Ở Việt Nam hiện nay, nền giáo dục phát triển một cách mạnh mẽ. Số lượng trường Đại học cao đẳng được mở ra ngày càng nhiều, chuyên ngành đào tạo ngày càng được mở rộng và đa dạng. Không những vậy, hoạt động đào tạo trung cấp, cao đẳng, trung cấp nghề, cao đẳng nghề…cũ1ng phát triển mạnh mẽ không ngừng. Điều này đã cung cấp cho thị trường lao động Việt Nam lực lượng lao động đông đảo có tay nghề cao, chất lượng lao động ngày một nâng cao.Về mặt lý thuyết, giáo dục có tác động tích cực tới sự tham gia lao động và cung lao động của các cá nhân. Giáo dục không những tác động đến lượng cung lao động mà còn tác động tới chất lượng lao động của cá nhân. Các cá nhân được giáo dục có chuyên môn và kỹ năng làm việc cao sẽ có thu nhập cao, và khi thu nhập cao thì sẽ làm việc ít đi (đường cung lao động hình chữ S)Về mặt thực tế, trong bối cảnh của Việt Nam liệu mối quan hệ này như thế nào? Giáo dục có tác động tới sự tham gia lao động của cá nhân hay không và tác động như thế nào? Câu trả lời có được sẽ là những dẫn chứng quan trọng cho việc đề xuất các chính sách liên quan tới giáo dục để khuyến khích sự tham gia lao động của cá nhân trong bối cảnh Việt Nam. Do vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động của cá nhân ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
Trang 1Võ THANH ĐồNG
NGHIÊN CứU tác động CủA GIáO DụC
TớI Sự THAM GIA LAO ĐộNG CủA Cá NHÂN ở VIệT NAM
Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN
ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts LÊ QUANG CảNH
Hà Nội - 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan những nội dung của luận văn này hoàn toàn không có sự sao chép, tất cả các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác được sử dụng trong luận văn đều có chú giải rõ ràng và trung thực.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với PGS.TS Lê Quang Cảnh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Kinh tế Quốc dân, gia đình, các bạn bè, đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong việc sưu tầm tài liệu, các phương tiện kỹ thuật để tôi hoàn thành bản luận văn thạc sỹ kinh tế này.
Tác giả luận văn
Võ Thanh Đồng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU 5
1.1 Giáo dục và đo lường giáo dục 5
1.1.1 Quan niệm về giáo dục 5
1.1.2 Bản chất của giáo dục 6
1.1.3 Đo lường giáo dục 7
1.2 Sự tham gia lao động 8
1.2.1 Tham gia lực lượng lao động 8
1.2.2 Cung lao động 9
1.3 Tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân 12
1.3.1 Đo lường giáo dục 12
1.3.2 Đo lường tham gia lực lượng lao động 17
1.3.3 Đo lường cung lao động 18
1.3.4 Giáo dục tác động tới sự tham gia lực lượng lao động 20
1.3.5 Giáo dục tác động tới cung lao động 21
CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC VÀ SỰ THAM GIA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 23
2.1 Những chuyển biến trong giáo dục của nguồn nhân lực 23
2.1.1 Nghiên cứu theo bằng cấp cao nhất 23
2.1.2 Những chuyển biến về chất lượng giáo dục 27
2.2 Sự tham gia lao động của cá nhân 28
2.2.1 Sự tham gia lực lượng lao động 28
2.2.2 Cung lao lao động cá nhân 34
2.3 Mối quan hệ giữa giáo dục và sự tham gia lao động 37
Trang 43.1.1 Số liệu sử dụng 41
3.2 Kết quả ước lượng 45
3.1.1 Giáo dục tác động sự tham gia lực lượng lao động 45
3.1.2 Giáo dục tác động cung lao động 49
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
4.1 Kết quả thực nghiệm chính 52
4.2 Một số đề xuất từ nghiên cứu 53
KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 5GD: Giáo dục
CTT: Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển
VHLSS: Khảo sát mức sống hộ gia đình
Trang 6HÌNH VẼ
Hình 1.0: Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động của
cá nhân 3
Hình 1.1: Cung lao động theo trường phái kinh tế học cổ điển 18
Hình 1.2: Cung lao động của Keynes 19
Hình 1.3: Cung lao động của Tân cổ điển 20
BẢNG Bảng 2.1: Giáo dục của người dân thông qua bằng cấp cao nhất, 2006-2010 24
Bảng 2.2: Dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động chia theo thành thị nông thôn, giới tính, 2006-2010 30
Bảng 2.3: Tỷ lệ (%) làm việc nhận tiền lương và không làm việc của cá nhân 2010 .33
Bảng 2.4 : Tỷ lệ (%) làm việc nhận tiền lương và không làm việc của cá nhân theo vùng, 2010 34
Bảng 2.5: Số giờ làm việc trung bình 1 người 1 tuần của dân số từ 15 tuổi trở lên làm công việc chiếm nhiều thời gian nhất, 2006-2010 35
Bảng 2.6: Thời gian làm việc trung bình (giờ/ngày) của cá nhân theo bằng cấp cao nhất, 2010 39
Bảng 3.1: Thông tin về mẫu nghiên cứu 43
Bảng 3.2: Ảnh hưởng biên của giáo dục đến sự tham gia lực lượng lao động của cá nhân 46
Bảng 3.3: Tác động của giáo dục tác động đến cung lao động cá nhân 49
BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Mối quan hệ giữa số năm học và thời gian làm việc trung bình của cá nhân .40
Trang 7Võ THANH ĐồNG
NGHIÊN CứU tác động CủA GIáO DụC
TớI Sự THAM GIA LAO ĐộNG CủA Cá NHÂN ở VIệT NAM
Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN
Hà Nội – 201 201 3
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
Sự cần thiết: Nền giáo dục ngày càng phát triển mạnh mẽ Nguồn cung lao
động cá nhân ngày càng đòi hỏi về mặt số lượng cũng như chất lượng Về mặt lýthuyết, giáo dục có tác động tích cực tới sự tham gia lao động và cung lao động củacác cá nhân Về mặt thực tế, trong bối cảnh của Việt Nam liệu mối quan hệ này nhưthế nào? Giáo dục có tác động tới sự tham gia lao động của cá nhân hay không vàtác động như thế nào? Câu trả lời có được sẽ là những dẫn chứng quan trọng choviệc đề xuất các chính sách liên quan tới giáo dục để khuyến khích sự tham gia laođộng của cá nhân trong bối cảnh Việt Nam Do vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề
“Nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động của cá nhân ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Luận văn này là nghiên cứu xây dựng mô
hình đo lường tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân bao gồmquyết định làm việc và cung lao động của các cá nhân Trên cơ sở đó, luận vănnghiên cứu thực nghiệm tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động ở Việt Nam
và có những đề xuất phát huy vai trò của giáo dục trong quyết định sự tham gia laođộng của cá nhân
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích kinh tế thông thường
được sử dụng để phân tích tình hình giáo dục thông qua bằng cấp cao nhất đạt đượchoặc số năm học của cá nhân Các phương pháp này còn sử dụng để phân tích thựctrạng tham gia lực lượng lao động và cung lao động cá nhân trong bối cảnh của ViệtNam Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn nhằm đolường tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động Cụ thể trong luận văn sửdụng hai mô hình chính là mô hình probit và mô hình hồi quy đa nhân tố Mô hìnhước lượng Probit đo lường tác động của giáo dục tới xác suất tham gia lực lượng laođộng của cá nhân Mô hình hồi quy đa nhân tố được sử dụng để xác định đo lường
sự tác động của giáo dục tới cung lao động/ thời gian làm việc) của cá nhân
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục trong lý thuyết và thực tiễn
Trang 9nghiên cứu Trong khuôn khổ luận văn quan niệm “Giáo dục được coi là một hiệntượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch
sử - xã hội của các thế hệ loài người để con người vươn tới những gì hoàn hảo hơn,hạnh phúc hơn”
Đo lường giáo dục: là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân
tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người đượcđánh giá (thí sinh) Trong lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu, giáo dục của cá nhânthường được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, trong đó phổ biến hơn cả là một sốchỉ số sau đây: bằng cấp đạt được cao nhất của mỗi cá nhân; Số năm học trung bình
Giáo dục tác động tới sự tham gia lực lượng lao động: Trong các nghiên
cứu trước đây về giáo dục và sự tham gia lao động, các yếu tố đặc điểm cá nhân,đặc điểm hộ gia đình, thị trường lao động đều tác động đến xác suất tham gia cunglao động của cá nhân Để định lượng được giáo dục và các yếu tố còn lại tác độngđến cung lao động như thế nào, các nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình khácnhau chẳng hạn như mô hình ước lượng hồi quy bình phương nhỏ nhất thôngthường, mô hình logit, hoặc mô hình probit Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan
hệ thuận giữa giáo dục và sự tham gia lao động Trong thực nghiệm cũng có trườnghợp giáo dục không tác động gì tới quyết định làm việc của cá nhân Và trongnghiên cứu thực nghiệm cũng tìm ra các trường hợp giáo dục có tác động tiêu cựctới xác xuất tham gia lực lượng lao động của cá nhân
Giáo dục tác động tới cung lao động: Trong lý thuyết cho thấy, cá nhân có
trình độ giáo dục cao hơn sẽ có năng suất lao đọng cao hơn và thu nhập cao hơn.Mincer (1974) đã nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và thunhập Theo các lý thuyết về cung lao động của trường phải Cổ điển, Tân Cổ điển vàKeynes thì đều thống nhất rằng khi tiền lương tăng lên ở một mức lương nhất địnhthì cung lao động sẽ tăng lên Như vậy, điều đó có nghĩa rằng giáo dục tăng lênthông thường các cá nhân này sẽ làm việc nhiều hơn vì có thu nhập cao hơn
Các lý thuyết về tăng trưởng mới của Romer hay Lucas thì khẳng định chấtlượng nguồn nhân lực quyết định lớn tới tăng trưởng thông qua chất lượng nguồn
Trang 10nhân lực Còn chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chính nhờ giáo dục Khi sựđóng góp của giáo dục nhiều hơn vào tăng trưởng, thông qua chất lượng nguồnnhân lực, thì cũng có nghĩa rằng cung lao động lớn hơn
Nghiên cứu theo bằng cấp cao nhất: Qua nguồn số liệu khảo sát mức sống
của dân cư năm 2006, 2008, 2010 chúng ta nhận thấy, đối với lao động thành thị laođộng có trình độ đào tạo ở mức cao hơn hẳn so với lao động nông thôn Mặt khác,trình độ giáo dục cũng có sự phân biệt rất lớn giữa lao động nam và nữ Trình độgiáo dục của dân số trong độ tuổi lao động của thành thị và nông thôn, giữa nam –
nữ cũng có sự biến chuyển qua các năm theo xu hướng trình độ giáo dục được nângcao.Tuy nhiên, sự dịch chuyển này không có nhiều biến động Điều này thông qua
tỷ lệ lao động chưa bao giờ đến trường, không có bằng cấp giảm nhưng lại tăng lên
ở tỷ lệ lao động kỹ thuật và có bằng cấp cao hơn
Những chuyển biến về chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục qua cácnăm từ năm 2006 - 2010 có sự chuyển biến rõ rệt điều này được thể hiện như sau:
Tỷ trọng chưa bao giờ đến trường và không có bằng cấp giảm và tăng lên ở tỷ trọnglao động có kỹ thuật; số năm học của lao động tăng lên; chi cho giáo dục bình quânmột người đi học tăng lên từ 1,211 triệu đồng (2006) tới 3,028 triệu đồng (2010); tỷ
lệ dân số từ 10 tuổi trở lên biết chữ tăng lên và đến năm 2010 đạt được con số93,1%
Sự tham gia lực lượng lao động: Sự tham gia lực lượng lao động giữa thànhthị và nông thôn có sự khác biệt nhau Nếu như ở thành thị tham gia lực lượng laođộng tập trung nhiều ở độ tuổi từ 25 – 54 tuổi còn lại lực lượng lao động ở độ tuổi
15 – 19 và 55+ thì lực lượng lao động tập trung tương đối thưa thớt và ít Ngược lại,
ở nông thôn tỷ lệ tham gia lực lượng lao động lại được giải đều từ độ tuổi 15 – 54trong khi đó tỷ lệ tham gia lực lượng từ tuổi 55 trở lên chiếm tỷ trọng thấp Lựclượng lao động ở thành thị và nông thôn đều có xu hướng già hóa, tỷ trọng lao động
ở độ tuổi thấp có xu hướng giảm đi trong khi đó lại tăng lên ở các độ tuổi cao hơn.Tốc độ già hóa lao động ở nông thôn chậm hơn so với ở thành thị
Xét về giới tính lại có sự phân bố khá đồng đều ở các độ tuổi khác nhau Tuy
Trang 11nhiên, tỷ lệ phân bố ở những độ tuổi 15- 19 và từ độ tuổi từ 55 trở lên cao hơn khánhiều so với nữ Nếu như ở độ tuổi từ 15 – 19 của nữ thì tỷ lệ tham gia lực lượnglao động chỉ chiếm khoảng từ 7,1% - 8% thì tỷ lệ tham gia lực lượng của namchiếm từ 8% - 9,2% Mặt khác, ở độ tuổi từ 55 trở lên tỷ lệ nữ tham gia lực lượnglao động của nữ rất thấp thậm chí không có trong khi đó, tỷ lệ tham gia lực lượngcủa nam lên tới con số trên 6%.
Cung lao động cá nhân ở Việt Nam có xu hướng giảm qua các năm từ 2006
– 2010 trên tất cả khu vực thành thị - nông thôn, giới tính nam – nữ, ngành nghềnông, lâm, thủy sản – phi nông, lâm, thủy sản Số giờ làm việc trung bình trong 1tuần của một cá nhân có sự khác biệt rất lớn giữa ngành nông, lâm, thủy sản với cácngành phi nông, lâm, thủy sản Đối với lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản sốgiờ làm việc trong tuần của lao động ở mức rất thấp khoảng 24 giờ/tuần Đây là con
số thấp hơn rất nhiều so với số giờ làm việc bình quân khoảng 42 giờ/tuần củangành phi nông, lâm thủy sản
Sự khác biệt rất lớn giữa số giờ làm việc/tuần ở nông thôn và thành thị Sốgiờ làm việc ở thành thị ở mức con số trên trung bình khoảng từ 42 giờ - 43giờ/tuần trong khi đó ở nông thôn con số này ở mức rất thấp khoảng 24 giờ/tuần.Trái lại, số giờ làm việc giữa nam và nữ không có sự khác biệt nhiều Nếu như sốgiờ làm việc/tuần của nam ở mức là khoảng 33 giờ/tuần thì số giờ làm việc của nữ ởmức 32 giờ/tuần
Qua phân tích số liệu thực tế trong chương 2 thì có thể nhận thấy rằng, từnăm 2006 đến năm 2010 giáo dục đã có những chuyển biến rất tích cực Trong khi
đó cung lao động của cá nhân lại có xu hướng giảm xuống như số giờ làm việc của
cá nhân trên tuần có xu hướng giảm, khả năng tham gia lao động của cá nhân cũnggiảm được thể hiện qua số lượng việc làm giảm đi Để thể hiện rõ hơn mối quan hệgiữa trình độ giáo dục và thời gian làm việc trung bình của cá nhân
Mô hình và số liệu: Nguồn dữ liệu chính của nghiên cứu này là số liệu trong
khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) được tiến hành năm 2010 do
Tổng cục Thống kê Việt Nam với sự hợp tác và hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới
Trang 12Mô hình ước lượng
Mô hình Probit được mô tả như sau:
Prob(Y=1|X, F, S, C) = ( X C F S u) (1)
Trong đó, Y là sự tham gia lực lượng lao động được đo bằng trạng thái làmviệc của cá nhân Y chỉ nhận 2 giá trị là 0 và 1 Y = 1 nếu cá nhân đi làm/tham gialực lượng lao động và Y = 0 nếu cá nhân đó không tham gia lực lượng lao động X
là biến giáo dục bao gồm trình độ học vấn của cá nhân, loại hình trường học (trườngcông lập hay dân lập); C là vector các biến mô tả đặc điểm cá nhân; F là các biến
mô tả đặc điểm của hộ gia đình; S là vector các biến mô tả thị trường lao động ở địaphương
Mô hình hồi quy đa nhân tố được mô tả như sau:
u S F C X
Y , (2)
Kết quả ước lượng
Giáo dục tác động sự tham gia lực lượng lao động: Theo kết quả ước tính
cho thấy khi trình độ học vấn (số năm học) tăng thêm một năm thì khả năng đểmột cá nhân tham gia vào lực lượng lao động lại giảm đi 0,5% trong điều kiệncác yếu tố khác không thay đổi Cả hai mẫu tổng hợp và mẫu riêng biệt của nam
và nữ, thành thị và nông thôn đều cho ra kết quả tương tự như trên Đối với một
số ngành nghề đặc biệt như các nhà lãnh đạo, chuyên gia, nhân viên thì khi sốnăm đi học tăng lên 1 năm thì xác suất tham gia vào lực lượng lao động lại tănglên đáng kể Đối với những nghề đặc biệt như vậy thì kiến thức chuyên sâu làđiều hết sức cần thiết vì vậy việc tăng số năm học sẽ làm cho khả năng tham giavào lực lượng lao động tăng lên
Giáo dục tác động cung lao động: Kết quả ước tính cho thấy rằng một cánhân có trình độ học vấn cao hơn (số năm học) thì khả năng cung ứng lao động cánhân tăng lên (số giờ làm việc trong ngày) Theo kết quả ước lượng cho thấy một cánhân có thêm 1 năm học thì số giờ làm việc trong 1 ngày tăng lên 0,071 giờ (khoảng2,1 giờ trong 1 tháng) trong đó của lao động nam là hơn 2,5 giờ cao hơn của lao
Trang 13động nữ chỉ 1,5 giờ trung bình của 1 tháng Kết quả ước tính cũng cho thấy giáo dụcgiúp giảm khối lượng công việc của người nghèo Khi nhận được thêm một nămhọc, người nghèo sẽ giảm được 0,056 giờ làm việc mỗi ngày so với người khôngnghèo (khoảng 1,6 giờ mỗi tháng) Đối với những người đã có gia đình hay chủ hộthì áp lực về kinh tế và trách nhiệm cao hơn do đó có thể nhận thấy khi số năm họctăng lên đã dẫn đến số giờ làm việc tăng thêm Theo ước tính cứ tăng đối với nhữngđối tượng này cứ tăng thêm 1 năm học thì số giờ làm việc tăng lên 0,488 giờ/ngàycao hơn hẳn so với mức trung bình của toàn quốc.
Kết quả thực nghiệm và đề xuất chính sách: Kết quả cho thấy, nhiều cá
nhân có trình độ học vấn cao (số năm đi học) nhưng lại có ít khả năng tham gia vàolực lượng lao động Kết quả ước lượng bị mâu thuẫn với lý thuyết về ảnh hưởngtích cực của giáo dục đến sự tham gia lao động
Kết quả của mô hình đa nhân tố cho thấy khi trình độ học vấn càng cao (sốnăm đi học) thì số giờ làm việc/ngày của người lao động tăng lên Kết quả nàythống nhất cho tất cả các mẫu riêng biệt nam – nữ, thành thị - nông thôn
Xuất phát từ những kết quả và phân tích trên tác giả có một số gợi ý chínhsách như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần phải thay đổi mô hình tăng trưởng kinh tế để có thểhấp thụ được lao động có giáo dục cao, tay nghề cao
Thứ hai, thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo cơ hội thu hút lao động
có các trình độ khác nhau
Thứ ba, giáo dục là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết cho tất cả mọi người Thứ tư, các trường đại học đào tạo sinh viên phải xuất phát từ nhu cầu thực tếcủa thị trường lao động hay nhu cầu lao động của xã hội
Thứ năm, chính sách giáo dục cần phải hướng tới người nghèo nhiều hơn để
để giúp họ có khả năng tham gia vào thị trường lao động nhiều hơn
Giáo dục là một trong những nhân tố quan trọng cho sự phát triển của nềnkinh tế Có thể coi giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực chính của sự phát triển.Với vai trò là động lực chính của sự phát triển giáo dục góp phần làm phát triển cả
về mặt số lượng và chất lượng của lao động và là nhân tố làm tăng năng suất lao
Trang 14động thông qua việc nâng cao các kỹ năng cho người lao động Nhiều nghiên cứucho thấy trình độ học vấn là yếu tố quyết định đến sự tham gia lực lượng lao độngtrong những nền kinh tế phát triển và đang phát triển.
Nghiên cứu đã sử dụng bộ dữ liệu trong cuộc khảo sát mức sống hộ gia đìnhcủa Việt Nam năm 2010 để xem xét ảnh hưởng của giáo dục đến sự tham gia vàolực lượng lao động của Việt Nam Luận văn tập trung nghiên cứu tác động của giáodục đến khả năng tham gia vào lực lượng lao động và số lượng cung ứng của laođộng cá nhân Kết quả ước lượng từ mô hình Probit và mô hình hồi quy đa nhân tốcho thấy các cá nhân có trình độ học vấn càng cao (số năm đi học) thì khả năng/xácsuất tham gia vào lực lượng lao động lại giảm đi nhưng số giờ làm việc trên ngày lạităng lên Mặt khác luận văn cũng đánh giá kết quả trên những mẫu riêng biệt giữanam – nữ, thành thị nông thôn cho thấy ảnh hưởng của giáo dục đến quyết địnhtham gia lực lượng lao động và số giờ làm việc là khác nhau Kết quả của ý nghĩarất quan trọng để giúp gợi ý một số chính sách giáo dục sao cho nền giáo dục cóhiệu quả hơn hiện nay
Trong luận văn, tác giả đã đưa 5 gợi ý chính sách để làm sao thấy được rằngnền giáo dục thực sự có hiệu quả Trong đó nhấn mạnh đến sự thay đổi mô hìnhtăng trưởng kinh tế là cần thiết để có thể thu hút và sử dụng được nguồn lao động cóchất lượng cao Đồng thời phát triển cơ cấu ngành nghề đa dạng, đào tạo (giáo dục)theo tín hiệu của thị trường lao động để từ đó giúp cá nhân có trình độ giáo dục cao
có thể có xác suất tham gia lực lượng lao động lớn hơn
Trang 15Võ THANH ĐồNG
NGHIÊN CứU tác động CủA GIáO DụC
TớI Sự THAM GIA LAO ĐộNG CủA Cá NHÂN ở VIệT NAM
Chuyên ngành: KINH Tế PHáT TRIểN
ngời hớng dẫn khoa học: pgs.ts LÊ QUANG CảNH
Hà Nội - 2013
Trang 16LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, nền giáo dục phát triển một cách mạnh mẽ Số lượngtrường Đại học cao đẳng được mở ra ngày càng nhiều, chuyên ngành đào tạo ngàycàng được mở rộng và đa dạng Không những vậy, hoạt động đào tạo trung cấp, caođẳng, trung cấp nghề, cao đẳng nghề…cũ1ng phát triển mạnh mẽ không ngừng.Điều này đã cung cấp cho thị trường lao động Việt Nam lực lượng lao động đôngđảo có tay nghề cao, chất lượng lao động ngày một nâng cao
Về mặt lý thuyết, giáo dục có tác động tích cực tới sự tham gia lao động vàcung lao động của các cá nhân Giáo dục không những tác động đến lượng cung laođộng mà còn tác động tới chất lượng lao động của cá nhân Các cá nhân được giáodục có chuyên môn và kỹ năng làm việc cao sẽ có thu nhập cao, và khi thu nhập caothì sẽ làm việc ít đi (đường cung lao động hình chữ S)
Về mặt thực tế, trong bối cảnh của Việt Nam liệu mối quan hệ này như thếnào? Giáo dục có tác động tới sự tham gia lao động của cá nhân hay không và tácđộng như thế nào? Câu trả lời có được sẽ là những dẫn chứng quan trọng cho việc
đề xuất các chính sách liên quan tới giáo dục để khuyến khích sự tham gia lao động
của cá nhân trong bối cảnh Việt Nam Do vậy, tôi đã lựa chọn vấn đề “Nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động của cá nhân ở Việt Nam” làm đề
tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của luận văn này là nghiên cứu xây dựng mô hình
đo lường tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân bao gồmquyết định làm việc và cung lao động của các cá nhân Trên cơ sở đó, luận vănnghiên cứu thực nghiệm tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động ở Việt Nam
và có những đề xuất phát huy vai trò của giáo dục trong quyết định sự tham gia laođộng của cá nhân
Trang 17Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn đi vào tìm hiểu và trả lờicác câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:
Vai trò của giáo dục trong quyết định tham gia lao động của cá nhân trênkhía cạnh lý thuyết là gì?
Giáo dục tác đông như thế nào tới quyết định tham gia lực lượng lao độngcủa cá nhân?
Giáo dục tác động như thế nào tới cung lao động của cá nhân?
Những giải pháp nào nâng cao vai trò của giáo dục quyết định tới sự thamgia lao động của các nhân ở Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích kinh tế thông thường được sử dụng để phân tích tìnhhình giáo dục thông qua bằng cấp cao nhất đạt được hoặc số năm học của cá nhân(đại diện cho y biến giáo dục) của cá nhân Các phương pháp này còn sử dụng đểphân tích thực trạng tham gia lực lượng lao động và cung lao động cá nhân trongbối cảnh của Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận văn nhằm đolường tác động của giáo dục tới sự tham gia lao động Cụ thể trong luận văn sửdụng hai mô hình chính là mô hình probit và mô hình hồi quy đa nhân tố Mô hìnhước lượng Probit đo lường tác động của giáo dục tới xác suất tham gia lực lượng laođộng của cá nhân Xác suất tham gia lao động của cá nhân đưuọc đo lường bằngcách tính ảnh hưởng biên của giáo dục và các yếu tố tác động tới quyết định làmviệc của cá nhân
Mô hình hồi quy đa nhân tố được sử dụng để xác định đo lường sự tác độngcủa giáo dục tới cung lao động/ thời gian làm việc) của cá nhân Trong mô hình này,biến phụ thuộc sử dụng là cung lao động của cá nhân được đại diện bằng số giờ làmviệc trong ngày
4 Khung nghiên cứu của đề tài
Mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của giáo dục tới sự tham gia lao động được
Trang 18đề cấp dưới hai góc độ: xác suất để một cá nhân có đi làm hay không, hay sự thamgia lực lượng lao động và cung lao động của cá nhân Luận văn này sẽ sử dụng môhình ước lượng, trong đó sự tham gia lực lượng lao động chịu tác động của giáodục, các yếu tố thuộc đặc điểm của cá nhân, đặc điểm của gia đình, đặc điểm thịtrường lao động và các yếu tố khác Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sựtham gia lao động của cá nhân có thể được mô tả trong hình vẽ dưới đây.
Hình 1.0: Khung nghiên cứu tác động của giáo dục tới sự tham gia
lao động của cá nhân
5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
5 1 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn này nghiên cứu sự tác động của giáo dục tới sự tham gia lao độngcủa cá nhân Việt Nam sử dụng số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010.Như vậy, mẫu nghiên cứu sẽ bao gồm các cá nhân trong độ tuổi lao động theo quyđịnh của Việt Nam, với nam từ 16 đến 60 và nữ từ 16 đến 55 tuổi
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính bao là trình độ học vấn và giáo dục nói chungcủa cá nhân, sự tham gia lao động và sự tác động của giáo dục tới tới sự tham gia
Sự tham gia lao động
Giáo dục của cá
Biến kiểm soát
khác
Đặc điểm thị trường lao động Đặc điểm gia đình
Trang 19lao động Trong đó, sự tham gia lao động được nghiên cứu ở hai cấp độ, sự thamgia lực lượng lao động và cung lao động.
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và khung nghiên cứu
Trong chương này tác giả nghiên cứu về giáo dục, sự tham gia lao động của cánhân và mối liên hệ giữa giáo dục và sự tham gia lao động cá nhân xét trên mặt lý thuyết
Chương 2: Giáo dục và sự tham gia lao động ở Việt Nam
Tác giả nghiên cứu về những chuyển biến trong giáo dục của Việt Namthông qua hai tiêu chí nghiên cứu bằng cấp cao nhất và nghiên cứu số năm học để từ
đó có cái nhìn đánh giá một cách tổng quan nhất về thực trạng giáo dục của ViệtNam Trong chương này tác giả cũng nghiên cứu về sự tham gia lao động của cánhân thông qua số lượng lao động tham gia vào lực lượng lao động ở từng độ tuổi
và số giờ làm việc của một cá nhân trong tuần
Chương 3: Mô hình, kết quả ước lượng và đề xuất
Tác giả sử dụng hai mô hình là Probit và hồi quy đa nhân tố để phân tích tácđộng của giáo dục đến sự tham gia lực lượng lao động của cá nhân Từ đó đánh giá
và đưa ra một số gợi ý chính sách
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHUNG NGHIÊN CỨU
1.1 Giáo dục và đo lường giáo dục
1.1.1 Quan niệm về giáo dục
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục trong lý thuyết và thực tiễnnghiên cứu Có quan niệm cho rằng “giáo dục là tất cả các dạng học tập của conngười Ở đâu có sự hoạt động và giao lưu nhằm truyền đạt và lĩnh hội những giá trị
và kinh nghiệm xã hội thì ở đó có giáo dục” Theo một nghĩa hẹp hơn giáo dục làmột quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền đạt vàlĩnh hội những kinh nghiệm của xã hội loài người Nơi tổ chức giáo dục một cách
có hệ thống, có kế hoạch chặt chẽ là nhà trường Ở đây, việc tổ chức quá trình giáodục chủ yếu do những người có kinh nghiệm, chuyên môn đảm nhiệm đó là nhữngthầy giáo, những nhà giáo dục
Về cơ bản các giáo trình/tài liệu nghiên cứu về giáo dục học ở Việt Nam đềutrình bày “Giáo dục được coi là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là
sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người”.Quan niệm này nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnhđến yếu tố dạy học, nhưng không thấy nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuốicùng của việc đó
Dewey (1916) cũng đề cập đến việc truyền đạt, nhưng ông nói rõ hơn mục tiêucuối cùng của việc giáo dục, dạy dỗ Theo nghiên cứu này, cá nhân con ngườikhông bao giờ vượt qua được qui luật của sự chết, và cùng với sự chết thì nhữngkiến thức, kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽ biến mất Tuy nhiên, tồn tại
xã hội lại đòi hỏi phải những kiến thức, kinh nghiệm của con người phải vượt quađược sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sự sống xã hội Giáo dục
là “khả năng” của loài người để đảm bảo tồn tại xã hội Hơn nữa, Dewey (1916)cũng cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còn tồn tại chínhtrong quá trình truyền dạy ấy
Trang 21Tuy nhiên, cả hai cách định nghĩa hoặc hiểu như trên về giáo dục vẫn chútrọng đến khía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn Còn con người thì sao?
Dù rằng so với hơn 7,2 tỉ người trên thế giới, thì sự xuất hiện hay biến mất củamột cá thể người dường như chằng là vấn đề gì đáng quan tâm, nhưng mỗi cá nhânvẫn là độc nhất vô nhị và họ vẫn là một giá trị không thể thay thế, vẫn có quyền vàcần được hạnh phúc Từ “giáo dục” trong tiếng Anh là "education" Đây là một từgốc Latin ghép bởi hai từ: "Ex" và "Ducere" _ "Ex-Ducere" Có nghĩa là dẫn("Ducere") con người vượt ra khỏi ("Ex") hiện tại của họ mà vươn tới những gìthiện hảo, tốt lành hơn, hạnh phúc hơn
Quan niệm thứ ba có tính nhân bản cao hơn Trong quan niệm thứ ba này, sựhoàn thiện của mỗi cá nhân mới là mục tiêu sâu xa của giáo dục, người giáo dục(thế hệ trước) có nghĩa vụ phải dẫn hướng, phải chuyển lại cho thế hệ sau tất cảnhững gì có thể để làm cho thế hệ sau phát triển hơn, hạnh phúc hơn
1.1.2 Bản chất của giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người Giáo dục mangmột số đặc điểm thể hiên bản chất
Giáo dục là một hiện tượng xã hội Là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát
triển trong xã hội loài người, nó phản ánh những mối quan hệ, những dạng hoạtđộng khác nhau của con người
Giáo dục xuất hiện cùng sự xuất hiện xã hội loài người Người lớn dạy cho
trẻ em những gì họ đã tích lũy, ngược lại, trẻ em học ở người lớn những điều đó.Lúc đầu công việc này được thực hiện tự phát, sau đó được tổ chức một cách tựgiác, ta gọi đó là hiện tượng giáo dục
Dấu hiện bản chất của hiện tượng giáo dục được thể hiện ở “Sự truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử” Chủ thể của sự truyền đạt là thế hệ đi trước;chủ thể của sự lĩnh hội là thế hệ đi sau; nội dung của truyền đạt là kinh nghiệm xãhội- lịch sử
Giáo dục mang tính kinh nghiệm xã hội Là một hệ thống những tri thức, hệ
Trang 22thống phương thức, cách thức tiến hành hành động, hệ thống thái độ trong việc đánhgiá cảm xúc, giá trị đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trìnhlịch sử.
Giáo dục đối với cá nhân Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã
hội-lịch sử mà mỗi cá nhân có thể tái tạo ra năng lực người cho bản thân, nhờ đó có sựphát triển tâm lý, ý thức và phát triển nhân cách
Giáo dục và xã hội Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội này mà thế hệ đi sau có thể
bảo tồn và phát triển nền văn hóa Như vậy, một XH muốn tồn tại và phát triển thì
XH ấy phải thực hiện chức năng GD Đây chính là một tính quy luật của sự pháttriển, tiến bộ XH
1.1.3 Đo lường giáo dục
Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người nhằm mục đíchtruyền đạt lại những kinh nghiệm lịch sử, hoàn thiện bản thân Giáo dục phát triểngiúp cho xã hội phát triển mạnh, đẩy mạnh công bằng xã hội, tăng trưởng kinh tế,mỗi cá nhân được hoàn thiện hơn Vì vậy, giáo dục là vấn đề được xã hội, nhà nước
và cá nhân quan tâm và luôn mong muốn giáo dục ngày một phát triển Tuy nhiên,
để đánh giá được giáo dục, để ngày hoàn thiện hơn về giáo dục thì phải đo lườngđược nó Vì vậy, đo lường và đánh giá giáo dục được ra đời
Đo lường giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân tích
số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người được đánh giá(thí sinh)
Đo lường là gán các con số vào các cá thể sự vật theo một hệ thống quy tắcnào đó để biểu diễn đặc tính của sự vật đó Còn đánh giá là đưa ra phán quyết vềmức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật đó Như vậy, đo lường chỉ để thu đượccác con số chứ chưa phán xét về sự vật gắn với con số đó ở mức độ giá trị hoặc chấtlượng nào; còn đánh giá là phán xét về mức độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật,tức là nhận định sự vật là lớn hay bé, cao hay thấp, tốt hay xấu …ở mức độ nào.Quan hệ giữa đo lường và đánh giá là đo lường nhằm cung cấp số liệu để đánh giá,kết quả đo lường là căn cứ để đánh giá
Trang 23Thao tác đo lường trong giáo dục thường là tiến hành các bài kiểm tra trên cácthí sinh bằng trắc nghiệm khách quan (lựa chọn trả lời) hoặc tự luận (bài viết đủdài) rồi phân tích kết quả của các bài kiểm tra để ước lượng rút ra các con số bằngđặc trưng cho các câu hỏi và năng lực của thí sinh Trong lý thuyết và thực tiễnnghiên cứu, giáo dục của cá nhân thường được đo bằng nhiều thước đo khác nhau,trong đó phổ biến hơn cả là một số chỉ số sau đây:
Bằng cấp đạt được cao nhất của mỗi cá nhân;
Số năm học trung bình;
Nội dung cụ thể của các thước đo giáo dục được tìm hiểu rõ trong nhữngphần sau
1.2 Sự tham gia lao động
1.2.1 Tham gia lực lượng lao động
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng “lực lượng lao động là dân sốtrong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp” Theo quanđiểm của tổng cục thống kê Việt Nam thì “lực lượng lao động (hay còn gọi là dân
số hoạt động kinh tế hiện tại) bao gồm những người từ 15 tuổi trở lên có việc làm(đang làm việc) và những người thất nghiệp trong thời kỳ tham chiếu (7 ngày trướcthời điểm quan sát)”
Như vậy theo những quan điểm trên thì lực lượng lao động bao gồm cảnhững người có việc làm và những người thất nghiệp
Những người đang có việc làm là những người làm việc trong khoảng thờigian xác định trong cuộc điều tra, kể cả làm việc cho gia đình được trả công hoặctạm thời nghỉ việc do việc ốm đau, tai nạn, tranh chấp lao động hoặc nghỉ lễ hoặcngừng việc tạm thời do thời tiết xấu hay trục trặc dây truyền thiết bị…
Những người thất nghiệp bao gồm những người trong khoảng thời gian xácđịnh của cuộc điều tra không có việc làm Nó cũng bao gồm cả những người trước
đó không tìm được việc làm vì lý do ốm đau, tai nạn tạm thời mà họ không có thỏathuận sẽ bắt đầu công việc mới ngay sau khoảng thời gian xác định ở trên, hoặc họtạm thời nghỉ hoặc nghỉ không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi mà
Trang 24cơ hội kiếm việc làm rất hạn hẹp Khối thất nghiệp cũng bao gồm những ngườikhông có việc làm, có khả năng lao động mặc dù họ không tích cực tìm kiếm việclàm vì họ tin rằng không có cơ hội làm việc nào mở ra đối với họ.
1.2.2 Cung lao động
1.2.2.1 Quan điểm về cung lao động
Cung lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định củapháp luật nhà nước có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động,những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong cácngành kinh tế quốc dân
Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trườngđại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác Nguồn cung này có thể từnhững người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức…Nó được
bổ sung thường xuyên từ đội ngũ những người đến độ tuổi lao động và những ngườitrên độ tuổi lao động đang làm việc Cung về lao động phụ thuộc vào quy mô, cơcấu dân số của một nước, chất lượng của nguồn lao động (Trình độ văn hóa, cơ câungành nghề, sức khỏe…phong tục, tập quán xã hội của một nước và chính sách pháttriển nguồn nhân lực của nước đó
Cũng giống như các yếu tố khác của xã hội, nguồn cung lao động cũng cótính hai mặt đó là số lượng và chất lượng của cung lao động Cung lao động về sốlượng bao gồm dân số đủ 15 tuổi trở lên và có việc làm, những người ngoài độ tuổilao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Vềmặt chất lượng, cung lao động được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề, sứckhỏe và ý thức kỷ luật của người lao động
Trang 251.2.2.2 Các nhân tố tác động đến cung lao động
Dân số
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động Sự biến động của dân số làkết quả của quá trình nhân học và có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô,
cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nói chung được hiểu là tỷ số phần trămgiữa số người trong độ tuổi thuộc lực lượng lao động với tổng số dân trong độ tuổilao động Công thức:
Vai trò của giáo dục đối với nguồn cung lao động được phân tích qua các nộidung sau đây:
Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tích lũy vốn con người đặc biệt là tri
thức và sẽ giúp con người sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ do đó thúcđẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn
Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng
làm việc với năng suất cao là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững Vai trò
Trang 26của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “tỷ suất lợi nhuậncho giáo dục” Về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dục cũng giống như lợinhuận đầu tư vào bất kỳ dự án nào khác Đó là tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận từ đầu
tư ở một mức độ giáo dục nhất định với tổng các chi phí khác
Thứ ba, giáo dục giúp cho việc cung cấp kiến thức và những thông tin để
người dân đặc biệt là phụ nữ có thể sử dụng những công nghệ nhằm tăng cường sứckhỏe, dinh dưỡng Chẳng hạn tỷ lệ tử vong của trẻ em giảm xuống, tỷ lệ dinh dưỡngtrẻ em tăng lên, cùng học vấn của cha mẹ biết cách sử dụng những loại thức ăn giàudinh dưỡng…Với ý nghĩa trên giáo dục giúp tăng cường chất lượng của nguồn cunglao động
Yếu tố trách nhiệm và tác phong công việc
Về ý thức trách nhiệm đó là thể hiện mối quan hệ với nhiệm vụ được giao, vớicông việc phải làm Ý thức trách nhiệm còn thể hiện không thụ động, trông chờ, ỷlại, phải chủ động trong công việc được giao
Tác phong công việc đó là cách ứng xử, cách làm việc, cách giao tiếp trong
Trang 27công nghiệp Đó là sự thể hiện của một cá nhân hay tập thể tới công việc được giao,
nó biểu hiện tính trách nhiệm với công việc Yếu tố trách nhiệm và tác phong côngviệc tác động đến chất lượng cung lao động và là một trong những yếu tố quantrọng tác động đến hiệu quả công việc
1.3 Tác động của giáo dục đến sự tham gia lao động của cá nhân
1.3.1 Đo lường giáo dục
Đo lường giáo dục là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân
tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực, trình độ của người đượcđánh giá (thí sinh)
Việc học và thi trên thế giới đã diễn ra hàng nghìn năm trước đây, nhưngkhoa học về đo lường trong giáo dục thật sự có thể xem như bắt đầu cách đây hơnmột thế kỷ Và đến thời điểm hiện nay, có hai lý thuyết được áp dụng trong khoahọc đo lường giáo dục là lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (CTT) và lý thuyết trắcnghiệm hiện đại (IRT)
Lý thuyết trắc nghiệm cổ điển (Classical Test Theory, CTT)
Phát triển từ khoảng đầu thế kỉ XX cho đến thập niên 1970, lý thuyết trắcnghiệm Cổ điển (CTT) đạt được nhiều thành tựu, tạo cơ sở khoa học để thiết kế cácphép đo tương đối chính xác Nội dung cơ bản của lý thuyết này là nghiên cứu địnhlượng tỉ mỉ các câu hỏi hoặc đề trắc nghiệm dựa vào các tham số đặc trưng như độkhó của câu hỏi; độ dễ phân biệt của câu hỏi; độ tin cậy của đề trắc nghiệm; độ giátrị của đề trắc nghiệm Qua đó đánh giá một đề trắc nghiệm bằng việc phân tích câuhỏi trắc nghiệm; tính độ tín cậy của đề trắc nghiệm; xem xét giá trị của đề trắcnghiệm Mặt khác, lý thuyết cổ điển cũng đưa ra các loại điểm như điểm thô; điểmtiêu chuẩn tuyệt đối; các loại điểm chuẩn tương đối để đưa ra đánh giá
Tuy nhiên lí thuyết đó còn bị nhiều hạn chế CTT không tách biệt được cácđặc trưng của thí sinh độc lập với các đặc trưng của đề trắc nghiệm, đặc trưng nàychỉ có thể giải thích trong mối quan hệ với đặc trưng kia
Một đặc trưng quan trọng mà ta quan tâm là năng lực của thí sinh Trong
Trang 28khuôn khổ CTT, năng lực được diễn tả bởi điểm của thí sinh mà một đề trắc nghiệm
cụ thể đo được Khi đề trắc nghiệm “khó”, thí sinh sẽ thể hiện năng lực thấp; khi đềtrắc nghiệm “dễ”, thí sinh sẽ thể hiện năng lực cao Nhưng đề trắc nghiệm thế nào là
“khó” hoặc “dễ”? Độ khó của một câu hỏi được định nghĩa là “tỉ số thí sinh làmđúng câu hỏi trên nhóm thí sinh tham gia”, tức là độ khó câu hỏi tuỳ thuộc năng lựccủa các thí sinh được đo Thật quá vòng vo! Độ phân biệt của câu hỉ cũng như độtin cậy và độ giá trị của đề trắc nghiệm cũng được xác định phụ thuộc vào mộtnhóm thí sinh cụ thể được đo Các đặc trưng của câu hỏi và đề trắc nghiệm thay đổikhi tình trạng thí sinh thay đổi, và các đặc trưng của thí sinh thay đổi khi tình trạng
đề trắc nghiệm thay đổi Kết quả là rất khó so sánh các thí sinh khi họ làm các đềtrắc nghiệm khác nhau cũng như rất khó so sánh các câu hỏi khi chúng được trả lờibởi các nhóm thí sinh khác nhau Cuối cùng có thể nói: về nguyên tắc, không thểthực hiện các so sánh đó Dù các chuyên gia đo lường cố gắng tìm cách xử lí khókhăn đã nêu như thế nào nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề từ bản chất
Trước hết chúng ta hãy xem xét hậu quả thực tiễn của việc đặc trưng câu hỏi phụ thuộc vào nhóm thí sinh được đưa vào để xác định chúng Sự phụ thuộc đó hạn
chế việc ứng dụng các đề trắc nghiệm cho các nhóm thí sinh khác với nhóm mà đãdựa vào đó để thu các đặc trưng câu hỏi Hạn chế đó ảnh hưởng nhiều đến việc xâydựng ngân hàng câu hỏi, công cụ quan trọng để thiết kế đề trắc nghiệm Thật vậy,việc mở rộng một ngân hàng câu hỏi sẽ gặp khó khăn nếu các đặc trưng của nhómcâu hỏi bổ sung thu được nhờ một nhóm thí sinh khác với nhóm thí sinh đã đượcdựa vào để xác định các đặc trưng của ngân hàng câu hỏi cũ Bây giờ hãy xét đến
việc năng lực xác định được của thí sinh phụ thuộc vào đề trắc nghiệm Rõ ràng khi
ấy rất khó so sánh điểm biểu diễn năng lực của các thí sinh làm các đề trắc nghiệmkhác nhau: các điểm đó được đặt trên các thang khác nhau và không có một mốiquan hệ hàm số nào giữa các thang điểm Thậm chí khi các nhóm thí sinh đượccho làm các đề trắc nghiệm tương đương vấn đề vẫn tồn tại, vì khi các nhóm thísinh có năng lực khác nhau (tức là đề trắc nghiệm là khó hơn đối với một nhóm thísinh so với nhóm thí sinh kia), thì các điểm thu được của họ từ các đề trắc nghiệm
Trang 29đó có sai số khác nhau.
Một hạn chế khác của CTT nằm ở định nghĩa của độ tin cậy Theo CTT, độ tincậy là “tương quan giữa các điểm của hai đề trắc nghiệm tương đương” Trong thực
tế không thể có các đề trắc nghiệm thoả mãn tiêu chí tương đương Liên quan với
độ tin cậy là sai số tiêu chuẩn của phép đo năng lực thí sinh: CTT quan niệm các sai
số tiêu chuẩn ấy là như nhau, trong khi thực tế độ chính xác của phép đo năng lực làkhác nhau đối với các thí sinh có năng lực khác nhau
Thêm một hạn chế nữa của CTT là lí thuyết này xem xét việc ứng đáp ở mức
độ đề trắc nghiệm chứ không phải ở mức độ câu hỏi trắc nghiệm Định nghĩa kháiniệm điểm thực trong trắc nghiệm cổ điển không lưu ý tới việc thí sinh ứng đáp mộtcâu hỏi như thế nào Do đó không có cơ sở để xác định xem một thí sinh nào đó ứngđáp tốt ra sao đối với một câu hỏi đặt ra cho anh ta Cụ thể hơn, CTT không chophép dự báo về một thí sinh hoặc một nhóm thí sinh nào ứng đáp một CH đã cho rasao Câu hỏi “xác suất để một thí sinh ứng đáp đúng một câu hỏi xác định là baonhiêu?” là rất quan trọng trong nhiều ứng dụng trắc nghiệm, thì không trả lời đượctrong khuôn khổ CTT
Từ những giới hạn đã nêu trên đây, có thể thấy CTT không cho phép giảiquyết tốt một số vấn đề trong thực tiễn trắc nghiệm – như thiết kế đề trắc nghiệm,xác định các câu hỏi gây thiên lệch, trắc nghiệm thích ứng, so bằng các điểm trắcnghiệm
Lý thuyết hiện đại (Item Response Theory, IRT)
IRT xây dựng các mô hình toán để xử lý dữ liệu dựa trên việc nghiên cứu mọicặp tương tác nguyên tố “thí sinh – câu hỏi” (TS - CH) khi triển khai một trắcnghiệm khách quan Mỗi TS đứng trước một câu hỏi sẽ ứng đáp như thế nào, điều
đó phụ thuộc vào năng lực tiềm ẩn của thí sinh và các đặc trưng của câu hỏi
Hiện nay có 3 mô hình toán phổ biến nhất trong IRT: mô hình 1 tham số (môhình Rasch) chỉ xét đến độ khó của câu hỏi, mô hình 2 tham số có xét đến độ phânbiệt của câu hỏi, và mô hình 3 tham số xét thêm mức độ đoán mò của thí sinh khitrả lời câu hỏi
Trang 30So với lý thuyết trắc nghiệm cổ điển, Lý thuyết trắc nghiệm hiện đại với IRT
có những ưu việt quan trọng
Trong lý thuyết trắc nghiệm cổ điển cổ điển độ khó, độ phân biệt của các câuhỏi tính được sẽ phụ thuộc vào mẫu thí sinh được chọn để thử nghiệm, và năng lựcxác định được của thí sinh phụ thuộc vào đề trắc nghiệm mà thí sinh làm Với IRT,các tham số đặc trưng của câu hỏi (liên quan đến độ khó, độ phân biệt, mức độ đoánmò) không phụ thuộc mẫu thử để định cỡ câu hỏi (sample-free), và năng lực đođược của thí sinh không phụ thuộc vào bài trắc nghiệm cụ thể (item-free) được lấy
từ ngân hàng câu hỏi (NHCH) đã được định cỡ Như vậy, theo IRT, mỗi câu hỏi cócác thuộc tính đặc trưng cho nó, và mỗi thí sinh ở một trình độ nào đó có một nănglực tiềm ẩn xác định, các thuộc tính và đặc trưng này không phụ thuộc vào phép đo,hoặc nói cách khác, chúng là các bất biến (invariance) Cũng tương tự như trongphép đo độ dài: mỗi cái thước dùng để đo có kích thước và kiểu khắc độ xác định,mỗi vật để đo có chiều dài xác định, phép đo là sự so sánh cái thước với vật được đo
để biết được chiều dài vốn có của vật được đo, các phép đo khác nhau không đượclàm thay đổi các thuộc tính vốn có của cái thước cũng như độ dài của vật được đo.Thành tựu căn bản nói trên của IRT cũng đem lại số ưu điểm quan trọng chotrắc nghiệm hiện đại IRT cho phép tính các hàm thông tin của từng câu hỏi và của
cả đề trắc nghiệm và sai số chuẩn của phép đo theo các mức năng lực tiềm ẩn chứkhông phải một sai số chuẩn trung bình chung cho cả phép đo như trắc nghiệm cổđiển Từ đó có thể thiết kế một đề trắc nghiệm cho phép đo chính xác khoảng nănglực nào mà ta mong muốn
Hơn nữa, IRT cho phép thiết kế các đề trắc nghiệm với mức độ tương đươngrất cao để đảm bảo các đề trắc nghiệm khác nhau có thể cho cùng một kết quả nhưnhau khi đánh giá năng lực của một thí sinh nào đó
Các thành tựu quan trọng đó của IRT đã nâng độ chính xác của phép đo lườngtrong tâm lý và giáo dục lên một tầm cao mới về chất so với các lý thuyết đo lường
cổ điển Từ thành tựu tổng quát đó của IRT, người ta có thể đưa ra các quy trình đểxây dựng NHCH (item banking), phân tích các kết quả TNKQ để tu chỉnh NHCH,
Trang 31chủ động thiết kế các đề trắc nghiệm (ĐTN) theo các mục tiêu mong muốn.
Trong nghiên cứu giáo dục hiện đại
Trong thực tiến nghiên cứu, giáo dục đưuọc đo bằng nhiều thước đo hay cácbiến đại diện khác nhau Nếu xét giáo dục chung của địa phương hay của quốc giathì giáo dục có thể đưuọc đo bằng:
- Tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn Chỉ tiêu này đã đưuọc sử dụng rộng rãitrong việc tính toán chỉ số giáo dục và kể cả là đã từng được sử dụng trong tính toảnchỉ số phát triển con người trước đây
- Tỷ lệ học sinh nhập học trong độ tuổi Chỉ tiêu này đưuọc đo bằng tỷ số giữa
số trẻ em trong độ tuổi đi học (đến trường) với tổng số trẻ em trong độ tuổi Cũngtương tự tỷ lệ biết đọc biết viết của người lớn, tỷ lệ học sinh nhập học trong độ tuổicũng đã từng được sử dụng trong tính toán chỉ số phát triển con người
Ở giác độ cá nhân, giáo dục của cá nhân được đo bằng một số chỉ tiêu, trong
đó hai chỉ tiêu quan trọng đó là:
- Bằng cấp cao nhất mà cá nhân nhận được Chỉ tiêu này sẽ xác định cấp họccao nhất mà mỗi cá nhân thu được Tuy nhiên, cách đo lường giáo dục này khôngthể phản ánh chính xác giáo dục của cá nhân Chẳng hạn, có nhiều cá nhân đã họchết lớp 11 hoặc 12 nhưng không thi đưuọc bằng tốt nghiệp Trung học phổ thông thìlại chỉ đưuọc xếp vào nhóm có bằng cấp cao nhất là Trung học cơ sở, nhưng thựcchất các cá nhân này có giáo dục cao hơn nhiều so với bằng cáp mà họ giữ
- Số năm học của cá nhân Đây là một chỉ tiêu phản ánh chính xác hơn giáodục của mỗi cá nhân Chỉ tiêu này được đo bằng số năm học thực tế mà mỗi cácnhân đến trường Đây là chỉ tiêu quan trọng và phản ánh tốt về thực tế giáo dục củamỗi cá nhân và chỉ tiêu này hiện đang được sử dụng để tính số năm học trung bìnhcủa dân số trong tính toán chỉ số giáo dục, một bộ phận cấu thành của chỉ số pháttriển con người
1.3.2 Đo lường tham gia lực lượng lao động
Đo lường tham gia lực lượng lao động được thể hiện qua tỷ lệ tham gia lựclượng lao động Tỷ lệ này được xác định bởi các công thức sau:
Trang 32Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thô (tỷ lệ hoạt động thô) là chỉ tiêu tươngđối, biểu hiện bằng số phần trăm những người hoạt động kinh tế (lực lượng laođộng - LLLĐ) chiếm trong tổng dân số, tỷ lệ này bị ảnh hưởng mạnh bởi cấu trúctuổi của dân số Tỷ lệ này đưuọc tính theo công thức sau:
Tỷ lệ tham gia lực lượng
Số người thuộc LLLĐ x 100
Tổng dân số
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chung (tỷ lệ hoạt động chung) là trườnghợp đặc biệt của “Tỷ lệ tham gia LLLĐ thô” khi chỉ tính những người trong độtuổi có khả năng lao động Ví dụ, luật Lao động quy định giới hạn tuổi tối thiểu là
15 tuổi, thì
Tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động chung =
Dân số 15 tuổi trở lên thuộc LLLĐ x 100
Dân số 15 tuổi trở lên
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi lao động)
Tỷ lệ tham gia LLLĐ trong độ tuổi lao động (tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi laođộng) là số phần trăm những người trong độ tuổi lao động tham gia lao động chiếmtrong tổng dân số trong độ tuổi lao động Luật Lao động hiện hành của Việt Namquy Định "tuổi lao động" bao gồm các độ tuổi từ 15 đến hết 59 tuổi đối với nam và
từ 15 đến hết 54 tuổi đối với nữ (theo khái niệm "tuổi tròn") Số còn lại là "ngoàituổi lao động"
Tỷ lệ tham gia lực lượng
lao động trong độ tuổi
lao đọng
=
Số người trong độ tuổi thuộc LLLĐ x 100Tổng dân số trong độ tuổi lao động
Tỷ lệ tham gia LLLĐ (tỷ lệ hoạt động kinh tế) đặc trưng theo giới tính
Cả ba số đo về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế (tỷ lệ hoạt động thô, tỷ lệ hoạtđộng chung và tỷ lệ hoạt động trong độ tuổi lao động) thường tính tách riêng chonam và nữ Khi đó, các tỷ lệ này được gọi là tỷ lệ tham gia LLLĐ (tỷ lệ hoạt động
Trang 33kinh tế) đặc trưng theo giới tính.
1.3.3 Đo lường cung lao động
Theo kinh tế học cổ điển: Tiền công thực tế càng cao thì lượng cung lao
động càng tăng Đường cung lao động vì thế là một đường dốc lên
Hình 1.1: Cung lao động theo trường phái kinh tế học cổ điển
Theo kinh tế học của Keynes: Trong thời gian ngắn hạn, người lao động
ít điều kiện tìm được việc làm và do đó ít điều kiện mặc cả tiền công Do đó,trong ngắn hạn, lượng lao động cân bằng là lượng do nhà sản xuất quy định.Người lao động phải chấp nhận lượng đó bất kể mức tiền công ra sao Nói cáchkhác, trong ngắn hạn, lượng cung lao động không phản ứng với mức tiền côngthực tế, nên đường cung hoàn toàn không co giãn Trong dài hạn, đường cung sẽdốc lên
Tiền công
thực tế
Lượng cung lao động
Trang 34Hình 1.2: Cung lao động của Keynes
Theo kinh tế học tân cổ điển: Đường cung lao động là một đường uốn
ngược (hình chữ S) Số giờ trong một ngày là không đổi, nếu số giờ lao động nhiềuthì số giờ nghỉ ngơi là ít Khi thu nhập ở mức thấp, người ta phải lao động và hysinh nghỉ ngơi Vì thế, khi tiền công thực tế ở một khoảng nhất định, đường cungdốc lên Tuy nhiên khi thu nhập cao hơn, người lao động lại muốn nghỉ ngơi nhiềuhơn, lượng cung lao động (đo bằng số giờ) lại giảm đi và kết quả có một đườngcong uốn ngược
Hình 1.3: Cung lao động của Tân cổ điển
Trong thực tế nghiên cứu về kinh tế lao động, cung lao động thể hiện thời gianlàm việc của cá nhân trong mỗi điều kiện nhất định Đo lượng thời gian làm việccủa cá nhân có thể đưuọc đo bằng số tháng làm việc trong năm (ví dụ như công
Tiền công
thực tế
Lượng cung lao động
Tiền công
thực tế
Lượng cung lao động
Trang 35nhân trong các doanh nghiệp dầu khí, giáo dục,…) hoặc đo bằng số ngày làm việctrong tuần hay tháng, hoặc số giờ làm việc theo ngày (ví dụ các công việc trả lươngtheo giờ).
1.3.4 Giáo dục tác động tới sự tham gia lực lượng lao động
Sự tham gia lực lượng lao động của một cá nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố khác nhau Trong đó có một số yếu tố tác động đó, giáo dục là một chỉ tiêu quantrọng Đây là yếu tố quan trọng tác động đến sự tham gia vào lực lượng lao độngcủa một cá nhân Mỗi cá nhân có trình độ giáo dục khác nhau dẫn đến yêu cầu đốivới công việc là khác nhau liên quan đến tính chất công việc, tiền lương, thời gianlàm việc…Vì vậy, có thể nhận thấy giáo dục ảnh hưởng đến xác suất tham gia lựclượng lao động của cá nhân
Đặc điểm của cá nhân cũng ảnh hưởng đến xác suất tham gia lực lượng laođộng của một cá nhân Cùng một trình độ giáo dục như nhau, nhưng việc có thamgia vào lực lượng lao động hay không còn phụ thuộc vào đặc điểm của mỗi cá nhânnhư người đó có yêu thích lao động hay lười biếng hoặc thể trạng sức khỏe của từngngười, hay sở thích của mỗi cá nhân… Bên cạnh đó, đặc điểm của hộ gia đình cùngvới giáo dục của cá nhân có sự ảnh hưởng tới sự tham gia lao động Mỗi một giađình có một phong cách sống và truyền thống khác nhau Vì vậy, mặc dù một cánhân có trình độ giáo dục, có sự yêu thích đối với một ngành nghề nhưng do truyềnthống gia đình hoặc phong cách sống của gia đình dẫn đến sự lựa chọn khác của cánhân đó
Trong các nghiên cứu trước đây về giáo dục và sự tham gia lao động, các yếu
tố trên đều tác động đến xác suất tham gia cung lao động của cá nhân Để địnhlượng được giáo dục và các yếu tố còn lại tác động đến cung lao động như thế nào,
cá nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau chăng hạn như mô hình ướclượng hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường, mô hình logit, hoặc mô hìnhprobit
Kết quả thực nghiệm thì cũng phân tán, có kết quả nghiên cứu cho thấy mốiquan hệ thuận giữa giáo dục và sự tham gia lao động Điều này có nghĩa là giáo dục
Trang 36càng cao, các cá nhân có xác suất tham gia lực lượng lao động lớn hơn trong điềukiện các yếu tố khác không thay đổi và ngược lại Trong thực nghiệm cũng cótrường hợp giáo dục không tác động gì tới quyết định làm việc của cá nhân Vàtrong nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm ra các tường hợp giáo dục có tác động tiêucực tới xác xuất tham gia lực lượng lao động của cá nhân Điều này có nghĩa là giáodục càng cao thì xác xuất tham gia vào lực lượng lao động càng nhỏ.
1.3.5 Giáo dục tác động tới cung lao động
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với sự pháttriển của kinh tế - xã hội Ngay cả khi khoa học công nghệ phát triển đến trình độcao, chi phối mọi lĩnh vực đời sống thì cũng không thể thay thế được vai trò củanguồn lực lao động, nhân tố của sự sáng tạo và sử dụng công nghệ Lao động chính
là nhân tố quyết định việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Dovậy, có thể nhận thấy lao động là yếu tố quan trọng để phát triển xã hội loài người.Cũng giống như sự tham lực lượng lao động, thì cung lao động cũng bị chịu ảnhhưởng bởi các yếu tố: giáo dục, đặc điểm cá nhân, đặc điểm gia đình và thị trườnglao động của địa phương
Trong lý thuyết cho thấy, cá nhân có trình độ giáo dục cao hơn sẽ có năngsuất lao động cao hơn và thu nhập cao hơn Jacob Mincer (1974) và Becker (1964)
đã nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và thu nhập Theocác lý thuyết về cung lao động của trường phải Cổ điển, Tân Cổ điển và Keynes thìđều thống nhất rằng khi tiền lương tăng lên ở một mức lương nhất định thì cung laođộng sẽ tăng lên Như vậy, điều đó có nghĩa rằng giáo dục tăng lên thông thườngcác cá nhân này sẽ làm việc nhiều hơn vì có thu nhập cao hơn
Các lý thuyết về tăng trưởng mới của Romer (1986) hay Lucas (1988) thìkhẳng định chất lượng nguồn nhân lực quyết định lớn tới tăng trưởng thông quachất lượng nguồn nhân lực Còn chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao chínhnhờ giáo dục Khi sự đóng góp của giáo dục nhiều hơn vào tăng trưởng, thong quachat slwuongj nguồn nhân lực, thì cũng có nghĩa rằng cung lao động lớn hơn Nóicách khác đi, giáo dục tăng lên thì sẽ khiến cá nhân làm việc nhiều hơn cả vè số
Trang 37lượng và chất lượng.
Trang 38CHƯƠNG 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ THAM GIA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 2.1 Những chuyển biến trong giáo dục của nguồn nhân lực
2.1.1 Nghiên cứu theo bằng cấp cao nhất
Qua nguồn số liệu khảo sát mức sống của dân cư năm 2006, 2008, 2010chúng ta nhận thấy, đối với lao động thành thị lao động có trình độ đào tạo ở mứccao hơn hẳn so với lao động nông thôn Điều này được thể hiện rõ qua tỷ lệ laođộng chưa bao giờ đến trường của lao động thành thị ở mức thấp (3,1% - 4,8%) con
số này thấp hơn rất nhiều so với con số (7,3% - 9,3%) ở lao động nông thôn Tương
tự như vậy, tỷ lệ lao động không có bằng cấp ở nông thôn cao hơn rất nhiều thậmchí gấp đôi so với ở thành phố Mặt khác, tỷ lệ lao động của thành thị thuộc côngnhân kỹ thuật (5,8%), trung học chuyên nghiệp (2,5% - 5,8%), cao đẳng đại học(11,9% - 12,4%) trong khi đó những con số này ở lao động nông thôn lại ở con sốrất khiêm tốn, thấp hơn rất nhiều so với những con số ở trên Điều này cho thấy,trình độ giáo dục tính theo bằng cấp cao nhất của thành thị cao hơn nhiều so với củanông thôn Mặt khác, trình độ giáo dục cũng có sự phân biệt rất lớn giữa lao độngnam và nữ Theo điều tra, nhìn chung trình độ giáo dục của lao động nam cao hơn
so với nữ Nếu như tỷ lệ lao động chưa bao giờ đến trường của nam chỉ chiếm tỷ lệ(3,7% - 4,7%) thì ở nữ con số này cao hơn rất nhiều đạt mức 8,1% - 11,2% Khôngnhững vậy sự chênh lệch giữa nam và nữ còn được thể hiện rõ nét thông qua tỷ lệlao động tốt nghiệp trung học phổ thông và tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng đại học và trênđại học của lao động nam cao hơn nhiều so với lao động nữ Điều này là dễ giảithích được khi đất nước Việt Nam vẫn có một số người theo tư tưởng phong kiếntrọng nam khinh nữ do vậy việc học tập của nam nhìn chung vẫn được coi trọnghơn việc học tập của nữ Dưới đây là bảng tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên chia theo bằngcấp cao nhất giữa thành thị - nông thôn, chia theo giới tính