Sau 15 năm tái lập tỉnh, Bắc Giang từ một tỉnh có điểm xuất phát thấp, cơ cấu kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội yếu kém. Với định hướng phát triển kinh tế xã hội đúng đắn, định hướng thu hút đầu tư phù hợp, đến nay tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang đã từng bước phát triển và có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân giai đoạn 20062010 là 9%năm, cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ tăng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tổng vốn đăng ký đầu tư giai đoạn 20062010 đạt 393,51 triệu USD và 25.275,7 tỷ đồng. Nghị quyết số 43NQTU ngày 22022011 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về về ban hành 5 Chương trình phát triển kinh tế xã hội trọng tâm, giai đoạn 20112015, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, có chương trình đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp – dịch vụ, đặt ra mục tiêu về tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 1112%năm, trong đó công nghiệp tăng 20,521,5%năm, vốn đầu tư thực hiện giai đoạn 20112015 đạt 32.700 tỷ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 18.900 tỷ đồng, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt khoảng 13.800 tỷ đồng. Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tình hình suy thoái kinh tế thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia, mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, thì xu hướng suy giảm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức. Để đạt được mục tiêu trên, có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó giải pháp cải thiện môi trường đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI, nguồn vốn đầu tư trong nước của các doanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Bắc Giang, tôi lựa chọn đề tài: “Cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ” sẽ đánh giá được thực trạng môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh để từ đó đề ra định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa tính hấp dẫn của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
Trang 12 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3 5 Phương pháp nghiên cứu
3 6 Những đóng góp của luận văn
4 7 Kết cấu của luận văn
4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5
1.1 Những vấn đề cơ bản về môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 5
1.1.1 Môi trường đầu tư: Khái niệm và phân loại 5
1.1.2 Tính chất của môi trường đầu tư 7
1.1.3 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư 9
1.2 Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 14
1.2.1 Nội dung cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 14
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 20
1.2.3 Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 29
1.3 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư và bài học đối với tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 33
1.3.1 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư của một số địa phương đối với tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 33 1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với tỉnh Bắc Giang về cải thiện môi trường
Trang 22.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 41
2.1.3 Tình hình đầu tư và thu hút đầu tư của tỉnh Bắc Giang 42
2.2 Thực trạng môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 47
2.2.1 Thực trạng môi trường pháp lý 47
2.2.2 Thực trạng môi trường kinh tế 53
2.2.3 Thực trạng về hệ thống cơ sở hạ tầng tỉnh Bắc Giang 54
2.2.4 Thực trạng về chất lượng nguồn nhân lực 62
2.3 Đánh giá hoạt động cải thiện môi trường đầu tư ở Bắc Giang 63
2.3.1 Những thành tựu đạt được 63
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 68
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 75
3.1 Định hướng cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 75
3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến cải thiện môi trường đầu tư ở Bắc Giang 75
3.1.2 Phương hướng cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 80
3.2 Một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 85
3.2.1 Giữ vững ổn định chính trị, Giáo dục nâng cao nhận thức, tư tưởng 85
3.2.2 Thực hiện tốt công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế 3.2.3 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hạn chế chi phí không chính thức cho các nhà đầu tư 87
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản lý nhà nước 90
3.2.5 Nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới hệ thống cơ sở hạ tầng 92
3.2.6 Tăng cường xúc tiến đầu tư, nâng cao hiệu quả các dịch vụ sau đầu tư 93
3.2.7 Tăng cường liên kết, hợp tác kinh tế 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103
Trang 4Bảng 2.3 Tăng trưởng kinh tế giai đoạn (2001-2005) và (2006-2010) 54
Bảng 2.4 Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 59
Bảng 2.5 Cơ cấu nhân lực theo trình độ chuyên môn kỹ thuật 62
Bảng 2.6 Kết quả xếp hạng PCI chung của Bắc Giang qua các năm 68
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau 15 năm tái lập tỉnh, Bắc Giang từ một tỉnh có điểm xuất phát thấp, cơ cấukinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém.Với định hướng phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, định hướng thu hút đầu tư phùhợp, đến nay tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang đã từng bước phát triển
và có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân giai đoạn 2006-2010 là 9%/năm, cơ cấukinh tế chuyển biến tích cực, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ tăng, giảm tỷ trọngnông nghiệp, tổng vốn đăng ký đầu tư giai đoạn 2006-2010 đạt 393,51 triệu USD và25.275,7 tỷ đồng Nghị quyết số 43-NQ/TU ngày 22/02/2011 của Ban Chấp hànhĐảng bộ tỉnh Bắc Giang về về ban hành 5 Chương trình phát triển kinh tế - xã hộitrọng tâm, giai đoạn 2011-2015, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứXVII, có chương trình đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp – dịch vụ,đặt ra mục tiêu về tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 11-12%/năm, trong đócông nghiệp tăng 20,5-21,5%/năm, vốn đầu tư thực hiện giai đoạn 2011-2015 đạt32.700 tỷ đồng, trong đó vốn doanh nghiệp trong nước đạt khoảng 18.900 tỷ đồng,vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt khoảng 13.800 tỷ đồng
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tình hình suy thoái kinh
tế thế giới ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế củahầu hết các quốc gia, mà Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ, thì xu hướngsuy giảm nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vàoViệt Nam nói chung và tỉnh Bắc Giang nói riêng đang đặt ra nhiều thách thức
Để đạt được mục tiêu trên, có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó giải pháp cảithiện môi trường đầu tư có ý nghĩa quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư, đặcbiệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài FDI, nguồn vốn đầu tư trong nước của cácdoanh nghiệp trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Giang, tôi lựa
chọn đề tài: “Cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ” sẽ đánh giá được thực trạng môi trường đầu
tư trên địa bàn tỉnh để từ đó đề ra định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa
Trang 6tính hấp dẫn của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh, đặcbiệt là các nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian tới.
2 Tình hình nghiên cứu
Bàn về vấn đề môi trường đầu tư, đã có một số công trình khoa học đề cậpđến Song các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu môi trường đầu tưđối với từng lĩnh vực cụ thể, và ở một số tỉnh cụ thể Đối với tỉnh Bắc Giang, hiệnnay chưa có các đánh giá, nghiên cứu một các tổng thể và khoa học về môi trườngđầu tư của tỉnh Cụ thể:
Đề tài Cải thiện môi trường thu hút vốn đầu tư ở tỉnh Hoà Bình, Tác giả Đỗ
Hải Hồ, đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về cải thiện môi trường thu hút vốn đầu tưtrong nền kinh tế thị trường, nêu ra thực trạng môi trường thu hút vốn đầu tư ở tỉnhHoà Bình từ đó đưa ra các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường thu hút vốnđầu tư ở tỉnh Hoà Bình trong thời gian tới
Đề tài Cải thiện môi trường đầu tư ở tỉnh Thái Nguyên trong quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá Tác giả Nguyễn Thu Hà đã đề cập đến cơ sở lý luận về
môi trường đầu tư, đưa ra thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở
đó đề ra định hướng và giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Thái Nguyêntrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Đề tài Cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Nghệ An Tác giả Hoàng Anh Dũng đã
đề cập đến cơ sở lý luận về môi trường đầu tư, đưa ra thực trạng môi trường đầu tưtỉnh Nghệ An Phân tích tình hình hiện trạng các nhân tố môi trường đầu tư của tỉnhNghệ An giai đoạn 2006-2010, qua đó rút ra những kinh nghiệm cho giai đoạn2011-2015; Đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư để thu hútđầu tư vào phát triển kinh tế - xã hội của Nghệ An đến 2015
Đề tài Cải thiện môi trường đầu tư để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam hiện nay Tác giả Nguyễn Văn Hảo đã đề cập đến cơ sở lý luận về
môi trường đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, đưa rađịnh hướng và giải pháp cỉa thiện môi trường đầu tư để tăng cường thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam
Trang 7Đề tài Hoàn thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thành phố
Hà nội, tác giả Đinh Thi Phương Mai đã đề cập đến vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài và hoàn thiện môi trường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đưa rađịnh hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện môi trường thu hút FDI và triển vọngthu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở thành phố Hà Nội
Tuy nhiên, dưới giác độ kinh tế chính trị chưa có công trình nào nghiên cứutoàn diện về lý luận cũng như xem xét sự ảnh hưởng của môi trường đầu tư đến sựphát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Vìvậy, Đề tài Cải thiện môi trường đầu tư ở tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế hy vọng sẽ đóng góp thêm vào lý luận và thực tiễn để tạo thêm độnglực cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong thời kỳ hội nhập kinh tếquốc tế
3 Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư
- Phân tích những yếu tố của môi trường đầu tư ảnh hưởng đến hoạt động thuhút đầu tư của tỉnh, từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp cải thiện môitrường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách, điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, các địnhhướng, nghị quyết liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư và tình hình thu hútđầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các vấn đề về cải thiện môitrường đầu tư trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.+ Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về môi trường đầu tư vàhoạt động cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2005-
2010, từ đó đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp cải thiện môi trường đầu tư củatỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 85 Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích đánh giá môi trườngđầu tư tại tỉnh Bắc Giang Kết hợp với phương pháp tổng hợp, phương pháp phântích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống để rút ranhững vấn đề chung nhất
Sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra thực tế để khẳng định những phântích, đánh giá và nhằm để xác định cơ sở thực tiễn, khẳng định hiện thực của nhữnggiải pháp đề ra
6 Những đóng góp của luận văn:
Thứ nhất: Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về môi trường đầu tư Thứ hai: Đánh giá được thực trạng môi trường đầu tư của tỉnh Bắc Giang Thứ ba: Đưa ra định hướng và đề xuất giải pháp cải thiện môi trường đầu tư
nhằm tăng cường thu hút đầu tư phát triển tỉnh Bắc Giang
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương
- Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về cải thiện môi trường đầu tư trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Chương 2 Thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Bắc Giang
- Chương 3 Định hướng và giải pháp cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 9CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ 1.1 Những vấn đề cơ bản về môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Môi trường đầu tư: Khái niệm và phân loại
1.1.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư là một thuật ngữ đã được đề cập nghiên cứu trong lĩnh vựckinh tế và quản trị kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam khi chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường, thực thi chính sách đổi mới mở cửa nền kinh tế hộinhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì vấn đề môi trường đầu tư mớiđược quan tâm nghiên cứu nhiều hơn và vấn đề cải thiện môi trường đầu tư đượcđặt ra như là một giải pháp cho phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế thế giới và thựcthi các cam kết của Việt Nam với quốc tế Theo nghĩa chung nhất môi trường đầu
tư là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư
Theo World Bank, môi trường đầu tư là tập hợp những yếu tố đặc thù địaphương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư cóhiệu quả tạo, tạo việc làm và mở rộng sản xuất Tập hợp những yếu tố đặc thùnày bao gồm hai thành phần chính sách của Chính phủ và các yếu tố khác liênquan đến quy mô thị trường và ưu thế địa lý Hai thành phần này tác động đến bakhía cạnh liên quan đến nhà đầu tư là: chi phí cơ hội của vốn đầu tư; mức độ rủi
ro trong đầu tư; những rào cản về cạnh tranh trong quá trình đầu tư
Tuy nhiên môi trường đầu tư được nghiên cứu và xem xét theo nhiều cáchkhác nhau, tùy thuộc vào mục đích, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cách tiếpcận vấn đề Với phạm vi nhất định, có thể nghiên cứu môi trường đầu tư của mộtdoanh nghiệp, một ngành, môi trường đầu tư trong nước, môi trường đầu tư khu vực
và môi trường đầu tư quốc tế Nhưng nếu tiếp cận môi trường đầu tư theo một khía
Trang 10cạnh, một yếu tố cấu thành nào đó thì ta lại có môi trường pháp lý, môi trường côngnghệ, môi trường kinh tế… Chính vì vậy, trong thực tiễn và lý luận có nhiều quanniệm khác nhau về môi trường đầu tư nhưng có thể hiểu môi trường đầu tư như sau:
Thứ nhất: Môi trường đầu tư là tổng hợp các yếu tố, điều kiện về pháp luật,
kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường
và cả các lợi thế của một quốc gia…có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư
của các nhà đầu tư tại một quốc gia
Thứ hai: Môi trường đầu tư là một tập hợp các yếu tố có tác động tới các cơ
hội, các ưu đãi, các lợi ích của các doanh nghiệp khi đầu tư mới, mở rộng sản xuấtkinh doanh, các chính sách của chính phủ có tác động chi phối tới hoạt động đầu tưthông qua chi phí, rủi ro, cạnh tranh…
Những yếu tố tác động đến lợi ích của các nhà đầu tư khi đưa ra quyết địnhđầu tư là: Cơ sở thượng tầng hay vĩ mô nền kinh tế, ổn định chính trị, các chínhsách về ngoại thương và đầu tư nước ngoài, hệ thống luật pháp hiệu quả và minhbạch, các thủ tục khi tiến hành hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực, quyền sở hữutài sản, hệ thống thuế, tài chính và một số quy định liên quan tới môi trường, y tế,
an ninh và các vấn đề khác liên quan tới cộng đồng, cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưđiện, nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, dịch vụ tài chính ngân hàng, trình
độ lao động…
Như vậy môi trường đầu tư bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế,chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạtđộng của doanh nghiệp Rất nhiều các vấn đề ảnh hưởng tới đầu tư đối với cácdoanh nghiệp nhất là các vấn đề liên quan đến chính sách như tài chính, tín dụng,chính sách thương mại, chính sách thị trường lao động, các quy định, cơ sở hạ tầng,các vấn đề liên quan đến thu mua và tiêu thụ, chính sách thuế, chính sách phát triểncác khu công nghiệp và các vấn đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác 1.1.1.2 Phân loại môi trường đầu tư
Quá trình đầu tư được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau và bị ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố kể từ lúc bắt đầu nghiên cứu xác định địa điểm đầu tư cho
Trang 11đến khi vận hành sản xuất nhằm thu được lợi nhuận Trong nghiên cứu tại Các vấn
đề ảnh hưởng tới đầu tư, Wim P.M Vijverberg đã đưa ra quan điểm về môi trườngđầu tư bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, kếtcấu hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp…Các vấn đề ảnh hưởng tới đầu tư đối với các doanh nghiệp nhất là các vấn đề liênquan đến chính sách như: chính sách tài chính, tín dụng; chính sách thị trường laođộng; chính sách thuế; chính sách thương mại, các quy định, kết cấu hạ tầng và cácvấn đề liên quan đến thu mua, tiêu thụ; chính sách phát triển các khu công nghiệp vàcác vấn đề liên quan đến hỗ trợ kỹ thuật và tài chính khác
Chính vì thế xét về ảnh hưởng của môi trường đầu tư đến quyết định đầu tưcủa các doanh nghiệp thì căn cứ theo tiêu chí phạm vi tác động đến đầu tư của cácdoanh nghiệp có thể phân chia thành môi trường bên trong và môi trường bên ngoài.Tuy nhiên theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng
và môi trường mềm
+ Môi trường cứng liên quan tới các yếu tố thuộc vị trí địa lý và điều kiện
tự nhiên; cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống hạ tầnggiao thông (đường sá, cầu cảng hàng không, cảng biển…), hệ thống thông tinliên lạc, hệ thống hạ tầng các khu cụm công nghiệp, hệ thống điện, nước, khobãi, năng lượng…
+ Môi trường mềm bao gồm: Hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụpháp lí có liên quan đến hoạt động đầu tư (đặc biệt các vấn liên quan đến chế độđối xử và giải quyết các tranh chấp, khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính -ngân hàng, kế toán và kiểm toán…
1.1.2 Tính chất của môi trường đầu tư
- Thứ nhất, môi trường đầu tư có tính khách quan:
Mỗi một yếu tố cấu thành môi trường đầu tư đều vận hành theo một quyluật nội tại của nó có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hoặc gây ra những rủi
ro cho hoạt động của doanh nghiệp Do vậy, trong quá trình triển khai các hoạtđộng, doanh nghiệp cần rà soát các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến
Trang 12hoạt động sản xuất, kinh doanh và dự báo mức độ ảnh hưởng để ứng phó kịpthời Có như vậy, doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển đi lên nhằm tiến đếnmục tiêu đã đề ra Môi trường đầu tư tồn tại một cách khách quan, một mặt tạo racác ràng buộc cho các hoạt động đầu tư, mặt khác lại tạo ra những cơ hội thuậnlợi cho các nhà đầu tư, vì vậy ở đâu có hoạt động sản xuất kinh doanh thì ở đó cómôi trường đầu tư
- Thứ hai, môi trường đầu tư có tính tổng hợp:
Tính tổng hợp ở chỗ nó bao gồm nhiều yếu tố cấu thành có quan hệ qua lạiràng buộc lẫn nhau Số lượng và những bộ phận cấu thành cụ thể của môi trườngđầu tư tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ quản lý và ngay
chính những bộ phận cấu thành môi trường đầu tư.
- Thứ ba, môi trường đầu tư có tính đa dạng:
Sự đan xen của các môi trường thành phần, các yếu tố của các môi trường thànhphần có tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, do đó khi nghiên cứu và phân tích môitrường đầu tư phải xem xét tổng thể trong mối tương quan giữa các môi trường thànhphần và giữa các yếu tố với nhau, hơn nữa giữa các môi trường lại có đặc trưng riêng củatừng loại
- Thứ tư, môi trường đầu tư có tính động:
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, bản thân các yếu tố đóluôn có mối quan hệ qua lại và tương tác lẫn nhau theo từng cấp độ và phạm vi khácnhau Mỗi sự thay đổi của một yếu tố cấu thành đều tác động lên các yếu tố còn lại
và tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh
Sự vận động và biến đổi này chịu tác động của các quy luật vận động nội tạicủa từng yếu tố cấu thành môi trường đầu tư và của nền kinh tế, chúng vận động vàbiến đổi bởi ngay nội tại của hoạt động đầu tư cũng là một quá trình vận động trongmột môi trường thay đổi không ngừng Các yếu tố và điều kiện của môi trường đầu
tư tác động đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư hay doanh nghiệp một cáchthường xuyên vận động Do đó, sự ổn định của môi trường đầu tư chỉ mang tínhtương đối hay ổn định trong sự vận động Các nhà đầu tư muốn nâng cao hiệu quảđầu tư cần có được một dự báo về sự thay đổi của môi trường đầu tư, để từ đó có
Trang 13các quyết định đầu tư chuẩn xác phù hợp với môi trường đầu tư.
Mặt khác để cải thiện môi trường đầu tư ta phải tìm cách ổn định các yếu tốcủa môi trường đầu tư trong xu thế luôn vận động của nó và phải cải thiện nó liêntục Nói cách khác là khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư phải đứng trênquan điểm động, phải xem xét và phân tích các yếu tố của môi trường đầu tư trongtrạng thái vừa vận động vừa tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo thành những tác lựcchính cho sự vận động và phát triển của môi trường đầu tư
- Thứ năm, môi trường đầu tư có tính hệ thống:
Mối liên hệ và chịu tác động của các yếu tố thuộc môi trường rộng lớn hơn,theo từng cấp độ như: môi trường đầu tư ngành, môi trường đầu tư quốc gia, môitrường đầu tư quốc tế…Trong một môi trường ổn định, mức độ biến đổi của các yếu
tố thấp và có thể dự báo trước được, còn trong môi trường càng phức tạp thì các nhàđầu tư càng khó đưa ra những quyết định hiệu quả
Sự ổn định của môi trường đầu tư còn phụ thuộc vào tính phức tạp và tính biếnđộng của các môi trường tương tác, tính phức tạp của môi trường đầu tư còn có đặctrưng của một loạt các yếu tố có ảnh hưởng đến các quyết định của nhà đầu tư Do
đó tính phức tạp của môi trường đầu tư cần phải được coi trọng khi xem xét các yếu
tố, điều kiện của môi trường đầu tư kinh doanh tổng quát vì nó có nhiều yếu tốngoại cảnh và yếu tố khách quan tác động tới các nhà đầu tư
1.1.3 Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư
Việc đưa ra quyết định đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cácnhân tố, song có thể nói căn cứ để doanh nghiệp so sánh lựa chọn đầu tư giữa cácquốc gia hay giữa các vùng, lãnh thổ trong cùng một quốc gia là: Yếu tố về môitrường chính trị, pháp lý; yếu tố kinh tế vĩ mô; yếu tố cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật;yếu tố công nghệ; điều kiện xã hội và chất lượng nguồn nhân lực…
1.1.3.1 Yếu tố về môi trường chính trị, pháp lý
Sự ổn định về chính trị thể hiện sự nhất quán trong chủ trương, đường lối chínhsách cơ bản của nhà nước luôn nhằm hướng tới một mục tiêu chiến lược của quốcgia Thực tế cho thấy sự thành công hay thất bại trong việc thu hút các nhà đầu tư phụ
Trang 14thuộc rất nhiều vào sự ổn định về chính trị nhưng cũng tuỳ vào điều kiện kinh tế - xãhội cụ thể của từng nước mà hệ thống luật pháp của mỗi nước có sự hấp dẫn đầu tưkhác nhau Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự ổn định này còn phụ thuộcvào các mối quan hệ quốc tế thể hiện sự nhất trí, hợp tác hay đối đầu giữa quốc giavới các quốc gia trong khu vực và trên thế giới từ đó ảnh hưởng đến sự phân biệt đối
xử của quốc gia với “quốc tịch” của các nguồn vốn Vì thế, nơi tiếp nhận đầu tư càng
ổn định về chính trị và thể chế thì càng có khả năng thu hút được nhiều vốn đầu tư,đặc biệt là nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu tư, các quốc gia đều có một hệthống luật quy định rõ các nhà đầu tư hay các doanh nghiệp được đầu tư kinh doanhsản phẩm hàng hóa, dịch vụ gì, cấm mặt hàng gì, nghĩa vụ và quyền lợi của các nhàđầu tư Hệ thống các công cụ chính sách và những quy định của nhà nước có liênquan đến những hoạt động đầu tư kinh doanh như: chính sách tài chính, tiền tệ,chính sách thu nhập, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách phát triển kinh tế nhiềuthành phần… các cơ chế chính sách, cơ chế quản lý và các thủ tục hành chính đểthực hiện, các điều kiện cần đáp ứng đối với dự án đầu tư và cả các vấn đề về hànhlang pháp lý đảm bảo cho việc thực hiện được dự án đầu tư như:
Các yếu tố về cơ chế chính sách đầu tư, tạo hành lang pháp lý để thực hiện dự
án đầu tư bao gồm các bộ Luật và các văn bản pháp quy dưới luật do nhà nước banhành, văn bản pháp quy của các Bộ ngành Trung ương và UBND tỉnh ban hành Thủ tục hành chính là một yếu tố rất quan trọng góp phần tạo nên sự thànhcông của môi trường đầu tư Thủ tục hành chính càng đơn giản, gọn nhẹ, rõ ràng thìsức hút của môi trường đầu tư đối với các nhà đầu tư nước ngoài càng lớn Thủ tụchành chính cũng như cách hành xử của mỗi địa phương là khác nhau, vì vậy mới cónhững nơi mà nhà đầu tư gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc xin cấp giấy phépđầu tư, đăng ký kinh doanh… Sự đơn giản hóa các thủ tục hành chính sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình đăng ký triển khai thực hiện dự án đầu
tư cũng như giảm các chi phí cả về vật chất và thời gian của nhà đầu tư, tạo dựngđược độ tin cậy của các nhà đầu tư; ngược lại, sẽ làm gia tăng sự quan ngại của các
Trang 15doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
1.1.3.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô
Một nền kinh tế ổn định, có sức tăng trưởng thực dương, tỷ lệ lạm pháp thấp,tài chính lành mạnh, thị trường lớn và khả năng tiêu thụ cao… là những điều kiện lýtưởng để các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn đầu tư lâu dài Trong môi trường kinh tếthuận lợi, ổn định, nhà đầu tư có điều kiện mở rộng sản xuất, xây dựng chiến lượcdài hạn nhằm củng cố và phát triển doanh nghiệp của mình
Tăng trưởng kinh tế được coi là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của mộtquốc gia trong một giai đoạn nhất định Khi kinh tế tăng trưởng thì các yếu tố điềukiện kinh tế sẽ rất thuận lợi cho các nhà đầu tư Nó tạo ra nhiều cơ hội trong kinhdoanh và ngược lại nếu kinh tế kém phát triển với tỷ lệ lạm phát cao, nó sẽ tác độngtiêu cực tới nhà đầu tư Chu kỳ phát triển kinh tế là sự thăng trầm về khả năng tạo racủa cải cho nền kinh tế trong những giai đoạn nhất định
Sức mua của thị trường là yếu tố gắn bó với đặc điểm của cộng đồng dân cư ởtừng địa phương, nó bao gồm các thành phần như cấu trúc dân số, dân tộc, tôn giáo,trình độ văn hoá, giáo dục, đặc tính tâm lý, cơ cấu nghề nghiệp… là những yếu tố
cơ bản hình thành cầu thị trường và quy mô thị trường về sản phẩm hàng hoá hoặcdịch vụ do đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của các sản phẩm kinh doanh
Môi trường đầu tư lành mạnh đòi hỏi phải có một sự ổn định kinh tế vĩ mônhất định Lạm phát thấp, thâm hụt ngân sách ở mức chấp nhận được và hệ thống tỷgiá hối đoái thực là những chỉ số phản ánh sự ổn định kinh tế vĩ mô Lạm phát cao
và sự thăng trầm của tỷ giá hối đoái là hai nhân tố của sự bất ổn kinh tế vĩ mô Ảnhhưởng của hai yếu tố này đặc biệt nghiêm trọng đối với những đối tượng có mứcthu nhập cố định, giá trị của tài sản và có rất ít các phương tiện để tự bảo vệ mìnhtrước sự giảm sức mua của đồng tiền, nó ảnh hưởng rất lớn đến quyết định đối vớinhà đầu tư Môi trường đầu tư Việt Nam được coi là tương đối hấp dẫn, an toàn và
có lợi thế lâu dài trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Việt Nam luôn đượcđánh giá cao về một số yếu tố: ổn định về chính trị - xá hội, nhân công cần cù và chiphí rẻ, vị trí địa lý thuận lợi cho thấy Việt Nam được coi là điểm đầu tư hấp dẫn đối
Trang 16với các nhà đầu tư.
1.1.3.4 Yếu tố cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm mạng lưới giao thông, vận tải, mạng lưới thông tin liênlạc, bưu chính - viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các côngtrình công cộng phục vụ sản xuất kinh doanh như cảng biển, sân bay,…Cơ sở hạtầng tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí gián tiếp trong sảnxuất kinh doanh của các nhà đầu tư Thực tế phát triển tại các tỉnh cho thấy cácdòng vốn chỉ đổ vào nơi nào có hạ tầng phát triển, đủ khả năng phục vụ cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư
Mạng lưới giao thông đóng góp một phần quan trọng vào phát triển kinh tế
Nó phục vụ cho việc cung ứng vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, quan trọng nhất là cácđầu mối giao thông tiếp giáp với thế giới như cảng biển, cảng hàng không Cáctuyến đường giao thông trọng yếu cũng là cầu nối giao lưu phát triển kinh tế giữacác địa phương của một quốc gia Một mạng lưới giao thông đa phương tiện và hiệnđại sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được hao phí chuyên chở không cần thiết
Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bối cảnh bùng
nổ thông tin như hiện nay, khi mà thông tin về tất cả các biến động trên thị trường ởmọi nơi được truyền tải liên tục trên thế giới Thiếu thông tin, nắm bắt thông tinchậm, khai thác thông tin không đúng sẽ đánh mất cơ hội làm ăn Môi trường đầu tưhấp dẫn dưới con mắt của nhà đầu tư đó là môi trường có hệ thống thông tin liên lạc
và cước phí rẻ
Ngoài ra hệ thống cung cấp năng lượng và nước sạch đảm bảo cho việc sảnxuất quy mô lớn và liên tục, các dịch vụ này không đáp ứng được nhu cầu sản xuấtliên tục thì sẽ gây rất nhiều trở ngại cho nhà đầu tư
1.1.3.5 Yếu tố khoa học công nghệ
Một trong những yếu tố quan trọng tham gia vào hoạt động đầu tư là máymóc, trang thiết bị phục vụ sản xuất, nhưng năng suất và hiệu quả sản xuất lạiphụ thuộc vào hàm lượng công nghệ tích tụ trong quá trình chế tạo ra chúng Cho
Trang 17nên công nghệ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động và yếu tốquyết định đến hiệu quả của dự án đầu tư Nhà đầu tư cần tìm hiểu và lựa chọncông nghệ có trình độ cao với giới hạn khả năng tài chính cho phép trên thịtrường công nghệ với mục tiêu là sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng caonhất để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Trình độ phát triển khoa học công nghệ của nước ta đa số vẫn lạc hậu hơn
so với khu vực Tiến bộ công nghệ chủ yếu thông qua chuyển giao công nghệ màphổ biến là nhập khẩu máy móc thiết bị và nhập khẩu nước ngoài Hoạt độngchuyển giao khoa học công nghệ rất hạn chế Hệ thống thông tin và dịch vụKHCN chưa làm tốt vai trò trung gian, thúc đẩy sự trao đổi thông tin giữa bêncung cấp công nghệ và bên có nhu cầu đổi mới công nghệ
1.1.3.6 Yếu tố nguồn nhân lực
Bên cạnh đó chính các yếu tố này ảnh hưởng đến trình độ nhận thức của conngười từ đó quyết định chất lượng của đội ngũ nhân lực - một trong những yếu tốđầu vào quan trọng phục vụ cho quá trình đầu tư và quyết định kết quả đầu tư.Trong giai đoạn vừa qua lợi thế về lao động giá rẻ, nguồn lao động dồi dào cũng làmột số đặc điểm thuận lợi để thu hút đầu tư Tuy nhiên, với đặc điểm của các nhàđầu tư này là sản xuất các mặt hàng thủ công, lao động chủ yếu là phổ thông, chưaqua đào tạo, công nghệ thấp, chủ yếu là hàng gia công, giá trị kinh tế thấp… Vì vậy
mà đến nay nhiều địa phương đã không còn thu hút các nhà đầu tư trên mà có sự lựachọn theo hướng thu hút các nhà đầu tư có công nghệ cao, sản xuất các sản phẩmđem lại giá trị kinh tế lớn, ít ảnh hưởng đến môi trường…
Một thị trường lao động dồi dào, trình độ của lực lượng lao động có tay nghềcao có thể ảnh hưởng tạo nên một môi trường đầu tư tốt sẽ thu hút đầu tư nhiều, từ
đó nhu cầu lao động tăng và những yêu cầu đặt ra về trình độ năng lực của lựclượng lao động cũng gia tăng Yếu tố này sẽ có tác động đáng kể tới động cơ kíchthích công nhân đầu tư vào tăng cường kỹ năng của riêng mình Hiệu quả của thịtrường lao động trong việc gắn con người với những công việc hữu ích là thiết yếu
Trang 18cho tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Chính sách thị trường lao động là những biện pháp của Nhà nước và địaphương đảm bảo khả năng cung ứng lao động cho các dự án đầu tư và cho cácdoanh nghiệp Đó là việc tiến hành các biện pháp giúp cho người lao động có điềukiện tiếp cận dễ dàng với nhu cầu lao động của các doanh nghiệp, thực hiện hỗ trợđào tạo lao động có trình độ chuyên môn thấp hoặc chưa có trình độ và đảm bảo thunhập cũng như phúc lợi cho người lao động… Từ đó giúp cho các doanh nghiệp vàcác dự án có được lực lượng lao động có chất lượng để tiến hành sản xuất, kinhdoanh và mang lại hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp và góp phần giải quyết việclàm, nâng cao đời sống cho người dân địa phương, đồng thời cũng góp phần làmgiảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm trên thị trường, giúp cho doanh nghiệp có thể thu được nhiều lợinhuận hơn
1.2 Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Nội dung cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế
Sự thuận lợi từ môi trường đầu tư sẽ thu hút nguồn vốn đầu tư và nâng caohiệu quả của đầu tư vì các mục tiêu kinh doanh và phát triển kinh tế Cải thiện môitrường đầu tư là sự tác động có chủ đích của con người vào các yếu tố của môitrường nhằm làm cho các yếu tố này vận động gây ra tác động tích cực đến quátrình và kết quả đầu tư Muốn cải thiện được môi trường đầu tư cần nắm được nộidung, bản chất và quy luật vận động của từng yếu tố thuộc môi trường đầu tư, trên
cơ sở đó triển khai các hoạt động cụ thể để cải biến môi trường Vì thế cải thiện môitrường đầu tư được tiến hành trên cơ sở cải thiện từng yếu tố, cụ thể như sau:
1.2.1.1 Cải thiện môi trường pháp lý, tạo dựng môi trường cạnh tranh minh bạchTất cả các quan hệ (trong đó có quan hệ kinh tế) phát sinh cùng với hoạt độngcủa con người trong cộng đồng nhất định thường chịu chi phối bởi hệ thống các quytắc, quy định, luật pháp, chính sách, sự ổn định của thể chế và chính trị… của Nhà
Trang 19nước và địa phương Tất cả những yếu tố đó hình thành môi trường pháp lý Môitrường này có tính vĩ mô nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp Với tư cách là một chủ thể tiến hành các hoạt động kinh tế, doanh nghiệp chịutác động của môi trường pháp lý Những vấn đề có liên quan đến pháp lý của doanhnghiệp như trách nhiệm pháp lý, quyền lợi hợp pháp, thực hiện các hợp đồng, khiếukiện, giải quyết tranh chấp…Vì lí do đó, chủ sở hữu vốn không những phải nắmvững những yếu tố của môi trường này mà còn phải dự báo được những thay đổi cóthể xảy ra để điều chỉnh các hoạt động đầu tư Những bất ổn định kinh tế, chính trịkhông chỉ làm cho dòng vốn đầu tư bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốnnày từ trong nước, địa phương chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi trú ẩn mới
và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút đầu tư của nước, địa phương đó sẽ càng cao
và ngược lại
Cùng hoạt động trong một môi trường có rất nhiều doanh nghiệp hay dự ánvận hành có cả các doanh nghiệp, dự án cùng hoạt động trong một ngành hoặc cónhững dự án, doanh nghiệp có sản phẩm có thể thay thế cho nhau hoặc có những dự
án, doanh nghiệp sử dụng giống nhau một số yếu tố đầu vào Vì lẽ đó, giữa các dự
án hay các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động có thể xảy ra tình trạng tranhgiành khách hàng khi tiêu thụ sản phẩm hoặc tranh giành nhau những yếu tố đầuvào Các dự án, doanh nghiệp có thể thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đặc
Trang 20biệt có những doanh nghiệp, dự án thuộc thành phần kinh tế Nhà nước hoặc có vốngóp của nhà nước cho nên trong quá trình hoạt động sẽ được hưởng những đặc ân
và đặc quyền giúp họ luôn chiến thắng trong cạnh tranh vì lẽ đó sẽ làm méo mó cácquy tắc cạnh tranh và phương hại đến các thành viên khác trên thị trường sẽ khôngkhuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển và làmhạn chế nguồn vốn đầu tư
Vì lí do đó, môi trường pháp lý thuận lợi phải thể hiện được vai trò đảm bảokhả năng thực thi của hệ thống pháp luật thông qua việc bảo vệ những quyền và lợiích hợp pháp của các pháp nhân đối với tài sản của họ Trong bối cảnh sự tiến bộcủa khoa học kỹ thuật ngày càng gia tăng, giá trị tài sản của doanh nghiệp tăng lênnhanh chóng đặc biệt là các tài sản vô hình như nhãn hiệu, bản quyền, bằng phátminh, sáng chế… do quá trình lao động trí óc tạo ra lại rất dễ bị đánh cắp và viphạm dưới sức ép cạnh tranh ở trên thị trường Cho nên, một vấn đề đặt ra cho môitrường pháp lý là việc thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tài sản củadoanh nghiệp Do đó, cần phải xây dựng Luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đưa racác quy định, chế tài phù hợp để thực hiện quyền này của các doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong việc thu hút đầu
tư, nhiều nước trên thế giới đã liên tục thay đổi, bổ sung thêm các văn bản, luậthướng dẫn, đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ cũng như tính công khai, minh bạch của
hệ thống luật pháp để hướng đến môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động đầu
tư Chính sự cải biến hệ thống luật pháp, chính sách của các nước trên thế giới hiệnnay đang dần tiến đến các thông lệ chung và điều đó tạo ra điều kiện hoạt động dễdàng cho các nhà đầu tư ở mọi quốc gia trên thế giới Hơn thế nữa, việc cải thiệnmôi trường này còn mang tính chất cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới 1.2.1.2 Cải cách thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nướcThực hiện cải cách hành chính, cải tiến quy trình, thủ tục; chấn chỉnh, nângcao năng lực, trình độ, tinh thần phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức; tuyêntruyền, vận động, tạo sự chuyển biến về nhận thức của các cấp, các ngành, các địaphương và nhân dân đối với chủ trương thu hút đầu tư, từ đó tạo sự đồng tình ủng
Trang 21hộ của toàn xã hội đối với các nhà đầu tư trong quá trình triển khai các dự án Khiđầu tư các nhà đầu tư đều được hưởng đầy đủ các chính sách ưu đãi ở mức cao nhất
mà Chính phủ quy định Về tiếp cận quy hoạch và quỹ đất ở địa phương… Lãnhđạo luôn coi những khó khăn của nhà đầu tư là khó khăn của chính mình, để các dự
án đầu tư được triển khai trong thời gian sớm nhất, mau chóng đi vào sản xuất, kinhdoanh và thu được kết quả như mong muốn, giúp nhà đầu tư yên tâm làm ăn
Để đánh giá hiệu quả công tác cải thiện môi trường đầu tư cần có các tiêu chí
để đo lường sự thay đổi tích cực về môi trường đầu tư do sự quản lý, giám sát củacác cơ quan chức năng ở từng địa phương Những tiêu chí đánh giá này sẽ đánh giá
sự nỗ lực của bộ máy hành chính trong việc cải biến môi trường đầu tư để thu hútcác tổ chức, cá nhân đến địa phương tiến hành hoạt động đầu tư Các tiêu chí đó là:
Một là, sự nhạy cảm kinh tế và hiếu khách của lãnh đạo địa phương.
Hai là, có nơi cung cấp thông tin đầu tư ban đầu một cửa rõ ràng và tin cậy.
Ba là, thời gian cấp phép nhanh, các thủ tục đơn giản.
Bốn là, hỗ trợ hiệu quả của các cơ quan chức năng trong quá trình hoạt động Năm là, trả lời nhanh chóng của các cơ quan nhà nước đối với các yêu cầu của
nhà đầu tư và doanh nghiệp
Sáu là, môi trường thân thiện giữa các Sở, ban ngành với doanh nghiệp.
Bảy là, thực hiện đối thoại chính sách thường xuyên và có hiệu quả giữa nhà
đầu tư, doanh nghiệp với lãnh đạo
Tám là, có nhiều các nhà cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh.
1.2.1.3 Cải thiện môi trường kinh tế
Cải thiện môi trường kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định tới môi trườngđầu tư, bất kỳ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, vì vậy cải thiện môi trường kinh tếnhằm kéo dài chu kỳ phát triển kinh tế của một đất nước giúp cho các nhà đầu tư cóquyết định đầu tư phù hợp Môi trường kinh tế phản ánh những đặc trưng của một
hệ thống kinh tế sẽ chi phối và tác động đến hoạt động của các nhà đầu tư Trongmôi trường kinh tế, các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, các chính sách kinh
tế, chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ lạm phát tỷ giá hối đoái, hệ thống tài chính, lao động,
Trang 22cơ sở hạ tầng và tài nguyên giữ vai trò rất quan trọng.
Tăng trưởng kinh tế được coi là việc mở rộng sản lượng tiềm năng, và cóthể mở rộng quy mô sản xuất của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định,hay tăng trưởng kinh tế là một sự gia tăng khả năng sản xuất hàng hóa - dịch vụnhằm nâng cao mức sống của toàn xã hội Khi kinh tế tăng trưởng thì các yếu tố
và điều kiện kinh tế sẽ rất thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển, nó sẽ tạo rarất nhiều cơ hội đầu tư và ngược lại nếu kinh tế kém phát triển sẽ có tác độngtiêu cực tới các nhà đầu tư
Chính sách kinh tế thể hiện quan điểm, định hướng phát triển nền kinh tế của
cả nước, thông qua các chủ trương và chính sách nhà nước điều hành và quản lýnền kinh tế và các doanh nghiệp hay các nhà đầu tư trên các phương diện quản lýnhà nước về kinh tế Các chính sách về kinh tế thể hiện những ưu đãi, khuyến khíchđối với một số khu vực, ngành, lĩnh vực kinh tế nào đó như Chính sách thương mạicần phải được cải thiện thông thoáng theo hướng tự do hóa để đảm bảo khả năngxuất - nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất, cũng như sản phẩm… tứcbảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn hoạt động đầu tư Chính sáchtiền tệ cần phải giải quyết được các vấn đề về chống lạm phát và ổn định tiền tệ.Chính sách về lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến thu hút đầu tư, đó là nhữngyếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu được tại một thị trường xácđịnh Một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế từng giaiđoạn thì khả năng thu lợi nhuận từ xuất khẩu càng lớn, sức hấp dẫn đầu tư càng lớn.Chính sách về ưu đãi tài chính - tiền tệ dành cho vốn đầu tư nước ngoài trướchết phải bảo đảm cho các chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong điềukiện kinh doanh chung của khu vực, của mỗi nước để khuyến khích họ đầu tư vàotrong nước và vào những nơi mà Chính phủ muốn khuyến khích đầu tư
Chính sách ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãitài chính dành cho các chủ đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài Vì vậy cần có
hệ thống thi hành rõ ràng, và đơn giản, dễ áp dụng và mức thuế không được quácao… Các thủ tục thuế cần phải được tinh giảm hợp lý, phải công khai và thuận lợi
Trang 23cho đối tượng chịu thuế.
Chính sách tín dụng cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của Chính phủ,của các cơ quan tín dụng xuất khẩu và các tổ chức tài chính đa phương như Ngânhàng thế giới (WB) đã, đang và sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn đầu tưnước ngoài, nhất là FDI tư nhân vào các nước có chính sách hấp dẫn Ngược lại, tưbản nước ngoài sẽ thận trọng hơn, thậm chí bỏ chạy nếu nước tiếp nhận đầu tư có
“độ tin cậy thấp về tín dụng”, rủi ro chính trị cao, phát triển kinh tế chậm, xuất khẩukém, nợ cao và bất ổn định về kinh tế vĩ mô…
1.2.1.4 Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại và thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ.
Cơ sở hạ tầng tốt sẽ kết nối doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung ứng, cơ
sở hạ tầng tốt còn giúp các nhà cung ứng giảm được chi phí sản xuất, tạo ra đượcnhững kỹ thuật sản xuất hiện đại Tăng cường cơ sở hạ tầng như đường xá nôngthôn có thể giúp các doanh nghiệp đưa được hàng hóa của họ ra thị trường Hệthống giao thông và cơ sở hạ tầng phát triển tạo thêm nhiều cơ hội để cho nhiềudoanh nghiệp có thể mua hàng hóa của các hộ nông dân Trái lại, một cơ sở hạ tầngyếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạcthiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làmnản lòng các nhà đầu tư Những thiếu hụt trong cơ sở hạ tầng sẽ làm cản trở cácdoanh nghiệp khai thác các cơ hội đầu tư Chúng cũng là nguyên nhân cơ bản làmtăng thêm chi phí cho các doanh nghiệp…do đó làm tăng thêm các nguy cơ rủi ro
mà doanh nghiệp phải gánh chịu
Nhận thức được tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng trong thu hút vốn đầu tư nênnhà nước ta luôn chú trọng tập trung cho việc cải thiện cơ sở hạ tầng theo hướngngày càng tạo thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp đầu tư Nhà nước luôn dànhmột tỷ trọng lớn vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng nhất là các công trình giaothông vận tải Các nguồn lực đầu vào phục vụ hoạt động của dự án đầu tư tuy đượctrao đổi trên thị trường nhưng cung cấp thông qua hệ thống sơ sở hạ tầng sản xuất,
Trang 24kỹ thuật cụ thể đó là: hệ thống năng lượng, giao thông, thông tin, cấp thoát nước,ngân hàng, y tế, nhà xưởng và thiết bị…nhiều nguồn lực được nâng cấp như đườnggiao thông, công trình điện, nước sạch, xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp,từng bước khắc phục những hạn chế về kết cấu hạ tầng, tạo chuyển biến tích cựctrong hoạt động thu hút đầu tư Bên cạnh đó, lựa chọn các nhà đầu tư thực sự cónăng lực tài chính và công nghệ; hỗ trợ các doanh nghiệp trên địa bàn chủ động mởrộng sản xuất, tìm kiếm thị trường đẩy mạnh xuất khẩu và tiêu thụ hàng hóa; có cơchế hỗ trợ di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nằm xen kẽ trong cáckhu dân cư và có cơ chế đặc thù đối với các dự án đầu tư xây dựng các trung tâmthương mại.
Ngoài ra chính sách công nghệ cũng được phản ánh trong môi trường cơ sở hạtầng kỹ thuật thông qua các chỉ số như trình độ phát triển công nghệ, các yếu tố hạtầng công nghệ, hệ thống chính sách phát triển khoa học công nghệ, nguồn nhân lựccho khoa học công nghệ…và hiện nay công nghệ là nhân tố có sự thay đổi mạnh mẽnhất trong môi trường kinh doanh có sực thách thức lớn và hấp dẫn mạnh đối vớicác nhà đầu tư Chính sách thu hút đầu tư các dự án lớn, các dự án sạch và các dự
án áp dụng khoa học công nghệ hiện đại như: điện tử, điện dân dụng, sản xuất ôtô…là các dự án mang lại hiệu quả kinh tế lớn không chỉ cho nhà đầu tư mà cho cảnền kinh tế
1.2.1.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và giá cả sức lao động, trình độ lao động và chính sách hỗ trợđào tạo và dạy nghề, trình độ giáo dục, chiến lược phát triển nguồn nhân lực củachính phủ, của địa phương giữ một vai trò quan trọng tạo nên một môi trường tốt đểthu hút các nhà đầu tư Vấn đề nguồn nhân lực và tay nghề của người lao động đang
là thách thức lớn đối với các nước đang phát triển Ở các quốc gia đang phát triển cólợi thế là nguồn nhân lực dồi dào, đội ngũ lao động trẻ, nhưng lại gặp phải một khókhăn rất lớn đó là trình độ lao động qua đào tạo nghề chiếm tỷ trọng thấp Do vậycác nhà đầu tư rất khó khăn trong việc tuyển dụng lao động tại chỗ mà phải thuê lao
Trang 25động từ các quốc gia khác, dẫn đến chi phí giá thành sản phẩm lên cao….
Chất lượng lao động là một lợi thế cạnh tranh đối với các nhà đầu tư vào lĩnhvực có hàm lượng công nghệ cao hoặc có sử dụng công nghệ hiện đại Ngoài ra yếu
tố văn hóa cũng ảnh hưởng tới yếu tố lao động như, sự cần cù trong lao động, tính
kỷ luật và ý thức trong lao động, hoạt động của các tổ chức cho người lao động nhưcông đoàn, hiệp hội…Như vậy, lao động là một trong những điều kiện thuận lợi haykhó khăn cho các nhà đầu tư khi tiến hành kinh doanh, tuy nhiên để có một lựclượng lao động tốt còn phụ thuộc vào hệ thống giáo dục và đào tạo, đào tạo nghề vàchiến lược phát triển nguồn nhân lực của chính phủ
1.2.2 Nhân tố ảnh hưởng đến cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.2.1 Xu hướng phát triển kinh tế quốc tế
Xu hướng phát triển kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọnghàng đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Nước ta là một nước đangphát triển có trình độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập,doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch
vụ còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh Phát triển kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến sự phân công lao động đặt cơ sở choviệc hình thành những nghề nghiệp chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằmnâng cao sức sản xuất Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đếnmột trình độ nào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô - các xínghiệp, các hãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bịchia nhỏ,sản phẩm được hoàn thiện về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc sảnxuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay nghề của người sản xuất, tăng năng suấtlao động xã hội
Sự phát triển kinh tế quốc tế đòi hỏi phải quan tâm đến Hiệp định về sở hữu trítuệ: có thể thấy rằng khi nộp đơn cho Tổ chức Thương mại thế giới, hệ thống sởhữu trí tuệ của Việt Nam còn rất nhiều điểm chưa phù hợp Quyền sở hữu trí tuệkhuyến khích các hoạt động sáng tạo và đổi mới, chúng mang lại sự tin tưởng cho
Trang 26chủ sở hữu khi chuyển giao kiến thức, công nghệ và bí quyết
Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, sở hữu trí tuệ là một công cụ đắc lực đốivới việc phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia Thực tiễn cho thấy, nhiều công
ty, nhiều doanh nghiệp trên thế giới đã rất thành công và trở nên nổi tiếng nhờ khaithác có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ Đối với các doanh nghiệp nước ta, quyền sởhữu trí tuệ cũng đóng một vai trò quan trọng, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay
Xu hướng phát triển kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư, sửdụng và quản lý ĐTNN, thực tế cho thấy việc quản lý đầu tư nhất là đầu tư nướcngoài đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập Đó là khả năng hấp thụ nguồn vốn cònkhiêm tốn, đồng nghĩa với việc chưa tận dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn nàytrong khi Việt Nam đang có nhu cầu lớn về vốn; chất lượng của nguồn vốn chưacao; việc thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao còn hạn chế; chuyển giao côngnghệ còn chậm; Hơn nữa trong giai đoạn hiện nay đánh giá của các nhà đầu tư quốc
tế đối với Việt Nam là thấp điểm hơn so với Thái Lan, Indonesia, Malaysia Do đó,Việt Nam đã và đang mất dần lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI so với các nướctrong khu vực
Xu hướng phát triển kinh tế quốc tế ảnh hưởng đến sự phát triển của các ngành
công nghiệp hỗ trợ: Các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam phát triển chậm,chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của các doanhnghiệp ĐTNN Do đó, các doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn các linh phụ kiệnđầu vào, làm tăng chi phí, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,chưa đáp ứng được yêu cầu về việc hình thành chuỗi giá trị Các dự án có côngnghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và tăng cường sự liên kết giữa các khuvực; các ngành, lĩnh vực tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khảnăng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, như công nghệ cao, cơ khí,công nghệ thông tin và truyền thông, dược, công nghiệp sinh học
1.2.2.2 Hệ thống pháp luật minh bạch và phù hợp với sự phát triển của kinh
tế thị trường.
Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư chưa đồng bộ, rõ
Trang 27ràng, các văn bản pháp luật còn chồng chéo, tạo ra các cách hiểu khác nhau trongquá trình áp dụng ở các cấp Đi liền với những quy định chồng chéo, mâu thuẫn là
sự thường xuyên thay đổi, tính ổn định không cao của hệ thống văn bản dưới luật đãlàm giảm hiệu lực của văn bản luật, dẫn tới khó khăn trong việc thực hiện và tácđộng xấu đến sự ổn định chính trị xã hội, nhất là quan hệ kinh tế và thu hút đầu tư Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống phápluật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cóthể nói pháp luật là những nhu cầu cơ bản, điển hình và có tính phổ biến nhất củađời sống kinh tế - xã hội được khái quát hoá, mô hình hoá dưới hình thức pháp lý cụthể thông qua hoạt động lý trí và ý chí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Dovậy, sự phù hợp của các văn bản quy phạm pháp luật mà đặc biệt là của các văn bảnluật với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội là điều kiện vôcùng quan trọng bảo đảm cho tính khả thi và hiệu quả của pháp luật Phù hợp vớicác quy luật và điều kiện kinh tế - xã hội sẽ làm cho pháp luật dễ dàng được thựchiện, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế -
xã hội, trường hợp ngược lại, pháp luật khó được thực hiện trên thực tế, thậm chí cóthể cản trở hoặc gây ra những thiệt hại nhất định cho sự phát triển đó
Một hệ thống pháp luật có chất lượng thì phải bảo đảm tính khả thi, nghĩa làcác quy định pháp luật phải có khả năng thực hiện được trong điều kiện kinh tế,chính trị - xã hội hiện tại Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải được banhành phù hợp với trình độ phát triển của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển nhấtđịnh Nếu các quy định pháp luật được ban hành quá cao hoặc quá thấp so với cácđiều kiện phát triển của đất nước thì đều có ảnh hưởng đến chất lượng của phápluật Trong những trường hợp đó hoặc là pháp luật không có khả năng thực hiệnđược hoặc là thực hiện không triệt để, không nghiêm, không phát huy hết vai trò tácdụng của nó trong đời sống xã hội
Quyền sở hữu trí tuệ đang khẳng định vai trò không thể thiếu trong quá trìnhhình thành một nền kinh tế toàn diện và phát triển bền vững Chứng chỉ về quyền sởhữu trí tuệ là vật chứng bảo đảm cho thành công của mỗi doanh nhân tiến vào thịtrường thế giới Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp nước ta
Trang 28buộc phải tham gia môi trường cạnh tranh quốc tế với cường độ cao, với những yêucầu chặt chẽ về thực thi các quy định về sở hữu công nghiệp Cần phải nhìn nhậnmột thực tế là, quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam bị xâm phạm ngày càng phức tạp.Hàng giả, hàng nhái, hàng sao chép, hàng lậu… đang được bày bán công khai ở mọinơi Ý thức của người tiêu dùng cũng là vấn đề đáng lo ngại.
1.2.2.3 Sự ổn định, đồng bộ của hệ thống chính sách kinh tế - xã hội
Sự ổn định về chính trị và xã hội là yếu cầu đầu tiên quan trọng nhất, quyếtđịnh đối với việc thu hút đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư Một quốc gia có môitrường chính trị ổn định thì các nhà đầu tư mới yên tâm đầu tư Nếu môi trườngchính trị không ổn định, thường xuyên có bạo loạn thì khó có thể bào toàn vốn cũngnhư không thể tiến hành sản xuất kinh doanh để sinh lời
Tạo ra sự tin cậy về sự ổn định chính sách của Chính phủ rất cần thiết chonhững định hướng đầu tư của các doanh nghiệp Khi nhà đầu tư ra quyết định họkhông chỉ dựa vào những luật lệ và quy định hiện tại của Chính phủ mà họ còn dựbáo tính ổn định và nhất quán trong tương lai như thế nào Sự không chắc chắn củahành vi và chính sách của Chính phủ sẽ khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài cảmthấy không ổn định và không dự đoán được hiệu quả đầu tư, dẫn đến các nhà đầu tưđưa ra quyết định không đầu tư nữa và tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nơi khác khi mà họtìm thấy sự tin tưởng và chắc chắn hơn
Sự đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật có thể đo lường lòng tin củadoanh nghiệp tư nhân đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh, liệu các thiết chếpháp lý này có được doanh nghiệp xem là công cụ hiệu quả để giải quyết tranh chấphoặc là nơi doanh nghiệp có thể khiếu nại các hành vi nhũng nhiễu của cán bộ côngquyền tại địa phương gồm: Hệ thống tư pháp cho phép các doanh nghiệp tố cáohành vi tham nhũng, và có thể cho thấy doanh nghiệp tin tưởng hệ thống pháp lý sẽbảo vệ hợp đồng và các quyền tài sản
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm
là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính, trong đó tậptrung vào việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các
Trang 29bộ luật, luật, thực hiện tốt Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.Hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách về sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai, tàinguyên khoáng sản, nước và về quản lý, sử dụng tài sản công.
1.2.2.4 Hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp
Hoạt động của chính quyền các cấp hiện nay bộc lộ một số hạn chế như: nănglực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trên một số lĩnh vực yếu, phâncấp mạnh nhưng thiếu kiểm tra, kiểm soát, trật tự, kỷ cương xã hội không nghiêm…Nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động chưa cao của cơ quan hành chính nhànước đó là: sự phân định chức năng, nhiệm vụ trong một số lĩnh vực chưa được rõràng dẫn đến sự đùn đẩy trách nhiệm cho nhau trong quá trình giải quyết công việc;cán bộ, công chức là người điều hành, quản lý hoạt động cho toàn xã hội trong khi
đó các chế độ công vụ, chế độ đãi ngộ thấp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một
số cán bộ, công chức còn yếu chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ được giao Cầnquán triệt các quan điểm, nguyên tắc trong việc tiếp tục cải cách, xây dựng và hoànthiện bộ máy nhà nước, thực hiện tốt chiến lược cải cách hành chính nhà nước Hiệnđại hóa nền hành chính quốc gia, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, cải cáchchế độ công vụ, công chức, chính sách tài chính công, xây dựng chính phủ điện tử
và từng bước hiện đại hóa nền hành chính nhà nước Việc nâng cao hiệu quả hoạtđộng của cơ quan hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay sẽ làm cho bộ máy hànhchính ngày càng hoàn thiện hơn, hoạt động có hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân ngàycàng tốt hơn
Hoạt động của chính quyền các cấp thể hiện qua sự sáng tạo, sáng suốt củalãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việcđưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánhgiá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trungương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật nhằm tạo môitrường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân và giải quyết những trởngại đối với cộng đồng doanh nghiệp; Cảm nhận của doanh nghiệp về thái độ của
Trang 30chính quyền tỉnh đối với khu vực tư nhân.
1.2.2.5 Chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của đất nước
Đối với công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia và điều hành pháttriển kinh tế theo cơ chế thị trường, đồng thời thực hiện tốt chính sách xã hội Xâydựng cơ chế vận hành đồng bộ thông suốt các loại thị trường Đẩy mạnh đổi mới cơchế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơchế, chính sách để đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức mà nòngcốt là hợp tác xã và các nhiệm vụ khác liên quan
Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tậptrung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩnhóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế đến năm 2020 theo
lộ trình phù hợp, trong đó đổi mới quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên vàcán bộ quản lý là khâu then chốt Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, vớimột số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn
Rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông quốc gia đồng
bộ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nềnkinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh củanền kinh tế Cải cách thể chế và tăng cường phối hợp trong điều hành kinh tế vĩ mô;đổi mới hệ thống cơ chế, chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia nhằm nâng cao chấtlượng tăng trưởng bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của nền kinh tế
Phát triển khoa học và công nghệ thực sự là động lực then chốt của quá trìnhphát triển nhanh và bền vững Tập trung tái cơ cấu đầu tư khoa học, công nghệnhằm tạo ra sản phẩm công nghệ cao, đầu tư xây dựng một số viện nghiên cứu trọngđiểm đầu ngành và một số trường đại học nghiên cứu đạt trình độ khu vực và quốc
tế Xây dựng các trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo quốc gia, trung tâmươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ cao tại các khu công nghệ cao
Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập, nâng cao vị thế của Việt Nam
Trang 31trên trường quốc tế Xây dựng chiến lược đầu tư nước ngoài theo hướng thu hút cácđối tác lớn có công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường và tăng cường sự liênkết với các doanh nghiệp trong nước; nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư ranước ngoài Phát huy vai trò và nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài vào phát triển đất nước Chủ động và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế vàcác nhiệm vụ khác liên quan.
Tiếp tục hoàn thiện bộ máy Nhà nước, tạo bước chuyển mạnh về cải cách hànhchính, đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoàn thiện cơ chế phâncấp, bảo đảm quản lý thống nhất về quy hoạch và định hướng phát triển Thực hiện
có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2020; cải cách chính sách việc làm, tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội và trợ cấp
2011-ưu đãi người có công Đổi mới và hoàn thiện chế độ cung cấp thông tin và tráchnhiệm giải trình của cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng trước nhân dân; tiếp tục đẩymạnh thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là
về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự ánphát triển quan trọng và các nhiệm vụ khác liên quan
1.2.2.6 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên là những ưu đãi vốn có của một quốc gia,một vùng lãnh thổ Nó có ưu thế lâu dài trong phát triển kinh tế xã hội và là căn cứ
để hoạch định các chính sách phát triển đối với quốc gia hoặc vùng, lãnh thổ, đồngthời nó cũng là yếu tố quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư
Thực tế đã cho thấy các nước phát triển trên thế giới đều dựa vào ưu thế vế vịtrí địa lý và nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có Trong quá trình phát triển kinh tế,đặc biệt là trong giai đoạn công nghiệp hoá hiện nay các nước phải tích cực khaithác nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có của mình và phát huy lợi thế so sánh Tuynhiên cũng có những nước nghèo tài nguyên như NHẬT BẢN nhưng lại có sứcmạnh kinh tế vào bậc nhất thế giới Vì thế mà tài nguyên thiên nhiên tuy quan trọngnhưng không phải là yếu tố sống còn trong phát triển kinh tế
Ưu thế địa lý của một quốc gia còn thể hiện ở chỗ quốc gia đó có nằm trong
Trang 32khu vực phát triển kinh tế sôi động không, có giao lộ của các tuyến giao thông quốc
tế không, tại đó có kiểm soát được vùng rộng lớn không Một quốc gia có vị tríthuận lợi có nghĩa là quốc gia đó được hưởng lợi từ các dòng thông tin, các tràolưu phát triển mới, thuận lợi cho việc chu chuyển vốn, vận chuyển hàng hoá vàhưởng địa tô nếu nằm ở vị trí chiến lựợc Đối với các nhà đầu tư thì các ưu đãi tựnhiên là những nơi có cơ hội làm ăn nhiều hơn, mức sinh lời cao hơn
1.2.2.7 Sự liên kết, hợp tác kinh tế giữa các vùng miền
Khi liên kết kinh tế là tất yếu khách quan, thì sớm hay muộn, nó cũng phải dầndần xuất hiện như một xu thế Nếu để cho thị trường tự phát điều chỉnh, quá trìnhhình thành liên kết kinh tế khu vực sẽ diễn ra chậm hơn, chúng ta sẽ phải trả “họcphí” cao hơn, thông qua quá trình “đổ vỡ” và sắp xếp lại của các chủ thể kinh tế
Rõ ràng, các tỉnh trong khu vực không có lựa chọn nào khác ngoài con đường cùngnhau chủ động tạo lập một cơ chế liên kết kinh tế khu vực hợp lý, đảm bảo cho cácđịa phương đều có cơ hội phát triển một cách hài hòa Chúng ta đều rõ, mục đíchcủa sự phối hợp, liên kết giữa các địa phương trong khu vực là nhằm tạo không giankinh tế thống nhất cho toàn vùng để cùng phát triển, với hiệu quả cao, trong hộinhập kinh tế quốc tế thời đại toàn cầu hóa
Lợi ích của liên kết kinh tế khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa là hiển nhiên
và rất lớn Rõ ràng, liên kết kinh tế không chỉ góp phần khai thác có hiệu quả hơntiềm năng và lợi thế của mỗi địa phương mà còn tạo thế và nâng cao năng lực cạnhtranh nhờviệc giảm chi phí, tiêu hao các nguồn lực Liên kết kinh tế không chỉ tạothêm sức mạnh nội sinh, tập trung được nguồn lực để thực hiện những dự án lớn,đẩy mạnh sự phân công theo hướng chuyên môn hóa mà còn góp phần kiến tạo môitrường thu hút đầu tưhấp dẫn, có hiệu quả Không phải các địa phương trong khuvực không biết hiện đang tồn tại hiện trạng “tỉnh này có gì, tỉnh kia có nấy”, khiếncho nhiều tỉnh cùng “dàn hàng ngang để tiến” và kết quả là cùng níu kéo lẫn nhau,làm suy giảm lợi thế và tiềm lực lẫn nhau
Trở ngại chính trong liên kết kinh tế khu vực nằm ở chỗ, chúng ta đều biết,trong nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, liên kết và hợp tác trong sản
Trang 33xuất kinh doanh nói riêng hay hoạt động kinh tế nói chung không thể xuất phát từmong muốn chủ quan, duy ý chí dù trên cơ sở thiện ý Mọi sự liên kết hợp tác đềuphải dựa trên “tính tất yếu kinh tế”, ở đây là các động lực của thị trường, mà thựcchất là động lực lợi ích Vậy là đã rõ Cái đang cản trở lớn nhất đối với liên kết kinh
tế khu vực, chủ yếu không phải nằm ở nhận thức mà ở chỗ đang thiếu một cơ chếliên kết kinh tế trên nền tảng chia sẻ lợi ích phát triển Thực tế cho thấy, trongthương lượng, đàm phán, thỏa thuận, hợp tác thì điều khó nhân nhượng lẫn nhaunhất luôn luôn là lợi ích
Chúng ta không thể thúc đẩy và nâng cao hiệu quả của quá trình liên kết vàhợp tác kinh tế khu vực, chừng nào còn chưa thiết lập được một cơ chế liên kết hợp
lý trên cơ sở chia sẻ lợi ích mà các thành viên có thể chấp nhận Cơ chế liên kếtkinh tế đó phải vừa đảm bảo lợi ích tổng thể trong phát triển của cả khu vực vừaphải chia sẻ lợi ích một cách hài hòa cho các thành viên trên cơ sở phân công laođộng, phân vùng phát triển hợp lý
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tăng cường hợp tác, liên kết kinh
tế vô cùng quan trọng vì nó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo đầy đủ các nguồn lựcphục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua quá trình tự do hoá thương mại
và đầu tư Để có thể tăng cường hợp tác, liên kết kinh tế các địa phương cần chủđộng tiến hành các hoạt động giao lưu văn hoá, kinh tế, du lịch, giáo dục… thôngqua đó để các địa phương hay quốc gia bên ngoài hiểu biết về những lợi thế, tiềmnăng và các cơ hội hợp tác kinh doanh Trên cơ sở đó, sẽ thu hút các nguồn lựcthông qua hoạt động đầu tư quốc tế trực tiếp Nhờ có hoạt động này chủ đầu tư sẽ dichuyển các yếu tố như vốn, công nghệ, nhân lực trình độ cao cùng với kỹ năng quản
lý tiến bộ trong quá trình điều hành dự án Như vậy, hợp tác và liên kết kinh tế cótác động tích cực đến môi trường đầu tư như: nâng cao kiến thức, kỹ năng, tay nghềcủa lao động; nâng cao trình độ công nghệ của nơi tiếp nhận và bản thân địa phương
sẽ tiến hành cải cách các điều kiện tiếp nhận dự án…
Vì thế, mỗi quốc gia hay địa phương đều phải duy trì tốt đồng thời thiết lập cácmối quan hệ quốc tế và xây dựng các chương trình xúc tiến đầu tư để tạo ra những
Trang 34điều kiện thuận lợi cho việc di chuyển các yếu tố sản xuất phục vụ cho quá trình đầu
tư hoặc cũng như là biện pháp để mở rộng thị trường tiêu thụ Đối với nước ta nóichung và các địa phương trong nước việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mạithế giới (WTO) cũng là một nhân tố tích cực kích thích cũng như thu hút các nguồnvốn đầu tư phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế của địa phương Trong điều kiệnnền kinh tế mở mỗi quốc gia đều có và mong muốn ngày hợp tác và liên kết vớinhiều quốc gia nhằm rộng các quan hệ ra bên ngoài để tận dụng những điều kiệnthuận lợi cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế Song môi trường quốc tế cả ởtrên lĩnh vực kinh tế hay chính trị đều có những diễn biến phức tạo do đó có cả ảnhhưởng tích cực cũng như là tiêu cực đến môi trường đầu tư của quốc gia
1.2.3 Sự cần thiết phải cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1. Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với cải thiện môi trường đầu tư
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước vớikinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tếtheo những hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực,vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiềumức độ
Thực tế cho thấy khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế đem lại cho các quốcgia nhiều cơ hội cũng như vô vàn thách thức, đã xuất hiện và tồn tại đan xen nhautác động mạnh mẽ lên nền kinh tế Việt Nam Việc thực hiện cam kết mở cửa thịtrường và cải cách hệ thống pháp luật là một thách thức lớn đối với công tác hoạchđịnh chính sách và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hội nhập kinh tế quốc tế cần đi trước một bước để tạo cơ sở, thúc đẩy hội nhập
và hợp tác trong các lĩnh vực khác Mặt khác, hội nhập tốt, có hiệu quả các lĩnh vựckhác sẽ góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả hơn; hội nhập kinh
tế quốc tế phải nhằm thúc đẩy các quan hệ có hợp tác song phương khu vực và đaphương; tiếp tục nâng cao vị trí vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động
Trang 35xây dựng các quan hệ đối tác mới thực sự mang lại lợi ích quốc gia HNKTQT đãtác động đến kinh tế - xã hội nói chung và trong môi trường đầu tư nó có tác động
cụ thể đến từng yếu tố của môi trường đầu tư cụ thể như sau:
- HNKTQT đã có tác dụng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, docác rào cản thương mại tại các nước bạn hàng giảm, Việt Nam đã mở rộng được thịphần sang các thị trường này, tăng kim ngạch xuất khẩu, nhờ đó sản lượng của cácngành định hướng xuất khẩu tăng Khi thực thi các cam kết trong khuôn khổ WTO
và các hiệp định đa phương và song phương đã cải thiện mạnh mẽ môi trường kinhdoanh Điều này đi đôi với môi trường chính trị tiếp tục ổn định đã tạo điều kiệnthuận lợi cho thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế của đất nước Vì vậy môi trườngđầu tư được cải thiện hơn, thu hút đầu tư được mở rộng hơn
- Tác động đến thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn (FDI) do lượng vốnđầu tư (FDI và vốn trong nước) vào nền kinh tế tương đối lớn, các lĩnh vực chịu tácđộng nhanh nhất của HNKTQT, cùng với các điều kiện ưu đãi trong các hiệp địnhthương mại, đầu tư song phương là những yếu tố quan trọng nhất thu hút các nguồnvốn đầu tư tại Việt Nam HNKTQT đã góp phần tích cực cho việc huy động vốnđầu tư vào nền kinh tế đã ảnh hưởng đến đầu tư toàn xã hội cũng như cơ cấu đầu tưtheo ngành, lĩnh vực và theo thành phần kinh tế Hầu hết các ngành có mức tăngtrưởng vốn đầu tư cao hơn mức tăng trưởng chung đều có đóng góp đáng kể củakhu vực FDI và khu vực kinh tế ngoài nhà nước
- Việc thực hiện các cam kết này, cùng với việc đổi mới, hoàn thiện hệ thốngpháp luật, chính sách ĐTNN trong thời gian qua nhìn chung đã góp phần cải thiệnmôi trường đầu tư, nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà ĐTNN Việt Nam đã tiến hànhđiều chỉnh các chính sách kinh tế theo hướng minh bạch và thông thoáng hơn chocác doanh nghiệp, mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ, cũng như các biện pháp cảicách đồng bộ trong nước nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượtqua thách thức trongquá trình hội nhập Cải cách hành chính trong đăng ký kinh doanh và cấp giấy chứngnhận đầu tư được đẩy mạnh, quy trình thủ tục xuất nhập khẩuthuận lợi hơn, cơ chếmột cửa ở một số địa phương đã được thực hiện tốt, các thủ tụcliên quan đến đăng
ký kinh doanh và cấp giấy chứng nhận đầu tư đã đơn giản và nhanh chóng hơn Điều
Trang 36này đã khuyến khích các nhà ĐTNN tăng cường đầu tư vào Việt Nam cũng nhưmạnh dạn hơn trong việc tăng vốn, mở rộng quy mô các dự án đầu tư Nhờ đó,ĐTNN vào Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc
- HNKTQT góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong cả nước một cáchnhanh chóng lao động trong các ngành công nghiệp – dịch vụ tăng, lao động nôngnghiệp giảm dần, xu hướng xuất khẩu lao động cũng tăng theo do người lao độngđược nắm bắt nhiều thông tin về nhu cầu lao động tại các nước khác Đặc biệt là thunhập của người lao động cũng được nâng lên, lao động thất nghiệp do thời vụ trongnông nghiệp giảm Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi trình độ củangười lao động cũng phải nâng lên, đồng thời nâng cao ý thức, kỷ cương lao động
- Việc gia nhập WTO đã có tác động hoàn thiện đáng kể thể chế kinh tế ở ViệtNam, thể hiện ở việc khung pháp lý được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện, bộ máy tổchức tham gia vào thực hiện và điều hành các hoạt động kinh tế được củng cố; và cơchế thực thi, bao gồm các chính sách, cơ chế hỗ trợ, v.v được tiếp tục xây dựng vàhoàn thiện để đảm bảo có được môi trường kinh doanh thực sự cạnh tranh bình đẳng
và Chính phủ chỉ can thiệp khi cần thiết để khắc phục những thất bại của thị trường
- Cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư hơn, hạ tầng các khu cụm công nghiệpngày càng được hoàn thiện để đón nhận dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam, xây dựng
hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển nhanhkhi vốn đầu tư đổ nhiều vào nền kinh tế nên chịu tác động trực tiếp và gián tiếp củanhững biến động về FDI và đầu tư trong nước nhiều nhất Kết cấu hạ tầng, đầu tưkinh doanh, làm đối trọng với các tập đoàn kinh tế lớn, giảm bớt tình trạng độcquyền trong sản xuất và kinh doanh Lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ViệtNam tăng cao, các xu hướng đa dạng hóa trong đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhữngkết quả ở mức độ nhất định nhờ hệ thống thể chế được hoàn thiện
1.2.3.2 Tất yếu cần phải cải thiện môi trường đầu tư trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Môi trường đầu tư rất quan trọng đối với thu hút đầu tư, bởi vậy việc cải thiện
Trang 37môi trường đầu tư là tất yếu Ngoài ra, trong xu thế chung cải thiện môi trường đầu
tư để thu hút đầu tư các quốc gia đang diễn ra một cuộc cạnh tranh mãnh liệt Hoàchung trong xu thế đó, Việt Nam cũng đang tích cực tích cực cải thiện môi trườngđầu tư để thu hút đầu tư phát triển nhằm đưa Việt Nam ra khỏi những nghèo và trởthành nước phát triển Vì khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ thu hút được cácnhà đầu tư, từ đó sẽ tạo ra nhiều giá trị sản xuất, việc làm và các giá trị khác mà nó
sẽ làm cho mục tiêu tăng trưởng, giảm nghèo thành hiện thực Với mục đích thu lợinhuận, các nhà đầu tư sẽ bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh với những ý tưởng mới,với những cơ sở vật chất mới và đó chính là những yếu tố cấu thành cho tăngtrưởng kinh tế Các doanh nghiệp là nguồn thu thuế chủ yếu của chính phủ, là nhân
tố chính tham gia vào quá trình cung cấp hàng hoá nói chung và hàng hoá côngcộng cho mọi người như đào tạo, sức khoẻ, y tế…Như vậy, các doanh nghiệp lànhân tố chính, đóng vai trò nòng cốt cho quá trình tạo dựng một nền kinh tế tăngtrưởng và phát triển Cải thiện môi trường đầu tư là cần thiết, vì:
Thứ nhất, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư bằng mọi hình thức,
tăng nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế: Việt Nam mới là nước đang phát triển,nền kinh tế mang đậm nét thuần nông Trước sự bùng nổ về công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, Việt Nam cũng đã đẩy mạnh kêu gọi đầu tư nhằm thu hút đầu tư để pháttriển kinh tế
Thứ hai, cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút đầu tư để nâng cao thu
nhập, tạo việc làm cho người lao động: Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơcấu lao động cũng có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Trong những năm gầnđây mặc dù đã thu hút được nhiều dự án đầu tư, thu hút được nhiều lao động nôngnghiệp sang công nghiệp, thu nhập của người dân từng bước được cải thiện, đờisống của nhân dân từng bước được thay đổi
Thứ ba, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư nhằm phát triển cơ sở hạ
tầng, thúc đẩy và chuyển giao khoa học, công nghệ, hiện nay cơ sở hạ tầng ở nước
ta còn nhiều bất cập, chưa đồng bộ, hạ tầng các khu - cụm công nghiệp tuy đã được
Trang 38hỗ trợ đầu tư nhưng còn nhiều bất cập, chưa được quy hoạch thành vùng tập trung,nhiều khu công nghiệp còn nằm ngay trong khu dân cư, gây mất ô nhiễm môitrường, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; hệ thống đường giao thông, bếnbãi, cảng biển, sân bay, kho hàng không đồng bộ,…Cải thiện môi trường đầu tư đểthu hút các dự án lớn mang tính khoa học - công nghệ cao là những sản phẩm đemlại lợi ích kinh tế lớn, sử dụng ít quỹ đất…
Thứ tư, trình độ khoa học công nghệ và các nguồn lực khác còn hạn chế, trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ bênngoài, cần tạo ra những điều kiện hấp dẫn và gợi ra được những kết quả tốt đẹp màchủ đầu tư sẽ nhận được khi đưa ra quyết định đầu tư
Thứ năm, do nhu cầu to lớn về vốn đầu tư cho phát triển kinh tế trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, nếu chỉ có vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thìkhông thể đắp ứng được, mà cần phải xã hội hóa nguồn vốn đầu tư nhằm thu hútmọi nguồn vốn trong dân cư, nguồn vốn nước ngoài phục vụ phát triển đất nước…
1.3 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư và bài học đối với tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.1 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư của một số địa phương đối với tỉnh Bắc Giang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.1.1 Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Bắc Ninh
Quản lý giám sát, hỗ trợ dự án FDI sau cấp phép - Một biện pháp hiệu quả tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:
Bắc Ninh thu hút nhân tài: Nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhânlực là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội khichuyển sang giai đoạn phát triển trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa về kinh tế
Ưu tiên thu hút các dự án sạch, công nghệ cao: Đến nay, tỉnh BắcNinh có 348 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp Giấy Chứng nhận đầu tư(CNĐT) với tổng vốn đầu tư đăng ký 4120, 11 triệu USD đã và đang đi vào hoạt
Trang 39động Riêng quý I-2012, đã cấp GCNĐT mới cho 11 dự án FDI với tổng vốn đăng
ký đầu tư 156,21 triệu USD, cấp GCN hoạt động cho 1 chi nhánh và 1 văn phònggiao dịch, tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh trong Quý I là 157,31 triệu USD.Đây là những con số đáng mừng trong điều kiện kinh tế suy thoái
Nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: BắcNinh đã mở cửa thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ nhiều năm qua.Vốn FDI ngày càng đóng vai trò to lớn, trở thành động lực góp phần thúc đẩy sựtăng trưởng của Bắc Ninh Việc củng cố, tăng cường và nâng cao hiệu quả của dòngvốn FDI vào Bắc Ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng được các lãnh đạocủa tỉnh Bắc Ninh đặt nên hàng đầu trong tình hình hiện nay
Bắc Ninh đã đứng trong tốp 13 tỉnh, thành phố cả nước tự cân đối ngân sách
và có phần điều hòa về Trung ương với mức thu năm 2011 đạt 7.100 tỷ đồng, thunhập bình quân đầu người 2.000 USD
Theo thống kê, Bắc Ninh đứng thứ 14 toàn quốc, thứ 2 vùng kinh tế trọngđiểm Bắc Bộ trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI đến đầu tư Chỉ số Năng lựccạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 6/63 tỉnh, thành phố, là tỉnh dẫn đầu khu vực đồngbằng sông Hồng và khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ về môi trường kinh doanh
Hội tụ các yếu tố nền tảng hấp dẫn đầu tư và hướng tới tầm nhìn phát triển mới: Xúc tiến đầu tư theo quy trình đổi mới bao gồm các giai đoạn:Nâng cấp, đáp ứng về cơ sở hạ tầng cho nhà đầu tư; tiến hành cải cách thủ tục hànhchính, tạo môi trường kinh doanh, đầu tư có tính cạnh tranh cao; xây dựng và quảng
bá “thương hiệu địa phương” với những cam kết mạnh mẽ và thông điệp rõ ràngcủa lãnh đạo trong thực hiện chiến lược phát triển
1.3.1.2.Kinh nghiệm cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Thái Nguyên
Việc quy định các thủ tục và trợ giúp nhà đầu tư trong việc cấp đất, đền bù giảiphóng mặt bằng, thủ tục kê khai thuế, nộp thuế, khai báo hải quan, xin cấp giấyphép,…Bên cạnh đó, cải cách thủ tục hành chính cần có sự trợ giúp của các phươngtiện và kỹ thuật hiện đại để tạo ra sự linh hoạt của nhà đầu tư trong việc tiếp cận và
sử dụng các dịch vụ công tạo ra sự thuận lợi và tiết kiệm thời gian và chi phí khôngchính thức cho doanh nghiệp Cải cách các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư
Trang 40để tạo ra sự thuận lợi tối đa cho các nhà đầu tư Cải tiến quá trình cấp phép đầu tư
và quản lý hoạt động đầu tư ở mọi khâu và mọi cấp Nghiên cứu để mở rộng quyềnhạn và trách nhiệm cho các đơn vị chức năng để tạo điều kiện giải quyết kịp thờicác yêu cầu, vướng mắc của chủ đầu tư và doanh nghiệp tránh không gây phiền hàcho nhà đầu tư và nâng cao được công tác quản lý đầu tư của địa phương Chủ độngxây dựng các chương trình để tiếp xúc với nhà đầu tư, doanh nghiệp lấy ý kiến đểhoàn thiện các quy trình, thủ tục đầu tư theo nguyện vọng của nhà đầu tư Từ đó tạo
ra mối quan hệ thân thiện giữa nhà đầu tư với địa phương
Song song với công tác cải cách thủ tục hành chính cần tiến hành đồng thờicác biện pháp chống tham nhũng để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của bộmáy công quyền vừa tạo hiệu quả cho nhà đầu tư vừa giúp cho việc giám sát vàquản lý các hoạt động đầu tư của địa phương
Thái Nguyên ngoài việc chấp hành các quy định của nhà nước về đầu tư cầnlinh hoạt tạo ra cho mình các cơ chế, chính sách về đầu tư riêng của mình để tăngcường sự ưu đãi và trợ giúp nhà đầu tư trong hoạt động sản xuất Việc ban hành,thực hiện các chính sách đảm bảo minh bạch và bình đẳng với mọi nhà đầu tư, mọiloại hình doanh nghiệp đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư Cónhư vậy mới tạo ra được môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động sản xuấtkinh doanh và đầu tư
Ngoài việc hoàn thiện thị trường trao đổi hàng hoá, dịch vụ cần phải thiết lậpcác thị trường yếu tố sản xuất phục vụ việc trao đổi các yếu tố đầu vào đáp ứng nhucầu đầu tư đó là thị trường KHCN, bất động sản, tài chính đặc biệt là thị trường laođộng để giúp cho nhà đầu tư chọn lựa được nguồn nhân lực cao đồng thời tạo ra cácđiều kiện cạnh tranh để phát triển nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp góp phầnnâng cao chất lượng quản lý của các cơ quan Nhà nước
Để tạo ra sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và những điều kiện thuận lợi chonhà đầu tư và doanh nghiệp và dựa trên những chính sách ưu đãi khuyến khích đầu
tư của Nhà nước, Thái Nguyên đang tiến hành những biện pháp ưu đãi đầu tư và cốgắng hoàn thiện để trở thành chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương đó là: