1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình

136 2,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt khi chúng ta đang sống ở thế kỷ mà nền kinh tế là nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, với những máy móc thiết bị tương đối hiện đại đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ cao mới đáp ứng được. Nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao chính là năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Để đáp ứng yêu cầu về trình độ chúng ta phải tiến hành đào tạo. Đào tạo nghề không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành mà còn là sự quan tâm của toàn xã hội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chiến lược phát triển đào tạo nghề là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, chiến lược việc làm và có mối quan hệ chặt chẽ với các chiến lược khác. Đào tạo nghề đã trở thành yêu cầu to lớn của người lao động và người sử dụng lao động, nó diễn ra trước và trong quá trình lao động.Thực tiễn trong những năm qua cho thấy nhu cầu về lao động có tay nghề cao ngày càng gia tăng, người sử dụng lao động (kể cả xuất khẩu lao động) đều muốn tuyển chọn lao động đã có tay nghề, đã được qua đào tạo cơ bản, nhu cầu học nghề của người lao động ngày một tăng, trong khi đó hệ thống các cơ sở dạy nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay chưa đáp ứng được cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề. Hiện tượng thừa lao động không có tay nghề. nhưng lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật, đòi hỏi các cấp, các ngành cần phải đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo dạy nghề.NB là tỉnh có liềm năng lớn về du lịch, với sự kỳ thú của thiên nhiên như vườn quốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc Bích Động, khu Vân Long Địch Lộng, và tiềm năng độc đáo về tài nguyên nhân văn như cố đô Hoa Lư. nhà thờ đá Phát Diệm... Ngoài ra, các khu công nghiệp và cụm công nghiệp cũng bắt đầu khởi động và đi vào hoạt động như khu công nghiệp Ninh Phúc, Tam Diệp; cụm công nghiệp Gián Khẩu, các nhà máy xi măng lớn như nhà máy xi măng Vinakasai, nhà máy xi măng Hướng Dương, Duyên Hà... đã đi vào hoạt động và thu hút được nhiều lao động, các khu du lịch mới như Tràng An, chùa Bái Đính đang thu hút nhiều lao động nhưng do đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầu người thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút người lao động vào học nghề.Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề của tỉnh tuy đã được đổi mới và phát triển nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: công tác dạy nghề vần chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, đòi hỏi các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh phải có hướng đi phù hợp, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.Hiện nay, cơ sở đào tạo nghề toàn tỉnh NB còn nhỏ bé, chưa đào tạo được hệ dài hạn (hiện nay đều do các trường của trung ương đóng trên địa bàn tỉnh đào tạo), cơ sở vật chất, trang thiết bị đội ngũ giáo viên đa phần khiêm nhiệm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đào tạo nghề.Theo nhận định của các chủ doanh nghiệp, đội ngũ lao động nói chung, vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp CNHHĐH. Thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, có tay nghề cao... Ngay cả những lao động có trình độ cao đã được đào tạo hiện nay cũng mới chỉ đáp ứng được 1520% yêu cầu của doanh nghiệp, nhưng phải tiếp tục đào tạo thêm 23 năm nữa.Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tỉnh NB trong thời kỳ CNHHĐH đất nước, đưa NB phát triển nhanh, bền vững đòi hỏi tỉnh ta phải có những chuyển biến căn bản về nhận thức, tổ chức và phương pháp đào tạo nghề. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi chọn đề tài Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình ” từ đó đánh giá những kết quả đã đạt được, những điểm còn tồn tại trong giai đoạn vừa qua trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB.

Trang 1

PHẠM THỊ THU HÀ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TẠI TỈNH NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI – 2013

Trang 2

PHẠM THỊ THU HÀ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TẠI TỈNH NINH BÌNH CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ LAO ĐỘNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN XUÂN CẦU

HÀ NỘI – 2013

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bát kỳ công trình luận văn nào trước đây.

Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

1.1.2 Lao động nông thôn 5

1.1.3 Nghề nghiệp 6

1.1.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn 7

1.2 Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn 9

1.3 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 11

1.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn 11

1.3.2 Xây dựng mạng lưới cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn 11

1.3.3 Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề 12

1.3.4 Xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn 13

1.3.5 Phát triển đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cho lao động nông thôn 15

1.4 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 16

1.4.1 Quy mô, cơ cấu, chất lượng nguồn lao động nông thôn 16

1.4.2 Cơ chế, chính sách của nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 17

1.4.3 Nguồn tài chính đầu tư cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 20

1.4.4 Thái độ xã hội đối với công tác đào tạo nghề 20

1.4.5 Khả năng tiếp nhận lao động sau khi được đào tạo nghề của các doanh nghiệp 21

1.5 Kinh nghiệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương tại Việt Nam 21

1.5.1 Kinh nghiệm của tỉnh An Giang 21

1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa 22

1.5.3 Kinh nghiệm của tỉnh Long An 24

1.6 Sự cần thiết phải đào tạo nghề cho lao động nông thôn 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2010 -2012 29 2.1 Một số đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông

Trang 5

2.1.3 Đặc điểm dân cư và lao động 36

2.2 Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB 41

2.2.1 Nhu cầu đào tạo nghề 41

2.2.2 Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn 45

2.2.3 Hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề 49

2.2.4 Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề, cán bộ quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn 52

2.2.5 Thực trạng triển khai chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn 54

2.2.6 Hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện Đề án ở các cấp 67

2.2.7 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn 67

2.2.8 Sử dụng lao động sau đào tạo nghề cho lao động nông thôn 75

2.3 Đánh giá chung về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB .77

2.31 Kết quả đạt được 77

2.3.2 Hạn chế 80

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TỈNH NINH BÌNH 82

3.1 Phương hướng và mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB 82

3.1.1 Hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh NB trong giai đoạn 2011 – 2015 82

3.1.2 Những quan điểm, mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB 83

3.2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB 86

3.2.1 Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn thể nhân dân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn 86

3.2.2 Phát triển mạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn 88

3.2.3 Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề 89

3.2.4 Phân luồng lao động có nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghề đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển hiện nay của địa phương 91

3.2.5 Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động 92

3.2.6 Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền tư vấn học nghề 95

3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 97

Trang 7

STT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

Trang 8

BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thực trạng lao động của tỉnh NB giai đoạn 2009-2012: 36

Bảng 2.2: Thực trạng trình độ học vấn của lực lượng lao động nông thôn tỉnh NB từ năm 2008-2010 40

Bảng 2.3: Thực trạng trình độ CMKT của lực lượng lao động NB 2010, 2012 38

Bảng 2.4: Thực trạng trình độ nghề của lao động tỉnh NB phân theo thành thị, nông thôn 2010 39

Bảng 2.5: Thực trạng sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tỉnh NB 2010 - 2012 40

Bảng 2.6: Tổng hợp nhu cầu học nghề trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 42

Bảng 2.7: Nhu cầu học nghề của lao động nông thôn ở 3 huyện Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn năm 2013 44

Bảng 2.8: Tổng hợp số lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010 -2012 45

Bảng 2.9: Danh sách các cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ 2010-2012 46

Bảng 2.10: Số giáo viên, người dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2010-2012 53

Bảng 2.11: Kết quả một số hình thức dạy nghề chủ yếu từ năm 2010 - 2012 59

Bảng 2.12: Tình hình học nghề theo mô hình từ năm 2010 -2012 65

Bảng 2.13: Kết quả lao động sau khi đào tạo 2010-2012 75

Bảng 2.14: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo ngành nghề đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 68

Bảng 2.15: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 71

Bảng 2.16: Đánh giá của học viên về chương trình đào tạo 79

Trang 9

2009-2012 37Biểu đồ 2.2: Thực trạng trình độ CMKT của lực lượng lao động NB 38Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nhu cầu học nghề phân theo loại hình đào tạo 2010 - 2012 42Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ nhu cầu học nghề phân theo ngành nghề đã được đào tạo 2010 - 2012

43Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nhu cầu học nghề 44Biểu đồ 2.6: Số giáo viên, người dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông

thôn từ năm 2010-2012 53Biểu đồ 2.7: Hình thức ĐTN cho LĐNT 2010-2012 59Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ lao động được đào tạo trong nhóm nghề 2010-2012 72Biểu đồ 2.9: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn của các cơ sở đào tạo nghề 3

năm 2010-2012 73

Trang 10

PHẠM THỊ THU HÀ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TẠI TỈNH NINH BÌNH CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ LAO ĐỘNG

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

HÀ NỘI – 2013

Trang 11

Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn bao gồm: Xác địnhnhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn, xây dựng mạng lưới cơ sở dạy nghềcho lao động nông thôn, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạonghề, xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển độingũ giáo viên đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Tiếp đó luận văn phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn, bao gồm: Chất lượng, số lượng lao động nông thôn; cơ sở đàotạo nghề; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề; cơ chế, chính sách của nhànước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; chương trình, giáo trình liênquan đến đào tạo nghề cho người lao động nông thôn; nguồn tài chính đầu tư cho côngtác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thái độ xã hội đối với công tác đào tạo nghề;khả năng tiếp nhận lao động sau khi được đào tạo nghề của các DN

Luận văn cũng chỉ ra vai trò và sự cần thiết phải đào tạo nghề cho lao độngnông thôn

Sau khi nghiên cứu lý thuyết, luận văn đi sâu vào phân tích công tác đào tạonghề cho lao động nông thôn tỉnh NB giai đoạn 2010-2012 Từ đó chỉ ra những tồntại, hạn chế trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB

Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB:

Đặc điểm tự nhiên

Vị trí địa lý: NB là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc bộ Nằm trên

tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, có hệ thống cảng biển, đường sông,

Trang 12

đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu, hợp tác, phát triển toàn diện với cáctỉnh khác trong cả nước và quốc tế

Địa hình: Được phân ra làm 3 vùng rõ rệt: vùng đồi núi; vùng đồng bằng;

vùng ven biển

Tài nguyên thiên nhiên: Rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Tài nguyên đất,

tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng

Đặc điểm kinh tế xã hội

Trong những năm gần đây, NB đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội có ảnh hưởng tích cực đến công tác đào tạo nghề cho lao độngnông thôn Đặc biệt, năm 2012, vốn vay lãi suất cao, đầu tư công giảm, thị trườngtiêu thụ sản phẩm công nghiệp, nhất là sản phẩm vật liệu xây dựng gặp nhiều khókhăn, tiêu dùng hạn chế, hàng tồn kho nhiều, dịch vụ cũng phát triển chậm lại Songthực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính Phủ về một số giảipháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, UBND tỉnh đãban hành Kế hoạch số 24/KH-UBND ngày 14/6/2012 với các giải pháp chi tiết, cụthể cho từng ngành, từng đơn vị, do vậy, kinh tế, xã hội trong tỉnh những tháng cuốinăm đã có được những chuyển biến tích cực

Đặc điểm dân cư và lao động

+ Số lượng lao động:

Nguồn lao động khá dồi dào, chiếm 62,17% dân số Năm 2012, tổng số laođộng làm việc trong các ngành kinh tế là 569,4 nghìn người, trong đó lao độngnông, lâm nghiệp và thủy sản là 270,7 nghìn người, chiếm 47,54%

+ Chất lượng lao động

Nhìn chung, chất lượng nhân lực NB còn yếu về trình độ học vấn, chuyên mônlành nghề cũng như về thể lực và tình trạng sức khỏe Năm 2010, mới có 25,7% sốngười tốt nghiệp phổ thông trung học trong tổng số lực lượng lao động ở khu vựcnông thôn Đại đa số lực lượng lao động tỉnh NB mới tốt nghiệp phổ thông cơ sở,đặc biệt là ở nông thôn Do đó cần phải bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hóa và taynghề cho người lao động nông thôn

Trang 13

Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB

Nhu cầu đào tạo nghề

Trong quá trình thực hiện Đề án 1956, để công tác đào tạo nghề cho lao độngnông thôn có hiệu quả, ngành Lao động, Thương binh và Xã hội đã tiến hành điềutra, khảo sát nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm phục vụ cho việcxây dựng đề án giai đoạn 2010-2012 Kết quả điều tra khảo sát:

Nhu cầu học nghề ngắn hạn là rất lớn (98%) Lao động nông thôn là nhữngngười có trình độ văn hóa thấp, khó có khả năng học đề đáp ứng yêu cầu kỹ thuậtchất lượng cao, do đó chủ yếu là nhu cầu học nghề ngắn hạn, ngành nghề chủ yếu làtiểu thủ công nghiệp, có thời gian đào tạo ngắn, kinh phí đầu tư ít lại nhanh thu hồivốn Nguyện vọng học nghề của lao động nông thôn khá phong phú và đa dạng Phầnlớn lao động muốn học nghề tiểu thủ công nghiệp (51%)

Theo kết quả điều tra nhu cầu học nghề của 150 lao động nông thôn tại 3huyện Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn thì tỷ lệ có nhu cầu học nghề trong nhómngành nông, lâm nghiệp rất lớn, chiếm 42%, sau đó đến các nhóm ngành tiểu thủcông nghiệp (40%), công nghiệp- dịch vụ (15%), nhóm ngành ngư nghiệp chiếm tỷ

lệ nhỏ nhất (3%)

Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Các cơ sở dạy nghề đóng vai trò quan trọng trong việc dạy nghề nói chung vàdạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng Hiện nay, trên địa bàn tỉnh NB có 37 cơ

sở dạy nghề (trong đó có 3 trường Cao đẳng nghề (thuộc bộ, ngành); 6 trườngTrung cấp nghề (có 2 trường quân đội, 1 trường công lập thuộc sở LĐ-TB&XH, 3trường dân lập); 28 TTDN và có tham gia dạy nghề (trong đó có 8 trung tâm cấphuyện)) và 40 DN, cơ sở khác có đăng ký dạy nghề Trong giai đoạn 2006-2010tỉnh NB có 04 trung tâm được Bộ LĐTBXH đưa vào đầu tư trọng điểm đó là:TTDN Thành phố NB; TTDN huyện Kim Sơn; TTDN huyện Nho Quan, TTDN thị

xã Tam Điệp Cũng trong năm 2010, 2 TTDN cấp huyện còn lại được thành lập:TTDN huyện Hoa Lư, Gia Viễn Như vậy đến năm 2010 đạt 100% các huyện, thànhphố, thị xã đều có TTDN

Trang 14

Hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề

Hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy nghề của trung tâm dạynghề tỉnh cũng như các cơ sở khác (lớp học cộng đồng và các làng nghề…) đangtrong tình trạng thiếu hụt và đang trong quá trình xây dựng, đầu tư trang thiết bị.Học viên ít được tiếp xúc với máy móc thiết bị mới, công nghệ tiên tiến để thựchành, thực tập

Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề, cán bộ quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Số giáo viên tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện tại rất ít, mặc

dù trình độ giáo viên trên địa bàn tỉnh được nâng cao nhưng với nhịp độ phát triểnnhư hiện nay, nếu không nắm bắt kịp với tốc độ phát triển, nhu cầu khắt khe của thịtrường lao động, chất lượng của đội ngũ giáo viên sẽ không còn đảm bảo; điều này

sẽ hạn chế đến chất lượng đào tạo nghề cho người lao động nông thôn

Thực trạng triển khai chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Cách thức tổ chức:

Điểm nổi bật trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn NB làđược phân cấp quản lý Cấp huyện lập kế hoạch, cấp xã thực hiện công tác dạynghề Kinh phí đào tạo nghề cho lao động nông thôn được tỉnh phân bổ về từnghuyện, thành phố để trực tiếp tổ chức thực hiện theo yêu cầu phát triển kinh tế-xãhội, cũng như nhu cầu của người học và người sử dụng lao động ở địa phương Cấphuyện và cấp xã đóng vai trò chủ chốt từ khâu khảo sát đối tượng học nghề, lên kếhoạch dạy nghề và giải quyết việc làm cho lao động Sở Lao động, Thương binh và

Xã hội do khối lượng công việc giảm nên có điều kiện để làm tốt hơn nữa chứcnăng giám sát về công tác đào tạo nghề 6 tháng sau khi phân cấp quản lý, công tácdạy nghề tại các địa phương đã đạt những kết quả rất đáng ghi nhận, bước đầu khắcphục được những hạn chế trong công tác dạy nghề và tạo việc làm cho người laođộng

Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông thôn.

Để đề án 1956 đi vào thực hiện có hiệu quả, tỉnh NB đã chú trọng ngay từ đầu

Trang 15

công tác tuyên truyền tạo nhận thức sâu rộng trong toàn xã hội về mục đích, vai trò,

ý nghĩa của đề án, giúp người lao động định hướng được nghề mình sẽ làm, cầnphải đào tạo phù hợp với khả năng, hiểu được mục đích, ý nghĩa, chế độ, chính sáchcủa Nhà nước và trách nhiệm của bản thân khi tham gia học nghề Căn cứ kết quảkhảo sát nhu cầu học nghề của người lao động, các xã, thị trấn, thị xã, thành phố đãthảo luận, thống nhất lựa chọn nghề phù hợp với địa phương, người lao động có nhucầu, xếp theo thứ tự ưu tiên để đề nghị với huyện, thành phố tổ chức lớp đào tạonghề Do đó, các địa phương trong tỉnh đã xác định được danh mục nghề đào tạocho lao động nông thôn phù hợp với đặc điểm tình hình của mỗi địa phương Đồngthời qua đó còn theo dõi, quản lý, cập nhật biến động về cung- cầu lao động, làm cơ

sở cho quy hoạch phát triển mạng lưới, nghề đào tạo, chương trình, giáo viên, cán

bộ quản lý dạy nghề, cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề phù hợp…

Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn

(1) Nếu phân theo thời gian đào tạo:

- Đào tạo ngắn hạn: Hầu hết các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đang thực

hiện hình thức dạy nghề ngắn hạn Thời gian dạy nghề ngắn hạn phù hợp với việcđào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Đào tạo dài hạn: Hình thức này được áp dụng ở 3 trường CĐN và 3 trường

TCN, thời gian kéo dài thừ 18 – 36 tháng tùy theo đối tượng tuyển sinh Với thờigian học, lao động được đào tạo dưới hình thức này sẽ được học tập một cách bàibản, chuyên sâu hơn để nâng cao tay nghề và có chuyên môn vững vàng

(2) Nếu phân theo hình thức tổ chức:

- Hình thức dạy nghề tập trung: Đây là hình thức dạy nghề phổ biến đang

được triển khai tại trung tâm dạy nghề huyện Đa số các lớp dạy nghề ngắn hạn vàdài hạn đều áp dụng hình thức này

- Hình thức liên kết đào tạo: Những năm qua, trung tâm dạy nghề đã chủ động

phối hợp với các trường ở địa bàn các tỉnh, thành phố; các DN ngay tại địa phươngthành lập các lớp dạy nghề

- Hình thức tổ chức dạy nghề tại địa bàn sản xuất, các DN, các làng nghề: Đây

Trang 16

cũng là hình thức đang được triển khai khá phổ biến trên địa bàn tỉnh Đây là hìnhthức dạy nghề gắn với cơ sở sản xuất, làng nghề nên rất hấp dẫn người học Lao độngkhi học được hỗ trợ một phần kinh phí, sau khi học có thể sẽ được nhận vào làm ởcác cơ sở sản xuất nếu kết quả học tập đạt yêu cầu

- (3) Nếu phân theo nguồn kinh phí:

- Hình thức hỗ trợ toàn bộ kinh phí: Hình thức này được triển khai cho các đối

tượng được bảo trợ xã hội như dạy nghề cho người khuyết tật, dạy nghề cho ngườisau cai nghiện… Ngoài ra, một bộ phận đối tượng là nông dân cũng được tham giahọc nghề miễn phí theo các dự án, các chương trình

- Hình thức hỗ trợ một phần kinh phí: Hiện nay, đối với học nghề dài hạn, đối

tượng học nghề được hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quyđịnh, còn lại người học phải đóng một phần kinh phí

- Hình thức đóng toàn bộ kinh phí: Hình thức này yêu cầu người có nhu cầu

học nghề phải đóng toàn bộ phần kinh phí trong quá trình học

Hoàn thiện, nhân rộng các mô hình thí điểm có hiệu quả và xây dựng mô hình mới dạy nghề cho lao động nông thôn.

 Lựa chọn nghề đào tạo:

- Nghề truyền thống của địa phương: Thêu, chế tác đá mỹ nghệ, đan cói,

đan bẹ chuối, đan bèo bồng,…

- Nghề mới đưa vào các địa phương: Móc sợi, đính hạt cườm, khâu chănbông xuất khẩu, may công nghiệp, chẻ tăm hương, hướng dẫn viên du lịch,…Sản phẩm làm ra của những nghề này được các DN trong và ngoài tỉnh camkết đảm nhận việc thu mua và xuất bán sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, TrungQuốc, Mỹ, các nước EU,…nên sau khi học nghề số học viên tìm được việc làmchiếm 70-80%

 Lựa chọn cơ sở dạy nghề thực hiện các mô hình dạy nghề:

Các địa phương tiến hành rà soát, khảo sát lựa chọn các cơ sở, DN tham giadạy nghề với mục tiêu dạy nghề phải gắn với giải quyết việc làm chon lao động SởLĐ-TB&XH thẩm định năng lực dạy nghề và khả năng tạo việc làm cho người lao

Trang 17

động sau học nghề, nếu đủ điều kiện thì cấp giấy phép đăng ký hoạt động dạy nghề

và đề nghị UBND tỉnh giao chỉ tiêu đào tạo theo năng lực và nghề đào tạo đã đượccấp phép

 Đối tượng tham gia các lớp dạy nghề theo mô hình:

Là lao động nông thôn thuộc các đối tượng hộ chính sách, hộ nghèo, hộ bịthu hồi đất, người tàn tật, hộ cận nghèo và các lao động khác theo quy định trong đề

án Tập trung ưu tiên các đối tượng thuộc diện thu hồi đất, các xã nghèo, các xã xâydựng thí điểm nông thôn mới

 Đánh giá hiệu quả các lớp dạy nghề theo các mô hình:

Qua ba năm, nhìn chung số lượng đào tạo nghề ở các làng nghề truyền thốnggiữ mức ổn định Hình thức dạy nghề này đã góp phần không nhỏ trong công tácgiải quyết việc làm cho người lao động nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho ngườinông dân có thể kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và làm nghề truyền thống, nângcao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho họ

Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề dài hạn rất nhỏ (4%), danh mục cácngành nghề đào tạo dài hạn cũng khá khiêm tốn, chỉ có 16 ngành nghề, trong đóngành nghề điện công nghiệp và công nghệ hàn chiếm số lượng nhiều nhất (16,89

%) Điều này cho thấy hiện nay tỉnh NB đang thiếu hụt những lao động có tay nghềcao

Tỷ lệ lao động được đào tạo trong nhóm nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệlớn nhất (66%) NB đã có nhiều cố gắng trong việc đào tạo để chuyển bộ phận laođộng nông nghiệp sang các ngành khác Điều này cho thấy từ trước tời nay trongkhu vực nông nghiệp là lao động giản đơn không cần đào tạo vẫn có thể sản xuấtbình thường

Đào tạo ngắn hạn tại các DN, các HTX là 10.947, chiếm 65,64%, đây là tỷ lệlớn, góp phần không nhỏ vào tổng số lao động qua đào tạo nghề của tỉnh

Kết quả công tác đào tạo nghề còn được thể hiện ở mặt chất lượng lao độngqua đào tạo Chất lượng lao động bước đầu được cải thiện, đang từng bước đáp ứng

Trang 18

yêu cầu phát triển, đổi mới công nghệ sản xuất và thị trường lao động Dạy nghề đãgắn với giải quyết việc làm, số người sau khi học nghề đã có cơ hội tốt hơn trongtìm kiếm việc làm Từ thực tế hiện nay, nếu người lao động có quyết tâm học giỏinghề, tâm huyết với nghề thì nhất định sẽ có việc làm và tự thân lập nghiệp trongnền kinh tế hiện nay Gần 60% số lao động sau khi được đào tạo có việc làm

Đánh giá chung về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB

Kết quả đạt được

- Tạo được sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức của các cấp, các ngành, các

tổ chức chính trị, xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cholao động nông thôn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên địabàn tỉnh

- Hiệu quả đào tạo nghề được nâng lên Người học nghề đã tiếp cận phổ cậpđược kiến thức mới về lĩnh vực mình được đào tạo, biết cách làm ăn, giảm chi phísản xuất, tăng năng suất lao động, tạo việc làm tại chỗ hoặc tự hành nghề để kiếmsống, có cơ hội được nhận vào làm việc tại các cơ sở sản xuất và các DN tại địaphương nhờ đó nâng cao thu nhập cho bản than và gia đình, góp phần ổn định cuộcsống

- Người học nghề đã tiếp cận được kiến thức chuyên môn, biết cách làm nghề,giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, có cơ hội vào làm việc tại các DN ởmột số nơi, nhất là ở các xã thí điểm, các mô hình dạy nghề đã góp phần hình thành môhình sản xuất mới, với những nông dân đã qua đào tạo nghề là lực lượng nòng cốt

Trang 19

đào tạo nghề tạo việc làm đạt tỷ lệ chưa cao.

- Bộ máy tổ chức, cán bộ, giáo viên dạy nghề còn thiếu, yếu về chuyên môn,nghiệp vụ, mỗi trung tâm dạy nghề cấp huyện chỉ có từ 3-5 biên chế chủ yếu là cán

bộ quản lý, trường trung cấp nghề Nho Quan chỉ mới có 21 cán bộ, giáo viên

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở dạy nghề do tỉnh quản lý đều đangtrong quá trình xây dựng, đầu tư trang thiết bị

Sau khi phân tích thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn NB, luậnvăn nêu ra những phương hướng và mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôntỉnh NB từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề cholao động nông thôn tỉnh NB Đó là:

Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và toàn thể nhândân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn

Phát triển mạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề.Phân luồng lao động có nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghềđào tạo, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển hiện nay của địaphương

Mở các lớp văn hóa nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là với thanh thiếuniên

Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động

Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền tư vấn học nghề.Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo nghề cho lao độngnông thôn

Trang 20

PHẠM THỊ THU HÀ

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

TẠI TỈNH NINH BÌNH CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ LAO ĐỘNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN XUÂN CẦU

HÀ NỘI – 2013

Trang 21

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh

tế xã hội, đặc biệt khi chúng ta đang sống ở thế kỷ mà nền kinh tế là nền kinh tếmới, nền kinh tế tri thức với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, với những máy mócthiết bị tương đối hiện đại đòi hỏi người sử dụng phải có trình độ cao mới đáp ứngđược Nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao chính là năng lực cạnh tranhtrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và là sự bảo đảm cho sự phát triển bền vữngcủa quốc gia Để đáp ứng yêu cầu về trình độ chúng ta phải tiến hành đào tạo Đào tạonghề không chỉ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành mà còn là sựquan tâm của toàn xã hội, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chiếnlược phát triển đào tạo nghề là một bộ phận của chiến lược phát triển nguồn nhân lực,chiến lược phát triển giáo dục đào tạo, chiến lược việc làm và có mối quan hệ chặt chẽvới các chiến lược khác Đào tạo nghề đã trở thành yêu cầu to lớn của người lao động

và người sử dụng lao động, nó diễn ra trước và trong quá trình lao động

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy nhu cầu về lao động có taynghề cao ngày càng gia tăng, người sử dụng lao động (kể cả xuất khẩu lao động)đều muốn tuyển chọn lao động đã có tay nghề, đã được qua đào tạo cơ bản, nhu cầuhọc nghề của người lao động ngày một tăng, trong khi đó hệ thống các cơ sở dạynghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay chưa đáp ứng được cả về số lượng,chất lượng và cơ cấu ngành nghề Hiện tượng thừa lao động không có tay nghề.nhưng lại thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật, đòi hỏi các cấp, các ngành cầnphải đặc biệt quan tâm tới công tác đào tạo dạy nghề

NB là tỉnh có liềm năng lớn về du lịch, với sự kỳ thú của thiên nhiên như vườnquốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc - Bích Động, khu Vân Long- Địch Lộng, vàtiềm năng độc đáo về tài nguyên nhân văn như cố đô Hoa Lư nhà thờ đá PhátDiệm Ngoài ra, các khu công nghiệp và cụm công nghiệp cũng bắt đầu khởi động

và đi vào hoạt động như khu công nghiệp Ninh Phúc, Tam Diệp; cụm công nghiệpGián Khẩu, các nhà máy xi măng lớn như nhà máy xi măng Vinakasai, nhà máy xi

Trang 22

măng Hướng Dương, Duyên Hà đã đi vào hoạt động và thu hút được nhiều laođộng, các khu du lịch mới như Tràng An, chùa Bái Đính đang thu hút nhiều laođộng nhưng do đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân đầungười thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc thu hút người lao động vào học nghề.Bên cạnh đó, công tác đào tạo nghề của tỉnh tuy đã được đổi mới và phát triểnnhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: công tác dạy nghề vần chưa đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của xã hội, đòi hỏi các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh phải cóhướng đi phù hợp, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Hiện nay, cơ sở đào tạo nghề toàn tỉnh NB còn nhỏ bé, chưa đào tạo được hệdài hạn (hiện nay đều do các trường của trung ương đóng trên địa bàn tỉnh đào tạo),

cơ sở vật chất, trang thiết bị đội ngũ giáo viên đa phần khiêm nhiệm cũng ảnhhưởng không nhỏ đến công tác đào tạo nghề

Theo nhận định của các chủ doanh nghiệp, đội ngũ lao động nói chung, vẫnchưa đáp ứng được những yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, kỹ năngnghề nghiệp của sự nghiệp CNH-HĐH Thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹthuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, có tay nghề cao Ngay cả nhữnglao động có trình độ cao đã được đào tạo hiện nay cũng mới chỉ đáp ứng được 15-20% yêu cầu của doanh nghiệp, nhưng phải tiếp tục đào tạo thêm 2-3 năm nữa

Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước và tỉnh NB trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, đưa NB phát triển nhanh, bềnvững đòi hỏi tỉnh ta phải có những chuyển biến căn bản về nhận thức, tổ chức vàphương pháp đào tạo nghề Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi

chọn đề tài "Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh

Bình ” từ đó đánh giá những kết quả đã đạt được, những điểm còn tồn tại trong giai

đoạn vừa qua trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả côngtác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng của công tác đào tạo nghề cho lao động

Trang 23

nông thôn tỉnh NB từ năm 2010 đến năm 2012 từ đó để ra giải pháp nâng cao hiệu quảđào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh NB trong thời gian tới.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đào tạo nghề cho người lao động

Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB từnăm 2010 đến năm 2012 Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạonghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Binh từ năm 2010 đến năm 2012

Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho laođộng nông thôn tỉnh NB trong những năm tiếp theo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và

thực tiễn về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

- Phạm vi về không gian: Tại tỉnh NB.

- Phạm vi về thời gian:

Từ năm 2010-2012 nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo nghề

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Cách thức thực hiện

Đề tài vận dụng những vấn đề lý thuyết liên quan đến đào tạo nghề để phântích mặt mạnh, mặt yếu để tìm ra lợi thế của công tác đào tạo nghề cho lao độngnông thôn từ đó đưa ra những giải pháp cho địa phương Trên cơ sở kết hợp vớiđiều tra thực tế bằng cách phát phiếu điều tra để qua đó đánh giá được công tác đàotạo nghề cho lao động nông thôn Cuối cùng kết hợp với các chính sách của địaphương đề xuất những giải pháp để hạn chế tính tiêu cực, phát huy tính tích cực của

công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

4.2 Các dữ liệu cần thu thập

1 Nguồn dữ liệu thứ cấp về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Trang 24

tỉnh NB từ năm 2010 đến năm 2012:

- Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh NB

2 Nguồn dữ liệu sơ cấp:

Điều tra bảng hỏi về nhu cầu học nghề của 150 lao động nông thôn tại 3huyện Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn

Điều tra bảng hỏi về ý kiến của 120 học viên về chương trình đào tạo nghề cholao động nông thôn ở Trung tâm dạy nghề Huyện Yên Khánh, Trường Trung cấpnghề Nho Quan, Trường cao đẳng nghề Lilama1

Trang 25

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN, SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐÀO TẠO NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Một số khái niệm cơ bản.

1.1.1 Nông thôn

Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thường bao quanh các đô thị (thành phố,thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp( nông, lâm, ngư nghiệp)đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa,khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của người dân thấp.Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phongphú Như vậy, nông thôn có những đặc trưng sau:

+ Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cư chủ yếu lànông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sảnxuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn Sảnxuất chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên

+ So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấphơn

+ Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp hơn đô thị.Đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng thấp hơn

1.1.2 Lao động nông thôn.

Lao động nông thôn gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khảnăng lao động thuộc khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực:nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp- xây dựng, dịch vụ và những người trong độtuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lý do nào đó hiện tại chưa tham gia laođộng Nguồn lao động nông thôn có các đặc điểm sau:

Trang 26

+ Số lượng lớn Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 4 năm 2012 của Tổng Cục thống kê, lao động nông thôn có khoảng 36,674 triệu người chiếm tới

69,5% lao động của cả nước

+ Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp,

không được đào tạo cơ bản Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp:bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật,…

+ GDP/đầu người thấp Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt

động chủ yếu của người dân Nông nghiệp là ngành lao động nặng nhọc và thu nhậpthấp, rủi ro cao Vì vậy điều kiện sản xuất và sinh hoạt của người dân rất khó khăn,hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầuđời sống tối thiểu

+ Tính thời vụ Lao động trong nông nghiệp, nông thôn (đặc biệt là bộ phận

lao động sản xuất trực tiếp) làm việc có tính chất thời vụ do đặc thù của nghề nông.Đối tượng của nghề nông là cây trồng, vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong

đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau Cùng mộtloại cây trồng, vật nuôi ở những địa phương có điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ cóquá trình sinh trưởng và phát triển khác nhau Tính thời vụ trong nông nghiệp làvĩnh viễn, chúng ta chỉ có thể tìm cách giảm tính thời vụ chứ không thể xóa bỏđược

1.1.3 Nghề nghiệp.

Hiện nay, "nghề” được hiểu theo nhiều cách khác nhau Theo giáo trình Kinh

tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, trang 105,

nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012), “nghề là một hình thức phân công lao động, đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định, như nghề nông, nghề lái xe, nghề xây dựng…”

Nghề là tập hợp những công việc tương tự về nội dung và có liên quan vớinhau ở mức độ nhất định với những đặc tính vốn có, đòi hỏi người lao động phải cónhững hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ năng, kỹ xảo vàkinh nghiệm cần thiết để thực hiện

Trang 27

Mặc dù các khái niệm trên được hiểu theo các góc độ khác nhau, song chúng

ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau:

- Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại

- Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêucầu của xã hội và là phương tiện để sinh sống

- Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi, đòi hỏiphải có một quá trình đào tạo nhất định Vì vậy đào tạo nghề là yêu cầu tất yếu bắtnguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó

1.1.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm Đào tạo nghề : Theo giáo trình Kinh

tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, trang 103,

nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012), “đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình.”

Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học

nghề Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề được đồng nhất với

nhau

Theo Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc

hội XI, kỳ họp thứ 10 : "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,

kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học "

Dạy nghề là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến người học nghề Đó làquá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để họcviên có được một trình độ, kỹ năng, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghềnghiệp

Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành củahọc viên để có được một nghề nghiệp nhất dịnh

Đối tượng của đào tạo nghề là lao động nói chung, đối tượng của đào tạo nghề

cho lao động nông thôn là những người lao động nông thôn Đào tạo nghề cho

Trang 28

lao động nông thôn là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về

lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹnăng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp Đào tạo nghề cholao động nông thôn có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, do số lượng nguồn lao động nông thôn lớn nên đối tượng đào tạo

nghề cho lao động nông thôn có số lượng lớn Số lượng đối tượng đào tạo nghề cholao động nông thôn lớn còn thể hiện ở chất lượng nguồn lao động nông thôn thấp.Thực tế hiện nay, lực lượng lao động nông thôn được đào tạo và bồi dưỡng kiếnthức về nghề nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu hết các kiến thức, kinh nghiệm ngườilao động sử dụng đều thông qua sự đúc rút kinh nghiệm trong quá trình làm việc và

sự truyền dạy lại của các thế hệ trước Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý

4 năm 2012 của Tổng Cục Thống kê, lực lượng lao động nông thôn không có trình

độ chuyên môn kỹ thuật là 32,689 triệu người, chiếm 89,14% trong tổng số lựclượng lao động nông thôn

Thứ hai, do tính đa dạng của đối tượng đào tạo, nên việc tổ chức các khóa đào

tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đàotạo, phương pháp truyền đạt Chương trình đào tạo phải gắn với học liệu sinhđộng, đa dạng và thiết thực, phù hợp với trình độ, hoàn cảnh của người học để tất cảngười lao động nông thôn có cơ hội được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ đó tìmviệc làm và tạo việc làm có năng suất lao động cao hơn, nâng cao dần mức sống củangười dân Cần đa dạng hóa và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miềnnhư đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với người lao động nôngthôn chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề lưu động cho lao động nông thôn làmnông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trườngnơi người lao động làm việc

Thứ ba, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nguồn nội lực cho

đào tạo nghề rất hạn chế Số lượng đối tượng đào tạo nghề rất lớn, tuy nhiên do đó

là những người dân ở nông thôn Đó là nơi GDP đầu người thấp, sản xuất hàng hóa

ít phát triển, thị trường lao động ít phát triển, ít có khả năng tiếp cận với hệ thống

Trang 29

giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng kém phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe chongười dân chưa đảm bảo, môi trường sống của dân cư nông thôn chậm cải thiện(giao thông, điện, nước sạch ), do đó điều kiện của họ cho việc học nghề rất hạnhẹp, đặc biệt là học ở bậc cao và theo các hình thức trường lớp.

Thứ tư, tính chất thời vụ của nguồn lao động nông thôn đòi hỏi việc tổ chức

đào tạo nghề, tập huấn các kiến thức liên quan về trồng cây, vật nuôi cũng phảiđược sắp xếp phù hợp và kịp với thời vụ thì mới đạt hiệu quả cao Việc đào tạonâng cao nhận thức và các kiến thức khác không phụ thuộc vào thời vụ cần được tổchức vào thời điểm nông nhàn để người dân có điều kiện tham gia đông đủ hơn

Do tính thời nên một bộ phận lớn người lao động nông thôn cần có thêm việclàm trong thời gian nông nhàn để tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu cuộc sống Vìvậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần khuyến khích các hoạt động khuyếncông (đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp) và khuyến thương (thương mại và dịch vụ)nhằm giúp người lao động có thể kiếm thêm việc làm và sử dụng có hiệu quả hơnnguồn lực lao động

Thứ năm, trong nông thôn, bên cạnh các cơ sở đào tạo chuyên, hệ thống các tổ

chức kinh tế như hộ thủ công truyền thống, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, các

tổ chức xã hội như hội lao động nông thôn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, đặc biệt làcác tổ chức khuyến nông, lâm, ngư cũng đảm nhận chức năng đào tạo

1.2 Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Tùy theo tiêu chí phân loại, có thể phân thành các hình thức đào tạo nghề sau:

- Theo phương thức đào tạo:

Dạy nghề: là truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để người

học có trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp,đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH Dạy nghề là phương thức đào tạo quy mô lớnnhững công nhân kỹ thuật có trình độ cao, thời gian đào tạo tập trung từ hai đến bốnnăm Được tổ chức tại các tổ chức chuyên nghiệp có:

Hệ thống cơ sở vật chất, máy móc thiết bị phục vụ cho việc dạy nghề

Đội ngũ giáo viên đủ khả năng chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy

Trang 30

Chương trình dạy được biên soạn thống nhất.

Phương thức này có ưu điểm: Chương trình học được xây dựng một cách có

hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, do đó học viên nắmđược kiến thức cơ bản và kỹ năng nghiệp vụ một cách nhanh chóng và dễ dàng Khi

ra trường, học viên có thể chủ động giải quyết công việc, có khả năng đảm nhậncông việc tương đối phức tạp, có trình độ lành nghề cao

Tuy nhiên do yêu cầu về cơ sở vật chất và giáo viên giảng dạy nên chi phí đàotạo khá lớn, mặt khác thời gian đào tạo dài, gây khó khăn trong việc thu hút ngườilao động nông thôn tham gia học nghề

Truyền nghề: Là truyền bá kỹ năng thực hành để người lao động nông thôn có

được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.Đây là phương thức đào tạo được áp dụng trong từng cơ sở sản xuất kinh doanh,đặc biệt trong các gia đình làm nghề thủ công truyền thống Vì được đào tạo cácnghề chuyên sâu tại nơi người học sẽ làm việc, nên nội dung đào tạo của truyềnnghề rất sát với môi trường và tính chất nghề mà người lao động hoạt động Tuynhiên phương thức này diễn ra với quy mô nhỏ, người dạy nghề không chuyên nênthiếu kinh nghiệm Đôi khi người học còn bắt chước cả những kỹ năng không hợp

lý của người hướng dẫn Hình thức này chỉ thích hợp với những công việc khôngđòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao

- Theo mức độ truyền bá kiến thức nghề:

Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề Đào tạo mới nhằm

tăng thêm lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cho xã hội Đào tạo mới có thểthực hiện ở các cơ sở dạy nghề chuyên hoặc trong từng cơ sơ sản xuất kinh doanh

Đào tạo lại: Là đào tạo với những người có nghề nhưng do yêu cầu mới của

sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độchuyên môn, nên cần đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình dộmới, đáp ứng yêu cầu công việc Đào tạo lại giúp người lao động có cơ hội học tậpmột lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề, nên thường được thực hiện ở cơ sởđào tạo chuyên

Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Là quá trình cập nhật kiến thức còn thiếu, bổ

Trang 31

túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyênmôn Hình thức này cũng thường được thực hiện ở cơ sở đào tạo chuyên.

- Theo thời gian đào tạo nghề và các kểt quá người học đạt được: Có cao

đẳng nghề, trung cấp nghề, bồi dưỡng nghề Tương ứng với các cấp độ của dạynghề đó, học viên có bằng: cao đẳng, trung cấp, chứng chỉ nghề

1.3 Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

1.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Nhu cầu đào tạo nghề là mong muốn được tham gia, được hiểu biết và thựchành về một hay một số nghề phù hợp với điều kiện của mỗi người lao động Nó là

cơ sở quan trọng để hệ thống đào tạo nghề chuẩn bị các điều kiện đào tạo nghề như:xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo , chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộquản lý và giáo viên đào tạo nghề Nhu cầu đào tạo cũng có thể được tính toán từviệc xem xét các điều kiện vật chất và con người có thể huy động cho đào tạo nghềvới nhu cầu từ sự phát triển KTXH Việc xem xét mối tương quan giữa nhu cầu xãhội và khả năng về các điều kiện có thể huy động là quy trình hợp lý nhất để xácđịnh nhu cầu đào tạo nghề tại một quốc gia, một vùng, một địa phương trong thờigian nhất định Mặt khác, cũng cần xem xét tới đối tượng của hoạt động đào tạonghề- những người học nghề với nhu cầu thực sự của họ và các điều kiện của chính

họ để có thể tham gia vào quá trình đào tạo nghề, xác định khoảng trống giữa kiếnthức, kỹ năng cần có khi tham gia lao động và những kiến thức, kỹ năng mà ngườihọc hiện có

Việc xác định nhu cầu đào tạo nghề cần tiến hành theo quy trình:

1 Xác định yêu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực, cả cơcấu ngành nghề và cơ cấu trình độ

2 Phân tích, đánh giá đúng đắn nguồn lao động hiện có của địa phương, sosánh với yêu cầu về nhân lực, để từ đó xác định nhu cầu, lập kế hoạch bổ sung, đàotạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động của địa phương

1.3.2 Xây dựng mạng lưới cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn.

Trang 32

Các cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn rất đa dạng, đó là: cơ sở dạy nghềcông lập, tư thục, cơ sở dạy nghề tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại, nônglâm trường, vùng chuyên canh, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các cơ sở dạynghề tiểu thủ công mỹ nghệ.

Cần đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cánhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn: thu hút các cơ sở dạynghề tư thục, các cơ sở giáo dục (trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyênnghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướngnghiệp), các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tham gia hoạt độngdạy nghề cho lao động nông thôn

Quy hoạch và thiết kế hệ thống mạng lưới cơ sở đào tạo nghề theo từng cấphọc, từng hình thức đào tạo nghề tại từng địa phương là nội dung mang tính tiền đề.Xây dựng mạng lưới cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn trên cơ sở xem xét,đánh giá lại các tổ chức đã tham gia vào công tác dạy nghề cho lao động nông thôntrong thời gian qua trên tất cả các mặt, từ hệ thống trường lớp, đội ngũ giáo viên,trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học, các ngành nghề đang được dạy tại các cơ

sở dạy nghề, nội dung, tài liệu và phương pháp giảng dạy cho lao động nông thôn

để biết được cái gì đã được, cái gì chưa được cần bổ sung và hoàn thiện

Hiện nay, mạng lưới các cơ sở dạy nghề chủ yếu tập trung ở các khu vực đôthị, tuy nhiên lao động nông thôn vừa là người lao động vừa là các chủ hộ, họ quantâm nhiều đến công việc gia đình, do đó nên bố trí các lớp học gần nơi ở của họ, đểsau các buổi học họ có thể tham gia sinh hoạt với gia đình Do vậy chú trọng pháttriển hình thức dạy nghề tại trung tâm học tập cộng đồng trên cơ sở lớp học trênđồng ruộng/ lớp học hiện trường

1.3.3 Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo nghề bao gồm: phòng học lý thuyết,xưởng thực hành cơ bản và thực tập sản xuất, thư viện, học liệu, trang thiết bị phục

vụ cho giảng dạy và học tập, nhà ở cho học viên, khu làm việc cho cán bộ, giáo viêndạy nghề Kinh phí xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị thường là rất

Trang 33

lớn, vì vậy cần có sự tham gia của các cấp quản lý vĩ mô với các hoạt động quantrọng như: Quy hoạch hệ thống đào tạo nghề trên phương diện cơ sở vật chất, cấpvốn cho các trường, các cơ sở đào tạo nghề và giám sát quá trình thực hiện vốn.Tổng Cục dạy nghề là cơ quan đảm nhận vai trò này.

1.3.4 Xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Dù chương trình dạy học ở cấp độ vĩ mô hay vi mô thì đều có 5 yếu tố cơ bảncủa hoạt động dạy học: mục tiêu dạy học của chương trình, nội dung dạy học, hìnhthức tổ chức và phương pháp dạy học; quy trình kế hoạch triển khai; đánh giá kếtquả

Tùy vào tình hình thực tế, nhu cầu đào tạo nghề, xác định mục tiêu cụ thể của

từng chương trình dạy nghề

Để xác định nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn, các cấp chính

quyền địa phương phải lập được kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở đó

sẽ xác định được nội dung đào tạo Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm đào tạo theo

kế hoạch của địa phương, khi đó có thể đảm bảo được quá trình đào tạo nghề cholao động nông thôn gắn với mục tiêu sử dụng Nguyên tắc cơ bản cho việc xác địnhnội dung đào tạo:

Tại mỗi vùng, cơ cấu ngành nghề và trình độ dân trí khác nhau nên cần xácđịnh cụ thể nội dung dạy nghề cho lao động nông thôn tại từng vùng Trong mỗichương trình nên chia ra nhiều học phần khác nhau, lao động nông thôn có thể lựachọn theo học toàn chương trình hoặc học từng phần riêng biệt, khi học xong cầncấp chứng chỉ về nghề nghiệp cho lao động nông thôn

Huy động các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người laođộng có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trungtâm khuyến nông - lâm - ngư xây dựng chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghềcho lao động nông thôn Ngoài ra, cần có sự tham gia của lao động nông thôn trongquá trình xây dựng chương trình đào tạo Thông qua việc tiếp xúc tìm hiểu nhu cầuhọc nghề của lao động nông thôn, các nhà hoạch định nội dung chương trình sẽ biếtđược người lao động nông thôn cần gì, khả năng thu nhận và tư vấn cho họ trong

Trang 34

việc lựa chọn, xác định nghề cần học.

Nội dung dạy cho lao động nông thôn phải gắn với chiến lược phát triển kinh

tế của vùng, của địa phương, với mục tiêu phân bố lại lao động nông thôn cũng nhưvới khoa học công nghệ cao Hai nội dung quan trọng của công nghiệp hóa hiện đạihóa nông nghiệp nông thôn phải được cụ thể hóa từng bước trong các chương trìnhdạy nghề cho lao động nông thôn

Về Giáo trình, tài liệu học tập: Tài liệu viết cho các lớp dạy nghề cho lao

động nông thôn phải viết ngắn, từ ngữ đơn giản phù hợp với ngôn ngữ địa phương,

dễ hiểu dễ nhớ kèm theo các tranh, ví dụ minh họa và các nội dung được trình bàytheo trật tự của một quy trình công việc Giáo trình càn trình bày đẹp, nhỏ, tiện lợicho học viên sử dụng hàng ngày

Về thời gian của khóa học:

Các chương trình/ khóa học nên thực hiện trọn vẹn một quy trình, chu kỳ sinhtrưởng và phát triển Nếu chương trình khóa học hay chuyên đề có nội dung lớncần chia nhỏ thành các Module và được tổ chức học theo một trật tự logic với thờigian dài hơn, kết thúc mỗi module, người học đem những kết qủa học được áp dụngvào thực tế công việc, từ đó sẽ thấy được những điều thiếu cần phải được bổ sung

để đề xuất, bổ sung cho nội dung học tập của giai đoạn học tiếp theo

Về quy mô lớp học đào tạo nghề:

Để đảm bảo chất lượng dạy và học, và phát huy khả năng tham gia của ngườihọc trong quá trình trao đổi kinh nghiệm, kiến thức mỗi lớp học chỉ nên có từ 25-30học viên

Về đánh giá hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Hiệu quả là một trong những yếu tố chính quyết định sự thành công củatrương trình đào tạo Việc đánh giá này nhằm tìm hiểu chương trình đào tạo có hoànthành mục tiêu đề ra hay không Nó chủ yếu xác định kết quả đào tạo: lượng kiếnthức, kỹ năng học viên đạt được và khả năng ứng dụng kiến thức, kỹ năng đó vàoquá trình làm việc sau khi được đào tạo Việc đánh giá hiệu quả đào tạo nghề được

Trang 35

tiến hành dựa vào các tiêu chí sau:

Mức độ hài lòng của học viên đối với khóa học: Khi kết thúc khóa học, thông quaphát phiếu thăm dò, cơ sở đào tạo lấy ý kiến của học viên về nội dung chương trình đàotạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị, giáo viên, mức độ ứng dụng vào công việc họ sẽ làm.Mức độ phù hợp của ngành nghề đào tạo với mục tiêu phát triển kinh tế xã hộicủa địa phương; khảo sát, điều tra học viên sau khi tham gia khóa học có tìm đượcviệc làm phù hợp không

Sự thay đổi thu nhập của người lao động sau khi được đào tạo: Đây là tiêu chírất quan trọng để đánh giá hiệu quả đào tạo nghề Mục tiêu chính của đào tạo nghề

là giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người lao động

Mức độ liên kết của các trường dạy nghề với các doanh nghiệp: Các cơ sở đàotạo cần quan tâm đến nhu cầu của xã hội, của doanh nghiệp và của người lao động.Doanh nghiệp cũng cần liên kết với nhà trường trong việc xây dựng chương trìnhđào tạo để người học sau khi tốt nghiệp đủ kiến thức kỹ năng đáp ứng yêu cầu côngviệc Như vậy sẽ tránh được tình trạng lãng phí thời gian, tiền bạc của người laođộng, của các cơ sở đào tạo nghề cũng như của Nhà nước

1.3.5 Phát triển đội ngũ giáo viên đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Để hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn có kết quả cao cần có tính thựchành của các bài học và có các phương pháp dạy học cho người lớn tuổi Do vậy đòihỏi giáo viên dạy nghề ngoài kiến thức chuyên môn vững vàng, kỹ năng tay nghề thànhthạo, cần có phương pháp giảng dạy phù hợp với người lao động nông thôn

Trước mắt cần thực hiện chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề cholao động nông thôn từ các giáo viên tiềm năng như cán bộ khuyến nông xã, cán bộthú y, bảo vệ thực vật xã, cán bộ khuyến nông huyện, khuyến nông viên cơ sở, cán

bộ hội lao động nông thôn hoặc lao động nông thôn giỏi

Về lâu dài, cần xây dựng chương trình đào tạo giáo viên dạy nghề cho laođộng nông thôn, với các nội dung cần tập trung các chuyên đề về kinh tế, kỹ thuật,nông nghiệp, mà các chuyên đề này là các bài giảng ở lớp, làng, xã Phương pháp sư

Trang 36

phạm, phương pháp khuyến nông, tổ chức lớp học, phương pháp đánh giá nhu cầuđào tạo, phát triển tài liệu Tham quan các mô hình khuyến nông, lâm.

1.4 Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.4.1 Quy mô, cơ cấu, chất lượng nguồn lao động nông thôn.

Trong công tác đào tạo nghề nói chung, đào tạo nghề cho lao động nông thônnói riêng, học viên học nghề là đối tượng, là nhân tố trung tâm, có tính chất quyếtđịnh đối với công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạonghề Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thờigian của bản thân người học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chấtlượng đào tạo nghề Cụ thể:

Qui mô nguồn lao động nông thôn lớn là yếu tố ảnh hưởng đến số lượt laođộng nông thôn được đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề Điều này đỏi hỏi các cơ

sở dạy nghề ngày càng chú trọng hơn trong công tác tham gia tuyển sinh dạy nghềcho lao động nông thôn

Cơ cấu nguồn lao động nông thôn trẻ ảnh huởng đến cơ cấu lao động nôngthôn được đào tạo theo nhóm tuổi Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm quý 4năm 2012 của Tổng Cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15- 39 tuổi là 18,3748triệu người chiếm 50,1% lực lượng lao động nông thôn Đây là lực lượng lao độngtrẻ, khỏe, có khả năng tiếp thu và nắm bắt kỹ thuật mới nhanh, sử dụng công nghệmới và các kiến thức chuyên môn kỹ thuật Đây là một lợi thế kích thích các cơ sởdạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn

Cơ cấu nguồn lao động nông thôn nước ta phân bố chưa hợp lý Theo Báo cáođiều tra Lao động việc làm quý 4 năm 2012 của Tổng Cục Thống kê Lao độngtrong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng lớn 60,35% lao độngnông thôn Phân bố nguồn lao động cũng không đều trong cả nước, tại khu vựcđồng bằng hầu hết rơi vào tình trạng đất chật người đông, diện tích dất canh tác tínhtheo đầu người rất thấp, lực lượng lao động nông thôn chiếm 83,42% trong khi đóchỉ có 28,05% đất đai Ngược lại vùng trung du, miền núi phía bắc - nơi có 71,95%diện tích đất đai lại chỉ có khoảng 16,58 % lực lượng lao động nông thôn Các cơ sở

Trang 37

dạy nghề cần xây dựng và điều chỉnh chương trình học phù hợp hơn với lực lượnglao động nông thôn hiện nay.

Chất lượng nguồn lao động nông thôn tương đối thấp ảnh hưởng không nhỏđến công tác đào tạo nghề tại các cơ sở dạy nghề, các cơ sơ đào tạo đang rất nỗ lựctrong công tác dạy nghề để nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn đáp ứngyêu cầu hội nhập và góp phần phát triển nền kinh tế đất nước

1.4.2 Cơ chế, chính sách của nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Đào tạo nghề có chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, vì vậy muốnđào tạo nghề phát triển thì Nhà nước phải có các chính sách đầu tư; đồng thời phảiban hành hệ thống văn bản tạo hành lang pháp lý, tạo môi trường thuận lợi đểkhuyến khích đào tạo nghề phát triển Những đường lối và chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước nếu đúng đắn và phù hợp sẽ là điều kiện rất thuận lợi đểkhuyến khích các cơ sở dạy nghề tham gia vào đào tạo nghề cho lao động nôngthôn Và ngược lại, nếu cơ chế chính sách nhà nước chưa quan tâm đúng đắn đếncác cơ sở dạy nghề và đặc biệt là công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn làmcho các cơ sở dạy nghề không chú trọng đến đối tượng đào tạo là lực lượng laođộng nông thôn

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,cần phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động trong nông thôn, trong đó đào tạonghề có sứ mạng rất lớn, góp phần rất quan trọng vào việc chuyển dịch này TrongNghị quyết số 26-NQ-TW ngày 5-8-2008, Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về

nông nghiệp, lao động nông thôn và nông thôn có đề ra: có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách bảo đảm việc làm cho lao động nông thôn, nhất là ở các

vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất Đẩy mạnh xuất khẩu lao động từ nông

thôn Hình thành Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm hàng năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn: phấn đấu đến năm 2020 lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã

hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 28-10-2008 Chính Phủ đã

Trang 38

ra Nghị quyết số 24/2008/NQ- CP ban hành Chương trình hành động của Chínhphủ, trong đó có đặt mục tiêu: “Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn,chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyếtviệc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với hiện nay".Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động của Chính phủlà: "Xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực nôngthôn, tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho bộ phận con em laođộng nông thôn đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, thủcông nghiệp và dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận lao động nông thôn còn tiếp tụcsản xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuấtnông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộquản lý, cán bộ cơ sở".

Để cụ thể hóa Chương trình hành động, ngày 27-11-2009, Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho laođộng nông thôn đến năm 2020" (gọi tắt là Đề án 1956) Trong Quyết định này đãthể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là: "Đào tạo nghề cho lao độngnông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằmnâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghềcho lao động nông thôn, có chính sách đảm bảo thực hiện công bằng xã hội họcnghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện đểtoàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn"

Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Bình quân hàng năm đào tạo nghềcho khoảng 1 triệu lao động nông thôn, trong đó đào tạo, bồi dưỡng 100.000 lượtcán bộ, công chức xã Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạoviệc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấulao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn ” Đối tượng của Đề án này là lao động nông thôn trong

độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học

Trang 39

Trong đó ưu tiên đào tạo nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởngchính sách ưu đãi, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đabằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, ngườithuộc diện có đất thu hồi

Đề án đã đề ra đồng bộ các chính sách đối với người học nghề, chính sách đốivới người dạy nghề (bao gồm giáo viên, giảng viên trong các cơ sở dạy nghề; cán

bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có tay nghề cao tại các doanh nghiệp, cơ sở sảnxuất, kinh doanh và các trung tâm khuyến nông, lâm, ngư, lao động nông thônsản xuất giỏi tham gia dạy nghề) và chính sách đối với các cơ sở dạy nghề cho laođộng nông thôn Một trong những khác biệt của đào tạo nghề cho lao động nôngthôn theo Đề án 1956 so với các chương trình, dự án trước đó về dạy nghề cho laođộng nông thôn là yêu cầu cao về "đầu ra" Theo mục tiêu của Đề án 1956, từ nayđến năm 2015, 70% số lao động nông thôn sau khi được đào tạo nghề có việc làmphù hợp với nghề được đào tạo và tỷ lệ này đạt được là 80% vào những năm sau đó.Đồng thời với Đề án 1956, ngày 4-6-2010 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyếtđịnh số 800/QĐ-TTg phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nôngthôn mới giai đoạn 2010- 2020” Theo đó, sẽ có 11 nhóm nội dung phải triển khai

thực hiện từ nay đến năm 2020, trong đó có nội dung "đẩy mạnh đào tạo nghề cho 1ao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyếi việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn".

Có thể nói, chưa bao giờ vấn đề đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghềcho lao động nông thôn lại được Đảng và Nhà nước quan tâm như hiện nay và đã

có những cơ chế, chính sách và các giải pháp đồng bộ để thực hiện Đến nay đã cógần 80% số tỉnh đã đưa nội dung đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào nghịquyết của đại hội Đảng bộ tỉnh giai đoạn 2011-2015

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là việc làm có tính xã hội và nhân văn sâusắc, do đó đã nhận được sự đồng thuận rất cao của người dân, của các cấp, các ngành,các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các phương tiện thôngtin đại chúng Tư tưởng bao trùm của các chủ trương, đề án của Đảng và Nhà nước vềđào tạo nghề cho lao động nông thôn là góp phần tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại

Trang 40

trong nông nghiệp; tạo ra những lao động có kiến thức, có kỹ năng sản xuất hiện đại,

có khả năng thích ứng với sự cạnh tranh quốc tế trong sản xuất nông nghiệp

1.4.3 Nguồn tài chính đầu tư cho công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Nguồn tài chính đầu tư công tác đào tạo nghề có vị trí hết sức quan trọng trongđào tạo nghề Nó ảnh hưởng đến chất lượng giáo viên cũng như cơ sở vật chất,trang thiết bị của cơ sở đào tạo nghề, có tính chất quyết định đến sự tồn tại và pháttriển của các cơ sở đào tạo nghề Tài chính bao gồm các khoản chi cho việc đầu tưxây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, chi phí công tác quản lý, tiền lương

và các hoạt động khác của các cơ sở dạy nghề Có thể thấy được đào tạo nghề làhình thức đào tạo tốn kém nên rất cần sự đầu tư đúng mức của chính phủ và hỗ trợkinh phí từ các nguồn khác

1.4.4 Thái độ xã hội đối với công tác đào tạo nghề.

Nhận thức của xã hội về đào tạo nghề tác động mạnh đến công tác đào tạonghề, ảnh hưởng rõ rệt nhất của nó là tới lượng học viên đầu vào cho các cơ sở dạynghề Do tâm lý ưa chuộng khoa bảng, bằng cấp của gia đình, người học nghề và xãhội nên công tác đào tạo nghề hiện nay chưa được xã hội nhận thức đầy đủ và đúngđắn Không ít các gia đình coi việc vào đại học là con đường duy nhất để có thểkiếm được một nghề ổn định và xây dựng được cuộc sống tốt Phần lớn học sinhkhông muốn thi vào các trường dạy nghề này bởi tâm lý không muốn làm lao độngnông thôn hoặc không muốn làm việc tại nông thôn mà có xu hướng đổ xô ra thànhphố học đại học và làm việc Bên cạnh đó, những người lao động nông thôn cũngkhông muốn tham gia vào các lớp dạy nghề mở tại địa phương, vì họ bảo thủ chorằng, với kinh nghiệm bao đời và với những vật nuôi, cây trồng họ vẫn có thể trựctiếp chăm bón hoặc tham gia sản xuất và làm việc với năng suất cao mà không cầnphải mất thời gian và tiền bạc học qua các lớp dạy nghề

Nếu người lao động đánh giá được đúng đắn hơn tầm quan trọng của việchọc nghề thì lượng lao động tham gia học nghề sẽ chiếm một tỷ lệ lớn hơn so vớitoàn bộ số lao động trên thị trường và sẽ có cơ cấu trẻ hơn, đa dạng hơn Hơn nữa,

Ngày đăng: 06/05/2015, 10:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Vũ Thị Bình. Giáo trình quy hoạch phát triển nông thôn. Nhà xuất bản nông nghiệp. (2006) Khác
2. Sở lao động thương binh xã hội tỉnh Ninh Bình, Báo cáo kết quả 3 năm (2010- 2012) công tác dạy nghề và giải pháp trong thời gian tới Khác
3. Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Quyết định phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011- 2020 Khác
5. Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình. Niên giám thống kê 2011 Khác
6. Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình. Niên giám thống kê 2012 Khác
7. Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước (1996), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr 328 Khác
8. Trần Văn Tùng, Lê Ái Lân (1996), Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn ở nước ta. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
9. Chính phủ. Chương trình hành động của Chính Phủ thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành TW Đảng khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thực trạng lao động của tỉnh NB giai đoạn 2009-2012: - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.1 Thực trạng lao động của tỉnh NB giai đoạn 2009-2012: (Trang 53)
Bảng 2.3: Thực trạng trình độ CMKT của lực lượng lao động NB 2010, 2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.3 Thực trạng trình độ CMKT của lực lượng lao động NB 2010, 2012 (Trang 55)
Bảng 2.4: Thực trạng trình độ nghề của lao động tỉnh NB phân theo thành thị,  nông thôn 2010. - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.4 Thực trạng trình độ nghề của lao động tỉnh NB phân theo thành thị, nông thôn 2010 (Trang 56)
Bảng 2.5: Thực trạng sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tỉnh NB 2010 - 2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.5 Thực trạng sử dụng thời gian lao động ở nông thôn tỉnh NB 2010 - 2012 (Trang 57)
Bảng 2.8: Tổng hợp số lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010 -2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.8 Tổng hợp số lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010 -2012 (Trang 61)
Bảng 2.9:  Danh sách các cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ 2010-2012. - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.9 Danh sách các cơ sở dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ 2010-2012 (Trang 63)
Bảng 2.10. Số giáo viên, người dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2010-2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.10. Số giáo viên, người dạy nghề tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 2010-2012 (Trang 70)
Bảng 2.11: Kết quả một số hình thức dạy nghề chủ yếu từ năm 2010 - 2012 STT Tên nghề đào tạo          2.012    2010-2012 A Dạy nghề ngắn hạn          3.553         16.708    1 Nghề phi nông nghiệp          3.427         15.627    Tiểu thủ CN          2.06 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.11 Kết quả một số hình thức dạy nghề chủ yếu từ năm 2010 - 2012 STT Tên nghề đào tạo 2.012 2010-2012 A Dạy nghề ngắn hạn 3.553 16.708 1 Nghề phi nông nghiệp 3.427 15.627 Tiểu thủ CN 2.06 (Trang 76)
Bảng 2.12: Tình hình học nghề theo mô hình từ năm 2010 -2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.12 Tình hình học nghề theo mô hình từ năm 2010 -2012 (Trang 82)
Bảng 2.14: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo ngành nghề đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.14 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo ngành nghề đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 (Trang 85)
Bảng 2.15: Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.15 Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn phân theo các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh NB từ năm 2010-2012 (Trang 88)
Bảng 2.13: Kết quả lao động sau khi đào tạo 2010-2012 - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.13 Kết quả lao động sau khi đào tạo 2010-2012 (Trang 92)
Bảng 2.16: Đánh giá của học viên về chương trình đào tạo - Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.16 Đánh giá của học viên về chương trình đào tạo (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w