nghiệp 480 tỷ m3, nông nghiệp 550 tỷ m3 ( tổng lượngdòng chảy năm trên sông ngòi toàn Liờn Xụ cũ khoảng 4358 tỷ m3 ) Ở Mỹ năm
2000 đã sử dụng gần 1000 tỷ m3 nước trong tổng số 1.600 tỷ m3 dòng chảy nămtrong sông ngòi toàn quốc
Miền Bắc nước ta có một mạng lưới sông ngòi dày đặc trên 1080 con sôngtrong tổng số 2360 con sông toàn quốc) nôi s chằng chịt đồng bằng với đụi nỳi,miền ngược với miền xuôi Từ Hải Phòng, Nam Định có thể đi vào đến miền Trungtheo các kênh đào lớn nhỏ, nguồn nước sông đang tưới chủ động cho 32,01% tổngdiện tích đất canh tác trong toàn quốc (World resource Istitute, 2001)
Nguồn nước sông là nguồn nước chủ động cho phát triển thủy điện Thác Bà(Yờn Bỏi), Hòa Bình (tỉnh Hòa Bình), Sơn La (tỉnh Sơn La), Thác Mơ (TuyênQuang), Yaly (Gia Lai), Trị An (Đồng Nai), Sesan ( Đaklak) Năng lượng củanguồn nước sông ngòi có đến gần 500 tỷ kW/h hàng năm Nguồn nước sông ngòicủa nước ta đúng là một nguồn tài nguyên vô cùng phong phú Nguồn tài nguyên
Trang 7đó đang được điều tra, nghiên cứu và khai thác rộng rãi, phục vụ cho công cụ xâydựng đất nước.
Do lượng mưa lớn, địa hình dốc, nước ta là trong số 14 nước có tiềm năngthủy điện lớn Các nhà máy thủy điện hiện nay sản xuất khoảng 11 tỷ kW/h, chiếm
72 đến 75% sản lượng điện cả nước Nước ta có tổng chiều dài cỏc sụng và kênhkhoảng 40.000 km, đã đưa vào khai thác vận tải 1.000 km, trong đó quản lý trên8.000 km Những sông suối tự nhiên, thác nước… được sử dụng để làm điểm thamquan du lịch Về nuôi trồng thủy sản, nước ta có 1 triệu ha mặt nước ngọt, 400.000
ha mặt nước lợ và 1.470.000 ha mặt nước sông ngòi Ngoài ra nước ta có hơn 1triệu ha nước nội thủy và lãnh hải.[2]
Dự báo tiêu thụ nước cho các lĩnh vực đến năm 2040 được nêu trong bảngsau:
Bảng 1 : Dự báo tiêu thụ nước cho các lĩnh vực, tỷ m 3 /năm
Trang 82.2 Hiện trạng môi nước mặt trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Hiện trạng môi trường nước trên thế giới.
Nước lục địa bao gồm nước mặt và nước dưới đất Nước mặt phân bố củayếu trong các hệ thống sông, suối, ao, hồ, kênh, rạch và các hệ thống tiờu thoỏtnước trong nội thành, đô thị Nước dưới đất hay còn gọi là nước ngầm là tầng nước
tự nhiên chảy ngầm trong long đất qua nhiều tần đất đá, và có cấu tạo địa chất khácnhau
Hiện nay, vấn đề ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nênnghiêm trọng, đặc biệt tại các lưu vực sông và cỏc sụng nhỏ, kênh rạch trong nộithành, nội thị Trên thế giới có khoảng 1400 triệu km3 nước có thể sử dụng được,phần còn lại là nước đóng bang
Thế giới hiện nay tỉ lệ sử dụng nước như sau:
69% sử dụng cho nông nghiệp
23% sử dụng cho công nghiệp
8% sử dụng cho đời sống và đô thị
Theo ước tính, những vùng đất hạn hán chiếm 31% tổng diện tích đất liềntrên thế giới, trong đó bao gồm 40% là sa mạc Do đó hiện tượng không cân bằngcủa sự phân bố nước trên địa cầu là không thể tránh khỏi, điều đáng báo động làmức sử dụng nước bình quân cho mỗi đầu người vào khoảng 2000 m3, nhưng hiệnnay có đến 50 nước, nghĩa là 750 triệu dân được cung cấp nước dưới mức 1700 m3
(1 người/ 1 năm) Như vậy tron những thập kỷ tới, chúng ta phải tính đến sự sa mạchóa và tốc độ tăng dân số ở một số vựng trờn thế giới Người ta nhận định rằng ởChâu Phi hơn 1 tỷ người sẽ lâm vào cảnh thiếu nước và tình trạng này cũng là mối
Trang 9Chúng ta biết rằng nước là môi trường thuận lợi cho mọi sự ô nhiễm, tất cảmọi chất thải cũng như mọi chất hóa học khi thải ra nước đều hòa tan hoặc lưu trữmột phần Quy luật này là nguồn gốc sâu xa cho sự phát sinh ô nhiễm nước Hiệnnay trên thế giới nhiều sông, suối đã dần trở nên ô nhiễm nặng nề như:
Tại Trung Quốc 80% chất thải ra sông hang ngày mà không có bất kỳ khâu
Bảng 2: Chất lượng nước mặt trên thế giới
( Nguồn: Cục quản lý tài nguyên nước, 2003)
( Ghi chú; (+++) mức nghiêm trọng, (++) mức vừa phải, (+) mức ít, (-) rất ít hoặc không nghiêm trọng).
2.2.2 Hiện trạng môi trường nước ở Việt Nam.
Trang 10Hiện nay ở Việt Nam, mặc dự các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trongviệc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ônhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại Sự ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phầntính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người
và sinh vật Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡngcho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người
Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây
áp lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi trườngnước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nướcthải, khí thải và chất thải rắn Ở các thành phố lớn, hàng trăm cơ sở sản xuất côngnghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có công trình và thiết bị xử lýchất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng Ví dụ: ở ngành côngnghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pHtrung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học(COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng caogấp nhiều lần giới hạn cho phép
Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nờn đó gõy
ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư
Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm côngnghiệp tập trung là rất lớn
Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bịnhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính 500.000m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố Thỏi Nguyờn,
Trang 11nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gang thép, luyệnkim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khu vực thành phố ThỏiNguyờn chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nước thải từ sản xuất giấy có pH
từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng chất hữu cơ cao, nước thải cómàu nâu, mựi khú chịu…
Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhụm, chỡ, giấy, dệt nhuộm ởBắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ônhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không có hệthống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương).Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phần lớn các bệnhviện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớntrong thành phố không thu gom hết được… là những nguồn quan trọng gây ra ônhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong cỏc kờnh, sụng, hồ ở các thành phốlớn là rất nặng
Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải,chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải;lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào cáckhu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, cácchất NH4, NO2, NO3 ở cỏc sụng, hồ, mương nội thành đều vượt quá quy định chophép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có
Trang 12-24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ônhiễm thuộc diện phải di dời.
Không chỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh mà ở các đô thị khác như HảiPhòng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hải Dương… nước thải sinh hoạt cũng khôngđược xử lý độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩncho phép (TCCP), các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO)đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP
*) Ô nhiễm ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp:
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp,hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạtầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lýnên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặthữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới3800-12.500MNP/100ML ở cỏc kờnh tưới tiêu
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, cácnguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trườngnước và sức khoẻ nhân dân
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, tổng diện tích mặt nước sử dụng cho nuôitrồng thuỷ sản đến năm 2001 của cả nước là 751.999 ha Do nuôi trồng thuỷ sản ồ
ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật nờn đó gõy nhiều tác độngtiêu cực tới môi trường nước Cùng với việc sử dụng nhiều và không đúng cỏch cỏc
Trang 13lòng sông làm cho môi trường nước bị ô nhiễm các chất hữu cơ, làm phát triển một
số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc; thậm chí đã có dấu hiệu xuấthiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt Nam.[6]
2.2.3 Thực trạng và những vấn đề phải đối mặt tại các hồ ở Hà Nội hiện nay
*) Quá trình đô thị hóa và vấn đề nước thải của Hà Nội
Dưới tác động của đô thị hóa, môi trường đô thị đang phải chịu nhiều áp lực
về mặt thay đổi sinh thái cảnh quan cũng như gia tăng các vấn đề ô nhiễm Tìnhtrạng bê tông hóa bề mặt đã tạo nên các mặt không thấm dẫn đến việc giảm và ngăncản tốc độ thấm của lớp bề mặt, làm giảm nguồn bổ sung nước dưới đất, tăng dòngchảy tràn khiến ngập lụt thường xuyên xảy ra trong thành phố sau những cơn mưa
lớn, làm tăng lượng nước chảy tràn vào các hồ khu vực đô thị.[7]
Hà Nội là một trong những thành phố có số lượng dân cư đông đúc, khoảng
gần 7 triệu người vào năm 2009 Trong những thập niên gần đây, cùng với cả nước
Hà Nội đang diễn ra quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa mạnh
mẽ, bộ mặt của Thủ đô đang ngày càng được đổi mới Cùng với những kết quả tolớn về mặt kinh tế, xã hội do quá trình đô thị hóa mang lại, luôn luôn có những vấn
đề môi trường phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ tới cảnh quan đô thị và chất lượngđời sống cộng đồng Sự phát triển kinh tế nhanh chóng trong khi không quan tâmthích đáng đến vấn đề môi trường là nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng quá trình ônhiễm, suy giảm chất lượng môi trường trên diện rộng[8] Đặc biệt, sự suy giảmchất lượng và ô nhiễm nguồn nước đang là một trong bài toán khó đối với chínhquyền thủ đô trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay Theo số liệu thống kê củaCông ty Thoát nước Hà Nội, với dân số gần7 triệu người, lượng nước thải trên toànthành phố xấp xỉ 600.000 m3/ngày Tuy nhiên chỉ có 1/10 lượng nước thải trênđược xử lý, số còn lại đang được xả thải trực tiếp ra các hồ, sông trên địa bàn
Trang 14thành phố Trong đó khoảng 450.000 m3 là nước thải sinh hoạt, còn lại là nước thảisản xuất [9] Trong khi đó hệ thống tiờu thoỏt nước chưa đáp ứng được đòi hỏi thực
tế của lượng nước thải khổng lồ như vậy càng làm cho vấn đề trở nên nghiêmtrọng Thực tế yếu kém của hệ thống thoát nước đã dẫn tới sự ứ động nước thải,nước mưa tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự sinh sôi nảy nở của các loài sinhvật gây bệnh: muỗi, vi sinh vật, côn trùng gây hại, là điều kiện tốt cho sự phát sinhcác trận dịch bệnh
Hiện tại, Hà Nội có 01 Khu công nghệ cao, 18 KCN tập trung, 45 (Khu)Cụm CN nhỏ và vừa, trên 171 Điểm CN, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề khác,cùng với hàng nghìn doanh nghiệp dịch vụ, đồng thời con số này không ngừng tănglên đã tạo nên những áp lực rất lớn đối với việc giải quyết vấn đề nước thải chothành phố Trung bình mỗi ngày có khoảng hơn 150.000 m3 nước thải sản xuất,chứa hàm lượng lớn các chất ô nhiễm được xả thẳng vào ao, hồ và sông, điều này
đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái ao, hồ Mặt khác các nhà máyphần lớn sử dụng các dây chuyền công nghệ lạc hậu, hiệu quả sản xuất thấp dẫnđến lượng chất thải, nước thải cao Đồng thời ý thức bảo vệ môi trường của cácdoanh nghiệp còn thấp, khả năng tài chính đầu tư cho xây dựng và vận hành hệthống xử lý chat thải có hạn cũng là nguyên nhân làm gia tăng sự ô nhiễm
Hoạt động của các bệnh viện trên địa bàn cũng đóng góp một phần nước thảinguy hại, ảnh hưởng đến đời sống dân cư Theo thống kê của Sở Tài nguyên vàMôi trường Hà Nội, lượng nước thải từ các bệnh viện ở nội thành Hà Nội vàokhoảng 6.000m3/ngày, trong đó phần lớn nước thải không qua hệ thống xử lý, xảthẳng vào cống thoát nước chung của thành phố Nước thải bệnh viện được coi làchất thải nguy hại cần được xử lý, thế nhưng hầu hết các bệnh viện, kể cả bệnh việnlớn đa số được xây dựng vào những thập niên 70 của thế kỷ trước nên không có hệ
Trang 15thống xử lý nước thải, hoặc có nhưng không đủ kinh phí vận hành Do đó hàngnghìn m3 nước thải bệnh viện chứa hàng trăm các tác nhân gây ô nhiễm nghiêmtrọng vẫn được thải ra môi trường hàng ngày
Sự phát triển của cỏc vựng nông nghiệp thâm canh ven đô Hà Nội thiếu quyhoạch hợp lý cũng tác động không nhỏ đến chất lượng nước Một số lượng lớn cáchóa chất bảo vệ thực vật, phân bón được sử dụng trong nông nghiệp, đặc biệt nguyhiểm hơn là thói quen sử dụng phân tươi và phân bắc trong trồng rau và màu.Những yếu tố này càng làm tăng khả năng ô nhiễm nguồn nước, tăng nguy cơ dịchbệnh
Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ nhưng sự phát triển cơ sở hạ tầng choviệc tiờu thũa nước ở Hà Nội chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế Với một hệ thốngthoát nước chung, bao gồm nước thải sinh hoạt, nước thải cụng nghiờp, nước chảytràn… sau đó đổ thẳng ra các hồ chứa và cỏc sụng là một giải pháp không hiệu quả
về môi trường Bên cạnh đó, lượng bùn cặn trong hệ thống cống thoát nước rất lớn
đã ngăn cản sự lưu thông của dòng nước thải, làm lắng đọng và bồi tụ các chất ônhiễm tạo ra mùi hôi thối ảnh hưởng đến môi trường sống của dân cư Từ thực tếnày, chúng ta có thể thấy rằng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước tại các hệ thống tiếpnhận và chứa nước thải của Thủ đô Hà Nội là một vấn đề cần được quan tâm vàgiải quyết kịp thời
*) Thực trạng suy giảm chất lượng nước mặt tại các hồ ở Hà Nội
Theo thống kê của cơ quan chức năng, Hà nội hiện nay có khoảng 116 hồ nộithị với diện tích mặt nước khoảng hơn 1.165 ha [9] Thời gian qua, mặc dù các Sở,ngành và chính quyền các cấp đã nỗ lực nhưng việc quản lý, khai thác sông, hồ vẫncòn nhiều bất cập Tình trạng lấn chiếm lòng hồ vẫn xảy ra Theo thống kê của Sở
Trang 16Địa chính và Nhà đất Hà Nội, năm 1989 trong nội thành Hà Nội có hơn 40 hồ vớidiện tích khoảng hơn 800 ha, nhưng hiện nay chỉ còn khoảng 30 hồ với diện tíchmặt nước khoảng 600 ha Như vậy, trong khoảng 2 thập niên mà đó cú tới 10 hồvới diện tích khoảng 200 ha bị xóa sổ, đây là một thực trạng đáng báo động trongcông tác quản lý Theo số liệu thống kê, hồ Trúc Bạch bị lấn chiếm tới gần 1/3 diệntích và hồ Tây hiện nay diện tích còn lại khoảng 526 ha so với năm 1994 là 566 ha.
Sự thu hẹp nhanh chóng về diện tích các hồ nội thị cùng với cơ sở hạ tầng tiờuthoỏt nước kém sẽ dẫn đến tình trạng ngập úng vào mùa mưa, giảm khả năng điềuhòa vi khí hậu, ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường đô thị
Mặt khác sự phức tạp, chồng chéo trong quản lý, khai thác dẫn đến tình trạngkhông thống nhất khiến hệ thống sông, hồ không phát huy hết chức năng phục vụcông tác thoát nước và điều hoà vi khí hậu Ví dụ điển hình nhất là trước đây chỉriêng Hồ Tõy đó cú tới 9 sở, ngành và 10 doanh nghiệp tham gia khai thác, kinhdoanh Việc quản lý yếu kém, chồng chéo vừa là nguyên nhân gây ra ô nhiễm vừa
là nguồn gốc gây khó khăn trong việc cải tạo sông, hồ đang bị ô nhiễm nặng Hiệnnay, Hà Nội đã phân cấp các hồ về quận, huyện để tập trung công tác quản lý, khaithác hồ về một đầu mối Nhưng khi được giao về quận, huyện các hồ vẫn bị bỏ rơi,
bị lấn chiếm và xả rác vô tội vạ Trong khi đó, Công ty TNHH Nhà nước một thànhviên Thoát nước Hà Nội lại chỉ được giao nhiệm vụ quản lý mực nước hồ và tiờuthoỏt nước vào mùa mưa Cùng với khó khăn từ khâu quản lý, khó khăn do thiếukinh phí cải tạo sông, hồ dễ nhìn ra nhất và cũng khó giải quyết nhất bởi chi phí xử
lý ô nhiễm thường rất lớn Ước tính theo đơn giá hiện hành, chi phí để xử lý 100%nước thải của Hà Nội lên tới 1,5 tỷ đồng/ngày, nghĩa là khoảng 550 tỷ đồng/năm.Mặc dù xử lý nước thải sinh hoạt, giảm thiểu ô nhiễm nước mặt là vấn đề không
Trang 17mới nhưng rất cấp thiết Việc này tuy không mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếpnhưng là việc cần phải làm nếu muốn phát triển bền vững.
Bên cạnh sự thu hẹp về diên tích mặt nước, các hồ ở Hà Nội vẫn đang phảiđối mặt với tình trạng suy giảm chất lượng nước mặt ngày càng nghiêm trọng.Theo thống kê của công ty Thoát nước Hà Nội, hấu hết các hồ đều bị ô nhiễm ởmức độ cao, trong đó khoảng 50% ở mức nghiêm trọng
Theo Sở Xây dựng, sau nhiều năm nỗ lực thành phố mới cải tạo, kè bờ được
46 hồ trong tổng số 116 hồ Số ao, hồ chưa được cải tạo cũng là nơi tiếp nhận, xử
lý sơ bộ nước thải đô thị Thế nhưng, hằng ngày nước thải được xả trực tiếp vào,không qua xử lý với nồng độ các chất hữu cơ, chất lơ lửng, muối dinh dưỡng cao
đã làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nước và hệ thủy sinh vật trong hệ sinhthái hồ Do không được thường xuyên nạo vét nên lượng bùn tích lũy ở đáy hồ lớn,chiều sâu cột nước thấp làm ảnh hưởng đến khả năng tự làm sạch của hồ Ao, hồ ônhiễm không chỉ gây ảnh hưởng tới môi trường mà còn tác động xấu tới sức khỏecộng đồng
Kết quả quan trắc chất lượng nước ao, hồ trong nội thành của Công ty Thoátnước Hà Nội cho thấy, các hồ chưa cải tạo chứa nước thải đang ở tình trạng ônhiễm nghiêm trọng thuộc mức 4, hàm lượng COD dao động từ 100 đến 580mg/l(hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 10 lần), các chỉ tiêu phú dưỡng, như nitơ,phospho đều vượt tiêu chuẩn từ 2 đến 4 lần, nồng độ ụxy hòa tan trong nước hồ ởmức thấp, dao động từ 1 đến 3mg/l Đáng chú ý là các mẫu nước trong hồ đượckiểm tra đều có số lượng vi khuẩn đường ruột chiếm một tỷ lệ khá lớn từ 6.000 –42.000 tế bào/100ml nước Đơn cử như hồ Giảng Vừ cú diện tích mặt nước khoảng6,5 ha với sức chứa khoảng 90.000 m3, kết quả kiểm tra mẫu nước cho thấy BOD5
Trang 18khoảng 30,7 – 48 mg/l, COD khoảng 240 - 290 mg/l và vi khuẩn đường ruột
khoảng 19.000 - 63.000 tế bào/100 ml nước[10] Lưu lượng nước thải chảy vào hồ
vượt quá khả năng tự làm sạch của hầu hết các hồ, dẫn đến sự suy thoái chất lượng,thiếu hụt oxy và làm tăng trầm tích trong hồ… Sự gia tăng hàm lượng các chất ônhiễm trong hồ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của các loài thủy sinh vật trong
hồ, làm gia tăng và xuất hiện các loài có hại, đặc biệt là sự xuất hiện của các loài visinh vật có hại như tảo, vi khuẩn, các loài nhuyễn thể… Hiện tượng cá chết hàngloạt mỗi ngày tại hồ Trúc Bạch và một loạt các hồ khác gần đây là một biểu hiện rõrệt cho mức độ ô nhiễm trầm trọng của các hồ nội thành Hà Nội
2.3 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước
2.3.1 Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước tới sức khỏe của con người và sinh vật
*) Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước tới sinh vật
Ô nhiễm nước ảnh hưởng trực tiếp tới các sinh vật nước, đặc biệt là vùngnước sông, do nước chịu tác động của ô nhiễm nhiều nhất Nhiều loại thủy sinh dohấp thụ các chất độc trong nước, thời gian lâu ngày gây biến đổi trong cơ thể nhiềuloài thủy sinh, một số trường hợp gây đột biến gen, tạo nhiều loài mới, một sốtrường hợp làm cho nhiều loài thủy sinh chết Trong 4 ngày liên tiếp ( Từ 18 –21.10), tụm, cỏ chết hàng loạt tại kinh Giữa Nhỏ (ấp Đầm Cựng, xó Trần Thới,huyện Cái Nước, Cà Mau), cạnh xí nghiệp chế biến thủy sản Nam Long thuộcCông ty cổ phần xuất khẩu thủy sản Cỏi Đụi Vàm ( Cadovimex) Nước trong kinhđen ngòm và mùi hôi thối bốc lên nồng nặc Đi đến đầu kinh cạnh Xí nghiệp chếbiến thuỷ sản Nam Long thì thấy nước thải trong bãi rác sinh hoạt của xí nghiệpnày đang tràn xuống kinh Xỏc cỏ chết trên kinh GiữaNhỏ, huyện Cái Nước (tỉnh
Cà Mau) Đây là con kinh chạy dài gần 4 km, nối từ bóirỏc của Xí nghiệp chế biến
Trang 19thuỷ sản Nam Long với sông Cái Nước - Đầm Cùng, có hàng trăm hộ dân lấy nước
từ dòng kinh này để nuôi cá, tụm.Đại dương tuy chiếm ắ diện tích trái đất, nhưngcũng không thể không chịu tác động bởi việc nước bị ô nhiễm, mà một phần sự ônhiễm nước đại dương là do các hoạt động của con người như việc khai thác dầu,rác thải từ người đi biển,…gõy ảnh hưởng không nhỏ đến đại dương và các sinh vậtđại dương, làm xuất hiệnnhiều hiện tượng lạ, đồng thời làm cho nhiều loài sinh vậtbiển không có nơi sống,một số vùng có nhiều loài sinh vật biển chết hàng loạt, ,…
Tình trạng chất lượng nước hồ giảm đột ngột nghiêm trọng và tình trạng cáchết hàng loạt trong nhiều ngày kể từ thập niên 1970, hiện tượng này được các nhàkhoa học gọi tên là “thủy triều đen” Phân tích các mẫu nước hồ lấy từ nhiều nướctrên thế giới cho thấy hiện tượng “thủy triều đen” thường xảy trong hồ nước vàomùa thu Khi đó, chất hữu cơ dưới đáy hồ bắt đầu phân hủy dưới tác dụng của các
vi sinh vật, làm thiếu ụxy dưới đáy hồ, giảm hàm lượng pH và tăng nồng độ cácgốc axớt kali nitrat Chu kỳ này làm tăng tình trạng thiếu ụxy trong nước và lây lanhợp chất sunfua, biến nước hồ có màu đen và mùi hôi
Sự phát triển quá mức của nền công nghiệp hiện đại đó kộo theo những hậuquả nặng nề về môi trường, làm thay đổi hệ sinh thái biển Mặt khác, sự ô nhiễmnước biển do các chế phẩm phục vụ nuôi tôm, dư lượng các loại thuốc kích thích,thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật góp phần làm tăng vọt tần suất xuất hiện thuỷtriều đỏ ở nhiều nơi trên thế giới và ở Việt Nam Không chỉ ảnh hưởng nghiêmtrọng đến nền kinh tế biển, thuỷ triều đỏ còn làm mất cân bằng sinh thái biển, ônhiễm môi trường biển
Khi gặp những môi trường thuận lợi như điều kiện nhiệt độ, sự ưu dưỡng củavực nước các loài vi tảo phát triển theo kiểu bùng nổ số lượng tế bào, làm thay
Trang 20đổi hẳn màu nước Các nhà khoa học gọi đó là sự nở hoa của tảo hay “thuỷ triềuđỏ”.Thuỷ triều đỏ phá vỡ sự cân bằng sinh thái biển, gây hại trực tiếp đối với sinhvật và con người Một số loài vi tảo sản sinh ra độc tố Vì vậy, con người có thể bịngộ độc do ăn phải những sinh vật bị nhiễm độc tố vi tảo.Thuỷ triều đỏ là tập hợpcủa một số lượng cực lớn loài tảo độc có tên gọi Alexandrium fundyense Loài tảonày có chứa loại độc tố saxintoxin, đã giếtchết 14 con cá voi trên vùng biểnAtlantic, vào năm 1987.
Khi các chất ô nhiễm từ nước thấm vào đất không những gây ảnh hưởng đếnđất mà còn ảnh hưởng đến cả các sinh vật đang sinh sống trong đất
Các ion Fe2+ và Mn2+ ở nồng độ cao là các chất độc hại với thực vật
Cu trong nguồn nước ô nhiễm từ các khu công nghiệp thải ra thấmvàođất không độc lắm đối với động vật nhưng độc đối với cây cối ở nồng độ trungbình
Các chất ô nhiễm làm giảm quá trình hoạt động phân hủy chất của mộtsốvi sinh vật trong đất
Là nguyên nhân làm cho nhiều cây cối còi cọc, khả năng chống chịukộm,khụng phát triển được hoặc có thể bị thối gốc mà chết Có nhiều loại chất độcbền vững khó bị phân hủy có khả năng xâm nhập tích lũy trong cơ thể sinh vật.Khi vào cơ thể sinh vật chất độc cũng có thể phải cần thời gian để tích lũy đến lúcđạt mức nồng độ gây độc
Trang 21*) Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường nước tới sức khỏe con người
- Kim loại nặng
Các kim loại nặng có trong nước là cần thiết cho sinh vật và con ngườivỡchỳng là những nguyên tố vi lượng mà sinh vật cần tuy nhiên với hàm lượng caonúlại là nguyên nhân gây độc cho con người, gây ra nhiều bệnh hiểm nghèo nhưungthư, đột biến Đặc biệt đau lòng hơn là nó là nguyên nhân gây nên những làngungthư
Các ion kim loại được phát hiện là hợp chất kìm hãm ezyme mạnh Chúngtác dụng lờn phụi tử như nhóm –SCH3 và SH trong methionin và xystein
Sau đây là một số kim loại có nhiều ảnh hưởng nhiờm trọng nhất
Trang 22Bảng 3: Một số kim loại trong nước ô nhiễm và tác hại của nó đến sức khỏe
con người
1 As Thuốc trừ sâu, chất thải hóa học Rất độc, gây ung thư
Đảo ngược vai trò sinh hóa của enzym, gây cao huyết áp, hỏng thận, phá hủy các mô và hồng cầu,
có tính độc với động vật dưới nước
3 Be Than đá, năng lượng hạt nhân và công nghiệp vũ trụ Độc tính mạnh và bền, có khả năng gây ung thư
4 B Than đá, sản xuất chất tảy
rửa, chất thải công nghiệp Độc với một số loại cây
5 Cr Mạ kim loại Nguyên tố cần ở dạng vết, gây ung
thư(VI)
6 F-( ion)
Các nguồn địa chất tự nhiên, chất thải công nghiệp, chất bổ sung trong nước
Nồng độ 5mg/l gây phá hủy xương
và gây vết ở răng
7 Pb Công nghiệp mỏ, than đá, xăng, hệ thống ống dẫn Gây thiếu máu, bệnh thận, rối loạn thần kinh, môi trường bị phá hủy
8 Mn Chất thải công nghiệp mỏ
Tác động lên hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương thận và các
bộ máy tuần hoàn, phổi
9 Hg Chất thải công nghiệp mỏ, thuốc trừ sâu, than đá Độc tính cao
10 Se Các nguồn địa chất tự nhiên, than đá Gây độc
11 Zn Chất thải công nghiệp, mạ kim loại, hệ thống ống dẫn Độc ở nồng độ cao
( Nguồn website: http://www2.hcmuaf.edu.vn)
Trang 23- Các hợp chất hữu cơ:
Trên thế giới hàng năm có khoảng 60.105 tấn các chất hữu cơ tổng hợp baogồm các chất nhiên liệu,chất màu, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng, cácphụ gia trong dược phẩm thực phẩm Các chất này thường độc và có đọ bềnsinhhọc khá cao, đặc biệt là các hidrocacbnon thơm gây ô nhiễm môi trường mạnh,gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người
Các hợp chất hữu cơ như: các hợp chất hữu cơ của phenol, các hợp chất bảo
vệ thực vật như thuốc trừ sâu DDT, linden(666), endrin, parathion, sevin, bassa…Các chất tẩy rửa có hoạt tính bề mặt cao là những chất ảnh hưởng không tốt đếnsứckhỏe, bị nghi ngờ là gây ung thư
Bảng 4: Một số chất gây ung thư
4-nitrophenyl -
Naphtylamin
Phân tích hóa họcChất chống oxi hóa, sản xuất phẩm màu, phim màu
Gây ung thư bàng quang
Nghi ngờ gây ung thư cho người Gây ưng thư dạ dày,
lá lách, phổi
(Nguồn website: http://www2.hcmuaf.edu.vn)
Trang 24-Vi khuẩn trong nước thải:
Vi khuẩn có hại trong nước bị ô nhiễm có từ chất thải sinh hoạt của con
người và động vật như bệnh tả, thương hàn và bại liệt Ecoil- vi khuẩn đường ruột gây bệnh dạ dày, viêm nhiễm đường tiết liệu ,ỉa chảy cấp…
Báo cáo môi trường quốc gia 2006 đối với ba lưu vực sông (LVS) Cầu,Nhuệ- Đáy và hệ thống sông Đồng Nai cũng nêu rõ: tại những nơi cú dũng chảy ônhiễm đi qua tỷlệ người dân mắc các bệnh liên quan đến chất lượng nước mặttươngđối cao Cụ thể, tại LVS Cầu tỉnh Bắc Kạn (có nước sông Cầu và các phụlưu ít bị ônhiễm) và Thỏi Nguyờn (sử dụng chủ yếu nước hồ Núi Cốc) cho nướcsinh hoạt, sốngười mắc bệnh về đường tiờu hoỏ ít hơn so với các tỉnh hạ nguồn như: Vĩnh Phúc,Bắc Ninh, Bắc Giang và Hải Dương
Bên cạnh đó, tại khu vực nước sông Nhuệ- Đáy bị ô nhiễm cũng đã ảnhhưởng đến sức khoẻ của cộng đồng trong lưu vực Điều này được thể hiện quasựgia tăng mắc các bệnh về đường tiờu hoỏ so với các tỉnh khác
Chẳng hạn trong tỉnhHà Tõy cỏc huyện nằm cạnh sông Nhuệ có tỷ lệ mắcngười dân mắc bệnh lỵ và cỏcbệnh tiêu chảy cao hơn hẳn so với các huyện khác.Cũng theo báo cáo này; tỷ lệ người dân mắc các bệnh liên quan đến nước tại cáctỉnh thuộc LVHTS Đông Nai trong những năm gần đây tăng khá nhanh Đỏnglưu ý
là trong số đối tượng mắc bệnh liên quan đến nguồn nước thì trẻ em chiếm tỷlệ khácao
2.3.2 Ảnh hưởng đến đời sống
*) Sinh hoạt thường ngày:
Nước ô nhiễm ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt của người dân, làm xáo trộn
Trang 25nước sông làm nước sinh hoạt hàng ngày như ở: huyện Hưng Hà, Đông Hưng, VũThư và Thành Phố Thái Bình, người dân ở đây lấy nước sinh hoạt từ hệ thống sôngphía Bắc của tỉnh Thái Bình, sông Sa Lung Vậy mà giờ đây nguồn nước đó lại bị ônhiễm làm cho đời sống sinh hoạt của nhân dân nơi đây sẽ phần nào bị xáo trộn donguồn nước sinh hoạt hàng ngày của họ đã không còn giữ được như xưa Tại mộtsốvựng nông thôn hệ thống xả nước thải được xây dựng tạm bợ giờ đây trở nênứđọng, tràn ra xung quanh làm ô nhiễm môi trường không những thế nú cũn gõytrởngại cho lưu thông, đi lại của nhân dân trong vựng.Mặc khỏc nú cũn làm chonguồn nước ngầm bị ô nhiễm trầm trọng, gây thiếu hụt nguồn nước ngọt nghiêmtrọng Còn ở thành thị, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu là nước máy Tuy nhiên chấtlượng nguồn nước này đang đặt ra dấu chấm hỏi lớn Khi nguồn nước này bị ônhiễm người dân không còn cách nào khác là phải mua nước khoáng về dùng trongkhi đó vẫn trả tiền hàng tháng cho công ty cấp thoát nước Việc mua nước phảithực hiện lúc sáng sớm hoặc tối vì ban ngày họ phải đi làm nên ảnh hưởng rất lớnđến thời gian làm việc và sinh hoạt.
*) Hoạt động sản xuất:
Nước thải ô nhiễm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, đặc biệt tại cácthành thị lớn nơi có hàm lượng chất ô nhiễm cao Tại TP.Hồ Chí Minh – Támtuyến kênh chính phục vụ tưới tiêu cho 8.000 hađất sản xuất nông nghiệp thuộcnăm xã của huyện Bỡnh Chỏnh và Húc Mụn bị ô nhiễm trầm trọng: kiến, cá chết,cây cối đổi màu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân Trong khi
ấy, các cơ quan chức năng lại bất lực đứng nhìn, chưa tìm ra phương thuốc đặc trịhữu hiệu nào để cứu đất, cứu lúa
Trang 26Cá chết vì nguồn nước bị ô nhiễm
Hệ thống thuỷ lợi của huyện Húc Mụn – bắc Bỡnh Chỏnh bao gồm támtuyến kênh chính: kênh Thầy Cai, kênh An Hạ, kênh An Hạ – kênh C, kờnh liờnvựng, kênh ranh Long An, kênh A, kênh B, kênh C… Hệ thống này đảm bảo tướitiêu cho trên 8.000ha đất nông nghiệp, trong phạm vi cỏc xó Phạm Văn Hai, LêMinh Xuân, Vĩnh Lộc B (Bỡnh Chỏnh); xó Xuõn Thới Sơn, Tân Thới Nhỡ (HúcMụn), và một phần quận Bỡnh Tõn
Theo kết quả phân tích chất lượng nguồn nước kênh Thầy Cai, An Hạ, kênh
B, C của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) TP.HCM cho thấy,các thông số COD, BOD5, Coliform (các chỉ tiêu xác định mức độ nhiễm bẩn củanước) đều vượt tiêu chuẩn chất lượng nước dùng cho thuỷ lợi và tiêu chuẩn nướcthải công nghiệp từ vài lần đến hàng chục ngàn lần Từng dòng nước có màu nâuđen, mùi khó chịu chảy về cỏc nhỏnh Nhiều hộ dân, sống dọc theo con kênh nàycho biết, kênh B, C thường xuyên bốc mùi hôi thối Nguồn nước hai kênh này bị ônhiễm bởi khu công nghiệp, cụm công nghiệp Lê Minh Xuân và các cơ sở nhỏlẻdọc kênh Đại diện của sở NN&PTNT cho biết, khu công nghiệp Lê Minh Xuântập trung chủ yếu từ kênh C12 đến C18 Đây là khu công nghiệp tập trung nhiềungành sản xuất có tính chất ô nhiễm nặng Khu công nghiệp này hiện có khoảng
277 doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành nghề như: sản xuất sơn, bao bìnhựa, cao su, bình ắcquy Khu công nghiệp này tuy đã xây dựng nhà máy xử lýnước thải với công suất 4.000 m3 khối/ngày nhưng chưa có giấy phép xả thải vào
hệ thống công trình thuỷ lợi Việc ô nhiễm kênh B và C đã ảnh hưởng trực tiếp tớinguồn nước tưới toàn bộ khu nam tỉnh lộ 10 thuộc hệ thống thuỷ lợi Húc Mụn –bắc Bỡnh Chỏnh (trờn 4.500 ha)
Trang 27Kênh Thầy Cai – con kênh đầu nguồn của hệ thống nước phục vụ tưới tiêutoàn công trình thuỷ lợi Húc Mụn – bắc Bỡnh Chỏnh (trờn 8.000 ha) và nguồnnước sông Sài Gòn phục vụ các dự án cấp nước thành phố còn ô nhiễm nặng nềhơn Kết quả quan trắc chất lượng nước tại đây cho thấy, năm 2008 chỉ tiêu CODvượt tiêu chuẩn 1 – 2 lần, chỉ tiêu Fcal Coliform vượt từ 1 – 120 lần Hệ thống thuỷlợi Húc Mụn – bắc Bỡnh Chỏnh, theo thiết kế chỉ có chức năng ngăn mặn, giữngọt, tưới tiêu theo triều, phục vụ sản xuất nông nghiệp vàkhụng cú nhiệm vụ điềutiết, giảm thiểu ô nhiễm Tuy nhiên, trước tình hình ụnhiễm nặng, công trình nàycòn phải gỏnh thờm trách nhiệm tiờu thoỏt nước ô nhiễm trong khu vực, dẫn đến hệthống kênh này quá tải, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp của các huyệnngoại thành.
Theo quan sát, con kênh này bị ô nhiễm bởi nguồn chất thải của khu xử lýchất thải rắn Hiệp Phước và khu công nghiệp Tõn Phỳ Trung (Củ Chi) Khu côngnghiệp này mặc dù đã xây dựng được nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưnghệthống đấu nối, thu gom nước thải chưa hoàn chỉnh nên nhà máy này chưa vậnhành được Các đơn vị sản xuất trong khu công nghiệp xử lý cục bộ và xả nước thảiriêng lẻ, trực tiếp vào kênh Thầy Cai
Đại diện sở NN&PTNT cho biết, nguồn nước bị ô nhiễm đã ảnh hưởng đếncông tác điều tiết phục vụ tưới tiêu, ngăn mặn, xổ phèn và phòng chống cháy rừng,đặc biệt là ảnh hưởng tới đời sống sinh hoạt, sức khoẻ của người dân quận vùngven và các huyện ngoại thành Trong nhiều năm qua chất thải ô nhiễm từ khu côngnghiệp Lê Minh Xuõn đó gây ra hiện tượng cá chết, vịt chết (2004), cây cỏ biến đổimàu (2007), cá sấu chết, kiến chết hàng loạt (2008)… Nguồn nước ô nhiễm cũnglàm giảm thiểu năng suất cây trồng, có những khu đất phải bỏ không vì ô nhiễmquá nặng Trước đây tại ấp 1, xã Phước Thái, huyện Long Thành - gần Vedan, có
Trang 28một cánh đồng với diện tích trên 10 ha sản xuất 3 vụ lỳa/năm nhưng do ô nhiễmbởi những chất thải độc hại chưa qua xử lý của Vedan, nên phải bỏ hoang từ hàngchục năm qua Hơn 200 hộ dân với hơn 1.000 nhân khẩu sinh sống bằng nghề trồnglúa và nghề chài lưới phải tự tìm kiếm nghềkhỏc sinh sống Ngoài ra, còn hơn 40
hộ dân tại khu vực này làm nghề nuôi trồng thuỷ sản với diện tích mặt nước 70 hacũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi ô nhiễm, tôm cá không thể sống nổi, nhiều ao hồphải bỏ không từ nhiều năm qua… Ở một số nơi khỏc vì ô nhiễm quá nặng nênngười dân không thể trồng trọt, chăn nuôi được, nhiều người dân đành bỏ nghềhoặc đi nơi khác sinh sống
Trang 29PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường nước hồ Tây - Hà Nội
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Khu vực hồ Tây - Hà Nội
Phạm vi thời gian : Tháng 01/2012 đến tháng 05/2012
3.2 Nội dung nghiên cứu
Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thủy văn hồ Tây
Điều kiện kinh tế – xã hội của khu vực xung quanh hồ Tây
Hiện trạng môi trường nước hồ Tây
Các biện pháp bảo vệ và quản lý chất lượng nước hồ Tây
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
+ Phương pháp quan sát : Nhằm thu thập các tài liệu trực quan, hình ảnh vềchất lượng môi trường nước Hồ Tây
Trang 30+ Phương pháp điều tra phỏng vấn : Phỏng vấn nhanh thu thập thông tin vềhiện trạng môi trường, tình hình quản lý nước hồ, và thu thập thông tin vềnhận thức của người dân về bảo vệ môi trường
Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
+ Các tài liệu thu thập được từ sách giáo khoa, giáo trình, internet, tài liệuchuyên ngành…
+ Các tài liệu, số liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo
+ Tài liệu lưu trữ, văn bản về luật, chớnh sỏch,…thu thập từ cơ quan quản lýnhà nước
Phương pháp xử lý số liệu
+ Sử dụng phần mềm Excell để xử lý số liệu và thiết lập biểu đồ
+ Phân tích, đánh giá số liệu
Phương pháp so sánh QCVN 08: 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
về chất lượng nước mặt (Áp dụng cột A2 – Dùng cho mục đích cấp nước sinhhoạt nhưng phải áp dụng công nghệ xử lý phù hợp, bảo tồn động thực vật thủysinh hoặc các mục đích sử dụng như loại B1 và B2)
Trang 31PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Vị trí địa lý, điều kiện khí hậu, thủy văn của hồ Tây
4.1.1 Vị trí địa lý
Hồ Tây, trước đây còn có tên gọi khác là Đầm Xỏc Cỏo, Hồ Kim Ngưu, Lãng Bạc,Dâm Đàm, Đoài Hồ Là một hồ nước tự nhiên lớn nhất ở nội thành Hà Nội, có diệntích khoảng hơn 500 ha và con đường chạy bao quanh hồ dài 18 km
Hồ nằm ở vị trí phía tây bắc trung tâm Hà Nội Tọa độ địa lý 21o03’06.1’’N và
105o49’14.6’’E Hồ Tây là một đoạn sông Hồng cũ ngưng đọng lại sau khi sông đổidòng chảy trong lịch sử Hiện nay, hồ đang được quy hoạch để trở thành trung tâmcủa Thủ đô Hà Nội mở rộng trong tương lai, thay thế cho vị trí trung tâm Hà Nộicủa hồ Gươmhiện tại
Hồ Tây (Hồ Kim Ngưu) ảnh vệ tinh và bản đồ địa lý
Trang 324.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Hồ Tây nằm trong khu vực Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm.Mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, hướng gió thịnh hành nhất
là hướng gió Đông Nam, tháng 6 và tháng 7 có nhiệt độ cao nhất Khu vực nàythường có gió bão vào đầu mùa hè Mùa đông khô lạnh và ít mưa, hướng gió thịnhhành là Đông Bắc, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất, tháng 4 và tháng 10 cónhiệt độ được coi là 2 tháng chuyển tiếp tạo cho hồ Tõy cú 4 mùa phong phú Mặtkhác, hồ Tây nằm trong khu vực gần xích đạo nờn cú lượng bức xạ mặt trời dồidào, tổng lượng bức xạ trung bình nằm từ 111,5 Kcal/cm2 đến 122,8 Kcal/cm2.Nhiệt độ trung bình của nước trong khoảng từ 100C 300C
Vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) tổng lượng mưa chiếm 85% lượng mưa
cả năm (lượng mưa trung bình năm là 1870 mm), mưa lớn nhất vào tháng 7 vàthường cú bóo lớn, 16 ngày đến 18 ngày mưa với lượng trung bình 300 mm 350
mm Hồ Tây là nơi chứa đựng lượng nước mưa giúp cho việc thoát nước của cảkhu vực xung quanh, nhưng chính lượng mưa chảy tràn này keo theo rất nhiều chất
ô nhiễm đặc biệt là nước chảy qua cỏc vựng trồng cây còn mang theo dư lượng hóachất bảo vệ thực vật và phân bón đổ xuống hồ Vào mùa khô hồ là nơi chứa và xử
lý một phần nước thải bằng cơ chế tự làm sạch
4.1.3 Vai trò của hồ Tây
Hồ Tõy cú một không gian rộng, khí hậu tốt, mặt nước thoáng với dụngtích khoảng 9 triệu m3, hồ có khả năng điều hòa khí hậu cho cả khu vực xungquanh
Được thiên nhiên ưu đãi và vị trí thuận lợi, khu vực này còn nổi tiếng vớiLàng nghề trồng hoa và cây cảnh như cây cảnh Nghi Tàm, đào, quất Nhật Tân màtrình độ sản xuất đã lên tới mức nghệ thuật Sản phẩm của vùng này được phânphối đi nhiều vựng trờn đất nước ta và được bạn bè trong và ngoài nước ưa chuộng
Trang 33Hồ còn là một thắng cảnh thiên nhiên vô cùng quý giá gắn liền với cáchuyền thoại từ xa xưa và lịch sử truyền thống ngàn năm Thăng Long Hà Nội Xungquanh hồ Tây hiện có 64 di tích văn hóa bao gồm 20 chùa, 16 đình, 9 đền, 6 miếu,
2 nhà thờ họ, 2 di tích cách mạng, 1 mộ táng nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, 1 Phủ Tây Hồ Thêm vào đó xung quanh hồ còn có nhiều nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giảitrí và thư giãn thu hút đông đảo khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt lànhững ngày nghỉ cuối tuần Vì vậy, hồ Tõy đó đang và sẽ là một điểm du lịch lýtưởng, nhưng cũng chính việc đú đó làm cho hồ Tây bị ô nhiễm đáng kể do lượngrác thải từ hoạt động du lịch
Hồ còn là nơi chưa và xử lý một phần nước thải bằng cơ chế tự làm sạch.Nghề nuôi cá ở hồ Tây cũng mang lại một nguồn lợi đáng kể về mặt kinh
tế Sản lượng 500 - 600 tấn/năm, trong đó có nhiều đặc sản có giá trị như cá chép,tôm, ốc, trai, baba
4.1.4 Đặc điểm hệ sinh thái
Qua kết quả nghiên cứu điều tra năm 1997 của Khoa Sinh học – Trường Đạihọc Khoa học Tự Nhiên thì quanh vùng hồ Tây rất đa dạng về sinh học và tàinguyên sinh vật
- Thực vật: Gồm có 214 loài cây xanh và bóng mát, hoa và cây cảnh thuộc
97 chi của 50 họ nằm trong 4 ngành thực vật
- Thực vật phù du: Ở hồ Tõy đó xác định được 106 loại thuộc 6 ngành tảo
và ngành vi khuẩn lam vào mùa mưa, trong đó ngành tảo lục chiếm đại đa số (58loài), rồi đến tảo silic, tảo mắt, tảo roi Vào mùa khô, số lượng loài tảo ít hơn mùamưa song vi khuẩn lam nhiều hơn một loài
- Động vật không xương sống: Hồ Tây trong mùa mưa, trung bình có 19
loài động vật nổi và mùa khô có 25 loài động vật nổi Động vật đáy tại hồ vào mùamưa chỉ có 11 loài (6 loài ốc, 2 loài trai, 1 loài ấu trùng và 2 loài giun tơ); Vào mùakhô, có khoảng 16 loài động vật