1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

78 1,7K 19
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam
Tác giả Sơn Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Văn học
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 400 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

Trang 1

Chương 2 Con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam 2.1 Đặc điểm tính cách con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam

2.1.1 Con người dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá tự nhiên

Như chúng ta đã biết, U Minh - Rạch Giá - Cà Mau là mảnh đất cực Tây Nam của Tổ quốc Đó cũng là nơi dừng chân cuối cùng của đoàn người Nam tiến Khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX, cùng với những biến đổi lớn về tình hình chính trị xã hội, con người hội tụ về đây gồm nhiều thành phần, nhiều lí do khác nhau Phần lớn họ là những người đem bàn tay, khối óc của mình để xâm rừng, lấn biển, mở làng lập ấp, sinh cơ lập nghiệp Trong số đó có không ít người đã từ bỏ quê hương

vì không chịu đựng được ách áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến, ách

đô hộ của thực dân Họ tự tạm gọi bằng những cái tên là đi trốn thuế thân và

cố che đậy bằng hình thức giăng câu bắt rắn Tuy nhiên, họ đều có chung một mục đích cuối cùng là “đi tìm sự sống trong muôn ngàn cái chết” Đến đây, họ sinh sống bằng nhiều nghề, chủ yếu khai thác những nguồn lợi từ nơi này như đốn củi, ăn ong, săn chim , săn khỉ… làm được ngày nào

ăn ngày ấy Bốn bề rừng rậm hoang vu, để có được miếng cơm manh áo, chẳng những họ phải đổ mồ hôi, công sức mà ngay cả tính mạng họ cũng bị đe doạ nghiêm trọng Những người đi chinh phục miền đất lạ dù có nhiều dũng khí nhưng trước thiên nhiên đầy tai họa, đôi lúc họ cũng chạnh lòng vì cảm giác:

“Tới đây xứ sở lạ lùng

Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”

Trong cuộc hành trình đầy gian lao của những người đi mở đất, dường như Sơn Nam đã đặt họ trong tứ bề gian khổ như cái vốn dĩ hiện có của cuộc sống mà không bỏ sót một chi tiết nào.Tác giả đã đề cập đến những

Trang 2

cuộc đấu tranh không cân sức giữa con người với các thế lực của tự nhiên, qua đó ông đã hết lời ngợi ca sự dũng cảm, gan dạ, thông minh và đầy sáng tạo của họ

Trong cuộc khẩn hoang miền Nam, con người cùng nhau tạo dựng cuộc sống, trả giá bằng máu và nước mắt trong cuộc chiến với thiên nhiên dữ dằn hoang dã, nhưng con người Nam Bộ vẫn toát lên tinh thần dũng cảm, gan góc Những cuộc chiến đấu với thú dữ cuối cùng con người đã dành thắng lợi dù bao nhiêu người đã phải đổ máu

Đối lập hình ảnh bé nhỏ của con người với cái bao la bất tận của đất trời, của thiên nhiên hoang sơ huyền bí để cùng một lúc Sơn Nam vừa vẽ nên bức chân dung của con người Nam bộ, vừa hết lời ngợi ca những phẩm chất đáng quí của họ Đó là những con người nghĩa khí, dũng cảm, gan dạ Những con người có niềm tin lớn hơn sức mạnh Trong gian khổ thiếu thốn họ vẫn cam chịu, cố bám đất, bám rừng để làm nên cuộc sống Họ sẵn sàng ra tay bắt sấu, đuổi cọp, giết heo rừng… cho dù có hi sinh tính mạng

Họ cùng nhau chung lưng đấu cật để rồi nhiều người đã không may làm mồi cho thú dữ, có người đã gửi thân lại nơi này Thịt xương của họ đã hòa vào trong lòng đất để cho cây lúa mọc xanh hơn

Hầu hết các nhân vật truyện ngắn Sơn Nam đều có số phận nghèo khổ,

cơ cực Trong buổi đầu đi khai phá vùng đất mới, họ gặp phải vô vàn khó khăn, trở ngại, phải hàng ngày chống chọi với sự khốc liệt, hung dữ của thiên nhiên để bảo tồn tính mạng và duy trì cuộc sống Tưởng chừng con đường sống của những kiếp người bé nhỏ ấy đã lâm vào ngõ cụt Thế nhưng không phải vậy Trong gian lao, ở những gương mặt, những tâm hồn đôn hậu, chân chất đó vẫn ngời lên một niềm tin và sức sống mãnh liệt Và giữa thiên nhiên

ấy, chân dung con người Nam Bộ hiện lên qua những hình ảnh dung dị trong cuộc sống đời thường của họ - cuộc sống lao động khỏe khoắn với một bản sắc riêng: những xóm làng, những dòng kinh, những cô gái quanh năm đưa

Trang 3

đò và ca những điệu hò trên sông nước, những cuộc đua ghe ngo sôi động và căng thẳng, những đàn trâu bì bõm len đi tìm cỏ trên đồng nước mênh mông, cách “câu” rắn bằng rượu đế, cách khai thác sân chim, hay cái thú ngồi trong bụi rậm suốt ngày suốt buổi, chờ đợi để quan sát một chú chim cu sập bẫy vì ghen tiếng hót

Nhân vật trong truyện ngắn của ông là những con người trong buổi đầu

đi khai phá vùng đất sơn cùng, thuỷ tận Đó là hình ảnh những ông thầy võ Quảng Nam, thầy Râu đuổi cọp yên dân không cần tượng đồng, bia đá trong

Hết thời oanh liệt, là anh Tư Hưng xuống miệt Cà Mau lập nghiệp với duyên phận long đong cùng cô Một con lão Bích trong Truyện Rừng tràm, là Tư Bình Thuỷ, Tư Châu Xương trong Nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá với cái cơ cực

vất vả của nghề đốn củi ở rừng cho kịp phiên chợ kiếm sống… Nổi bật ở những con người này là phẩm chất dũng cảm, gan góc trong quá trình khai phá

tự nhiên

Những con người dũng cảm, mưu trí, gan dạ này sẵn sàng đối mặt với những khó khăn nguy hiểm, đứng ra diệt trừ những loài thú dữ mang lại sự

yên bình cho nhân dân Đó là ông Năm Hên trong truyện Bắt sấu rừng U Minh

Hạ, ông Năm Cháy, ông Năm Tự trong Con heo khịt, chú Tư Đức trong Sông Gành Hào,… hoặc hình ảnh về những ông già Nam Bộ khỏe mạnh và lao động cần cù siêng năng như ông Từ Thông trong Hòn Cổ Tron, ông Năm xay lúa trong truyện Ông già xay lúa,

Đoạn văn miêu tả cuộc chiến đấu giữa ông Năm Tự với con heo khịt cho thấy sự dữ dằn của tự nhiên và sự dũng cảm chiến đấu đến cùng của con người vì sự yên ổn cho mùa màng của xóm làng Hành động của nhân vật được nhà văn khắc họa trong thế chênh vênh hiểm nguy, có những phút con người cận kề bên cái chết, phút ông Năm Tự một mình giữ chặt cái mác đang đâm vào con heo khịt nước mắt ông tràn trề rưng rưng chảy trên má, là khi hai con sấu xuất hiện một lúc chống lại Tư Đức nhưng trong lúc nguy hiểm đó

Trang 4

bằng sự quyết tâm nhanh trí và đoàn kết của con người họ đã chiến thắng được kẻ thù bốn chân đem lại sự yên ổn trong cuộc sống Dẫu cuộc sống có khốc liệt, thiên nhiên có hung tợn hiểm nguy, "dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua" con người vẫn "rộn rịp hơn tết" dựng rạp để thưởng thức hát bội [ Hát bội giữa rừng,tr.205].

Những con người Nam Bộ của núi rừng U Minh Hạ, không những phải đối đầu với cảnh rừng thiêng nước độc, nỗi lo âu sinh kế, họ còn phải đối đầu

với những con thú rừng nguy hiểm, có thể lấy mạng của họ bất cứ lúc nào : " Sấu nổi lên, chen vào những bức tranh mầu xanh ấy những vệt đen chi chít : con thì nằm dài như chiếc xuồng lường, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác " [Bắt Sấu Rừng

U Minh Hạ, tr.86] Biết vậy, mà họ vẫn không hề có một chút nao núng, chùn bước, hay động lòng…

Rừng U Minh Hạ là một khu vực thiên nhiên còn hoang dại: Muỗi vắt nhiều hơn cỏ Chướng khí mù như sương” [Thay lời tựa Hương rừng Cà Mau, tr.7] Nơi mà những người dân miền cực nam Tổ Quốc đang khai khẩn và sinh sống Từng ngày, từng giờ họ sẵn sàng đấu tranh với thiên nhiên và thú dữ để bảo tồn sự sống của mình Những con người “trên phá Sơn Lâm, dưới đâm Hà Bá” này đã có công làm cho mảnh đất nơi đây phì nhiêu, màu mỡ bằng cách bón vào lòng đất mới mồ hôi và xương máu của chính mình Trong cuộc đấu tranh khắc nghiệt đầy sinh tử ấy đã xuất hiện không ít những con người đôn hậu, thật thà nhưng đầy mưu lược và dũng cảm Năm Hên

"Ông Năm Hên chạy lại Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng : như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được Sau khi bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại." [Bắt Sấu

Rừng U Minh Hạ, tr.90]

Trang 5

Ông Năm Hên, chú Tư Đức, ông Năm Tự, ông Hai Cháy

là những người lam lũ, chân lấm tay bùn Với mong muốn mang lại đời sống yên ổn cho dân làng, họ đã sẵn sàng ra tay giết sấu, bẫy heo rừng mà không nghĩ đến tính mạng của mình Ông Năm Hên đã từng bắt sấu một mình ở rừng U Minh Hạ, cha con chú Tư Đức chủ trì cuộc chiến đấu với con sấu lửa trên sông Gành Hào Ông Hai Cháy, ông Năm Tự và dân làng đã từng đối đầu

chạm trán với bầy heo rừng hung hăng [Bắt sấu rừng U Minh Hạ, Sông Gành Hào, Con heo khịt, tr.83-181] Trong khi súng đạn của Tây cũng phải bất lực

trước những con sấu thần, sấu chúa thì không gì có thể sánh với trí thông minh, sự gan dạ và lòng dũng cảm của con người Dân làng Khánh Lâm gọi ông Năm Hên là người kỳ tài, vì ông đi bắt sấu bằng chiếc xuồng ba lá, trên đó chỉ có hũ rượu và bó nhang Riêng ông thì khiêm tốn cho rằng “tôi đây không có tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.88] Nhờ vào tài trí, mưu mẹo, đặc biệt là sự gan dạ, lòng dũng cảm của cha con chú Tư Đức và bà con dân làng nên họ đã giết được con sấu lửa Điều đó đã khiến cho ông Rốp - người đã từng xem thường chú Tư, khinh rẻ người dân An Nam phải thán phục Quả là “thời thế tạo anh hùng” Khi phải đối đầu với những khó khăn thử thách, con người đã chứng tỏ bản lĩnh của mình Hơn nữa, để duy trì sự sống, con người đã tìm đủ mọi cách để tự vệ Cuộc sống đã dạy cho con người trí thông minh, sự gan dạ, và lòng dũng cảm Đó là một điều không thể phủ nhận Sơn Nam đã xem những phẩm chất đáng quí ấy như cái vốn có của người dân nơi này Đối với thú dữ, họ đã nghĩ ra nhiều mưu kế, nhiều “chiến thuật” để thu phục chúng Cũng có lúc họ cúng vái, lập bàn thờ… để cầu xin cuộc sống bình yên Đối với thiên nhiên, họ đã sớm nắm bắt được qui luật, thu thập được nhiều kinh nghiệm Để rồi, bằng vốn sống

và những hiểu biết của mình, họ đã vận dụng những thuận lợi để phục vụ cho mục đích sinh kế, lập nghiệp Họ không quản ngại gian khó, và

Trang 6

dường như họ chưa bao giờ chùn bước Đối với giống heo rừng hung hăng, thứ heo sống bảy, tám năm “ nanh dài một tấc, mình mẩy nổi dấu chì, khi đổ quạu là sôi bọt mồm… một đêm phá năm bảy công rẫy khoai mì”

thì dù có sợ hãi, lo lắng con người vẫn sáng suốt nghĩ cách đối phó Không thể đấu sức, họ dùng mưu

Đọc truyện ngắn của Sơn Nam thời kì này chúng ta có dịp trở về với hình ảnh của đất trời Nam bộ thời cha ông đi khai khẩn Từ đó chúng ta thấy được những phẩm chất tốt đẹp của con người ở mảnh đất cực Nam tổ quốc, cần cù, nhẵn nại, đầy tình người, đầy sự mạo hiểm, đầy lòng nhân hậu đối với mảnh đất mà họ đang khai hoang, và những nỗi nhọc nhằn khốn khổ của họ, man mác như hương rừng U Minh, và sâu sắc như tâm hồn bình dị của họ

Nam Bộ ngày nay là mảnh đất kết tinh của biết bao mồ hôi, nước mắt

và máu xương của những người đi trước Bên cạnh những người đã ngã xuống

vì bom đạn của chiến tranh là sự hy sinh thầm lặng của những người đi mở mang bờ cõi Họ là những chiến sĩ tiên phong trong việc đẩy hoang sơ lùi dần vào quá khứ, biến rừng rậm hoang vu thành đồng ruộng phì nhiêu

cò bay thẳng cánh Khó có thể nói hết công lao của những người đã từng gắn bó và làm nên mảnh đất này Sơn Nam đã làm cho người đọc sống lại những phút giây hào hùng của dân tộc, khơi dậy trong lòng họ một tình yêu quê hương đất nước, nhắc nhở họ ý thức trách nhiệm đối với xã hội Và đó cũng là cách làm hữu hiệu để ông vượt qua sự kiểm duyệt của chính quyền Sài Gòn

2.1.2 Con người nghĩa khí, hào hiệp trong quan hệ cộng đồng

Bước vào truyện ngắn Sơn Nam là tiếp xúc với một mảnh đất đầy những chuyện rừng, chuyện đời, chuyện săn bắn, và tình người trong thế giới hoang sơ, kỳ bí, lạ lùng, thâm u của miền Cà Mau, của những con người di

Trang 7

dân Nam Bộ trong công cuộc khẩn hoang miền Nam, và tình cảm sâu đậm giữa người và người, giữa người và thiên nhiên, giữa người và rừng tràm, sông sâu, giữa người và thú rừng hoang dã, giữa người và những đau khổ sâu sắc lẫn hạnh phúc nhẹ nhàng và tâm hồn bình dị của họ qua những câu chuyện

kể của ông, đã gây cho người đọc phải bồi hồi xúc động, ngậm ngùi

Trọng nghĩa khinh tài là một nét đẹp trong văn hoá ứng xử của người Nam Bộ từ xưa đến nay Miền Tây Nam Bộ là vùng đất được khai phá sau cùng Rừng sâu, nước độc, rắn rết, hùm beo vây bủa, đe doạ mạng sống con người Trong cảnh ngộ ấy, ngoài tinh thần gan dạ, dũng cảm, con người đã sống với nhau bằng cái nghĩa Hội tụ về đây là những con người xa lạ, có khi không cùng họ mạc xóm làng, không cùng quê hương xứ sở; sống giữa trời đất bao la, hiểm nguy gian khổ nên họ luôn thể hiện tinh thần đoàn kết gắn bó, đùm bọc, yêu thương quí trọng lẫn nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau trên tinh thần

“Tứ hải giai huynh đệ” Họ giúp người vì cảm thương những ai đang rơi vào hoàn cảnh bế tắc, khốn khó và xem như đó là nhiệm vụ của mình mà không hề

vụ lợi, suy tính thiệt hơn Dường như họ thuộc nằm lòng lời dạy của thánh

hiền “Thi ân bất cầu báo” Đối với họ, tình luôn đi đôi với nghĩa Nghĩa là

tình nghĩa, đạo nghĩa thể hiện trong sự ứng xử giữa con người với nhau, con

người với thế giới xung quanh Khí chỉ tâm thế sống của con người vì cái

nghĩa mà có dũng khí, khí phách Nguồn gốc cao đẹp của khí chính là xuất phát từ cái nghĩa, vì nghĩa mà hành động Ðây là một nét đặc biệt nữa mà ca dao Nam Bộ ghi lại được:

Dấn mình vô chốn chông gai,

Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân.

Lao xao sóng bủa dưới lùm, Thò tay vớt bạn chết chìm cũng ưng.

Sự nghĩa khí, hào hiệp ở đây thể hiện trước hết đối với những con người gần gũi xung quanh làng mạc, xóm giềng Đối với xóm giềng, họ tỏ ra

Trang 8

gắn bó khắng khít, quí mến thương yêu giúp đỡ lẫn nhau Dẫu đôi khi có chút hơn thua hiềm khích, họ cũng chín bỏ làm mười Thầy Năm Điền với thầy Hai

rắn [Cây huê xà, tr.187] vốn là hai kẻ thù địch Họ đã từng cạnh tranh nhau

trong nghề nghiệp, nhưng đến khi thầy Năm Điền với con Lài chết vì toa thuốc rắn, thầy Hai tỏ ra vô cùng xót xa “Chờ cho thưa khách, thầy tới cầm tay nạn nhân mà ngửi rồi nước mắt thầy bỗng tuôn xuống” [Hương rừng

Cà Mau, tập 1, tr.197] Phải chăng đó là giọt nước mắt của nhân tâm, của nghĩa tình, của bao nhiêu điều ông muốn nói với người bạn đồng môn? Thầy Hai Rắn từ bỏ nghề làm thuốc ngừa rắn đã từng cả đời gắn bó, là niềm kiêu hãnh của thầy, là kế sinh nhai trước cái chết của cha con Lài Tấm lòng của thầy Hai Rắn chính là sự bao dung đối với những toan tính, đố kị, mánh khóe của con người

Cũng trên tinh thần tình làng nghĩa xóm, khi bà con ở rạch Xẻo Bần tự sản xuất được xà bông đi bán, mỗi khi từ xa trở về, họ không quên mua tặng cho Dượng Hai bác vật gói trà Kỳ Chưởng gọi là đền ơn “ khoa học” của dượng Tình nghĩa của con người ở đây là thứ tình cảm không biên giới Nó nảy sinh từ trong đấu tranh chống ngoại cảnh thù địch, chống áp bức bóc lột, thể hiện sự chân chất, thật thà của người lao động Cái tình ấy rất sâu đậm, nó gắn liền với cái nghĩa mà chúng ta từng bắt gặp trong “Lục Vân Tiên ” của cụ Nguyễn Đình Chiểu Đó là sự tốt bụng của chú Tư Lập, ông bà Hai Tích trong

Một cuộc biển dâu, là sự giúp đỡ nhiệt tình của ông Tư Châu Xương với anh

Tư Bình Thủy trong Nhứt phá sơn lâm, của Lão Bích với Tư Hưng trong Chuyện rừng tràm… và còn rất nhiều những con người sống bằng tình thâm

Trang 9

Một cuộc biển dâu là tác phẩm khá tiêu biểu của Sơn Nam trong việc

ngợi ca tình cảm tốt đẹp của con người trước những tai hoạ xảy ra trong cuộc sống Giữa mùa mưa lũ, trâu bò không có cỏ ăn, người chết không có đất chôn thì chú Tư Lập, ông bà Hai Tích phải chứng kiến cảnh đau lòng của thằng Kìm Ba nó tắt thở giữa biển nước mênh mông của vùng ruộng sạ tỉnh Long Xuyên Trước thảm cảnh ấy, chú Tư Lập, ông bà Hai Tích đã hết lòng giúp

đỡ Chẳng những lo “chôn cất” chu đáo cho cha nó mà ông bà Hai còn lập bàn thờ cầu siêu cho “vong hồn người bạc mạng” [Hương rừng Cà Mau, tập 3,tr 118] Đó là những nghĩa cử cao đẹp Đứng trước nỗi đau của người khác, họ xem như của chính mình Vì vậy, họ đã hết lòng giúp đỡ mà không hề tính toán thiệt hơn Mặc dù đang trên đường đi len trâu đồng xa, chú Tư đã không ngần ngại đưa cho thằng Kìm chiếc nóp để nhờ ông Hai gói xác ba nó Ông bà Hai thì “lụm cụm” khiêng cái thớt trên của cối xay lúa để dằn xác người chết xuống đáy nước Điều quan trọng không chỉ là việc làm của họ mà qua tác phẩm, người đọc có thể thấy được trong từng thái độ, cử chỉ, từng hành vi, lời nói của họ đều đầy ắp nghĩa tình Chú Tư Lập thì xông xáo, hớt hải khi thấy tín hiệu cầu cứu của thằng Kìm Ông bà Hai thì sốt sắng hỏi han, lo liệu Sau khi nghe thằng Kìm thuật lại hoàn cảnh của cha nó, ông Hai thở dài, gọi bà hai nấu cơm thêm cho thằng Kìm cùng ăn Thấy nó khóc, bà cũng rưng rưng nước mắt rồi hết lời an ủi Nhìn nó mệt lịm, ngả lên sàn mà ngủ, bà Hai thì thầm với ông “tới mùa nước giựt, bề nào ông cũng ráng nhớ hốt xương, chôn cất kỹ lưỡng dùm nó Tôi khổ lắm” [Hương rừng Cà Mau, tập 3,tr.19 ] Sơn Nam đã khéo sắp đặt những tình tiết éo le của câu chuyện để qua đó tác giả đề cao vẻ đẹp tinh thần của những người đi mở đất

Rất nhiều nhân vật trong tác phẩm của Sơn Nam đã sống bằng tinh thần “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giã” mà cụ Nguyễn Đình Chiểu ngày trước đã nêu cao Thậm chí đến “phường khảo khấu lục lâm” cũng giàu tinh thần nghĩa hiệp Họ hiện lên trong truyện ngắn Sơn Nam như những tay anh hùng, giang hồ mã

Trang 10

thượng, có tài trí linh loạt Đảng Cánh buồm đen tung hoành một dải từ Cà Mau đến Hà Tiên khiến tàu đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam mấy phen thất điên bát đảo, nhưng tuyệt đối không xâm phạm tài sản của dân chài ven

biển Đơn Hùng Tín chỉ “Ăn cướp của Tây tà, đem phân phát cho kẻ bần cùng” Có thể xem nghĩa cử của ông Tư Hiền trong Đảng Cánh buồm đen là

một điển hình Nhân danh là một đảng cướp từng hùng cứ từ Mũi Cà Mau đến địa phận Hà Tiên nhưng ông chỉ nhằm vào hai kẻ thù chính Đó là “tàu đoan của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam”, tuyệt đối không xâm phạm tài sản của dân chài ven biển Ông đã từng cứu con gái ông lão mò ngọc điệp ở hòn Sơn Nhạn khi bị đảng cũ bắt Ông cũng đã tuyên bố giải nghệ sau khi đã giết lầm một lương dân Hãy nghe lời ông tỏ bày với vị hôn thê của mình: “Đây là lần đầu tiên trong đời mà anh đau đớn nhất Anh giết oan người ta Ngọn roi này, anh xuống tay mạnh quá, bị ô

uế rồi Tội nghiệp, chết không nhắm mắt mà ngón tay hắn còn chỉ về phía biển khơi, nơi quê vợ con hắn Thấy phận người mà nhớ tới phận mình, anh vội về đây ” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.70 ]

Đối với Sơn Nam, họ là những người có nghĩa khí Nghĩa khí ở đây cũng chính là đạo nghĩa, là “điệu nghệ”, chữ mà ông hay dùng Sống điệu nghệ là sống vì nghĩa, dám hi sinh cho cái gì có ý nghĩa lớn lao Có thể nói, tinh thần “trọng nghĩa khinh tài” đã trở thành tính cách của con người Nam bộ

từ xưa đến nay Họ xem như đó là một phương châm trong cuộc sống Chính

vì lẽ đó mà ông Năm Hên, chú Tư Đức là những người có tài bắt sấu, câu sấu nhưng họ không lấy đó làm kế sinh nhai Đối với ông Năm Hên, nghề bắt sấu có thể làm giàu được ngặt ông “không màng thứ phú qưới đó”[ Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.88] Ông trở thành thợ bắt sấu chuyên nghiệp ở Kiên Giang vì muốn trả thù cho anh mình Hễ nghe ở đâu có sấu hoành hành đe dọa con người là ông tìm đến Hôm con dâu ông cai tổng Hy bị sấu ăn thịt, có người đã ngã giá trên hai trăm đồng và sở hữu hai lượng vàng

Trang 11

trong bụng sấu mới chịu ra tay Vài bữa sau, ông hỏi han kĩ lưỡng rồi xin phép bắt con sấu đó không ăn một đồng xu nào Ông bắt sấu không phải vì số vòng vàng trong bụng nó như người ta nghĩ mà ông muốn giết sấu để giảm bớt tai họa cho dân làng, để giải oan cho những vong hồn bị “hùm tha sấu bắt ở đầu ghềnh cuối bãi” Thấy việc cầm làm là làm, thấy người hoạn nạn là không ngại hiểm nguy ra sức giúp đỡ chẳng chút tính toán thiệt hơn Hình ảnh của ông không khỏi gợi chúng ta liên tưởng đến ông Ngư, ông Tiều, ông quán trong truyện Lục Vân tiên của Nguyễn Đình chiểu, như con người luôn ngời sáng một tinh thần hành động vì nhân nghĩa.

Chú Tư Đức trong Sông Gành Hào cũng vậy Sau khi biết ông Rốp định báo

với quan Tham biện chủ tỉnh xuất tiền thưởng công cho chú về việc đã giết con sấu ở sông Gành Hào, chú cười rồi bảo “ vì đất nước chớ đâu phải vì danh lợi Sách có chữ “kiến nghĩa bất vi vô dõng giã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng” [Hương rừng Cà Mau, tập 3, tr.201] Ngoài ra, nét tính cách trọng nghĩa khinh tài còn được Sơn Nam thể hiện rất rõ trong cách phản ứng của bà con ở xóm rẫy Tân Bằng, ven rừng U Minh đối với cách “ăn to xài lớn” của anh Giáo Trích và cô Tư Hạnh Dân chúng vùng này vốn quý trọng tình nghĩa, khi Giáo Trích xuất hiện, anh đã không tạo được sự đoàn kết mà còn đảo lộn nhiều thứ Vì thế, loại người vì tiền mà thay đổi ngay như cô Tư Hạnh cuối

cùng cũng đã bỏ anh đi [Ăn to xài lớn] Trong truyện ngắn Tình bậu muốn thôi, Sơn Nam chọn cách gián tiếp thể hiện nét tính cách này của con người

Nam Bộ Trong truyện cách cư xử của cả người chồng và người vợ đều có chỗ sai: anh chồng khi đã giàu có lại trở mặt đuổi vợ ra khỏi nhà., còn cô vợ khi cưới chồng khác làm quan to thì lên mặt hỗn láo với người chồng cũ Tuy nhiên khi câu hát dân gian được cất lên thì đó là lời “nhắc nhở con người nên ăn ở thủy chung, đừng ỷ thế giàu sang”, khinh khi nghèo khó

Nhìn chung, họ là những người am hiểu tinh thần sách vở thánh hiền, sống với tinh thần nhân văn cao cả Điều đó không chỉ riêng có ở người Nam

Trang 12

bộ nhưng qua ý nghĩ và hành động của họ chúng ta thấy rõ hơn bản chất, khí phách của người dân nơi này

Tinh thần nghĩa khí, hào hiệp trong truyện của Sơn Nam còn được toát lên trong mối quan hệ với các loài vật gắn bó với cuộc sống con người Trong truyện "Mùa len trâu", không gian tứ bề là nước, người nông dân, vượt đừng dài thăm thẳm lội nước băng rừng để len trâu tìm kiếm thức ăn cho con vật [Hương rừng Cà Mau, tập3, tr.39] Cái nghĩa đối với con trâu của người nông dân như là một hành động biết ơn đối với con vật xuất phát từ cái đạo đối với nghề nông, như chú Tư nói: "Trâu giúp mình tạo ra hạt lúa, bù lại mình không kiếm đủ cỏ cho nó ăn no Như vậy là mình bất nhân"[Hương rừng Cà Mau, tập

3, tr.40]

Tinh thần nghĩa khí hào hiệp còn thể hiện ở tấm lòng đạo nghĩa với những con thú hoang dã Cha con người nông dân Tư Đức trong cuộc chiến với con sấu hung dữ ở sông Gành Hào chỉ giết một con vì " giết một con là đủ, giết hết là mình có tội với trời đất" [Hương rừng Cà Mau, tập 3, tr.201], và xin cho lập một cái miếu thờ cá sấu Trong chuyện "Tháng chạp chim về", con chim già nua trở về bên sân chim cũ "nó có nghĩa lắm bỏ sân chim không đành"[Hương rừng Cà Mau, tập3, tr.208] Ông Tư chứng kiến cái tình cao đẹp của loài chim, ngạc nhiên vì cái tình vị tha, bao dung với con người

Cách sống trọng nghĩa tình, sẵn sàng giúp đỡ cưu mang lẫn nhau không

phải đặc tính mà chỉ có dân Nam Bộ mới có, nhưng đây lại chính là nét nổi bật của họ Vốn mang trong mình dòng máu Việt, tinh thần tương thân tương

ái là cái gốc của con người Việt Nam từ xưa đến nay Đến mảnh đất mới, những cư dân tứ xứ cũng nhờ có tình nhân ái mà tồn tại và phát triển được

Khi thể hiện mối quan hệ giữa người với người, nhà văn Sơn Nam đã chứng minh cho ta thấy người Nam Bộ coi trọng nghĩa khí, xem tiền tài là vật ngoài thân Qua hành động của các nhân vật, qua cách họ cư xử với nhau

đã tự bộc lộ tinh thần trọng nghĩa khinh tài Một trong những cơ sở xuất phát

Trang 13

của nét tính cách này nằm ở chỗ người Nam Bộ là những người mê tiểu thuyết Tàu, mê truyện thơ Vân Tiên, dù rằng ít học nhưng họ là những người hiểu biết Cùng sống với nhau nơi mảnh đất mới với vô vàn những khó khăn gian khổ, con người phải biết nương tựa và giúp đỡ lẫn nhau để cùng tồn tại

“Người khẩn hoang thường là “chữ nghĩa không đầy lá me”, không rành cách ngôn thánh hiền, tánh khí nóng nảy, bộc trực, lắm khi đến mức thô bạo, nhưng sau khi giải thích thì vui vẻ, thông cảm Ai hiểu lầm là nổi giận ngay” Đó là lời nhận xét của Sơn Nam trong công trình biên khảo Đồng bằng sông cửu Long nét sinh hoạt xưa Ở nơi này, người mạnh không phải là người ức hiếp

kẻ yếu mà người mạnh chính là những người nâng đỡ, che chở cho kẻ yếu Trong cách cư xử của họ đối với những người lầm lỗi cũng rất nghĩa khí Họ thường chọn cách bỏ qua để được sống yên ổn Đọc truyện Sơn Nam, người đọc dễ dàng nhận ra tính trọng nghĩa khinh tài của dân miệt vườn sông nước Trọng nghĩa tình cũng là một biểu hiện của tinh thần nhân ái, khi gắn

bó trực tiếp với nét tính cách khinh tài, xem tiền tài là vật ngoài thân nó đã trở thành một phẩm chất đặc trưng của Nam Bộ từ xưa đến nay Trọng nghĩa khinh tài được xem là một nét đẹp trong văn hóa ứng xử của người dân Nam Bộ

Truyện ngắn Sơn Nam ngập tràn những cách ứng xử đậm đà tình nghĩa

vì thế nhiều ý kiến đã đồng tình với nhau khi cho “rừng của Sơn Nam

có hương thơm” là vậy Thứ hương thơm quý giá của tình người vùng đồng bằng sông nước Cửu Long Tình nghĩa vốn là thứ giá trị quý báu của dân tộc

ta từ bao đời nay, nó đi theo người khai hoang đến vùng đất mới, gặp phải điều kiện mới tình nghĩa lại có dịp biểu hiện đa dạng và phong phú hơn

2.1.3 Con người gắn bó mật thiết với thiên nhiên

Trang 14

Đọc truyện ngắn Sơn Nam, người đọc luôn thấy hiện lên hình tượng con người gắn bó với ruộng đồng, rừng núi quê hương bằng một tình yêu mãnh liệt đến xao xuyến Con người Nam Bộ luôn mở lòng cảm nhận cảnh sắc thi vị, hấp dẫn của thiên nhiên Trong câu chuyện "Hòn Cổ Tron", nhân vật ông Từ Thông với cuộc sống hoang dã, ban sơ "tóc khi thả dài xuống khỏi lưng quần, khi thì bới thành búi to sau ót gài lại bằng cọng gai kim quýt" [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.227] Trong cuộc sống hoang sơ ấy, nhân vật hiện lên với tâm thế hòa hợp với thiên nhiên, tận hưởng mở lòng với thiên nhiên, xem thiên nhiên với thế giới riêng của mình "Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời nhánh mai, lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mi nước…hoặc có khi ông ngồi trên vồ cẩm thạch chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từng miếng khoai sảy xuống nước Loài cá nhỏ bu lại ngẩn ngơ"[Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.228]

Trong nhiều truyện ngắn Sơn Nam, người đọc thật sự bị cuốn hút khi lần bước trước thiên nhiên núi rừng kỳ vĩ, ẩn chứa nhiều bí mật Nhưng có khi

nó hiện ra thật hiền hòa: “thầy đội trố mắt hồi lâu… Đôi ba trăm con rùa

đủ cỡ, đủ loại, đang cỡi đè lên nhau, chen lấn nghe lộp cộp Con thì ngã ngửa, khoe cái yếm vàng lườm, bốn cẳng ngoe nguẩy bơi trong không khí Con khác cố gắng quào vào vách hồ bằng sậy… Loại rùa nắp thì e thẹn, khép cái yếm lại, giấu kín đầu cổ vào trong mai, giống như món

đồ ngon cất kỹ trong cái hộp bằng xương” [Biển cỏ Miền Tây, tr.15]

Sự gắn bó mật thiết với thiên nhiên còn là cách để con người hướng đến

am hiểu và chinh phục tự nhiên còn đầy hoang dã và thù nghịch Gắn bó mật thiết với thiên nhiên, con người đã tận dụng sự giàu có của thiên nhiên để đem

lại nguồn lợi to tát cho cuộc sống Như trong sách Gia Định Xưa, sự giàu có của vùng đất này được ông miêu tả thật thi vị : « Mùa lụt, cá nước ngọt trôi

Trang 15

theo nước ra khá xa vàm biển Ngược lại, tới mùa khô, cá biển và cá nước lợ lại theo thủy triều mà vào sâu trong lòng sông Cá rô với vảy cứng có thể lóc đi trên bùn đất khô Cá trê, rùa, lươn có thể sống trong bùn mà không ăn uống trong vài ba tháng nắng Cá sặt đẻ trứng trên khô, mùa nắng trứng bay tung theo gió rồi đáp xuống như hạt bụi để nở ra trong vùng nước đầu tiên của cơn mưa đầu mùa Con cò quắm, nhan sen, trích ré, trích cồ là chim trời nhưng đậu

và ngủ trên bùn Chim bồ nông, già sói ở mũi Cà Mau quen bay từng đàn đến tận Biển Hồ đất Campuchia để ăn cá mùa lụt rồi trở về rừng cũ ».

Ở nơi xung quanh đều là rừng tràm, ăn ong và đốn củi là những nghề thích hợp nhất Củi và sáp ong là những sản phẩm của rừng mang đến nhiều nguồn lợi cho con người mà lại ít tốn thời gian và công sức Qua truyện ngắn

Lũ trẻ chăn trâu, Sơn Nam cho thấy: “chỉ cần một buổi chống xuồng đi trong

rừng, có thể gom về đầy ắp khoang cá, tổ ong và củi đốt Người ta vớt sáp ong dọc theo mé sông vì nơi đó ong làm tổ trắng, lốm đốm khắp rừng tràm Tổ quá

to rớt xuống trôi lềnh đềnh theo dòng sông, người ăn ong cứ vớt đem về” Kinh nghiệm ăn ong được truyền lại từ người này sang người khác từ cách xác định tổ ong đóng trên cây, cách leo lên cây lấy tổ ong thòng xuống, cách bắt ong và lấy sáp Thông thường người làm nghề ăn ong cũng kết hợp luôn cả nghề đốn củi Những người thợ ăn ong, đốn củi thường rủ nhau vào rừng thành từng nhóm để tránh sự tấn công của thú dữ [Hai cõi U Minh, Biển cỏ Miền Tây] Ở xứ sở sông nước bạt ngàn, các nghề bắt tôm, cua, lươn, cá, rùa, rắn,… được người dân tìm cách khai thác và thu lại nguồn lợi vô cùng phong phú từ thiên nhiên

Người dân Nam Bộ đã tạo được sự thích ứng cao độ với thiên nhiên nơi vùng đất mới Kinh nghiệm kiếm sống được truyền lại cho nhau để cùng tồn tại, bởi người dân nơi đây quan niệm đó là thứ cá nước chim trời chứ không của riêng bất cứ một ai Người ta biết được khi nào đến mùa cá chết dại, khi nào đến ngày hội ba khía, mùa lươn, mùa rắn,… bằng cách đó họ đã kiếm ăn

Trang 16

trong những tháng nước lên hoặc đang kì xạ lúa Truyện ngắn Con cá chết dại giúp người đọc biết thêm một đặc điểm mà thiên nhiên ban tặng cho

người Nam Bộ Mẹ con chị Hồng vì hoàn cảnh đã bỏ xứ Long Xuyên xuống miệt Rạch Giá để gặt lúa mướn Cuộc sống vất vả, khó khăn May thay họ gặp được Hai Tỵ và được biết đến mùa cá chết dại, nhờ thế hai mẹ con đã không phải tay trắng trở về “Xứ này miệt Rạch Giá, mỗi năm lại có một lần

“cá dại” Nước mặn cuối năm tràn vô rạch Bao nhiêu cá lóc quen nước ngọt

bị sa nước mặn, chạy trốn không kịp, chết trôi lờ đờ,…” Nắm được đặc điểm

tự nhiên đó, người dân vùng đồng bằng sông nước như Hai Tỵ, mới có thể tồn tại và lập nghiệp ngay cả trên những vùng đất xa xôi hẻo lánh Qua truyện

ngắn Cấm bắt rùa, Sơn Nam đưa chúng ta về miệt Cà Mau xa xôi để tìm hiểu

một nghề rất đặc biệt: nghề bắt rùa Ở xứ này, người ta ăn rùa độn cơm, thậm chí trong chén cơm thịt rùa còn nhiều hơn cả hột cơm Dân trong vùng hiểu rất rõ cứ đến mùa hạn thì rừng tràm cháy Tràm là loại cây có nhiều hột Hễ gặp lửa là hột nổ nghe lốp bốp Do đã quá quen với cảnh ấy đến nỗi họ cho rằng “mọi năm cháy như vầy hoài, rồi tràm mọc lại, rừng cũng hoàn toàn là rừng” Thiên nhiên khí hậu khắc nghiệt khiến cho rừng cháy nhưng con người không lo lắng, trái lại họ vẫn lạc quan và thậm chí còn tỏ ra vui mừng Nhờ có rừng cháy, vợ chồng Bảy Đặng mới có được cái nghề tay trái

là bắt rùa để nuôi lũ con nhỏ trong lúc nông nhàn Trong nhà Bảy Đặng xây hẳn một cái hồ lớn có sức chứa đến đôi ba trăm con rùa đủ cỡ, đủ loại Sự phong phú đa dạng của các loại rùa ở chốn sông nước rừng tràm Cà Mau được Sơn Nam thể hiện rất rõ trong truyện ngắn này Trong một truyện ngắn khác, Sơn Nam lại có dịp giới thiệu đến bạn đọc kỹ thuật dựng nò của Hai Nhiệm để bắt một loại rùa đặc biệt ở xứ biển Rạch Giá [Con bà tám]

Gắn bó với thiên nhiên, con người Nam bộ xem thiên nhiên là bầu bạn Khi kể lại câu chuyện "Tháng Chạp chim về", giọng văn của Sơn Nam cũng

Trang 17

không khỏi ngậm ngùi và cảm kích đối với tình cảm của ông Tư và con chim già sói Chim là một nguồn lợi lớn đối với con người ở đây, nhưng nhiều khi con người khai thác quá đáng dẫn đến chim ngày một ít đi Gần tết, năm nào con chim già sói kia cũng bay về vùng Rạch Giá- Hà Tiên này mà trông ngóng bao đồng loại của mình bị vặt lông ở đây Ông Tư cũng mang mối cảm hoài với con chim nọ nên ông và con chim kia dường như có một sợi dây tình cảm

vô hình nào đó Tình cảm của ông Tư đối với con chim kia như là tình bằng hữu - cũng mang nỗi tiếc nuối, ngậm ngùi khi con người tàn sát biết bao loài chim: "Ông Tư nhìn nó Có lẽ ông nghĩ đến phận mình mà nảy sinh ra bao mối cảm hoài Trong con tim già, qua thời gian, giờ đây chắc chắn đã lắng xuống hết bao hung bạo của thời xuân xanh của ông và của đất nước hoang vu Giữa ông và con chim nọ, không còn oán thù Biển im lặng sau cơn giông tố Đây là

Bá Nha với Tử Kỳ cảm thông nhau Cầu cho ông Tư với con chim già sói được sống lâu hơn trăm tuổi!"[Hương rừng Cà Mau, tập 3, tr.214.]

Trong các truyện ngắn Sơn Nam, con người Nam bộ luôn có tư tưởng chia sẻ môi trường sống với thế giới tự nhiên xung quanh Diệt nhau để sinh tồn là chuyện “cực lòng” Phần lớn truyện ngắn Sơn Nam đều mang tư tưởng

ấy trong cuộc chinh phục thiên nhiên mở cõi về phương nam Trong truyện

ngắn Bắt sấu rừng U Minh Hạ cuộc tranh giành môi trường sống giữa con

người và thú vật rất ác liệt: sấu bắt người ăn thịt, người bắt sấu để được yên thân kiếm sống Cuộc chiến tuy nghiêng thắng lợi về người nhưng cũng trải qua nhiều trận bi thương, bên nào cũng có anh hùng: bên người có ông Tư Ðức, ông Năm Hên, bên sấu có con sấu chúa “có đốm đỏ ngay giữa tam tinh”, hay con sấu lửa “tu luyện hàng trăm năm” Cuộc đấu tranh giữa con người và con thú kết thúc bằng vinh quang của con người thắng con thú, kiểu tượng trưng thiện ác, văn minh và hoang dã, không phải là chủ đề, cũng không là

ngụ ý của tác giả Chuyện về cọp trong Hết thời oanh liệt chẳng hạn, “ đánh

Trang 18

cọp không xong, dân xóm này mới bày đặt cất miếu thờ cọp Ðó là ngụ ý: chúng tôi là người làm ăn, không dám đá động tới ông, xin ông cứ ở trong rừng để chúng tôi được yên ổn” Ðến khi cọp đẻ ra bốn con, nghĩ sau này bầy cọp đông đúc nguy hiểm cho người, dân xóm bèn “thừa lúc ông đi vắng có tới xin bớt ba con, chừa lại cho ông một con Như vậy không mích lòng ông mà cũng không hẹp bụng chúng tôi” Tương tự, ông Tư Ðức giết một con trong cặp sấu lửa rồi thì tha cho con còn lại để nó đi tu Tư tưởng chia sẻ môi trường sống, sống hài hòa giữa con người và các giống, loài trong tự nhiên là

tư tưởng “cấp tiến” trên thế giới hiện nay Nhưng từ hơn nửa thế kỷ trước, nhà văn Sơn Nam đã chan hòa tư tưởng ấy trong các tác phẩm của ông, một cách

tự nhiên, như đã thấu đạt lẽ đất trời

Gắn bó mật thiết với thiên nhiên, người dân Nam bộ không chỉ coi thiên nhiên là đối tượng chiêm ngưỡng, đối tượng khai thác, mà thiên nhiên còn lặn sâu vào đời sống tâm linh của con người Trong thế giới thiên nhiên muôn màu muôn vẻ gợi nét đặc trưng của đất và người phương Nam, người đọc còn

có thể gặp những hình tượng động vật Đó là con rắn dục tình đang sục sôi trong lòng bà cai tổng [truyện Con rắn] Ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng hiện lên rõ ràng trong đoạn cuối khi nhà văn cho biết thêm rằng: “Vài tháng sau, bà cai tổng bỗng lớn bụng Rồi sau tháng Giêng, bà xổ ra một đứa “thầy rắn con”…” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.288] Ở truyện

ngắn có màu sắc ma quái thần kỳ Hai con cá, hình tượng hai con cá “là

binh tướng, là gia nhân của ông hoàng” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr 154] – chỉ hoàng tử Nhựt, con vua Gia Long

Với một tuổi thơ gắn liền với những cánh rừng đước, rừng tràm bạt ngàn, được đắm mình giữa hương sắc của rừng U Minh với cây, hoa, chim, thú nên có lẽ những ngọn nguồn cảm hứng sáng tác của Sơn Nam đều bắt

nguồn từ đó “Tôi sống ở rừng U Minh từ bé đến lớn ” Đó là câu nói của

Sơn Nam khi ông tự giới thiệu về mình Truyện ngắn Sơn Nam "được viết ra

Trang 19

từ ký ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt Trời sinh ra cây tràm thật

là kỳ diệu, nó bám chặt rễ trong sình, chìm ngập trong nước mà vẫn mạnh khỏe, vẫn sinh sôi nảy nở để giữ vững mảnh đất bồi cho quê hương và giữ người cho đất Chẳng nơi nào có được những ngày rừng tràm nở rộ hoa trắng mênh mông, trùng trùng điệp điệp, quyến rũ cơ man hàng vạn bầy ong làm tổ trên cành hút nhụy hương rừng làm mật ban tặng cho người như đất U Minh"

2.1.4 Con người kiên cường trong đấu tranh bảo vệ quê hương

Trong lao động sản xuất và trong giao thiệp sinh hoạt hàng ngày, dân Nam Bộ là những con người dũng cảm, ngang tàng, phóng khoáng Con người

đã không lùi bước trước trở ngại thiên nhiên cũng như chẳng luồn cúi trước sức mạnh phi nghĩa Việc nghĩa ở đây trước hết là vì nước vì dân, vì những người bị áp bức bóc lột Nghĩa là chống lại cường quyền, là bênh vực những người yếu đuối hoặc sa cơ thất thế Trong hoàn cảnh bình thường, tình cảm đối với đất nước được thể hiện trong những hành động giản dị Đọc

truyện ngắn Mùa len trâu, một chi tiết rất nhỏ được Sơn Nam chú ý thể hiện

đó là cảnh thím Tư Đinh thắp nhang thờ cúng ông bà đất nước đã phù hộ cho thằng Nhi bằng an trở về sau chuyến đi len trâu ở tận vùng Ba Thê Bảy Núi Cuộc sống cơ cực, đối mặt với nhiều khó khăn thử thách nhiều lúc tưởng như con người không thể chống chọi nổi nhưng họ vẫn mang theo bên mình một tình yêu đất nước giản dị và mộc mạc Dù thím Tư Đinh đã tỏ ra bực tức với ông bà tổ tiên, chửi rủa đất nước mình sao khó bề sống quá, nhưng ngay tức khắc chú Tư đã nhắc nhở thím đây là đất là nước của mình Vì thế mình phải biết kính trọng và yêu quý Gia đình chú đã có truyền thống thờ cúng ông bà

tổ tiên từ xa xưa mong được phò hộ cho cuộc sống của họ luôn an lành may mắn Lòng yêu nước còn ẩn chứa đằng sau tâm sự của vợ chồng ông bà Cả khi quyết định gả cô Út về xứ Cạnh Đền Chốn muỗi mòng đỉa vắt xa xôi mà

Trang 20

cô Út về làm dâu đã khiến người làm cha mẹ như ông bà Cả không khỏi lo lắng Sơn Nam đã khéo léo khắc họa tâm trạng của họ dành cho cô con gái yêu quý của mình Nhưng rồi cuối cùng vì thương con bà cũng phải nhượng

bộ ông “Phật trời thiêng liêng xin phò hộ, chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất mình lắm người luống tuổi chịu cảnh sanh ly như ông Cả, cô Út

Để cho nước mạnh, dân còn”[Cô Út về rừng, tr.47] Đó là lời của một người cha cũng chính là lời tâm huyết mà Sơn Nam muốn gửi gắm đến mọi người

Trong những biểu hiện của đời sống hàng ngày, ta đã nhận ra tấm lòng của dân Nam Bộ đối với quê hương đất nước Khi Pháp đặt chân lên quê hương họ thì tình thần yêu nước lại càng được con người nơi đây phát huy cao

độ Cái nghĩa, cái tình sâu nặng biết bao với mảnh đất thấm đẫm bao mồ hôi, xương máu của cha ông tạo dựng, giờ càng được phát huy mạnh

mẽ hơn bao giờ hết trước thế lực ngoại xâm Bởi lẽ, với người dân đã từng chung lưng đấu cật chống chọi với bao nhiêu hiểm nguy từ thiên tai đến địch họa để tồn tại và phát triển, đất - nước là lẽ sống còn của họ Cái tình, cái nghĩa với đất nước, suy cho cùng, đó là tình nghĩa đối với con người Đất và nước là nguồn sống của con người nên con người phải ra sức giữ gìn Sức mạnh đấu tranh chống xâm lược bắt nguồn từ những tình cảm lớn lao như thế Lớp cha ông ngã xuống, lớp con cháu tiếp tục đứng lên Người sống không bao giờ quên người đã khuất Lối sống nghĩa tình đã kết chặt họ với nhau làm một Ở vào vị trí đầu sóng ngọn gió của các cuộc xâm lăng từ phía Tây sang như quân Xiêm trước kia, từ biển Đông vào như quân Pháp, Mỹ sau này, nhân dân miền Nam với truyền thống yêu nước nồng nàn, với lối sống nghĩa tình bền chặt, đã góp bao công sức máu xương, kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc

Trong nhiều truyện ngắn của Sơn Nam như Con ngựa đất, Miễu

Bà Chúa Xứ, tình yêu đất - nước được thể hiện như là tình yêu sâu nặng nhất của con người Ông hương cả Binh trong truyện Con ngựa đất

Trang 21

“thề chẳng rời khỏi nhà này Sáng mai tụi Tây giỏi thì tới… Ai giỏi thì… do thám đi!” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.268] Lý do đơn giản ông đưa ra là: “Con người tử sanh hữu mạng Họ biểu bác rời khỏi nhà Được rồi Nhưng bác đâu còn sức bay nhảy Bác đâu phải Việt gian mà bác xấu hổ” Đêm hôm trước, rạng sáng ngày giặc Pháp kéo đến, ông thức gần đến sáng Trời sáng, ông vừa mở cửa thì một phát súng nổ Ông ôm ngực “Trên vách tường, mấy hàng chữ khá to, viết bằng than bếp: “Việt Nam độc lập”, nét chữ nguệch ngoạc Có lẽ bọn lính Pháp thấy mấy hàng chữ khó thương ấy nên bắn lập tức, khi cánh cửa vừa mở” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.274] Hình ảnh con người sống không rời khỏi nhà, chết vẫn nằm cạnh nhà, chọn cái chết vinh hơn sống nhục như ông hương cả Binh không xa lạ với những người dân miền Nam gắn bó với mảnh đất quê hương thân yêu

Sống khôn, chết thiêng “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia” [Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – Nguyễn Đình Chiểu] Ông Tư Đạt [Miễu Bà Chúa Xứ] nhà sát Gò Mả Lạn, lại qua một chòm cây cổ thụ và những vùng lau sậy hoang vu, vẫn không sợ ma Bởi vì những người chết oan khuất vào trưa mùng bảy tháng Chạp đau thương non 80 năm về trước đó, không ai khác hơn

là bà con láng giềng của ông Cái ngày ông còn là đứa trẻ chăn trâu may mắn thoát chết Bọn Tây cho rằng cả xóm là nghĩa binh ông Nguyễn Trung Trực nên bao vây giết sạch “Người chết quá nhiều Người còn sống quá ít Làm sao mà chôn? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi hầm chôn một người Sau cùng, cứ chôn chung một hầm, đủ già trẻ bé lớn” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.309] Không riêng gì ở Gò Mả, Đìa Gừa, rải rác ở đâu cũng có mả, có xương người Ở đây mấy chục năm rồi, đêm nào ông cũng thức, cũng nhìn như muốn gặp gỡ, đối thoại với những anh hồn

đã khuất: “Phải chăng oan hồn thuở trước đang về đây? Họ trở thành cát

Trang 22

bụi, đang thu mình vào rễ lúa để vươn lên mặt đất, đòi đơm bông kết trái Hay

là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở trước giờ đây sống hẩm hiu” Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.311]

Bác vật xà bông kịp thời đả phá chủ trương của chính quyền ào ạt đưa hàng

Mỹ vào khiến nhiều ngành hàng nội hóa truyền thống bị phá sản, tiêu điều Bác vật X đến vùng phù sa nê địa Xẽo Bần muốn cất một cái xưởng lớn chế tạo xà bông, cần dùng hàng trăm công nhân, hy vọng giúp bà con nơi đây có công ăn việc làm, cải thiện đời sống Qua tiếp xúc với ông, người dân xóm học lóm được nghề, tự làm ra xà bông đem bán Dần dần xà bông Xẽo Bần “giặt quần áo bọt cũng nhiều như xà bông bên Tây” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.80] Biết được chuyện, bác vật X -được người dân gọi thân tình là Dượng Hai - không một lời trách cứ

bà con mà còn lấy làm mừng Bởi vì suy cho cùng, “ý nghĩ của cuộc chiến đấu mới nào có gì lạ hơn là làm cho dân giàu nước mạnh, phát triển nội hóa” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.81] Hành động yêu nước góp phần vào cuộc chiến đấu chung của toàn dân tộc rất phong phú, không phải chỉ có cầm súng là vậy

Ở truyện ngắn Chiếc ghe ngo, Sơn Nam chỉ sử dụng một chi tiết nhỏ đã giúp

người đọc nhận ra tấm lòng yêu nước thương nòi của dân chúng vùng Gò Quao, đặc biệt là Lục cụ Tăng Liên Chứng kiến cảnh hương quản Hem im lặng, từ từ mở gói ra một lá cờ tam sắc to tướng, lục cụ Tăng Liên [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.207-208] đau đớn, tủi nhục, xót xa đến lặng người, “không nói nửa tiếng” trước “phần thưởng nhà nước” trao cho chiếc ghe ngo chiến thắng của chùa Có lẽ giữa chốn yên tĩnh của cảnh chùa,

cụ càng thấm thía hơn bao giờ hết cái nhục mất nước, cái nhục danh dự bị rẻ khinh, và “nụ cười của đức Quan Âm bốn mặt” như muốn “khuyên ai nấy trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi” [Hương rừng Cà Mau, tập 1,

Trang 23

tr.208] Chiến thắng trở về từ cuộc đua ghe ngo nhưng cả đội đua chùa Sóc Ven, chú hương quản Hem và Lục Cụ đều ngậm ngùi cay đắng

Câu chuyện xảy ra ở xóm Tà Lốc thời Pháp thuộc cũng giúp ta hiểu thêm về phẩm chất tốt đẹp này của con người Nam Bộ Sự kiện nhà nước làm lễ khánh thành con kinh quản hạt Rạch Giá-Hà Tiên, có quan toàn quyền Đông Pháp đích thân tham dự đã làm xôn xao cả xóm Khi xảy ra sự cố tàu bị mắc cạn, máy móc hư hao không xuống bến được, hương ấp Thum lãnh trách nhiệm thuyết phục bà con xóm Tà Lốc làm “phận sự con dân thuộc địa” Thành phần cư dân trong xóm đều là những người nghèo khó, không có nổi miếng giấy thuế thân, chưa có tên trong sổ bộ Biết rõ hoàn cảnh của mình, các bô lão trong xóm nhóm họp và chọn ra cách cách cư xử hợp lý Vì muốn được yên thân, đêm đó “thanh niên trai tráng sắp hàng ra bờ kinh xáng để kéo tàu”[Đồng thanh tương ứng , tr.110]

Lòng yêu nước của dân Nam Bộ còn được Sơn Nam đề cập đến trong một

số truyện ngắn khác như: Miễu bà chúa xứ, Nhứt phá sơn lâm, Con ngựa đất, Đảng xăm mình, Hòn Cổ Tron, Ông già xay lúa, Hội ngộ bến Tầm Dương, Người mù giăng câu, Đường về quê,Ngó lên sở thượng,… Có những truyện

ông chọn cách đề cập trực tiếp như câu chuyện ở Gò Mả Lạn [Miễu bà chúa

xứ, tr.303 ], câu chuyện của ông hương cả Binh ở rạch Cái Cau [Hương rừng

Cà Mau, tập 1, tr.261], câu chuyện của ông già đui một con mắt [Ông già xay lúa, tr 151]…cũng có những truyện Sơn Nam chỉ điểm qua bằng một vài chi tiết nhỏ Chẳng hạn như chi tiết cặp rằng Be huênh hoang gọi “xứ này là

xứ của Tây” đã gặp phải sự phản ứng của ông Tư Châu Xương và những tay rìu vùng rừng tràm U Minh Khi câu nói đó thốt ra “khiến ai nấy cười rộ lên, cười chua chát thiếu điều rơi nước mắt” còn ông Tư Châu Xương ôn tồn:

“Mình dốt nát nhưng chắc chắn không bao giờ nói một câu quá trật lất như thằng cặp rằng đó” [Nhứt phá sơn lâm, tr.133]

Trang 24

Dùng ngòi bút góp phần vào cuộc chiến đấu của nhân dân, Sơn Nam thường kể việc khẩn hoang, chống điền chủ, chống thực dân Pháp; từ

đó, khéo léo phản ánh thực rạng, nêu lên những vấn đề bức xúc của xã hội miền Nam đương thời Qua câu chuyện, ông tác động vào tình cảm yêu nước, tinh thần dân tộc và ý chí chống xâm lược của người đọc Truyện

ngắn Bà đầm Phô-xi-đông đã cho thấy sự mỉa mai nhẹ nhàng nhưng thấm

thía của nhà văn với hạng người như Cô Ba, vợ lẽ Tây Đầu Đỏ

Từ cử chỉ đến cung cách, Cô Ba gián tiếp cho mọi người thấy rằng mình không còn là người phụ nữ Nam Bộ truyền thống: “mỗi lời nói thường kèm theo tiếng “à há” xa lạ; kiểu “cổ áo khoét rộng như hình trái tim” chỉ tiện mặc trong phòng the; “hương vị thơm nồng ngoại lai” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.44-45]; những trò “mua vui một vài trống canh” bày cho đám thanh niên tá điền… Đó là lối sống nửa Tây nửa ta, mà những người có ăn học như thầy Hai chỉ càng thấy nhục nhiều hơn Cô đâu biết rằng, mình cũng là nạn nhân của Tây Đầu Đỏ Là người Việt Nam, nhưng ở Cô Ba tinh thần dân tộc đã phai nhạt đến mức khó có thể nhận ra

Những kẻ sống bám gót giày giặc, đánh mất tinh thần dân tộc còn được

tìm thấy trong nhiều truyện ngắn khác của Sơn Nam Đó là Hai Tâm [Mối tình…đầm lai, tr.315 ] với chân tướng “bất tài, thất đức mà đòi làm ông cha

thiên hạ” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.326.], thực chất chỉ giỏi đánh giặc miệng và “o mèo” kiểu Tây; là hương quản Cò [Hai mẹ con, tr.157] cấu kết với Tây đoan biến bà chủ Mẹo thương con thành con tốt cho những mưu đồ cá nhân; là thầy giáo Chích [Hai ông già, tr.171] cam tâm làm Việt gian vẫn mạnh miệng nói đến hai chữ “công dân” và đột ngột cảm thấy

“đau xót lạ lùng” khi tên quan hai Tây Phẹt-năng “đưa tay vỗ nhẹ lên đầu … như người cha khen đứa con có hiếu” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.185.]…

Ý nghĩa mỉa mai nhẹ nhàng mà thâm thúy, truyện ngắn Sơn Nam đã tác động đến tình cảm, tư tưởng người đọc, đánh thức tinh thần dân tộc, ý chí chống

Trang 25

ngoại xâm từ những câu chuyện như những lát cắt khác nhau của đời sống con người và thiên nhiên vùng đất U Minh, hay vùng căn cứ địa cách mạng Tây Nam Bộ thời kháng Pháp ông từng gắn bó

Nhân vật ông Từ Thông [Hòn Cổ Tron, tr.225] tiêu biểu cho tinh thần khảng khái yêu nước, yêu tự do.Không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi, ông ra cất chòi ở Hòn Cổ Tron để nương náu Mặc dù sống giữa bốn bề sóng nước, lương tri vẫn luôn nhắc nhở ông món nợ đối với đồng bào, giang sơn: “Cây có cội Nước có nguồn Chim có tổ Cá có hang Đôi mắt già của ông Từ Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn… Ông hổ thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải” [Hương rừng Cà Mau, tập 2, tr.231-232]

Những con người một thời tung hoành ngang dọc, làm mưa làm gió trong các băng đảng cướp của người giàu chia cho dân nghèo như Sáu Bộ, Năm Bùn, khi đất nước bị xâm lăng họ cũng tự đặt mình vào trách nhiệm, vào nghĩa vụ đối với tổ quốc Sáu Bộ nói rất khẳng khái: “Nếu ngồi ở nhà không ai làm gì tôi, nhưng tôi cảm thấy nhục nhã như thiếu món nợ gì với trời đất, núi non Nếu xét tôi có tội, anh em cứ giết tôi để tế cờ”

Tính cách của ông Tư Lịch [Ngày mưa đầu mùa, tr.47] phổ biến trong số đông dân Nam Bộ, sống bình dị, không bao giờ làm điều sai trái nhưng lại hành động rất anh hùng trước hoàn cảnh tồn vong của dân tộc Khi đối diện trước vinh nhục, sống chết mới thấy rõ khí chất xã hội của từng con người Vào năm 1946, “lúc bấy giờ đất nước đang trong vòng “máu lửa”, nhưng làng Đông Yên vẫn yên như bàn thạch” Pháp đã chiếm đóng và mở đồn cách làng không xa, dân chúng vẫn say sưa đờn hát, rượu chè Trước hoàn cảnh ấy, ông Tư Lịch chợt nghĩ “con người chứ đâu phải cái máy, lương tri còn đó, sáng chói từng chập, thúc giục khách ăn nhậu nên nhớ tới Tổ quốc” Khi nghe tin Pháp chuẩn bị tấn công bà con ai nấy lo chạy cho thật xa, ông Tư Lịch buồn bã nói “Mạng ai nấy lo, hồn ai nấy giữ Thời loạn lạc khôn sống mống

Trang 26

chết Nếu dân mình ai cũng ích kỷ thì nước mất luôn Lá lành đùm lá rách mới

là thương nhau” Trong phút giây, cậu thanh niên đi bên cạnh ông Tư chợt

“cảm thấy mình trai trẻ mà quỵ lụy, chạy trốn trước áp bức của thực dân Pháp là hèn hạ” Cậu đã học được bài học đầu tiên về đạo làm người trong một đất nước có giặc ngoại xâm

Khi thực dân Pháp tái chiếm xứ Nam Kỳ thuộc địa ông hương cả Binh và một số người dân nghèo vẫn cố bám trụ lại trên con rạch Cái Cau Thực dân Pháp vào chiếm đóng dọc bờ kinh Xáng đã không gặp sự kháng cự nào đáng

kể vì dân trong làng chẳng còn bao nhiêu Ông hương cả Binh tỏ rõ thái độ

“thà chịu chết chứ không thể rời khỏi cái nhà này, con rạch này” Ông quan niệm con người “tử sanh hữu mạng” và cả đời chỉ thờ một chữ “Trung” Tinh thần trung hiếu đã cứu sống ông trong một lần đối đáp với giặc Tây Khi quân giặc ráo riết lùng bắt đám Thanh Niên Tiền Phong, ông hương cả Binh vẫn tin rằng mình là người có lá số tử vi “Nê Mã độ Khương Vương” nên ông không đi khỏi vùng nguy hiểm Ông cũng như hình ảnh con ngựa đất đứng hầu hạ trung thành bên các bàn thờ trong các ngôi miếu Mặc cho cô Nguyệt can ngăn, mặc cho bị nghi ngờ theo thực dân, ông vẫn một mình ở lại ngôi nhà quét dọn bàn thờ, chăm sóc vườn tược Qua hình ảnh của một ông già tuổi đã gần đất xa trời phần nào còn giúp ta thấy được tinh thần bám đất giữ làng trong những năm kháng chiến ác liệt của dân Nam Bộ [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.261] Ông Từ Thông bao năm sống một mình trên hòn

Cổ Tron, tưởng như đã cắt đứt mọi liên hệ với đất liền nhưng vào “năm ấy, tháng ấy, ngày ấy, …ông Từ bỗng nghe chút gì băn khoăn, rạo rực trong lòng ông và ở ngoài đời” Bởi lẽ ông vừa nghe người thông ngôn nói về những tin trong đất liền như nhắc nhở ông về món nợ với đồng bào, với đất nước Ông

hổ thẹn khi thấy phận mình không bằng con chim đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải một nỗi nhớ quê “Cây có cội Nước có nguồn Chim có tổ Cá có hang”

và đương nhiên con người phải có quê hương, có nguồn cội [Hòn Cổ Tron, tr

Trang 27

231-232] Ông già làm nghề xay lúa ở làng Đông Thái, ông già mù giăng câu ở kinh Rộc Lá đều là những con người gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước Ông tâm sự: “Mắt lòa là mắt không thấy, chứ nào phải vô tri vô giác” Hàng đêm ông vẫn ngồi nói thơ Vân Tiên một mình giữa chốn sông nước bao la, lòng ông thổn thức với bao điều mất mát: mất đứa con trai trong chiến tranh Pháp - Đức hồi thế chiến thứ nhất và bây giờ là mất tự do trên chính quê hương đất nước mình Nhà văn khẳng định “Dường như tạo hóa đã dành cho ông một số phận: sinh trong thời Pháp thuộc, chết trong thời Pháp thuộc” [Ông già xay lúa, Người mù giăng câu, tr.151-95]

Trong Chim Quyên xuống đất, có những tên Việt gian như giáo Ngọc,

như Liên Hương đã gây ra bao nhiêu đau đớn cho dân lành Tầng lớp nông dân đã tỏ ra quật cường, với những giáo Kiến, giáo Sĩ, Bảy Thích, đã tỏ ra không sợ cường quyền đàn áp và bày tỏ lòng ái quốc của mình Nhân vật Giáo Kiến, yêu nước hơn yêu thân mình khi bị tình nghi làm "quốc sự" đã trốn tránh và tự thiêu chết tại hòn Thổ Châu để giữ tiết tháo của một người Việt Nam có chữ nghĩa để khỏi bị sa vào tay của tên cò cảnh sát "Mạc-te"

Đặc biệt hơn cả là mượn câu chuyện của những ngày đã qua [những ngày chống Pháp] tác giả đã chạm đến những điều nhức nhối đang diễn ra trong xã hội đang có sự hiện diện của đế quốc Mỹ Mảnh đất cực Tây xa xôi tuy hoàn toàn mới mẻ nhưng người dân nơi đây đã có một chiều dày lịch sử

Có khi nó được bộc lộ qua một câu hát bâng quơ kiểu “Ác ngậm non đoài ”, một tiếng cười mỉa mai, một lời nói đầy ý nghĩa hay một thái độ bộc trực

thẳng thắn trong sinh hoạt hàng ngày như trong Ông già xay lúa, Đảng xăm mình, Nhứt phá sơn lâm, Mỗi người một tấm lòng, nó đa dạng,

phong phú tựa như những giai điệu, những cung bậc khác nhau của một bài ca

Để thể hiện tinh thần bất hợp tác với nhà nước Lang Sa, Nguyễn Đình Chiểu đã xây dựng hình ảnh một Kỳ Nhân Sư tự chọc mù đôi

Trang 28

mắt của mình [Ngư Tiều y thuật vấn đáp] Khí phách ấy đã được người dân

Nam bộ phát huy bằng nhiều cách Trong truyện Con Bảy đưa đò , ông đã

nhắc đến hồi biến động ở Cần Thơ, Sa Đéc Khi ấy, cụ Cử Hoành, cụ Tòng Hiên, người thì không chịu treo cờ của Tây trong ngày lễ của chúng mà thể hiện tinh thần phản đối bằng việc “treo quần ở trước cửa nhà” Ở Bình Thủy,

cụ Tòng Hiên làm bài thơ tự trào Lúc đề bài thơ ấy, cụ kẹp ngọn bút ở giữa hai ngón chân mà viết Còn ở Cái Răng, có người bị tình nghi vì đã chép bài thơ “Vịnh chó chết trôi sông” của cụ Cử Trị mà dán giữa nhà…

Tấm lòng yêu nước là vẻ đẹp trường tồn bất biến trong lòng mỗi con người Đối với người Nam bộ, họ có cách biểu hiện riêng của mình, nhiều người đã chọn con đường Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định đã đi Những cuộc hành trình như ông Sáu Bộ không phải là trường hợp hiếm có ở Nam bộ thời kì này Mặc dù không thể làm thay đổi cục diện xã hội nhưng có

lẽ đó là cách để Sơn Nam ngợi ca nghĩa khí, ngợi ca tình cảm dân tộc của họ Mặc dù đó là những cuộc đấu tranh tự phát nhưng cũng là một việc làm đầy ý nghĩa thể hiện tinh thần làm chủ đất nước, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù Hình ảnh của họ là hiện thân của những người anh hùng nông dân áo vải mà Nguyễn Đình Chiểu ngày xưa đã hết lời ca ngợi [Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc]

Càng về sau tiếng nói yêu nước trong truyện ngắn của Sơn Nam càng trở nên mạnh mẽ hơn, nhất là ở Hương rừng Cà Mau tập ba, những tác phẩm được ông sáng tác trong khoảng thời gian 1966 -1967 Điều đáng chú ý, dưới ngòi bút của Sơn Nam, đó vẫn là những câu chuyện được bao bọc trong lớp vỏ của quá khứ Trong công cuộc tái lập xứ Nam Kỳ thuộc địa,

để thể hiện tinh thần Pháp - Việt đề huề, một mặt nhà nước Pháp chủ trương kêu gọi sự hợp tác của chính quyền địa phương; mặt khác, chúng kiểm soát, bắt lính, thi hành những thủ đoạn li gián, mua chuộc Tình hình xã hội trở nên

vô cùng phức tạp Sơn Nam đã đề cập đến thái độ bất hợp tác của người dân Nam bộ đối với thực dân Pháp như một chủ đề chính cho rất nhiều tác phẩm

Trang 29

Chuyện năm xưa, Ngày mưa đầu mùa, Hai ông già, Con ngựa đất là những tác

phẩm tiêu biểu

Trong Chuyện năm xưa, ông kể: Có lần “vận nước sắp tới hồi khuynh

nguy” lại biết ông có chút chữ nghĩa nên Bác hương cả đã “bắt cóc” ông làm người đại diện cho dân làng Đông Thái tiếp rước quan chức nhà binh Pháp Tức mình, ông cãi lại: “Vậy thì muốn giúp nước tôi phải theo bọn Sài Lang sao?” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.213]

Trong Ngày mưa đầu mùa Sơn Nam đã thuật lại câu

chuyện của những ngày đảo chánh Khi ấy ông chỉ là một học sinh mới rời khỏi cổng nhà trường Làng Đông Thái, U Minh tưởng là nơi an toàn, nào ngờ những năm ấy Tây kéo xuống đóng binh Nhiều người nơm nớp lo sợ, hễ nghe tiếng súng nổ là chạy thoát thân, vừa để an toàn tính mệnh, vừa để “thanh minh bằng xương bằng thịt rằng họ chẳng bao giờ cầm súng cho đối phương” Trong số đó có ông Ông đã nhận mình là một kẻ hèn nhát so với lòng can đảm, sự kiên nhẫn của các bậc tiền bối “Trong phút giây tôi thấy mình trai trẻ

mà quỳ lụy, chạy trốn trước áp lực của thực dân Pháp là hèn hạ” [Hương rừng

Cà Mau, tập 3, tr.57] Ông đã xem lời chỉ trích của ông Tư Lịch với người khác là sự phê phán của xã hội đối với những người “nhát gan”, trong đó có ông

Nếu như ông cai tổng Báu trong Con trích ré đã nâng niu quý trọng

chiếc huy chương Canh Nông của nhà nước Pháp trao tặng và xem đó như

một báu vật, cất giữ trong tủ thờ thì ông Tư Lịch trong Ngày mưa đầu mùa

cảm thấy chiếc huy chương của ông năm xưa là một điều sỉ nhục Ông là một người giàu có nhưng không chịu xu nịnh Phó tham biện đã nài nỉ, mời ông ra làm đại hương cả nhưng ông kiên quyết từ chối Ông đã từng vào tù ra khám

về tội chống thực dân Pháp Hồi giặc đóng đồn ở làng Đông Yên, mấy gia đình ở gần đồn tản cư ra chợ, ông khuyên nên chạy về phía mé biển, kẻo thiên

hạ hồ nghi dân mình theo Tây mà xấu hổ Ông còn phàn nàn “tệ quá! Dân

Trang 30

xóm Đông Yên này tệ quá! Gặp Tây là chạy bừa bãi, mạnh ai nấy lo” Khi Tây rút sạch lâu rồi mà không thấy người trở lại ông thở dài “tệ quá, nước chưa mất mà họ đã chạy quá xa” [Hương rừng Cà Mau, tập 3, tr.59-55].

Ông hương cả Bình trong Con ngựa đất là hình ảnh tiêu biểu hơn hết

cho tinh thần bất khuất của con người Nam bộ trong công cuộc chiến đấu chống ngoại xâm Là một đại hương cả trong làng, ông đã từng đối khẩu với quan Tham biện chánh chủ tỉnh người Pháp trong một cuộc chất vấn về tội

“thờ lén lút một kẻ phản loạn” mà người ấy chính là anh hùng Nguyễn Trung Trực Lời giải thích của ông chẳng những không bị kết tội làm “quốc sự” mà dân chúng trong làng còn được tổ chức một cách long trọng lễ Kì Yên hàng năm Giờ đây trong một tình thế mới, cô Nguyệt, con gái ông, có lẽ đang hoạt động bí mật, đã nhờ người năn nỉ ông nên tản cư gấp trong đêm nay vì ngày mai Tây sẽ vô xóm để đóng đồn và chắc chắn nó sẽ chiếm ngôi nhà của ông Không khéo sẽ mang tiếng Việt gian Đêm ấy, ông ngồi ung dung uống trà Biết mình khó sống nhưng ông vẫn tỏ thái độ cương quyết : “Bác biết thế nào cũng xảy ra… Đêm nay Bác cầu trời khẩn phật Nói thiệt với cháu: Bác thề chẳng rời khỏi nhà này Sáng mai tụi Tây giỏi thì tới Bác đâu sợ… Ai giỏi thì

dọ thám đi” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.268] Sáng sớm hôm sau, khi cánh cửa vừa mở, một tiếng súng nổ, ông Hương cả ôm ngực… Trên vách tường, người ta thấy một hàng chữ khá to được viết bằng than bếp “ VIỆT NAM ĐỘC LẬP”

Với những nhà văn đã từng lăn lộn trên chiến trường miền Nam thời chống Mỹ ác liệt, tấm lòng yêu nước của con người Nam bộ đã được nâng lên thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng Hình ảnh của họ đã trở thành những hình tượng bất hủ cùng với tên tuổi của những người đã sản sinh ra nó Sơn Nam sở dĩ chưa có được những hình ảnh dữ dội như ông Tám Xẻo Đước, anh

Ba Hoành… như trong sáng tác của Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng điều đó cũng hoàn toàn dễ hiểu.Bởi lẽ nhà văn sống trong vùng bị dịch tạm chiếm,

Trang 31

trong sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Mặc dù vậy, qua các truyện ngắn của ông, người đọc khó có thể quên được hình ảnh lão Từ Thông, Lục cụ Tăng Liên, ông Sáu Bộ, hương cả Bình… những con người một lòng gắn bó với quê hương đất nước Tác giả đã dùng nhiều ẩn ý xa xôi, mượn xưa để nói nay, mượn ngoài để nói trong.

Trên văn đàn công khai Sài Gòn lúc bấy giờ, những cây bút yêu nước tiến bộ khác cũng đã tìm cách nói bóng gió xa xôi, dùng biểu tượng hai mặt để gợi cho người đọc những vấn đề nóng bỏng của dân tộc, của thời đại nhằm tác động tích cực đến phong trào đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước Khác với Sơn Nam, Vũ Hạnh, Viễn Phương đã mượn đề tài từ những truyện

cổ Trung Hoa, những truyện thần tiên, ma quái để bộc lộ ý tưởng của mình

“Tiếng trúc Tiêu Lang ” [Viễn Phương], “Chất ngọc ”[Vũ Hạnh] là những tác phẩm tiêu biểu Qua Tiếng trúc Tiêu Lang, Viễn Phương đã kín đáo biểu dương sức mạnh của quần chúng nhân dân, của chiến tranh nhân dân Trong Chất ngọc, Vũ Hạnh đã ngợi ca hình ảnh người nông dân anh hùng Sầm Hiệu Một con người sống chết cho chính nghĩa, không khuất phục trước bạo quyền Trước một tình thế mới, ông đã nhận thức đúng đắn

“chữ trung” Mặc dù đã rơi vào tay tên tổng trấn Trầm Chính Hiệp hung ác, bị trói ở pháp trường nhưng ông vẫn ngang nhiên bác bỏ những lời buộc tội vô

lý Chỉ khi Trầm Chính Hiệp dùng lưỡi gươm “dính máu nhân dân” anh mới chịu rơi đầu Thời gian qua đi, xương cốt của Sầm kết thành khối hồng ngọc, mặc cho viên tổng trấn dùng bao nhiêu sức búa cũng không chuyển lay Búa càng nện, ngọc càng lì, cho đến khi dùng kế độc cũ, ngọc mới vỡ ra hàng trăm mảnh Trong mỗi mảnh có bóng hình Sầm Hiệu cùng với nỗi giận niềm thương ở trên cặp mắt đôi môi Bằng những hình ảnh mang tính huyền thoại, Vũ Hạnh đã ca ngợi tấm lòng vì nước vì dân, ca ngợi tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của người anh hùng nông dân Sầm Hiệu Đó cũng chính là những hình ảnh quen thuộc trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta

Trang 32

Mặc dù tinh thần bất khuất của con người trong tác phẩm của Viễn Phương, Vũ Hạnh có tính chất quyết liệt hơn so với Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam song cả hai đều đã chọn những không gian xa lạ, thời gian phiếm định, nhân vật phần lớn xuất hiện dưới áo mão hình hài và tính danh phương Bắc Đối với người dân Nam bộ, những hình ảnh ấy tuy không quá mơ hồ nhưng không phải ai cũng biết

Cũng không giống với những trái tim sục sôi lòng căm thù giặc như ông già Sa Thét, anh Ba Hoành trong sáng tác của Nguyễn Quang Sáng, không có những “người mẹ cầm súng” như chị Út Tịch trong tác phẩm của Nguyễn Thi, cũng không có những cuộc đối đầu chạm trán một mất một còn với kẻ thù như những trang viết của nhiều nhà văn Nam bộ khác cùng thời, nhưng tấm lòng yêu nước của con người Nam bộ qua truyện ngắn Sơn Nam không vì thế mà trở nên đơn điệu, tẻ nhạt Tình yêu của họ tuy lặng

lẽ thâm trầm nhưng vô cùng thiết tha sâu lắng

Truyện ngắn Sơn Nam không tập trung phản ánh mối quan hệ đối nghịch giữa ta và địch mà chủ yếu khắc họa quan điểm, thái độ, cách cư xử của con người Nam Bộ trong hoàn cảnh có ngoại xâm Dù không trực tiếp thể hiện những mâu thuẫn giằng co quyết liệt giữa ta và địch, truyện của Sơn Nam vẫn thể hiện một tình yêu quê hương đậm đà, đằm thắm, một ý thức chống xâm lăng sâu sắc

2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Sơn Nam

2.2.1 Dùng ngoại hình để khắc họa tính cách

Ngoại hình là một khái niệm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bề ngoài của nhân vật Đó chính là những nét về diện mạo, hình dáng, trang phục, cử chỉ, tác phong của nhân vật được biểu hiện trong tác phẩm Chỉ bằng vài nét bút thoáng qua có tính chất chấm phá nhưng Sơn Nam đã tái hiện, dựng lên chân dung các nhân vật một cách rất rõ nét trước mắt người

Trang 33

đọc Để từ chân dung đó, người đọc có thể nhìn thấu một cách sinh động, trọn vẹn tính cách nhân vật.

Tính cách nhân vật là sự thống nhất gi ữa bản chất bên trong và những biểu hiện muôn màu muôn vẻ bên ngoài như ngoại hình, thái độ cử chỉ, hành động, lời nói hằng ngày… Nhân vật của Sơn Nam cũng không nằm ngoài những yếu tố chung đó Tuy nhiên, điều đặc biệt là qua khảo sát ba tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau chúng tôi nhận thấy trong số hơn một trăm năm mươi nhân vật được tác giả đề cập đến [không kể nhân vật có tính cách mờ nhạt] chỉ có khoảng hai mươi nhân vật được ông phác thảo vài nét về hình dáng bên ngoài Trong đó nhiều nhân vật chỉ được ông giới thiệu chung chung như khi giới thiệu nhân vật cặp rằng Be, ông Năm xay lúa, Nguyên Hưu Henri

Để chỉ nhân vật cặp rằng Be trong Nhứt phá sơn lâm, tác giả miêu tả

“hắn mặc áo bành tô vàng, miệng ngậm ống vố ” Khi giới thiệu về Nguyên Hưu Henri trong Anh hùng rơm, tác giả miêu tả “đó là một ông lạ mặt, người Việt Nam, mặc âu phục, tay xách cặp da, hút ống vố ” Thậm chí người tiếng

tăm lừng lẫy như ông Năm Hên trong Bắt sấu rừng U Minh hạ tác giả chỉ miêu

tả gián tiếp qua lời nhận xét của những nhân vật khác trong tác phẩm: “Coi tướng của ông ghê như tướng thầy pháp” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.92] Dường như Sơn Nam không chú trọng đến việc miêu tả ngoại hình, kể cả đối với những nhân vật vốn được tôn vinh là phái đẹp Một

cô gái ở tuổi mười tám đôi mươi như “con Lài” trong Cây Huê Xà chỉ được tác

giả giới thiệu một cách ngắn gọn: “Con Lài là đứa con gái nhan sắc” Tương

tự như vậy, nhân vật “con Bảy” trong Con Bảy đưa đò, tác giả cũng chỉ miêu

tả “Con Bảy có gương mặt chữ điền, đôi mắt đen lánh và vóc hình cao ráo” Trong trường hợp Sơn Nam chú ý miêu tả ngoại hình của nhân vật thì mục đích sâu xa không phải là để khắc họa chân dung nhân vật, mà để

Trang 34

nhằm nói lên một ý nghĩa nào đó.Trong truyện Hương Rừng, Sơn Nam đã khá

chú ý đến cốt cách, vẻ đẹp bên ngoài của nhân vật Hoàng Mai Có thể nói, đây

là nhân vật đầu tiên trong Hương rừng Cà Mau và cũng là nhân vật duy nhất

trong suốt ba tập truyện được ông chú trọng đến vẻ đẹp của một cô gái vừa độ trăng tròn Đó là hình ảnh của một cô gái thuộc dòng dõi hoàng tộc Cô có

“làn da trắng trong leo lẻo”, “mái tóc đen huyền”, “má đỏ hây hây”, “miệng chúm chím hàm tiếu” Nét đẹp vương giả, kiêu sa ấy còn được ông tô điểm bằng thói quen chiêm ngưỡng, thưởng thức cội Hoàng Mai trước sân mỗi ngày, “trong khi cả rừng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả, lạc loài ấy”! Tôn vinh vẻ đẹp của Hoàng Mai cùng một lúc tác giả đã đối lập với sự tiều tuỵ của cô sau những ngày nương thân chốn “rừng thiêng nước độc” Cũng như bao nhiêu con người sinh sống ở chốn này, dòng máu hoàng tộc, quí phái của nàng không ngăn được sự khắc nghiệt của thiên nhiên Đôi bàn tay ngà ngày xưa đã rụng mất hết hồi nào, chỉ có năm cuốn vải nhỏ quấn khéo léo thay thế Mái tóc đen huyền giờ đây chỉ cần chuyền về phía sau lưng gầy hàng chục sợi tóc thi nhau tuông xuống… lược chải đến đâu, tóc lùa đến đấy Tuy gió bấc thổi về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi giẫm chân lên than hồng mà cười Đêm đến nàng rên khe khẽ Hoàng Mai đã nhiễm chứng phong cùi Chú

ý đến vẻ đẹp và sự quí phái của Hoàng Mai, nói đến gia phả nhà Nguyễn, toa thuốc trường sinh mà Tằng tổ mấy đời của cô để lại, Sơn Nam muốn đề cập đến số phận mong manh bé nhỏ của con người trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên Xây dựng nhân vật Hoàng Mai, tác giả tỏ ra độc đáo trong việc phản ánh cuộc sống đầy khó khăn gian khổ của người đi mở đất Mặt khác, đó cũng là lời tố cáo chính sách áp bức bóc lột của bọn thực dân cướp nước và bè lũ tay sai Vì trốn chạy ách áp bức bóc lột, vì không sống được ở quê nhà nên con người phải dấn thân vào chốn “thanh lâm u cốc” và phải chịu trả giá bằng sinh mạng của mình

Trang 35

Nhân vật truyện ngắn Sơn Nam có diện mạo bên ngoài rất bình thường Có thể khẳng định, viết về con người Nam Bộ nhưng Sơn Nam

đã không chú trọng nhiều vào việc khắc họa ngoại hình của họ Ông chỉ điểm qua bằng những nét vẽ thô sơ nhưng qua đó hình ảnh con người Nam

Bộ lại hiện lên một cách rõ ràng và chân thực Họ chính là những con người mang những đặc điểm và vẻ đẹp riêng của vùng đồng bằng sông nước

Cái khó của truyện ngắn là với một dung lượng giới hạn người sáng tác phải thể hiện được trọn vẹn ý đồ nghệ thuật của mình Chính vì thế, Sơn Nam

đã lựa chọn những nét vẽ chấm phá một cách thành công để tô điểm hình ảnh

về người Nam Bộ Không cầu kỳ, tỉ mỉ mà gây được ấn tượng rất chân thực gần gũi cho người tiếp nhận Đó cũng chính là ưu điểm của cây bút truyện ngắn này

Ngoại hình nhân vật trong truyện Sơn Nam thường ngầm thông báo cho người đọc về hoàn cảnh sống và tính cách của họ Người nông dân đặc trưng Nam Bộ thường được biết đến với hình ảnh bộ quần áo bà ba đen và chiếc khắn rằn Trong một số truyện ngắn, Sơn Nam đã chú ý khắc họa ngoại hình của họ bằng một vẻ đẹp giản dị, mộc mạc Đó là ông già Hai, người làm nghề trồng dưa ở xứ biển Hà Tiên Sơn Nam viết: “Người được gọi là “ông già Hai” tuổi hơn năm mươi, dáng điệu ốm yếu Tuy cách xa hàng trăm thước, tôi thấy rõ mái tóc bạc và bộ quần áo lãnh đen, lấp lánh dưới ánh nắng

mai” [Mây trời và rong biển, tr.112] Đọc truyện ngắn Hòn Cổ Tron, hình ảnh

một ông già Nam bộ hiện lên qua sự miêu tả thật đặc sắc của Sơn Nam Đó là một con người đặc trưng của Nam Bộ với “tóc búi sáu ót, gài lại bằng cọng gai kim quýt nhưng ông có một cảnh ngộ hết sức đặc biệt đó là sống một mình

ở hòn, nhiều tháng liên tiếp phơi lưng trần dưới ành nắng…” đó cũng chính là những hình ảnh quí báu để người đọc có cái nhìn ban đầu về nhân vật Chúng

ta có thể hình dung ra dáng vẻ của một ông già gân guốc, khỏe mạnh mang đậm phong cách Nam bộ [tóc dài, bới thành búi…] Đó là một con người

Trang 36

thong dong, từ tốn, từng trải, dày dặn kinh nghiệm, sống gần gũi chan hòa với đất trời, một con người tự do, phóng khoáng.

Hoàn cảnh sống của nhân vật Bảy Đặng lộ rõ trong ngoại hình của anh Cuộc sống vất vả khó khăn, ngoài thời gian làm ruộng vợ chồng Bảy Đặng còn làm nghề bắt rùa để sinh sống Mấy năm trôi qua, cuộc sống vẫn không khá lên nổi, thậm chí Bảy Đặng còn chưa đóng được thuế thân cho nhà nước Người nông dân Nam Bộ vật lộn với cuộc sống, bán mặt cho đất bán lưng cho trời ấy được Sơn Nam khắc họa chỉ bằng một chi tiết ngắn gọn: “Một người trạc tuổi bốn mươi, bước ra từ đám khói mù mịt, lưng đen láng mướt

mồ hôi”[Cấm bắt rùa, tr.14] Còn đây là sự nhận xét về anh thanh niên Hai

Kéo, một nông dân Nam Bộ đang tuổi lao động dưới con mắt của bà đầm xi-đông: “Hai Kéo vừa trẻ, vừa cao ráo, nước da đen ngăm, lồng ngực phồng lên no tròn, mặt vuông, chân mày rậm Nếu anh ta đứng dậy, thủ bộ thì ắt

phô-giống như lực sĩ Hy Lạp”[Bà đầm Phô-xi-đông, tr.46] Rõ ràng Hai Kéo là một

thanh niên nông thôn Nam Bộ với một vẻ đẹp khỏe mạnh và lực lưỡng Đó còn là vẻ đẹp nhân hậu của con Bảy đưa đò khi người kể chuyện nhận xét:

“Con Bảy có gương mặt chữ điền, đôi mắt đen lánh và vóc người cao ráo” [Hương rừng Cà Mau, tập 1, tr.236]; vẻ đẹp mặn mà của cô Mịn mơ màng hiện lên trong tâm trí anh Tư Bình Thủy: “…nhớ đến đôi mắt của cô Mịn, đôi mắt đen như nước rừng, có đôi vì sao chiếu xuống ngời lên lấp lánh”

[Nhứt phá sơn lâm, tr.129]; vẻ đẹp cao sang quý phái của cô Hoàng Mai với

“làn da trằng leo lẻo”, “mái tóc đen huyền”, “má đỏ hây hây”, “miệng chúm

chím hàm tiếu”[Hương rừng, tr.267],…

Ngoài ra, trong một số truyện ngắn Sơn Nam cũng chọn cách điểm qua về hình dáng, diện mạo của nhân vật làm bật lên đặc điểm bề ngoài của họ

để người đọc dễ có cơ sở nắm bắt Tác giả chỉ dành một câu để miêu tả ngoại

hình của ông Năm Hên trong truyện Bắt sấu rừng U Minh Hạ Qua lời nhận

Trang 37

xét của nhân vật “tôi”, ông Năm Hên có dáng vẻ “như tướng của ông thầy

pháp” Tên cặp rằng Be trong truyện Nhất phá sơn lâm với đặc điểm

“hắn mặc áo bành tô vàng, miệng ngậm ống vố”; tên Nguyen Huu Henry

trong Anh hùng rơm là một “ông lạ mặt, người Việt Nam, mặc âu phục, tay

xách cặp da, miệng hút ống vố”,… Các chi tiết miêu tả ngoại hình dù rất nhỏ nhưng có giá trị trong việc thể hiện tính cách nhân vật Khi xây dựng tác phẩm, mỗi nhân vật đều có một vai trò, vị trí nhất định Có tác giả

chú ý nhiều đến ngoại hình, có người lại đặt nặng yếu tố ngôn ngữ, với nhà văn Sơn Nam cái mà ông mong muốn người đọc chú ý đến nhiều nhất đó là tính cách nhân vật Mỗi nhân vật, Sơn Nam chỉ dành đôi ba dòng để miêu tả ngoại hình của họ vì điều quan trọng mà nhà văn muốn nhấn mạnh đó là tính cách của con người họ

2.2.2 Dùng hành động và ngôn ngữ để khắc họa tính cách

Sơn Nam ít chú ý đến việc khắc họa nội tâm phức tạp Điều này cũng rất phù hợp với tính cách của con người Nam bộ Họ là những người thẳng tính, bộc trực, cởi mở Những suy tư dằn vặt trong cuộc sống chỉ thoắt đến, tồn tại trong một khoảnh khắc nào đó rồi chợt tan biến đi Họ không giấu giếm những niềm vui nỗi buồn của riêng mình, họ ít chôn chặt trong lòng những ưu tư phiền muộn Bằng mọi cách, họ trút hết ra bên ngoài

Để người đọc có thể thấy được rõ nét tính cách của nhân vật, ông rất chú ý trong việc mô tả hành động và ngôn ngữ của nhân vật

Thể hiện tính cách nhân vật qua miêu tả hành động là một thủ pháp cơ bản trong nghệ thuật xây dựng nhân vật Hành động là những việc làm cụ thể của nhân vật trong các quan hệ ứng xử với các cá nhân vật khác nhau và trong những tình huống khác nhau của cuộc sống Hành động được xem như là kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức, quá trình tâm lý, quá trình tình cảm

Trang 38

Qua hành động, Sơn Nam muốn để cho nhân vật của mình nói lên những suy nghĩ, tư tưởng, trạng thái diễn biến bên trong nhân vật

Có những chi tiết được Sơn Nam sử dụng để khắc sâu tính cách nhân

vật, chẳng hạn đối với ông Năm Hên trong Bắt sấu rừng U minh Hạ Hành

động qui phục cả đàn sấu dẫn về làng đủ để thể hiện sự gan dạ mưu trí, thông minh sáng tạo của ông Thế nhưng, hình ảnh một ông lão mặc áo rách vai, tóc rối bù, mắt đỏ ngầu tay cầm bó nhang đang cháy dở quơ qua quơ lại trên đầu

và một tiếng hát ảo não rùng rợn ở cuối tác phẩm là một chi tiết đã mang lại cho người đọc một ấn tượng đậm nét hơn nữa về nhân vật này Hình ảnh có vẻ phù chú, bùa phép đó là một biểu hiện trong đời sống tâm linh của người dân Nam bộ Hành động của ông năm Hên có thể xem là một cách để tri ân những người đã khuất

Trong Hồn người trong ly rượu, bản chất thâm độc, dã man của hương

xã Tư được tác giả khắc sâu bằng chi tiết hắn cho người giết kẻ tình địch rồi lấy máu đem pha rượu cho vợ mình uống, sau đó hắn đưa vợ đến tận nơi để chứng kiến cảnh người chết đang nằm sóng soài trên mặt đất

Trong truyện Sông Gành Hào, ở nhân vật chú Tư Đức, ta thấy ngoài

lòng tự trọng, tinh thần trọng nghĩa khinh tài, ở chú còn có điểm đáng quí khác Nó được biểu hiện qua thái độ của chú khi đối diện với ông Rốp Sau một đêm chú bị bắt vì chở củi lậu, ông Rốp thả chú về chờ ngày trát đòi đến đóng tiền phạt [vì đây là lần đầu tiên vi phạm], chú bảo: “Chết thì tôi chịu chứ tôi đi về Cha con tôi không có nhà cửa gì ráo… Bởi vì tôi không có đất… tôi

đã cất nhà không nhiều lần rồi mà ở không yên…” [Hương rừng Cà Mau, tập

3, tr.186]

Ngoài nhân vật chú tư Đức, Ông Mười Bạch và ông Tư Nếp, ông hương cả Bình đều là những nhân vật hành động Sơn Nam xây dựng tính cách nhân vật trên tinh thần miêu tả lời nói và hành động của họ

Trang 39

Nắm bắt được vai trò quan trọng của ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học, Sơn Nam đã chú ý xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của mình luôn đi kèm hành động với ngôn ngữ Trong từng hoàn cảnh cụ thể, cách nói của họ luôn tương ứng với hành động họ sẽ làm Từ đó, giúp người đọc có thể nhận ra đặc điểm về tính cách của con người Nam Bộ.

Cách nói của người dân ở một địa phương thường phản ánh những đặc trưng của môi trường mình đang sống Nói khác đi, những cảm nhận quen thuộc của họ bao giờ cũng được thể hiện qua cách diễn đạt của mình Với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long, môi trường sông nước miệt vườn

đã tạo cho họ một cách nói tương ứng Trong điều kiện giao lưu, tiếp nhận những bản sắc độc đáo riêng từ cách nói của người dân mỗi miền, cách

nói của nhân vật trong truyện ngắn Sơn Nam nói riêng và của người Nam

Bộ nói chung phần nào đẽ thể hiện được nét đặc trưng của người dân vùng sông nước Cách đối thoại của nhân vật trong truyện ngắn Sơn Nam đã bộc lộ những nét riêng trong lối sống và cách cư xử của người dân Nam Bộ, thể hiện văn hóa vùng miền của chính họ Ngôn ngữ nhân vật [chủ yếu là ngôn ngữ đối thoại] trong truyện Sơn Nam là ngôn ngữ thường nhật của người dân Nam Bộ Nó thể hiện được tính cách và tâm lý ứng xử của họ trong cuộc sống,

đó là sự bộc trực, mộc mạc, dân dã, tính hào hiệp, trọng nghĩa

Nhân vật của Sơn Nam thường có cách nói đi thẳng vào vấn đề, ít quanh co màu mè, ít gây sự khó hiểu chi người nghe Trong truyện ngắn " Con sấu cuối cùng", khi biết nhân vật "tôi" vì tò mò mà đến ông Năm Hên để điều tra thủ đoạn, và ông cai tổng Hi hiểu nhầm Năm Hên vì tham hai lượng vàng trên người cô dâu mà liều mạng với cá sấu, ông Năm Hên không quanh co, nói thẳng suy nghĩ của mình:

"Cháu tưởng bác vì tham hai lượng vàng nên liều mạng cưỡi lên lưng sấu hả Thôi mình vô nhà nói vài lời nữa rồi ai về nhà nấy Bác ra nghề lần chót đâu

Ngày đăng: 05/04/2013, 20:12

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w